1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước về việc thực hiện đề án quốc gia xóa đói giảm nghèo ở tỉnh bình phước

115 1,1K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 595 KB
File đính kèm LUAN VAN XDGN BINH PHUOC.rar (165 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt. Danh mục các bảng. Danh mục các hình vẽ, đồ thị. LỜI MỞ ĐẦU 1 Chương 1: 5 1.1. Nhận thức chung về xóa đói giảm nghèo 5 1.2. Quan niệm về thực hiện xóa đói giảm nghèo 21 1.3. Kinh nghiệm về xóa đói giảm nghèo ở một số quốc gia và ở một số địa phương của Việt Nam 34 Chương 2: 43 2.1. Tình hình đói nghèo ở tỉnh Bình Phước thời gian qua 43 2.2. Thực trạng việc thực hiện đề án quốc gia về xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Bình Phước trong những năm qua 50 2.3. Thực trạng của quản lý Nhà nước đối với thực hiện đề án quốc gia về xóa đói giảm nghèo ở Bình Phước 61 Chương 3: 78 3.1. Mục tiêu và định hướng tăng cường hiệu quả thực hiện đề án quốc gia về xóa đói giảm nghèo của tỉnh Bình Phước 78 3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước đối với chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Bình Phước 84 KẾT LUẬN 106 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC 114

Trang 1

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: 5

1.1 Nhận thức chung về xóa đói giảm nghèo 5

1.2 Quan niệm về thực hiện xóa đói giảm nghèo 21

1.3 Kinh nghiệm về xóa đói giảm nghèo ở một số quốc gia và ở một số địa phương của Việt Nam 34

Chương 2: 43

2.1 Tình hình đói nghèo ở tỉnh Bình Phước thời gian qua 43

2.2 Thực trạng việc thực hiện đề án quốc gia về xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Bình Phước trong những năm qua 50

2.3 Thực trạng của quản lý Nhà nước đối với thực hiện đề án quốc gia về xóa đói giảm nghèo ở Bình Phước 61

Chương 3: 78

3.1 Mục tiêu và định hướng tăng cường hiệu quả thực hiện đề án quốc gia về xóa đói giảm nghèo của tỉnh Bình Phước 78

3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước đối với chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Bình Phước 84

KẾT LUẬN 106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

PHỤ LỤC 114

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đói nghèo là vấn đề mang tính toàn cầu, không còn là của riêng một quốcgia hay một vùng lãnh thổ nào Đã từ lâu, cũng như hiện nay và đặc biệt làtrong xu thê hội nhập và phát triển, các quốc gia trên thế giới đều có một mối

lo riêng là quan tâm giải quyết đói, nghèo Nhưng xem ra kết quả đem lạichưa nhiều và tình hình đó vẫn là vấn đề bức xúc hiện nay

Trong báo cáo của UNDP (Chương trình phát triển liên hợp quốc) thì

tổng mức tiêu dùng toàn cầu năm sau cao hơn năm trước gấp 6 lần, cònkhoảng cách giàu nghèo lại tăng lên 14 lần Hàng năm người ta thoải mái chihàng ngàn tỷ đô la cho chương trình quân sự trong khi đó có hơn 1,5 tỷ ngườitrên thế giới sống trong tình cảnh đói nghèo Đây là vấn đề cần giải quyết chomột thế giới tốt đẹp trong tương lai

Ở Việt Nam, xóa đói giảm nghèo được Đảng, Nhà nước đề cập và xácđịnh là một trong những chương trình quốc gia quan trọng, được ưu tiên hàngđầu trong hoạch định phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) cho từng thời kỳ.Phát triển kinh tế phải đồng thời với xóa đói giảm nghèo, cũng như tăngtrưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ công bằng xã hội, cải thiện đời sốngnhân dân, ổn định xã hội, bảo đảm quyền con người,… Đẩy mạnh công cuộcXĐGN, từng bước tiếp cận các chuẩn quốc tế chính là góp phần vào quá trìnhhội nhập xu thế toàn cầu hóa XĐGN còn là quá trình phát huy bản sắc truyềnthống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.Nằm trong xu thế chung và trước yêu cầu đòi hỏi của sự phát triển, tỉnhBình phước đã và đang đẩy mạnh việc thực hiện chương trình XĐGN Songcông tác XĐGN hiện nay còn phải đối mặt với rất nhiều vấn đề Đặc biệtBình Phước là một trong những tỉnh nghèo của cả nước nên lại càng khó khăn

và hạn chế hơn Kết quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững, Vì vậy, nghiên

Trang 3

cứu một cách có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn để tìm ra được các giảipháp thiết thực nhằm thực hiện tốt đề án quốc gia về xóa đói, giảm nghèo trênđịa bàn tỉnh Bình Phước một cách hiệu quả, bền vững đang là một trongnhững yêu cầu bức xúc hiện nay ở địa phương Vì vậy mà chúng tôi chọn vấn

đề này để làm luận văn tốt nghiệp cao học Quản lý hành chính công của mình

với tên đề tài: Thực hiện đề án quốc gia về xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Bình Phước.

2 Thực trạng và tình hình nghiên cứu

Đói nghèo là vấn đề lớn mà cả nhân loại đã và đang phải đối mặt Nhữngnăm qua, nhiều nhà khoa học đã dày công nghiên cứu: Cuốn sách Sự giàunghèo của các dân tộc – vì sao một số giàu đến thế mà một số lại nghèo đếnthế” (The wealth and poverty of Nations – Why some are so rich and someare poor) được xuất bản lần đầu tiên năm 1998 của tác giả Đavid S Landes,giáo sư ưu tú về lịch sử và kinh tế tại Đại học Harvard Mỹ Ông đã phân tíchtoàn cảnh bức tranh giàu nghèo của các dân tộc và nguyên nhân của nó Đặcbiệt chương trình XĐGN đã được nghiên cứu và đưa vào nội dung hoạt độngthường xuyên của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) ở cácQuốc gia và khu vực cũng như toàn thế giới

Tại Việt Nam, vấn đề XĐGN được quan tâm bắt đầu từ sáng kiến củaThành Phố Hồ Chí Minh vào năm 1992 Từ mô hình sáng kiến này, đến nay

đã trở thành phong trào sâu rộng, thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều nhàquản lý, hoạch định chính sách và trở thành chương trình mục tiêu Quốc gialớn hiện nay Đã có nhiều chương trình nghiên cứu về XĐGN như: Bộ Laođộng thương binh và xã hội nghiên cứu để định ra chiến lược XĐGN giaiđoạn 1992 - 2001; 2001 - 2010 và nhiều nghiên cứu khác Những nghiên cứunày tiếp cận ở góc độ khác nhau mà chủ yếu là phục vụ cho việc hoạch địnhchiến lược ở tầm vĩ mô, chứ chưa có những nghiên cứu cụ thể cho các địa

Trang 4

phương Ở Bình Phước, nhiều đề tài khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau

đã được nghiên cứu, ứng dụng nhưng vấn đề XĐGN chưa có cá nhân hoặc cơquan, đơn vị nào nghiên cứu một cách có hệ thống

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận cũng

như khảo sát đánh giá một cách có hệ thống tình hình thực hiện đề án xóa đóigiảm nghèo trong thời gian qua ở tỉnh Bình Phước mà tìm ra được những giảipháp hữu hiệu để thực hiện có hiệu quả, bền vững về xóa đói giảm nghèotrong những năm tới ở tỉnh Bình Phước

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Để đạt được mục đích trên, việc

nghiên cưu đề tài phải giải quyết các vấn đề cụ thể sau đây:

+ Hệ thống hóa được các quan điểm lý luận hiện nay về xóa đói giảmnghèo cũng như vai trò nội dung hoạt động của nhà nước trong lĩnh vực này.+ Khảo sát, đánh giá được một cách khách quan, khoa học thực trạngthực hiện đề án quốc gia xóa đói giảm nghèo trong những năm qua ở tỉnhBình Phước

+ Đề xuất được những giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện đề án quốc gia

về xóa đói giảm nghèo một cách có hiệu quả, bền vững trên địa bàn BìnhPhước Đặc biệt là phát huy được hiệu lực, hiệu quả vai trò của QLNN(QLNN) trong lĩnh vực này ở địa phương

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Tình hình đói nghèo của các hộ gia

đình theo thời gian và theo khu vực địa lý; thực trạng hoạt động quản lý điềuhành thực hiện đế án quốc gia về XĐGN của các cơ quan chức năng và cácđịa phương trong tỉnh

Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu trên địa bàn toàn tỉnh Bình

Phước từ năm 2005 đến nay

Trang 5

3 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Luận văn tiếp cận vấn đề XĐGN từ thực trạng đời sống

kinh tế xã hội, đặc điểm tình hình cụ thể của tỉnh trong quá trình phát triển, từđường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước gắn liền với quan điểm

lý luận thực tiễn, hệ thống – phát triển

Dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ đạo là duy vật biện chứng và duyvật lịch sử

Phương pháp nghiên cứu: Kết hợp sử dụng các phương pháp nhận

thức khoa học khác như: phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích thống

kê, điều tra, tham vấn, phỏng vấn, tổng hợp…

Đặc biệt sử dụng phương pháp thực chứng dựa trên những tư liệu thựctiễn của các ngành, các địa phương trong tỉnh để phân tích

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mục lục, lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về thực hiện xóa đói giảm nghèo

Chương II: Tình hình đói nghèo và thực trạng việc thực hiện đề án Quốcgia về xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Bình Phước

Chương III: Định hướng và giải pháp để tăng cường hiệu quả QLNNtrong việc thực hiện đề án Quốc gia xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Bình Phước

Trang 6

Kết luận.

Trang 7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

1.1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1.1 Khái niệm nghèo đói

Nghèo là khái niệm đã được dùng rất lâu trên thế giới để chỉ mứcsống thấp hơn của một người, nhóm dân cư, một cộng đồng, một quốc gia sovới mức sống của một cộng đồng hay các quốc gia khác Không có một chuẩnmực chung về nghèo đói cho tất cả các quốc gia Chuẩn mực nghèo đói cũngthay đổi theo thời gian

Quan niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói của từng quốcgia hay từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng

kể, tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chỉtiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người về ăn, ở, mặc, y tế,giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội Sự khác nhau chung nhất là thỏamãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triểnkinh tế - xã hội cũng như phong tục, tập quán của từng vùng, từng quốc gia

Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do

Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức

tại Băng Cốc, Thái Lan (9/1993) đã đưa ra định nghĩa như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu

cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” [23, tr.186].

