1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NĂM 2012

104 194 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội thảo toàn trường về “Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo” với mục đích là tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của cán bộ, giáo viên, công nhân viên về chất lượng đào tạo

Trang 1

"Các giảI pháp nâng cao chất l−ợng đào tạo năm 2012"

KỶ YẾU HỘI THẢO

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NĂM 2012

BỘ CễNG THƯƠNG

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CễNG NGHIỆP TUY HềA

Trang 2

"Các giảI pháp nâng cao chất l−ợng đào tạo năm 2012"

-BỘ CễNG THƯƠNG

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CễNG NGHIỆP TUY HềA

KỶ YẾU HỘI THẢO

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NĂM 2012

Cơ sở 1 : Nguyễn Tất Thành, P8, Tp Tuy Hũa, tỉnh Phỳ Yờn

Cơ sở 2 : Nguyễn Hữu Thọ, P9, Tp Tuy Hũa, tỉnh Phỳ Yờn

Trang 3

MỤC LỤC

5 Giải pháp nào để nâng cao chất lượng đào tạo ở

trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa

Ths Nguyễn Ngọc A Trưởng phòng Thanh tra

và Kiểm định chất lượng

09

6

Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng

viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn

mới của trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa

Ths Nguyễn Văn Đức Trưởng phòng Tổ chức Hành chính

12

7

Giải pháp nâng cao chất lượng công tác nghiên

cứu khoa học ở trường Cao đẳng Công nghiệp

Tuy Hòa

Ths Trần Thiện Thuật Trưởng phòng Quản lý Khoa học

và Hợp tác quốc tế

17

8 Nâng cao chất lượng công tác phục vụ người đọc

Cn Trần Thị Mỹ Bình Phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác quốc tế

21

9

Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy

và học tiếng Anh tại trường Cao đẳng Công

nghiệp Tuy Hòa

Ths Phạm Thị Kim Liên, Ths Nguyễn Thị An Khoa Giáo dục Đại cương 24

10 Đổi mới giờ dạy lý thuyết trên lớp theo học chế

tín chỉ nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy Ths Đặng Thị Hồng Đào Khoa Giáo dục Đại cương 27

11 Đổi mới phương pháp giảng dạy môn toán để phù hợp đào tạo theo tín chỉ Ths.Nguyễn Thị Khánh Hòa Ths Võ Hoàng Vũ

Khoa Giáo dục Đại cương

33

12

Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của

ngành địa chất Trường Cao đẳng Công nghiệp

Tuy Hòa

Ks Nguyễn Thành Sơn

Ks Nguyễn Việt Cường

Cn Dương Vĩnh Nhiều Khoa Tài nguyên Môi trường

38

13 Giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy, học phần thực tập chuyên môn ngành công nghệ kỹ

thuật hóa

Ths Lương Công Quang

14 Thực hiện 5S tại phòng thí nghiệm hóa Ks Đào Thị Sương

15 Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào

tạo ở bộ môn nhiệt – điện lạnh

Ths Huỳnh Minh Hoàng Khoa Điện – Điện tử 50

16 Phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh

sinh viên

Ks Mạnh Thế Văn Khoa Điện – Điện tử 54

17 Dạy học bằng cách truyền đam mê nghề nghiệp

18 Làm thế nào để giúp sinh viên vận dụng các kiến

thức chuyên ngành vào thực hành cắt gọt Ks Nguyễn Văn Khánh Khoa Cơ khí 63

19 Ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao chất

lượng đào tạo Ths Nguyễn Xuân Hậu Khoa Công nghệ Thông tin 66

20 Giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy các tiết

thực hành của môn nghiệp vụ hướng dẫn du lịch

Cn Võ Xuân Hậu

Trang 4

21 Thực trạng giải pháp nâng cao chất lượng giảng

dạy các môn thực hành tại tổ thời trang

Ths Nguyễn Thị Như Nguyện

24 Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại

trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa

Ths.Trần Thị Lương Hảo

Cn Lê Kiều Vân

Cn Lê Thị Kim Anh Khoa kinh tế

84

25 Xây dựng động cơ của người dạy và người học

trong phương pháp dạy học tích cực

Cn Trần Đắc Thọ

Cn Nguyễn Hồng Hạnh Khoa kinh tế

88

26 Vai trò của cố vấn học tập trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng Công

nghiệp Tuy Hòa

Ths Ngô Xuân Bình

Khoa Lý luận Chính trị 95

27 Đổi mới phương pháp giảng dạy môn chính trị

tại trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa

Ths Cao Thị Nhung Khoa Lý luận Chính trị 98

28 Nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại trường Cao đẳng Công

nghiệp Tuy Hòa

Ths Huỳnh Mạnh Nhân Phó trưởng phòng Đào tạo 102

Trang 5

CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO KHOA HỌC Chủ đề: “Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo”,