Nghèo được nhận diện trên hai khía cạnh: Nghèo đói tuyệt đối vànghèo đói tương đối

Trang 8

Nghèo đói tuyệt đối: Được lý giải là tình trạng một người hoặc

một hộ gia đình không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của

cuộc sống (ăn, mặc, ở, được chăm sóc sức khỏe, được giáo dục cơ bản và được hưởng các dịch vụ cần thiết khác) mà những nhu cầu đó đã được xã hội

thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước Một cáchdiễn đạt khác, một người hoặc một hộ gia đình được xem là nghèo tuyệt đối

khi mức thu nhập của họ thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu (mức thu nhập tối thiểu) được quy định bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoảng thời

gian nhất định

Nghèo đói tương đối: Là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia

đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội theo những địađiểm cụ thể và thời gian nhất định [23, tr.186-189]

Như vậy, sự phân biệt giữa nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối cóthể là: nghèo tuyệt đối đề cập đến các tiêu chuẩn về các nhu cầu cần thiết tốithiểu của một con người, trong khi đó, nghèo tương đối lại nói đến vị trí ởdưới mức sống phổ biến trong một cộng đồng

1.1.1.2 Khái niệm xóa đói giảm nghèo

Xóa hộ đói: Là hộ cơ bản giải quyết được cái ăn hàng ngày, không

để bị đứt bữa, hạn chế dần việc vay nợ cộng đồng (vay nóng, vay đứng lãi suất cao); xóa hộ đói là không còn hộ XĐGN có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 1 triệu đồng/năm tại địa phương (Sau năm 2000 thì Việt Nam không còn hộ đói)

Giảm hộ nghèo: Tiếp tục lo cái ăn, giải quyết được việc làm

thường xuyên và từng bước đáp ứng các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống giađình

Hộ vượt chuẩn nghèo: Giải quyết được việc làm ổn định, có tích

lũy; có mức thu nhập bình quân đầu người/năm vượt qua chuẩn giới hạn

Trang 9

nghèo (theo chuẩn nghèo quy định cho từng giai đoạn).

Xã nghèo: Theo Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, xã nghèo có các đặc trưng sau: Thứ nhất, tỷ lệ hộ XĐGN của xã - phường chiếm trên 20% số hộ dân của xã - phường; Thứ hai, không có hoặc thiếu những cơ

sở hạ tầng như sau: Điện sinh hoạt: có tỷ lệ hộ dân chưa có điện thắp sáng từ6% trở lên, Cầu - đường: chưa có đường cấp phối rộng trên 4m dẫn đến trungtâm xã - phường; còn cầu khỉ liên ấp hoặc liên tổ nhân dân, Trường học: thiếutrường, phòng học; có tỷ lệ dân mù chữ trên 5% và tỷ lệ thất học trên 15% sovới số người trong độ tuổi phải đi học (trên 6 tuổi), Trạm y tế: chưa có hoặcthiếu trang thiết bị, y bác sĩ; vệ sinh môi trường có trên 30% số hộ dân của xã

- phường sử dụng cầu vệ sinh trên sông, rạch, ao cá…, Nước sinh hoạt: còntrên 30% hộ dân sử dụng nước đổi hoặc nước tự nhiên, Chợ: chưa có hoặc có

nhưng chưa đáp ứng yêu cầu; Thứ ba, tỷ lệ lao động chưa có việc làm trên

20% so với số lao động trong độ tuổi của xã - phường

Vùng nghèo: Là chỉ một địa bàn tương đối rộng của một số xã liền

kề nhau (hoặc một vùng dân cư) nằm ở những vị trí có điều kiện tự nhiên khókhăn, giao thông không thuận lợi Các cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn không cóđiều kiện để phát triển sản xuất và bảo đảm đời sống, là vùng có tỷ lệ số xãnghèo, hộ nghèo cao

Như vậy, xóa đói giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách

của nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèođói, nhằm tạo điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thunhập thấp, không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩnnghèo được quy định theo từng địa phương, khu vực, quốc gia

1.1.1.3 Khái niệm xóa đói giảm nghèo bền vững

XĐGN bền vững là tổng thể các biện pháp, chính sách của nhà nước

và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo đói nhằm cải

Trang 10

thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ởkhu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh

mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thànhthị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư

1.1.1.4 Chuẩn nghèo và phương pháp xác định chuẩn nghèo quốc tế

Phương pháp chung nhất mà các quốc gia cũng như các tổ chức quốc

tế xác định nghèo đói là dựa vào nhu cầu chi tiêu để bảo đảm các nhu cầu cơbản của con người, trước hết người ta tính mức chi tiêu cho nhu cầu lươngthực thực phẩm - gọi là đường nghèo lương thực thực phẩm; tiếp đến người tatính mức chi tiêu cho các nhu cầu phi lương thực, thực phẩm Tổng chi tiêucho lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm được gọi là đường

nghèo hay chuẩn nghèo (đó là đường nghèo chung).

Để tiện cho việc điều tra khảo sát, tính toán đánh giá người ta chuyển

từ nhu cầu chi tiêu sang mức thu nhập Những người có thu nhập thấp hơnchuẩn nghèo được xếp vào nhóm người nghèo, còn ai có mức thu nhập thấphơn mức chi tiêu lương thực thực phẩm (đường nghèo lương thực thực phẩm)thì được xếp vào nhóm nghèo về lương thực thực phẩm

Hiện nay có khá nhiều chuẩn nghèo được áp dụng trên thế giới vìnhững mục tiêu và lý do khác nhau Tuy nhiên chuẩn nghèo do Ngân hàngThế giới (WB) được khuyến nghị áp dụng chung phổ biến ở hầu hết các nước

do WB có vai trò rất quan trọng trong việc triển khai và thực hiện các chiếnlược giảm nghèo và tăng trưởng, cũng như định hướng các nguồn lực vì mụctiêu giảm nghèo trên toàn cầu - trong hệ thống Liên hiệp Quốc

Chuẩn nghèo do WB được xây dựng khá đơn giản, dễ áp dụng phổbiến và thỏa mãn đồng thời được nhiều nguyên tắc về xây dựng chuẩn nghèo

WB đưa ra khuyến nghị thang đo nghèo đói như sau:

Trang 11

Bảng 1.1: So sánh chuẩn nghèo của một số nước trong khu vực Châu Á

Quốc gia Chuẩn nghèo chính thức

(USD/người/tháng) Năm áp dụng

Nguồn: Chương trình phát triển Liên hiệp Quốc (UNDP), 2003

Đối với các nước nghèo: các cá nhân bị coi là nghèo đói khi có thunhập dưới 0,5 USD/ ngày; Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày;Các nước thuộc châu Mỹ La tinh và Caribe là 2 USD/ngày; Các nước Đông

Âu là 4 USD/ngày; Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày

Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn nghèo đói riêng của nước mình, thông thường thấp hơn thang nghèo đói mà WB đưa ra(Bảng 1.1)

Trang 12

1.1.1.5 Chuẩn nghèo và phương pháp xác định chuẩn nghèo ở Việt Nam và chuẩn đói nghèo của đề án quốc gia về xóa đói giảm nghèo

Chuẩn nghèo tại Việt Nam được xây dựng từ năm 1992 và đã có sựđiều chỉnh qua các thời kỳ khác nhau (Bảng 1.2)

Bảng 1.2: Chuẩn nghèo Việt Nam qua các giai đoạn

- 80.000 đồng ở nôngthôn miền núi, hải đảo

Nguồn: Bộ LĐTB&XH, 2006

Thời kỳ 1992 - 1995, phương pháp xác định chuẩn nghèo đã bước

đầu dựa trên cơ sở phương pháp tiếp cận của quốc tế, nhưng thời kỳ đầu chínhsách XĐGN của Việt Nam tập trung vào giải quyết vấn đề ăn cho ngườinghèo (nghèo lương thực, thực phẩm hay đói) Phương pháp tiếp cận cũngdựa trên nhu cầu dinh dưỡng Các kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng cho thấynhu cầu cung cấp năng lượng tối thiểu để duy trì cuộc sống của người ViệtNam khoảng 2.100 kcal/người/ngày Nhu cầu lương thực, thực phẩm chiếmkhoảng 85 - 90% tổng chi tiêu của hộ gia đình nghèo Chuẩn nghèo thời kỳnày xác định cho ba loại đối tượng: hộ đói, hộ nghèo ở nông thôn và hộ nghèo

ở thành thị

Trang 13

Thời kỳ 1996 - 2000, chuẩn nghèo được điều chỉnh nâng lên và

tăng tỷ lệ chi tiêu phi lương thực, thực phẩm nhưng cơ bản vẫn tập trung vàogiải quyết vấn đề ăn cho người nghèo Nhu cầu chi tiêu lương thực, thựcphẩm chiếm khoảng 75 - 80% và thêm chuẩn nghèo cho đối tượng nghèo ởmiền núi, hải đảo Mức chuẩn nghèo được xác định bằng cả giá trị (tiền) vàquy ra lương thực (gạo)

Bảng 1.3: Chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2001 – 2005 của Việt Nam

Khu vực

Chuẩn hộ nghèo Mức thu nhập bình

quân người/năm

Mức thu nhập bình quân người/tháng

Nông thôn đồng bằng 1.200.000 đồng 100.000 đồngNông thôn miền núi, hải đảo 960.000 đồng 80.000 đồng

Nguồn: Bộ LĐTB&XH, 2000

Thời kỳ 2001 - 2005, chuẩn nghèo được điều chỉnh tăng lên với

mục tiêu bảo đảm thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người (ăn, mặc, ở, y tế,giáo dục, văn hóa, đi lại, giao tiếp…), phù hợp với tăng trưởng kinh tế, mức

độ cải thiện điều kiện sống của người dân, tình hình thay đổi cơ cấu chi tiêuthu nhập từ lao động Nhu cầu chi tiêu cho lương thực, thực phẩm chiếmkhoảng 65% của hộ gia đình nghèo Thời kỳ này, Chính phủ Việt Nam bỏchuẩn nghèo cho đối tượng đói và khuyến khích các tỉnh, thành phố có điềukiện, có thể nâng chuẩn nghèo cao hơn Năm 2000, Bộ LĐTB-XH công bốquyết định số 1143/QĐ-LĐTBXH về điều chỉnh chuẩn hộ nghèo giai đoạn

2001 - 2005 của nước ta, bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/2001 (Bảng 1.3)

Thời kỳ 2006 - 1010, hộ nghèo được xác định là hộ có thu nhập

bình quân đầu người/tháng từ 200.000 đồng/người/tháng trở xuống đối với

Trang 14

khu vực nông thôn và 260.000 đồng/người/tháng trở xuống đối với khu vựcthành thị (Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005 của Thủtướng Chính phủ).

Từ năm 2011, hộ nghèo được xác định là hộ có thu nhập bình quân

đầu người/tháng từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống đối với khu vựcnông thôn và 500.000 đồng/người/tháng trở xuống đối với khu vực thành thị(Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chínhphủ)

1.1.2 Nguyên nhân của đói nghèo và ảnh hưởng của nó đối với quá trình phát triển

1.1.2.1 Nguyên nhân của đói nghèo

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói Những nguyênnhân cơ bản nhất bao gồm:

Nguồn lực hạn chế và nghèo nàn

Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào vòngluẩn quẩn của nghèo đói và thiếu nguồn lực Người nghèo có khả năng tiếptục nghèo vì họ không thể đầu tư và nguồn vốn nhân lực của họ Ngược lại,nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi đói nghèo

Các hộ nghèo có rất ít đất đai và tình trạng không có đất đang có

xu hướng tăng lên, đặc biệt là ở Đồng bằng Sông Cửu Long Thiếu đất đaiảnh hưởng đến việc bảo đảm an ninh lương thực của người nghèo cũng nhưkhả năng đa dạng hóa sản xuất, để hướng tới sản xuất các loại cây trồng vớigiá trị cao hơn Đa số người nghèo lựa chọn phương án sản xuất tự cung, tựcấp, họ vẫn giữ các phương thức sản xuất truyền thống với giá trị thấp, thiếu

cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lại lợi nhuận cao hơn Do vậy,giá trị sản phẩm và năng suất các loại cây trồng, vật nuôi thấp, thiếu tính cạnhtranh trên thị trường và vì vậy đã đưa họ vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo

Trang 15

Người nghèo cũng thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng Sựhạn chế của nguồn vốn là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổimới sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, giống mới…

Bên cạnh đó, việc thiếu thông tin, đặc biệt là các thông tin về phápluật, chính sách và thị trường đã làm cho người nghèo ngày càng trở nênnghèo hơn

Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định

Những người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp, ít có

cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định Mức thu nhập của họ hầu như chỉ bảođảm nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều kiện để nâng caotrình độ của mình trong tương lai để thoát khỏi cảnh nghèo khó Bên cạnh đó,trình độ học vấn thấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáodục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái… đến không những của thế hệ hiện tại mà

cả thế hệ trong tương lai Suy dinh dưỡng ở trẻ em và trẻ sơ sinh là nhân tốảnh hưởng đến khả năng đến trường của con em các gia đình nghèo và sẽ làmcho việc thoát nghèo thông qua giáo dục trở nên khó khăn hơn

Người nghèo không có đủ điều kiện tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng có hoàncảnh đặc biệt thường có trình độ học vấn thấp nên không có khả năng tự giảiquyết các vấn đề vướng mắc có liên quan đến pháp luật Nhiều văn bản phápluật có cơ chế thực hiện phức tạp, người nghèo khó nắm bắt; mạng lưới cácdịch vụ pháp lý, số lượng các luật gia, luật sư hạn chế, phân bố không đều,chủ yếu tập trung ở các thành phố, thị xã; phí dịch vụ pháp lý còn cao

Các nguyên nhân về nhân khẩu học

Quy mô hộ gia đình có ảnh hưởng đến mức thu nhập bình quân

Trang 16

của các thành viên trong hộ Đông con vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả củanghèo đói Tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao Năm 1998, sốcon bình quân trên 1 phụ nữ của nhóm 20% nghèo nhất là 3,5 con so với mức2,1 con của nhóm 20% giàu nhất Quy mô hộ gia đình lớn làm cho tỷ lệ người

ăn theo cao (tỷ lệ người ăn theo của nhóm nghèo nhất là 0,95 so với 0,37 củanhóm giàu nhất) Tỷ lệ người ăn theo cao còn có ý nghĩa là nguồn lực về laođộng rất thiếu, đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đóicủa hộ

Nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác

Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khănhàng ngày và những biến động bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đìnhhay cộng đồng Do nguồn thu nhập của họ rất thấp, bấp bênh, khả năng tíchlũy kém nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trongcuộc sống (mất mùa, mất việc làm, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sứckhỏe…) Với khả năng kinh tế mong manh của các hộ gia đình nghèo trongkhu vực nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn lớn trong cuộcsống của họ

Các rủi ro trong sản xuất, kinh doanh đối với người nghèo cũng rấtcao, do họ không có trình độ tay nghề và thiếu kinh nghiệm làm ăn Khả năngđối phó và khắc phục các rủi ro của người nghèo cũng rất kém do nguồn thunhập hạn hẹp làm cho hộ gia đình mất khả năng khắc phục rủi ro và có thểcòn gặp rủi ro hơn nữa

Bất bình đẳng giới ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của phụ nữ

và trẻ em

Bất bình đẳng giới làm ảnh hưởng sâu sắc hơn tình trạng nghèođói trên tất cả các mặt Ngoài những bất công mà cá nhân phụ nữ và trẻ em

Trang 17

gái phải chịu đựng do bất bình đẳng thì còn có những tác động bất lợi đối vớigia đình.

Phụ nữ chiếm gần 50% trong tổng số lao động nông nghiệp vàchiếm tỷ lệ cao trong số lao động tăng thêm hàng năm trong ngành nôngnghiệp Mặc dù vậy, phụ nữ chỉ chiếm 25% thành viên các khóa khuyến nông

về chăn nuôi, và 10% các khóa khuyến nông về trồng trọt

Phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng và đào tạo,thường gặp nhiều khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyềnquyết định trong hộ gia đình và thường được trả công lao động thấp hơn namgiới ở cùng một loại công việc Phụ nữ có học vấn thấp dẫn tới tỷ lệ tử vongtrẻ sơ sinh và bà mẹ cao hơn, sức khỏe của gia đình bị ảnh hưởng và trẻ em đihọc ít hơn

Bệnh tật và sức khỏe yếu kém cũng là yếu tố đẩy con người vào tình trạng nghèo đói

Vấn đề bệnh tật và sức khỏe kém ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập

và chi tiêu của người nghèo, làm họ rơi vào vòng tròn luẩn quẩn của đóinghèo Họ phải gánh chịu hai gánh nặng: một là mất đi thu nhập từ lao động,hai là gánh chịu chi phí cao cho việc khám chữa bệnh, kể cả chi phí trực tiếp

và gián tiếp Do vậy, chi phí chữa bệnh là gánh nặng đối với người nghèo vàđẩy họ đến chỗ vay mượn, cầm cố tài sản để có tiền trang trải chi phí, dẫn đếntình trạng càng có ít cơ hội cho người nghèo thoát khỏi vòng đói nghèo.Trong khi đó, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ phòng bệnh (nước sạch, cácchương trình y tế…) của người nghèo còn hạn chế càng làm tăng khả năng bịmắc bệnh của họ

Những tác động của chính sách vĩ mô và chính sách cải cách đến đói nghèo

Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian qua là

Trang 18

một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn tới mức giảm nghèo Việt Nam đã đạtđược những thành tích giảm nghèo đói rất đa dạng và trên diện rộng Tuynhiên, quá trình phát triển và mở cửa nền kinh tế cũng có những tác động tiêucực đến người nghèo.

Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nôngthôn còn thấp, chủ yếu mới tập trung cho thủy lợi; các trục công nghiệp chính,chú trọng nhiều vào đầu tư thay thế nhập khẩu, thu hút nhiều vốn; chưa chútrọng đầu tư vào các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động, chưa chú ýkhuyến khích kịp thời phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; nhiều chính sáchtrợ cấp (lãi suất tín dụng, trợ giá, trợ cước…) không đúng đối tượng làm ảnhhưởng xấu đến sự hình thành thị trường nông thôn, thị trường ở những vùngsâu, vùng xa

Cải cách các doanh nghiệp nhà nước và các khó khăn về tài chínhcủa các doanh nghiệp nhà nước đã dẫn tới việc mất đi gần 800.000 việc làmtrong giai đoạn đầu tiến hành cải cách doanh nghiệp Nhiều công nhân bị mấtviệc làm đã gặp nhiều khó khăn trong việc tìm việc làm mới và bị rơi vàonghèo đói Phần lớn số người này là phụ nữ, người có trình độ học vấn thấp

và người lớn tuổi

Chính sách cải cách nền kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh lànhmạnh, tự do hóa thương mại tạo ra những động lực tốt cho nền kinh tế,khuyến khích các doanh nghiệp phát triển Tuy nhiên, một số ngành côngnghiệp thu hút nhiều lao động chưa được chú trọng, các doanh nghiệp nhỏ vàvừa có khả năng tạo việc làm chưa được quan tâm và tạo cơ hội phát triển.Tình trạng thiếu thông tin, trang thiết bị sản xuất lạc hậu, khả năng cạnh tranhcủa sản phẩm thấp, và năng lực sản xuất hạn chế đã làm không ít các doanhnghiệp nhỏ và vừa bị phá sản và đẩy công nhân vào cảnh thất nghiệp, họ sẽbuộc phải gia nhập đội ngũ người nghèo

Trang 19

Kết cấu hạ tầng giao thông đến các vùng sâu, vùng xa, vùng đóinghèo còn thiếu và yếu kém Việc tiếp cận đến các vùng này còn hết sức khókhăn Vốn đầu tư của Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu, đóng góp nguồnlực của nhân dân còn hạn chế, chủ yếu bằng lao động.

Bảng 1.4: Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng nghèo đói

Thiếu thông tin về thị trường 35%

Thế giới đang bước vào kỷ nguyên mới của sự phát triển dựa trên cơ

sở công nghệ thông tin và kinh tế tri thức, nhiều quốc gia đang trên đà pháttriển phồn vinh Tuy nhiên, tình trạng nghèo khổ cũng đang là thách thức lớn

ở nhiều quốc gia Mâu thuẫn gay gắt, không thể chấp nhận được giữa sự tăngtrưởng, phát triển phồn vinh và gia tăng nghèo khổ trên thế giới đã đặt ranhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của các quốc gia và cộng đồng quốc tế hướng vàoXĐGN, trước hết là xóa bỏ tình trạng nghèo tuyệt đối Chính vì vậy, tại Hội

Trang 20

nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội (tháng 3 - 1995 ởCôpenhaghen, Đan Mạch), nguyên thủ các quốc gia đã cam kết thực hiện:

“Mục tiêu xóa đói giảm nghèo trên thế giới thông qua các hành động quốc gia kiên quyết và sự hợp tác quốc tế, coi đây là một đòi hỏi bắt buộc về đạo đức, xã hội, chính trị và kinh tế của nhân loại”.

Nói đến đói nghèo là nói về con người, liên quan đến sự phát triểncon người Vì vậy, nhận thức của nhân loại về phát triển xã hội coi đói nghèo

là một trong những bất công lớn nhất của bất công xã hội Đói nghèo có nghĩa

là không có cơ hội phát triển, không được bảo vệ trong cuộc sống và không

có vị thế gì trong xã hội Người nghèo, đặc biệt là nghèo tuyệt đối, gắn liềnvới sự bất bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực để phát triển kinh tế (kỹthuật, công nghệ, vốn, các tư liệu sản xuất chủ yếu, nhất là đất đai …), vốnnhân lực của người nghèo thường rất hạn chế, khả năng cạnh tranh trong kinh

tế thị trường yếu kém, được hưởng lợi ít hơn từ các kết quả tăng trưởng;người nghèo cũng khó có cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội, kể cả dịch vụ xãhội cơ bản (y tế, giáo dục, nước sạch sinh hoạt …) và đặc biệt là dịch vụ xãhội chất lượng cao, do người nghèo khó có khả năng thanh toán các chi phí;

vị thế, địa vị xã hội của người nghèo cũng thấp, người nghèo thường ít cótiếng nói và rất hạn chế tham gia vào các quyết định có tính chất cộng đồng

Theo Ngân hàng Phát triển châu Á, “đói nghèo làm cho con người mất đi những tài sản cơ bản và cơ hội mà mỗi con người có quyền được hưởng” [9,

tr.3] Đói nghèo là một trong những sự sỉ nhục đối với các giá trị chung của

xã hội Do vậy, tấn công vào đói nghèo dựa trên nền tảng: “mở rộng cơ hội kinh tế cho người nghèo, giúp người nghèo quản lý các rủi ro trong cuộc sống và tăng quyền lực cho người nghèo, chính là cuộc tấn công vào xóa bỏ bất công xã hội, thực hiện công bằng xã hội, tạo cơ hội cho người nghèo trong phát triển” [8, tr.32].

Trang 21

Mặt khác, XĐGN còn góp phần to lớn vào sự phát triển xã hội bềnvững Tăng trưởng có thể mở đường cho XĐGN XĐGN là tháo gỡ mắt xíchquan trọng nhất của sự phát triển Vì đấu tranh chống đói nghèo không chỉ tạođiều kiện cho tăng trưởng, mà còn nâng cao năng lực con người, phát huy vốnnhân lực, tạo môi trường chính trị, xã hội và kinh tế ổn định, chống nguy cơtổn thương, bảo vệ môi trường Chính sách XĐGN gắn với phát triển và coiđầu tư cho XĐGN là đầu tư cho phát triển, chính là chăm lo đến con người,hướng vào phát triển con người, xây dựng một xã hội mà ở đó mọi người cócuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc Có thể nói rằng, XĐGN vừa là mục tiêu,vừa là động lực của sự phát triển xã hội bền vững

Tại Việt Nam, xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội của đất nướckhi bước vào thời kỳ đổi mới thì sự phân hóa giàu nghèo diễn ra rất nhanh,nếu không tích cực XĐGN và giải quyết tốt các vấn đề xã hội khác thì khó cóthể đạt được mục tiêu xây dựng một cuộc sống ấm no về vật chất, tốt đẹp vềtinh thần, vừa phát huy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thuđược yếu tố lành mạnh và tiến bộ của thời đại

Hiện nay, XĐGN về kinh tế là điều kiện tiên quyết để XĐGN về vănhóa, xã hội Vì vậy, phải tiến hành thực hiện XĐGN cho các hộ nông dân sinhsống ở vùng cao, vùng sâu, hải đảo và những vùng căn cứ kháng chiến cáchmạng cũ, nhằm phá vỡ thế sản xuất tự cung, tự cấp, độc canh, đẩy mạnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế sản xuất nông nghiệp trên toàn quốc theo hướngsản xuất hàng hóa, phát triển công nghiệp nông thôn, mở rộng thị trường nôngthôn, tạo việc làm tại chỗ, thu hút lao động ở nông thôn vào sản xuất tiểu thủcông nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ là con đường cơ bản để XĐGN ởnông thôn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn được xem như là một giảipháp hữu hiệu, tạo bước ngoặt cho phát triển ở nông thôn, nhằm XĐGN ởnông thôn nước ta hiện nay

Trang 22

Phát triển kinh tế nông thôn còn là nền tảng, là cơ sở để cho sự tăngtrưởng và phát triển một nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự nghiệp đổimới đất nước Hơn thế nữa, nó còn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị - xã hội.XĐGN nhằm nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc tốt sức khỏe nhân dân, giúp

họ có thể tự mình vươn lên trong cuộc sống, sớm hòa nhập vào cuộc sốngcộng đồng, xây dựng được các mối quan hệ xã hội lành mạnh, giảm đượckhoảng trống ngăn cách giữa người giàu và người nghèo, ổn định tinh thần,

có niềm tin vào bản thân, từ đó có niềm tin vào đường lối, chủ trương củaĐảng và Nhà nước Đồng thời hạn chế, xóa bỏ được các tệ nạn xã hội khác,bảo vệ môi trường sinh thái

Ngoài ra còn có thể nói rằng, không giải quyết thành công các nhiệm

vụ và yêu cầu XĐGN thì không chủ động giải quyết được xu hướng gia tăngphân hóa giàu nghèo, có nguy cơ dẫn tới phân hóa giai cấp với hậu quả là sựbần cùng hóa và do vậy đe dọa tình hình ổn định chính trị và xã hội, làmchệch định hướng XHCN của sự phát triển kinh tế - xã hội

1.2 QUAN NIỆM VỀ THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

1.2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện xóa đói giảm nghèo trong xã hội

Xét tình hình thực tế, khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới thì sự phânhóa giàu nghèo diễn ra rất nhanh nếu không tích cực xoá đói giảm nghèo vàgiải quyết tốt các vấn đề xã hội khác thì khó có thể đạt được mục tiêu xâydựng một cuộc sống ấm no về vật chất, tốt đẹp về tinh thần, vừa phát huyđược truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu được yếu tố lành mạnh vàtiến bộ của thời đại

Trang 23

Do đó trong chính sách phát triển kinh tế -xã hội thời kỳ 2010 - 2015nhà nước đã xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó cóchương trình đề án quốc gia về xoá đói giảm nghèo Như vậy, xoá đói giảmnghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà nó còn là vấn đề kinh tế -xãhội quan trọng, do đó phải có sự chỉ đạo thống nhất giữa chính sách kinh tếvới chính sách xã hội.

Xuất phát từ điều kiện thực tế nước ta hiện nay, xoá đói giảm nghèo vềkinh tế là điều kiện tiên quyết để xoá đói giảm nghèo về văn hoá, xã hội Vìvậy, phải tiến hành thực hiện xoá đói giảm nghèo cho các hộ nông dân sinhsống ở vùng cao, vùng sâu, hải đảo và những vùng căn cứ kháng chiến cáchmạng cũ, nhằm phá vỡ thế sản xuất tự cung, tự cấp, độc canh, đẩy mạnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế sản xuất nông nghiệp trên toàn quốc theo hướngsản xuất hàng hoá, phát triển công nghiệp nông thôn, mở rộng thị trường nôngthôn, tạo việc làm tại chỗ, thu hút lao đông ở nông thôn vào sản xuát tiểu thủcông nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ là con đường cơ bản để xoá đói giảmnghèo ở nông thôn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn phải được xemnhư là 1 giải pháp hữu hiệu, tạo bước ngoạt cho phát triển ở nông thôn, nhằmxoá đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay

Tiếp tục đổi mới nền kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá trên cơ sởnền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Đó là con đường để chomọi người vượt qua đói nghèo, để nhà nước có thêm tiềm lực về kinh tế đểchủ động xoá đói giảm nghèo Đây là sự thể hiện tư tưởng kinh tế của Hồ ChủTịch:" Giúp đỡ người vươn lên khá, ai khá vươn lên giàu, ai giàu thì vươn lêngiàu thêm".Thực hiện thành công chương trình xoá đói giảm nghèo không chỉđem lại ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thu nhập chính đáng cho ngườinông dân ổn định cuộc sống lâu dài, mà xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh

tế nông thôn còn là nền tảng, là cơ sở để cho sự tăng trưởng và phát triển 1

Trang 24

nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước Hơn thế nữa

nó còn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị xã hội Xoá đói giảm nghèo nhằmnâng cao trình độ dân trí, chăn sóc tốt sức khoẻ nhân dân, giúp họ có thể tựmình vươn lên trong cuộc sống, sớm hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng, xâydựng được các mối quan hệ xã hội lành mạnh, giảm được khoảng trống ngăncách giữa người giàu với người nghèo, ổn định tinh thần, có niềm tin vào bảnthân, từ đó có lòng tin vào đường lối và chủ trương của đảng và Nhà nước.Đồng thời hạn chế và xoá bỏ được các tệ nạn xã hội khác, bảo vệ môi trườngsinh thái

Ngoài ra còn có thể nói rằng không giải quyết thành công các nhiệm vụ

và yêu cầu xoá đói giảm nghèo thì sẽ không chủ động giải quyết được xuhướng gia tăng phân hoá giàu nghèo, có nguy cơ đẩy tới phân hoá giai cấp vớihậu quả là sự bần cùng hoá và do vậy sẽ đe doạ tình hình ổn định chính trị và

xã hội làm chệch hướng XHCN của sự phát triển kinh tế -xã hội Không giảiquyết thành công các chương ttrình xoá đói giảm nghèo sẽ không thể thựchiện được công bằng xã hội và sự lành mạnh xã hội nói chung Như thế mụctiêu phát triển và phát triển bền vững sẽ không thể thực hiện được Không tậptrung nỗ lực, khả năng và điều kiện để xoá đói giảm nghèo sẽ không thể tạođược tiền đề để khai thác và phát triển nguồn lực con người phục vụ cho sựnghiệp CNH-HĐH đất nước nhằm đưa nước ta đạt tới ttrình độ phát triểntương đương với quốc tế và khu vực, tháo khỏi nguy cơ lạc hậu và tụt hậu

Việt Nam còn là một nước nghèo và phát triển ở trình độ thấp, có điểmxuất phát rất thấp, chiến tranh kéo dài để lại hậu quả nặng nề; là đất nướcthường xuyên bị thiên tai… nên vấn đề XĐGN càng trở nên quan trọng và là

sự nghiệp cách mạng trọng đại của toàn Đảng, toàn dân Chính vì vậy, ngay

từ khi nước ta mới giành được độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xácđịnh đói nghèo như là một thứ “giặc”, cũng như giặc dốt, giặc ngoại xâm

Trang 25

Người dạy, cần phải “làm thế nào cho đời sống của nhân dân ta vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn” [27, tr.5] Người cũng chủ trương khuyến khích mọi người làm giàu với mục đích: Làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm” [27, tr.65].

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong các chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước ta về XĐGN, nhất là trong thời kỳ đổi mới.Ngay từ Đại hội VI (1986 - 1990), quan điểm của Đảng ta là phải tập trung ưutiên phát triển kinh tế, đồng thời phải thực hiện công bằng xã hội, từng bướccải thiện đời sống nhân dân Đặc biệt, chủ trương của Đảng ta trong Nghịquyết Đại hội VI hướng vào giải quyết một cách căn bản vấn đề lương thực:

phải đạt cho được mục tiêu bảo đảm nhu cầu ăn của toàn xã hội và bước đầu

có dự trữ” [20, tr.154] Đây là một chủ trương cực kỳ quan trọng, có tính chất

đột phá, liên quan đến an ninh lương thực và tấn công vào đói nghèo, nhất làđói nghèo “về lương thực, thực phẩm” (đói nghèo tuyệt đối) khá phổ biến ởnước ta những năm đầu đổi mới

Quan điểm nhất quán của Đảng ta trong đổi mới là tăng trưởng kinh tếphải gắn liền với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bướcphát triển được quán triệt rất rõ trong chủ trương XĐGN Nghị quyết Đại hội

VII (giai đoạn 1991 - 1995) của Đảng đã chỉ rõ, một mặt: “khuyến khích mọi người tăng thu nhập và làm giàu dựa vào kết quả lao động và hiệu quả kinh tế”, mặt khác: “Bảo đảm vững chắc nhu cầu lương thực, khắc phục tình trạng thiếu đói thường xuyên và nạn đói giáp hạt ở một số vùng” [17, tr.73] Tư

tưởng chỉ đạo ở đây vẫn là tập trung vào giải quyết cơ bản vấn đề “đói nghèotuyệt đối”, đói nghèo về “lương thực, thực phẩm”

Giai đoạn 1996 - 2000, kinh tế nước ta bị tác động bởi cuộc khủnghoảng tài chính, kinh tế khu vực và thế giới những năm 1997 - 1998, cộng vớithiên tai liên tiếp xảy ra, công cuộc XĐGN càng trở nên quan trọng và cấp

Trang 26

bách Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã xác định rõ XĐGN là một trongnhững chương trình phát triển kinh tế - xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa cơbản lâu dài Lần đầu tiên trong Nghị quyết Đại hội Đảng đã đưa ra chỉ tiêu về

XĐGN đến năm 2000 và các năm tới: “Giảm tỷ lệ nghèo đói trong tổng số hộ của cả nước từ 20% - 25% hiện nay xuống còn khoảng 10% vào năm 2000, bình quân giảm 300.000 hộ/năm Trong 2 - 3 năm đầu của kế hoạch 5 năm, tập trung xóa về cơ bản hộ đói kinh niên” [18, tr.221].

Như vậy, đến đại hội VIII, nhận thức của Đảng ta về XĐGN cơ bản vẫn

là giải quyết vấn đề ăn (XĐGN về lương thực, thực phẩm) Tuy nhiên, nộidung của chính sách XĐGN đã được mở rộng, nhất là đáp ứng các nhu cầu cơbản, thiết yếu trong đời sống của người nghèo (giáo dục, chăm sóc sứckhỏe…)

Đến Đại hội IX, nhận thức của Đảng ta về XĐGN được nâng lên tầmcao mới, đặt XĐGN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2001 -

2010 và nhấn mạnh làm tốt công tác XĐGN sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế,thực hiện công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóadân tộc, tích cực phát triển và bảo vệ môi trường, góp phần ổn định và pháttriển bền vững đất nước, từng bước hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu

hóa Đảng ta luôn chủ trương “Khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng thời

ra sức xóa đói giảm nghèo” [19, tr.163] Như vậy là đến Đại hội IX, nhận

thức của Đảng ta về XĐGN chuyển dần sang hướng XĐGN bền vững và gắnvới phát triển

Có thể nói rằng, chủ trương, quan điểm của Đảng ta về XĐGN thể hiệnrất rõ quan điểm có tính chất chiến lược, xuyên suốt và nhất quán là tăngtrưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trongtừng bước phát triển, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh”

Trang 27

1.2.2 Nội dung QLNN về xóa đói giảm nghèo

Hoạch định chiến lược và chính sách XĐGN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước

+ Hoạch định các chiến lược để XĐGN theo từng giai đoạn: 5 năm, 10năm, 20 năm dựa trên điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

· Năm 1998, Chính phủ Việt Nam đã có Quyết định số 133/1998/QĐphê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Xóa đói giảm nghèo giai đoạn

1998 - 2000

· Năm 2002, Chính phủ Việt Nam công bố Chiến lược toàn diện vềtăng trưởng và xóa đói giảm nghèo (CPRGS); Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2001 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia vềxóa đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 – 2005; Quyết định 135 phêduyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miềnnúi và vùng sâu, vùng xa

· Năm 2007, Chính phủ Việt Nam công bố Quyết định số20/2007/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giaiđoạn 2006 - 2010

+ Hoạch định các chính sách chủ chốt để XĐGN

· Chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo nhằm cung cấp tíndụng ưu đãi cho các hộ nghèo có sức lao động, có nhu cầu về vốn để pháttriển sản xuất, tăng thu nhập và tự vượt nghèo

· Chính sách khuyến nông - lâm - ngư và hỗ trợ phát triển sản xuất,phát triển ngành nghề nhằm hỗ trợ người nghèo về kiến thức và kỹ năng xâydựng kế hoạch, bố trí sản xuất hợp lý, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào tổ chứcsản xuất và kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, tăng thu nhập và giảm nghèo bềnvững

· Chính sách hỗ trợ đất sản xuất cho hộ nghèo dân tộc thiểu số nhằm

Trang 28

hỗ trợ đất sản xuất cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khókhăn nhằm mục đích cùng với việc thực hiện các chương trình kinh tế- xã hội,Nhà nước trực tiếp hỗ trợ hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo để có điều kiệnphát triển sản xuất, cải thiện đời sống, sớm thoát nghèo.

· Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở nhằm mục đích hỗ trợ các hộnghèo để có nhà ở ổn định, an toàn, từng bước nâng cao mức sống, góp phầnxoá đói, giảm nghèo bền vững

· Chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo nhằm hỗ trợ người nghèotiếp cận dịch vụ y tế khi ốm đau thuận lợi hơn, bình đẳng hơn; giảm thiểu khókhăn, rủi ro cho người nghèo

· Chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo nhằm hỗ trợ con em

hộ nghèo được tới trường học tập bình đẳng như các trẻ em khác, góp phầnnâng cao trình độ văn hoá của người nghèo

· Chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo nhằm bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp cho người nghèo, góp phần đảm bảo công lý và công bằngcho người nghèo trong việc tiếp cận với pháp luật; nâng cao hiểu biết phápluật cho người nghèo để họ thực hiện pháp luật, tham gia phát triển kinh tế,XĐGN thực hiện dân chủ ở cơ sở

+ Xây dựng các dự án cấp quốc gia:

· Dự án dạy nghề cho người nghèo nhằm trợ giúp lao động nghèo cóđược tay nghề cần thiết để tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập thông qua cáchình thức dạy nghề phù hợp để họ tự tạo việc làm tại chỗ, việc làm ngoại tỉnh,việc làm tại các doanh nghiệp bao gồm cả các nông trường, khu kinh tế quốcphòng, đặc biệt là các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ; tham gia lao độngxuất khẩu góp phần giảm nghèo bền vững

· Dự án hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu các xã đặc biệt khókhăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo nhằm hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng

Trang 29

thiết yếu phục sản xuất và dân sinh ở các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngangven biển và hải đảo góp phần đẩy nhanh tiến độ giảm nghèo ở các xã này

· Dự án nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác giảm nghèo cáccấp nhằm đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác giảm nghèo

Tổ chức triển khai thực hiện các chính sách, chương trình XĐGN

Cấp Ủy và UBND các cấp xây dựng và tổ chức thực hiện các dự ánthuộc chương trình XĐGN quốc gia phù hợp với điều kiện thực tế tại địaphương

+ Tổ chức điều tra, quản lý hộ XĐGN và phường, xã nghèo:

· Công tác ghi phiếu điều tra, phúc tra bổ sung hộ XĐGN được thựchiện trực tiếp tại cấp xã UBND các xã tổ chức công khai danh sách hộXĐGN để được xem xét dân chủ Đây là bước đầu tiên xác nhận danh sách hộthực tế để tiến hành điều tra, phúc tra

· Danh sách hộ chương trình XĐGN được lưu giữ đầy đủ, chính xáctại UBND xã để tổ chức quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả

· Định kỳ hàng năm, Ban XĐGN cấp xã thực hiện công tác kiểm tra vàphân loại mức sống của hộ chương trình Kết quả kiểm tra và phân loại mứcsống của hộ chương trình là cơ sở chủ yếu để đánh giá hiệu quả hoạt độngchương trình XĐGN tại địa phương

+ Công tác tạo nguồn, quản lý và sử dụng vốn cho việc XĐGN:

· Quỹ chương trình XĐGN được lập ra nhằm mục đích trợ giúp chonhững hộ dân nghèo đói thuộc đối tượng chương trình XĐGN mượn vốn sảnxuất, kinh doanh và hoạt động dịch vụ giải quyết cuộc sống, hoặc học nghề để

có việc làm, tạo điều kiện thiết thực đạt được mục tiêu xóa hộ đói và nâng dầnmức sống hộ nghèo, góp phần tích cực vào sự nghiệp dân giàu nước mạnh

· Quỹ XĐGN được tạo lập ở 4 cấp: trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện vàcấp xã Nguồn quỹ huy động trên cơ sở tự nguyện đóng góp bằng hình thức

Trang 30

cho không hoặc cho mượn của các tổ chức, đơn vị, cá nhân trong và ngoàinước Quỹ XĐGN các cấp được phân bổ bằng hai hình thức: trực tiếp hoặchợp đồng ủy thác vốn qua các tổ chức Mặt trận tổ quốc, đoàn thể, hội nghềnghiệp

+ Tổ chức nhân rộng mô hình giảm nghèo nhằm xây dựng và nhânrộng các mô hình giảm nghèo có hiệu quả góp phần đẩy nhanh tốc độ giảmnghèo chung của cả nước

+ Tổ chức kiểm tra, đánh giá định kỳ chương trình giảm nghèo tại cáccấp nhằm:

· Đánh giá việc triển khai, tổ chức thực hiện chương trình giảm nghèo

ở địa phương

· Đánh giá việc thực hiện quy trình rà soát hộ nghèo hàng năm theoThông tư số 04/2007/TT-BLĐTBXH ngày 28/02/2007 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo hàng năm

· Đánh giá việc thực hiện các chính sách, dự án giảm nghèo trên địabàn

· Đề xuất các giải pháp, biện pháp và kiến nghị của địa phương trong

tổ chức thực hiện

+ Báo cáo kết quả kiểm tra, đánh giá:

· Kết quả kiểm tra, đánh giá phải được báo cáo với cơ quan có thẩmquyền theo quy định, chậm nhất sau 10 ngày khi kết thúc kiểm tra

· Nội dung báo cáo kết quả kiểm tra, đánh giá: báo cáo hành chính;báo cáo nội dung và kết quả kiểm tra theo từng nội dung; các báo cáo thựchiện chương trình giảm nghèo của địa phương, số liệu liên quan; biên bảnkiểm tra, biên bản toạ đàm, tham vấn với cán bộ các cấp và hộ dân

Tổ chức kiện toàn bộ máy làm công tác XĐGN

+ Tại Trung ương:

Trang 31

· Bộ LĐTB&XH: Là cơ quan thường trực giúp Chính phủ trong việcphối hợp các bộ, ngành có liên quan và các địa phương thực hiện chươngtrình mục tiêu quốc gia XĐGN; Chủ trì phối hợp với các Bộ, Ngành liên quanxây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm về mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp

và nhu cầu kinh phí thực hiện chương trình gửi Bộ Kế hoạch & Đầu tư và BộTài chính để tổng hợp tình hình báo cáo Chính phủ; Xây dựng cơ chế, chínhsách hướng dẫn thực hiện chương trình; đề xuất cơ chế hỗ trợ hộ, xã mớithoát nghèo trình Thủ tướng Chính phủ

· Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Chỉ đạo hướng dẫn thựchiện dự án khuyến nông - lâm - ngư và hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triểnngành nghề, phối hợp với các Bộ, ngành chỉ đạo đầu tư các công trình cơ sở

hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và

hộ nghèo, xã nghèo

· Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Có trách nhiệm cân đối và phân bổ nguồnlực cho chương trình; phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan xây dựng cơ chế,chính sách quản lý thực hiện chương trình

· Bộ Tài chính: Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư bố trí ngân sáchcho các Bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện chương trình theo quyđịnh của Luật Ngân sách Nhà nước; chủ trì, hướng dẫn cơ chế tài chính đốivới các chính sách, dự án của chương trình; phối hợp với Bộ LĐTB&XH xâydựng văn bản hướng dẫn kiểm tra, giám sát chi tiêu tài chính thực hiệnchương trình; tổng hợp quyết toán kinh phí chương trình

· Bộ Thủy sản: Chủ trì, phối hợp với các Bộ, Ngành chỉ đạo các môhình nuôi trồng thủy sản; hướng dẫn xây dựng công trình phục vụ phát triểnthủy sản ở các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo

· Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiệnchính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo và các đối tượng chính sách của Ngân

Trang 32

hàng Chính sách Xã hội.

· Ủy ban Dân tộc: Chỉ đạo hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ đấtsản xuất cho hộ nghèo dân tộc thiểu số; chính sách hỗ trợ nhà ở, nước sinhhoạt cho hộ nghèo dân tộc thiểu số và phối hợp với các Bộ, ngành thực hiệncác chính sách liên quan đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số

· Bộ Xây dựng: Phối hợp với Ủy ban Dân tộc và các Bộ, Ngành chỉđạo hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở và nước sinhhoạt

· Bộ Y tế: Chỉ đạo thực hiện chính sách hỗ trợ về y tế cho ngườinghèo

· Bộ Giáo dục và Đào tạo: Chỉ đạo thực hiện chính sách hỗ trợ về giáodục cho người nghèo

· Bộ Nội vụ: Chỉ đạo thực hiện việc bố trí cán bộ làm công tác giảmnghèo ở các cấp

· Bộ Tư pháp: Chỉ đạo thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho ngườinghèo

· Bộ Giáo dục Đào tạo: Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liênquan tổ chức thực hiện dự án tín dụng cho người nghèo

· Các cơ quan thông tin tuyên truyền: Có trách nhiệm tuyên truyềnnâng cao nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa của chương trình XĐGN;tuyên truyền các mô hình, cách làm hay, sáng tạo, có hiệu quả về giảm nghèo,tuyên truyền về kết quả hoạt động của chương trình XĐGN, thông qua đónâng cao trách nhiệm về thực hiện công tác giảm nghèo

Để tổ chức thực hiện chương trình XĐGN trong cả nước, Chính phủ đãquy định việc quản lý chương trình XĐGN theo tinh thần Quyết định số531/1996/QĐ-TTg ngày 8/8/1996 về quản lý các chương trình quốc gia vàQuyết định số 05/1998/QĐ-TTg ngày 14/4/1998 về quản lý các chương trình

Trang 33

mục tiêu quốc gia Quyết định đã thể chế hóa việc thành lập Ban chủ nhiệmChương trình XĐGN và các bộ, ngành là chủ dự án có trách nhiệm phối hợpvới Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể trong việc tổ chức,triển khai thực hiện chương trình.

Ngày 12 tháng 12 năm 2001, Bộ LĐTB&XH đã ban hành Quyết định

số 1373/QĐ-LĐTBXH về việc thành lập Văn phòng CTMTQG về XĐGN đểgiúp việc cho Ban chủ nhiệm Chương trình

Văn phòng Chương trình XĐGN được thành lập tại Bộ LĐTBXH năm

1998 nhằm giúp việc cho Ban Chủ nhiệm CTMTQG quản lý và điều phốithực hiện CTMTQG về XĐGN Văn phòng thực hiện những chức năng sauđây:

· Thứ nhất, giúp Chủ nhiệm Chương trình quốc gia tổng hợp các kế

hoạch của Chương trình, bao gồm cả kế hoạch tài chính;

· Thứ hai, giúp Ban Chủ nhiệm theo dõi và điều phối hàng ngày các

hoạt động của Chương trình do các cơ quan, bộ, ngành và địa phương khácthực hiện;

· Thứ ba, chuẩn bị các báo cáo tiến độ của chương trình và tổ chức các

cuộc họp của Ban Chủ nhiệm

+ Tại địa phương:

Các đơn vị chủ chốt tham gia thực hiện Chương trình XĐGN khôngphải là các cơ quan trung ương mà là chính quyền các địa phương, cụ thể làTỉnh ủy và UBND tỉnh chịu trách nhiệm xây dựng chỉ tiêu, tổ chức, hướngdẫn và điều phối quá trình thực hiện Chương trình XĐGN tại địa phương vàcác nguồn lực của Chương trình

+ Sự phân cấp QLNN về XĐGN giữa trung ương và địa phương:

· Tại trung ương:

Chính phủ: thống nhất quản lý, chỉ đạo điều hành thực hiện chương

Trang 34

trình XĐGN trong cả nước Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban chỉ đạochương trình giảm nghèo do Phó Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng ban,thành viên là lãnh đạo các Bộ, ngành.

Các Bộ, ngành theo chức năng của mình xây dựng trình Chính phủ,Thủ tướng Chính phủ các văn bản quy định cụ thể và tổ chức thực hiện,hướng dẫn các tỉnh xây dựng Đề án giảm nghèo bền vững trên địa bàn; Các

Bộ ưu tiên nguồn lực từ các chương trình, dự án thuộc phạm vi quản lý để đầu

tư hoàn thành trước các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho cácvùng nghèo

Ban Chỉ đạo thực hiện các Chương trình giảm nghèo hướng dẫn, chỉđạo, theo dõi, kiểm tra, đánh giá tiến độ và định kỳ hàng năm báo cáo Chínhphủ kết quả thực hiện Chương trình

· Tại địa phương:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh tổ chức phê duyệt Đề áncủa các huyện; chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiệncác mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình, bố trí đủ vốn đầu tư cho các huyệntrong tổng mức vốn được phê duyệt; chỉ đạo xây dựng và phê duyệt kế hoạchhàng năm của các huyện; hàng năm tổ chức giám sát, đánh giá kết quả thựchiện, gửi Bộ LĐTB&XH tổng hợp báo cáo Chính phủ

UBND các huyện căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ, cơ chế chính sách,định mức, tiêu chuẩn của Nhà nước để xây dựng Đề án hỗ trợ giảm nghèo bềnvững trên địa bàn trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; chỉ đạo xây dựng kếhoạch hàng năm, tổng hợp nhu cầu từ dưới lên, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên,trình UBND tỉnh phê duyệt; chỉ đạo và phê duyệt kế hoạch hàng năm của cấpxã; thành lập Ban Chỉ đạo của huyện (gồm lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, đạidiện các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp) để chỉ đạo tổ chức thực hiện Đề án

UBND các xã thành lập Ban giảm nghèo cấp xã là tổ chức tư vấn

Trang 35

giúp Đảng ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), UBND cấp xã tổ chức thực hiệnchương trình mục tiêu giảm nghèo trên địa bàn

Đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác XĐGN

Cấp Ủy và UBND các cấp tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ làm công tácXĐGN bảo đảm các tiêu chuẩn: có chuyên môn phù hợp, có đạo đức, nănglực, có tâm huyết trong công tác XĐGN

Cán bộ làm công tác XĐGN các cấp thường xuyên được tham giacác lớp bồi dưỡng kiến thức thực hiện chương trình XĐGN; Được bố trí thamgia sinh hoạt tại các tổ chức đoàn thể chính trị để rèn luyện, phát triển kỹ năngphục vụ cho công tác XĐGN; Được tập huấn, bồi dưỡng về chủ trương, chínhsách, các kỹ năng nghiệp vụ quản lý, điều hành thực hiện công tác XĐGN

Tùy theo khối lượng, tính chất công việc của từng cán bộ, hàngtháng, cán bộ làm công tác chuyên trách XĐGN được trả lương, thù lao, phụcấp và được hưởng các chế độ về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội theo hướngdẫn của Ban chỉ đạo XĐGN

Hàng năm, Ban chỉ đạo XĐGN tổ chức khen thưởng những gươngđiển hình (tập thể, cá nhân) trong việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo tại địaphương

1.3 KINH NGHIỆM VỀ XĐGN Ở MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ Ở MỘT

SỐ ĐỊA PHƯƠNG CỦA VIỆT NAM.

1.3.1 Kinh nghiệm tại một số quốc gia trên thế giới

Hàn Quốc

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Chính phủ Hàn Quốc không chú ýđến việc phát triển nông nghiệp nông thôn mà đi vào tập trung phát triển ở cácvùng đô thị, xây dựng các khu công nghiệp tập trung ở các thành phố lớn, thếnhưng 60% dân số Hàn Quốc sống ở khu vực nông thôn, cuộc sống nghèođói, tuyệt đại đa số là tá điền, ruộng đất tập trung vào sở hữu của giai cấp địa

Trang 36

chủ, nhân dân sống trong cảnh nghèo đói tột cùng Từ đó gây ra làn sóng didân tự do từ nông thôn vào thành thị để kiếm việc làm, chính phủ không thểkiểm soát nổi, gây nên tình trạng mất ổn định chính trị - xã hội Để ổn địnhtình hình chính trị - xã hội, Chính phủ Hàn Quốc buộc phải xem xét lại cácchính sách kinh tế - xã hội của mình, cuối cùng đã phải chú ý đến việc điềuchỉnh các chính sách về phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn vàmột chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn được ra đời gồm 4 nội

dung cơ bản: thứ nhất, mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng

số tiền cho hộ nông dân vay; thứ hai, Nhà nước thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao; thứ ba, thay giống lúa mới có năng suất cao; thứ tư, khuyến

khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn bằng việc thành lập các Hợp tác

xã (HTX) sản xuất và các đội ngũ lao động để sửa chữa đường xá, cầu cống

và nâng cấp nhà ở

Với những nội dung này, Chính phủ Hàn Quốc đã phần nào giúpnhân dân có việc làm, ổn định cuộc sống, giảm bớt tình trạng di dân ra cácthành phố lớn để kiếm việc làm Chính sách này đã được thể hiện thông qua

kế hoạch 10 năm cải tiến cơ cấu nông thôn nhằm cải tiến cơ cấu kinh tế nôngthôn theo hướng đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, từng bước đưa nền kinh

tế phát triển nhằm XĐGN cho dân chúng ở khu vực nông thôn

Hàn Quốc đã trở thành một nước công nghiệp phát triển nhưng chínhphủ vẫn coi trọng những chính sách có liên quan đến việc phát triển kinh tếnông nghiệp nông thôn nhằm XĐGN bền vững cho dân chúng ở khu vựcnông thôn, có như vậy mới tạo thế ổn định và bền vững cho nền kinh tế

Các nước ASEAN

Ngoài Hàn Quốc, Đài Loan còn một số nước ASEAN cũng có nhữngchương trình phát triển kinh tế - xã hội bằng con đường kết hợp giữa nhữngngành công nghiệp mũi nhọn với việc phát triển kinh tế nông thôn với mục

Trang 37

đích xoá đói giảm nghèo trong dân chúng nông thôn Điều đặc trưng quantrọng của các nước ASEAN là ở chỗ những nước này đều có nền sản xuấtnông nghiệp lạc hậu, bước vào công nghiệp hoá có nghĩa là vào lúc khởi đầucủa quá trình công nghiệp hoá Tất cả các nước ASEAN (trừ Singapore) đềuphải dựa vào sản xuất nông nghiệp, lấy phát triển nông nghiệp là một trongnhững nguồn vốn cho phát triển công nghiệp, điển hình là những nước như:Thái Lan, Inđônêxia, Philippin và Malayxia Tất cả những nước này phần lớndân cư sống ở khu vực nông thôn, đời sống kinh tế nghèo nàn lạc hậu, thunhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp Chính vì vậy mà chính phủ các nướcnày trong quá trình hoạch định các chính sach kinh tế - xã hội họ đều rất chútrọng đến các chính sách nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn,giành cho nông nghiệp nông thôn những ưu tiên cần thiết về vốn đầu tư đểtiến hành cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp Tuy nhiên khi bước vàogiai đoạn 2 của quá trình công nghiệp hoá, tất cả các nước ASEAN đều nhậnthấy rằng không thể đi lên chỉ bằng con đường nông nghiệp mà phải đầu tưcho các ngành công nghiệp, dịch vụ Chính vì lẽ đó mà các chính sách về pháttriển nông nghiệp nông thôn cũng như các chương trình phát triển khác nhưchương trình XĐGN không được chú trọng như ở giai đoạn đầu của quá trìnhcông nghiệp hoá Do vậy khoảng cách về thu nhập của những người giàu vớinhững người nghèo là rất lớn Sự phân tầng xã hội là rõ rệt gây mất ổn định

về tình hình chính trị xã hội, từ đó làm mất ổn định trong phát triển kinh tế

Sự phồn vinh của Băng Cốc, Manila được xây dựng trên nghèo khổcủa các vùng nông thôn như ở vùng đông bắc Thái Lan, ở miền trung đảoLudon Cho đến nay sự bất bình đẳng về thu nhập ở Thái Lan vẫn tiếp tục giatăng, các thành phố lớn, các khu công nghiệp vẫn có tỷ lệ tăng trưởng cao,năm 1981 Băng Cốc đóng góp 42% GDP, đến năm 1989 lên tới 48% choGDP trong khi đó phần đóng góp cho GDP ở các vùng khác lại giảm xuống

Trang 38

như ở miền Bắc và miền Nam Thái Lan, phần đóng góp đã giảm xuống từ14,7% (năm 1981) xuống còn 10% (năm 1989).

Ở Malayxia, chính phủ đã thực hiện chính sách phân phối lại trongnền kinh tế quốc dân, nhưng việc phân phối lại thì lợi ích vẫn chủ yếu tậptrung cho tần lớp giàu có, những người nghèo khổ, đặc biệt là nông dân, hầunhư không được chia sẻ lợi ích đó, khái niệm công bằng ở đây là sự côngbằng giữa tầng lớp giàu có Vào năm 1985, ở Malayxia có tới 82.000 hộ giađình ở khu vực nông thôn thuộc diện nghèo đói

Tình trạng nghèo khổ ở Philippin còn tồi tệ hơn, năm 1988 tỷ lệnghèo đói ở Philippin lên tới 49,5% dân số trong 3,1 triệu hộ gia đình đóinghèo thì tới 2,2 triệu gia đình (72,8%) sống ở khu vực nông thôn, đời sốngchủ yếu dựa vào nghề nông, còn 843.000 hộ (27,2%) sống ở khu vực phinông nghiệp Điều này cho thấy đa số những người nghèo Philippin sống tậptrung ở khu vực nông thôn

Tình trạng nghèo khổ ở các nước ASEAN vẫn tiếp tục gia tăng, cùngvới quá trình tăng trưởng kinh tế của các quốc gia này, điều này cho thấy do

sự tăng trưởng kinh tế không theo kịp sự tăng trưởng dân số, mặt khác là doquá trình chuyển dịch cơ cấu sang những ngành sản xuất công nghệ cao củamột số nước ASEAN hiện nay làm cho nạn thất nghiệp ngày càng trầm trọnghơn Để giải quyết tình trạng đói nghèo, chính phủ các nước ASEAN có rấtnhiều cố gắng

Chính phủ Inđônêxia trong kế hoạch 5 năm lần thứ năm đã tăng chỉtiêu cho các hoạt động tạo ra những việc làm mới cho những người chưa cóviệc làm, nhằm tạo thu nhập ổn định cho người lao động, góp phần tích cựccho công cuộc xoá đói giảm nghèo cho nhân dân

Ở Thái Lan, một trong những biện pháp chống nghèo khổ mà nướcnày đã áp dụng là phân bố cơ sở sản xuất công nghiệp xây dựng mới về khu

Trang 39

vực nông thôn, nơi có sẵn tài nguyên thiên nhiên nhằm thu hút số lao độngdôi dư ở khu vực nông nghiệp (để khắc phục tình trạng dân lao động di cưvào thành phố kiếm việc làm) làm tăng thu nhập cho người dân và gia đình

họ Biện pháp này còn nhằm mục đích đô thị hoá nông thôn, đưa những vùngnông thôn hẻo lánh xa xôi vào dòng phát triển chung của đất nước

Những nỗ lực trong các giải pháp chống nghèo khổ của các nướcASEAN đã đem lại những kết quả đáng kể, song để khắc phục tình trạng đóinghèo có tính lâu dài bền vững thì chính phủ các nước này phải duy trì và đẩymạnh nhịp độ tăng trưởng kinh tế Khi nền kinh tế phát triển tạo nên cơ sở vậtchất dể phân phối lại thu nhập qua sự điều tiết của chính phủ và khi nền kinh

tế phát triển thì tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế được nâng cao, từ đó chính phủđầu tư cho việc xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng và giải quyết các vấn

đề xã hội, nhất là chương trình xoá đói giảm nghèo một cách hiệu quả nhất

Trung Quốc

Ngay từ khi Đại hội Đảng XII của Đảng Cộng sản Trung Quốc năm

1984, Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện cải cách trên nhiều lĩnh vực, nhưngcái chính là cải cách cơ cấu nông nghiệp nông thôn Mục đích của nó là làmthay đổi các quan hệ chính trị, kinh tế ở nông thôn, giảm nhẹ gánh nặng về tàichính đã đè quá nặng lên những người nghèo khổ ở nông thôn trong nhiềunăm qua, phục hồi ngành sản xuất nông nghiệp

Sau khi áp dụng một loạt các chính sách cải cách kinh tế ở khu vựcnông thôn, Trung Quốc đã thu được những thành tựu đáng kể, đã tạo ra nhữngthay đổi quan trọng trong thể chế chính trị, thay đổi về căn bản về cơ cấu kinh

tế nông thôn, chuyển đổi phương thức quản lý, thay đổi căn bản phương thứcphân phối, phân phối theo lao động đóng vai trò chính, và Trung Quốc đãthực hiện thành công việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự điềutiết cuả Nhà nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Trang 40

Trong những năm Trung Quốc thực hiện chuyển hướng sang nềnkinh tế thị trường thì sự phân hoá giàu nghèo đã tăng lên rõ rệt trong xã hội.

Do chính sách mở cửa nền kinh tế, các thành phố lớn tập trung các nhà máysản xuất công nghiệp, tuy có phát triển một số nhà máy công nghiệp ở một sốvùng nông thôn, song vùng giàu có thì ngày càng giàu có, vùng nghèo đói thìvẫn nghèo đói, nhất là vùng sâu, vùng xa Để khắc phục tình trạng nghèo khổcho khu vực nông thôn chính phủ đã đưa ra một loạt các giải pháp cơ bảnnhằm xoá đói giảm nghèo cho nhân dân, trong đó có các giải pháp về tậptrung phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, xây dựng các vùng định canh,định cư, khu dân cư mới, chính sách này đã đem lại những thành công đáng

kể cho nền kinh tế - xã hội Trung Quốc trong những năm qua

1.3.2 Kinh nghiệm tại một số địa phương Việt Nam

Tại Việt Nam, nhiều địa phương có những mô hình, giải pháp hay trongXĐGN, đã mang lại hiệu quả to lớn trong công tác XĐGN bền vững tại địaphương Điển hình trong số các địa phương này là tỉnh Hà Giang, Hà Tĩnh,

An Giang, thành phố Hải Phòng…

Hà Giang

Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang đã trích từ ngân sách địa phương đểđầu tư cho nhân dân vay không lãi, hỗ trợ đồng bào có thêm nguồn lực đểvượt qua đói nghèo Nguồn vốn này đã thực sự là một cứu cánh giúp các hộnghèo vượt lên khó khăn, trở ngại mà xưa nay họ khó có khả năng vượt qua.Thông qua nguồn vốn vay không lãi này, các hộ đã đầu tư mua trâu, bò để hỗtrợ sức kéo, kết hợp với chăn nuôi sinh sản, đầu tư vào con giống, tăng lượngphân bón, phát triển thêm diện tích canh tác… góp phần tích cực cho việcchuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, bước đầu cải thiện đời sống Tỷ lệ hộđói nghèo đã giảm từ 44,28% năm 1992 xuống còn 26,07% năm 2000

Hà Tĩnh

Ngày đăng: 15/11/2015, 23:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ansel M. Sharp, Charles A. Register & Paul W. Grimes (1996),“Kinh tế học trong các vấn đề xã hội”, Phan Đặng Cường, Trần Thị Phương Mai, Hoàng Bằng Giang, Nguyễn Ngọc Hùng dịch, NXB. Lao động, Hà Nội, tr.249-256 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kinh tế học trong các vấn đề xã hội”
Tác giả: Ansel M. Sharp, Charles A. Register & Paul W. Grimes
Nhà XB: NXB. Lao động
Năm: 1996
2. Báo cáo mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 2010 (2010) “Việt Nam 2/3 chặng đường thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, hướng tới năm 2015”, Bộ kế hoạch đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Việt Nam2/3 chặng đường thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, hướng tớinăm 2015”
3. Ban chỉ đạo Xóa đói giảm nghèo Tỉnh Bình Phước (2011), “Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình MTQG giảm nghèo từ 1998 đến 2011”(Lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báocáo kết quả thực hiện Chương trình MTQG giảm nghèo từ 1998 đến 2011
Tác giả: Ban chỉ đạo Xóa đói giảm nghèo Tỉnh Bình Phước
Năm: 2011
4. Ban chỉ đạo Xóa đói giảm nghèo Tỉnh Bình Phước (2005) Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện đề án quốc gia về xóa đói giảm nghèo tỉnh Bình Phước giai đoạn 2001 - 2005 (Lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáotổng kết tình hình thực hiện đề án quốc gia về xóa đói giảm nghèo tỉnh BìnhPhước giai đoạn 2001 - 2005
5. Ban chỉ đạo Xóa đói giảm nghèo Tỉnh Bình Phước (2010) Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện đề án quốc gia về xóa đói giảm nghèo tỉnh Bình Phước giai đoạn 2005 - 2010 (Lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáotổng kết tình hình thực hiện đề án quốc gia về xóa đói giảm nghèo tỉnh BìnhPhước giai đoạn 2005 - 2010
6. Ủy ban dân tộc và Liên hiệp quốc tại Việt nam (2010) Tài liệu hội thảo “Giải pháp giảm nghèo nhanh, bền vững vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2011 – 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giải pháp giảm nghèo nhanh, bền vững vùng dân tộc và miền núi giaiđoạn 2011 – 2015
7. Ngân hàng phát triển Châu Á và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2001) “Vốn nhân lực của người nghèo ở Việt Nam tình hình và các lựa chọn về chính sách” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn nhân lực của người nghèo ở Việt Nam tình hình và các lựachọn về chính sách
8. Báo cáo khoa học của trường Đại học KHXH&NV thành phố Hồ Chí Minh về “Nâng cao năng lực nghiên cứu và giảm nghèo tại cộng đồng nông thôn tỉnh Bình Phước theo phương pháp huy động sự tham gia của người dân”. Chủ nhiệm đề tài PGS.TS Trần Thị Kim Xuyến Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nâng cao năng lực nghiên cứu và giảm nghèo tại cộng đồngnông thôn tỉnh Bình Phước theo phương pháp huy động sự tham gia củangười dân”
9. Báo cáo phát triển thế giới 2000 (2001), “Tấn công đói nghèo”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ấn công đói nghèo”
Tác giả: Báo cáo phát triển thế giới 2000
Năm: 2001
10. Bardban and Udry (1999), “Về vốn nhân lực và quan hệ của nó với thu nhập và tình trạng vốn nhân lực của người nghèo ở Việt Nam”, NXB.Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vốn nhân lực và quan hệ của nó vớithu nhập và tình trạng vốn nhân lực của người nghèo ở Việt Nam”
Tác giả: Bardban and Udry
Nhà XB: NXB.Thống kê
Năm: 1999
11. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2008), “Tài liệu về cẩm nang giảm nghèo dành cho cán bộ làm công tác giảm nghèo cấp xã”, NXB. Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tài liệu về cẩm nanggiảm nghèo dành cho cán bộ làm công tác giảm nghèo cấp xã”
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Nhà XB: NXB. Laođộng Xã hội
Năm: 2008
12. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, UNDP (2004), “Đánh giá và lập kế hoạch cho tương lai: đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và Chương trình 135”, NXB. Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá vàlập kế hoạch cho tương lai: đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia về xóađói giảm nghèo và Chương trình 135”
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, UNDP
Nhà XB: NXB. Lao động – Xã hội
Năm: 2004
13. Bộ Tài nguyên và Môi trường, UNDP (2007), “Lắng nghe tiếng nói của người nghèo”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lắng nghe tiếng nóicủa người nghèo”
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường, UNDP
Năm: 2007
14. Đại học Kinh tế Quốc dân (2010), “Những lý luận chung về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo”, NXB. Đại học kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những lý luận chung về đóinghèo và xóa đói giảm nghèo”
Tác giả: Đại học Kinh tế Quốc dân
Nhà XB: NXB. Đại học kinh tế Quốc dân
Năm: 2010
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI”, NXB. Sự thật, Hà Nội, tr.154-155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VI”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Sự thật
Năm: 1987
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII”, NXB. Sự thật, Hà Nội, tr.73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Sự thật
Năm: 1991
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX”, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.163 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ IX”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
19. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X”, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ X”
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
20. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI”, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XI”
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
21. Đinh Đăng Định (2004), “Một số vấn đề về lao động, việc làm và đời sống người lao động ở Việt Nam hiện nay”, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về lao động, việc làm vàđời sống người lao động ở Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Đinh Đăng Định
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: So sánh chuẩn nghèo của một số nước trong khu vực Châu Á - Quản lý nhà nước về việc thực hiện đề án quốc gia xóa đói giảm nghèo ở tỉnh bình phước
Bảng 1.1 So sánh chuẩn nghèo của một số nước trong khu vực Châu Á (Trang 11)
Bảng 1.2: Chuẩn nghèo Việt Nam qua các giai đoạn - Quản lý nhà nước về việc thực hiện đề án quốc gia xóa đói giảm nghèo ở tỉnh bình phước
Bảng 1.2 Chuẩn nghèo Việt Nam qua các giai đoạn (Trang 12)
Bảng 2.2: Tổng hợp hộ nghèo của tỉnh giai đoạn 2001 – 2005 - Quản lý nhà nước về việc thực hiện đề án quốc gia xóa đói giảm nghèo ở tỉnh bình phước
Bảng 2.2 Tổng hợp hộ nghèo của tỉnh giai đoạn 2001 – 2005 (Trang 48)
Hình 2.1: Biểu đồ tình hình giảm hộ nghèo giai đoạn 2001 - 2005 - Quản lý nhà nước về việc thực hiện đề án quốc gia xóa đói giảm nghèo ở tỉnh bình phước
Hình 2.1 Biểu đồ tình hình giảm hộ nghèo giai đoạn 2001 - 2005 (Trang 53)
Bảng 2.3: Tổng hợp hộ nghèo giai đoạn 2006 – 2010 - Quản lý nhà nước về việc thực hiện đề án quốc gia xóa đói giảm nghèo ở tỉnh bình phước
Bảng 2.3 Tổng hợp hộ nghèo giai đoạn 2006 – 2010 (Trang 54)
Hình 2.3: Sơ đồ tổ chức bộ máy QLNN về xóa đói giảm nghèo - Quản lý nhà nước về việc thực hiện đề án quốc gia xóa đói giảm nghèo ở tỉnh bình phước
Hình 2.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy QLNN về xóa đói giảm nghèo (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w