* Thời gian: 7h30 ngày 06/7/2012 * Địa điểm: Phòng 501, nhà A3, cơ sở II

2 Tuyên bố lí do, giới thiệu đại biểu Đoàn Thanh Niên 7h45 – 7h55

4 Thông qua chương trình làm việc Phòng đào tạo 8h05 – 8h10

5

Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên

đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới của

trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa

Ths Nguyễn Văn Đức 8h10 – 8h20

6 Vài ý kiến về nâng cao chất lượng ở trường Cao đẳng

7 Giải pháp nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu

khoa học ở trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa

Ths Trần Thiện Thuật 8h30 – 8h40

8 Đổi mới giờ dạy lý thuyết trên lớp theo học chế tín

chỉ nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy

13 Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của ngành địa

chất Trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa Ks Nguyễn Thành Sơn 9h30 – 9h40

14 Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo

ở bộ môn nhiệt – điện lạnh Ths Huỳnh Minh Hoàng 9h40 – 9h50

15 Thực hiện 5S tại phòng thí nghiệm hóa Ks Đào Thị Sương 9h50 – 10h00

16 Nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy

Hòa

Ths Huỳnh Mạnh Nhân

10h00 -10h10

BAN TỔ CHỨC

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

hNâng cao chất lượng đào tạo luôn được Đảng ủy và Ban Giám Hiệu nhà trường hết sức quan tâm, coi đó là chìa khóa để xây dựng và phát triển trường có thể sánh vai với các trường cao đẳng, đại học có uy tín trong nước và khu vực

Hội thảo toàn trường về “Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo” với mục đích là tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của cán bộ, giáo viên, công nhân viên về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực và thương hiệu của Nhà trường; với diễn đàn này nhằm trao đổi cung cấp thảo luận những vấn đề về lý luận và thực tiễn nóng bỏng liên quan đến việc nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường hiện nay

Sau hơn một tháng triển khai, Ban tổ chức đã nhận được hơn 30 tham luận của quý thầy cô giáo ở các phòng, khoa đăng ký tham gia Hội thảo nhằm tìm ra tiếng nói chung, sẽ có

tác động tích cực đến các mặt hoạt động của Nhà trường vì mục đích “ Nâng cao chất lượng

chúng ta đã biết: Trong bài thơ VIỆT NAM, nhà thơ Lê Anh Xuân đã tự hào khi nói về đất

nước và con người Việt Nam rằng: "Có nơi đâu đẹp tuyệt vời, Như sông như núi như người

Việt Nam" Và dười góc độ là một khoa học, chúng ta cũng biết: Việt Nam học là khoa học

liên ngành nghiên cứu về đất nước, con người Việt Nam dựa trên những yếu tố của từng

Trang 9

VàI ý KIếN Về nâng cao chất lượng đào tạo

ở trường cao đẳng công nghiệp tuy hòa

và người học (Học sinh) Tuy nhiờn, yếu tố

cấu thành chất lượng đào tạo ngoài yếu tố

Thầy – Trũ cũn phải kể đến cỏc điều kiện vật

chất tinh thần và sự hợp tỏc của gia đỡnh, xó

hội

Vật chất tinh thần ở đõy muốn núi là

việc xõy dựng kế hoạch đào tạo, triển khai kế

hoạch, kốm theo là những trang bị phục vụ

đào tạo, những hoạt động hỗ trợ như thi đua,

khen thưởng, hội thi,…

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ trường

lần thứ XV chỉ rừ "Cải tiến mạnh mẽ cụng

tỏc quản lý, nõng cao chất lượng đào tạo,…";

Nghị quyết Hội nghị Cỏn bộ viờn chức năm

2012 thống nhất chỉ tiờu học tập đạt chung

90% là một bước tiến mới cải thiện tỡnh hỡnh

dạy – học ở trường mà trong cỏc năm

2009-2011 tỷ lệ học tập, tốt nghiệp ở một số

ngành, một số lớp cũn thấp, cú lớp dưới 50%

Trong phạm vi bài viết này, chỳng tụi

muốn đề cập đến vài yếu tố khả dĩ cú ảnh

hưởng nhất định đến chất lượng đào tạo của

nhà trường

1 Kế hoạch và chương trỡnh đào tạo:

Chương trỡnh đào tạo được kế thừa nhưng

chưa chọn lọc, chưa quan tõm đến nhu cầu

của địa bàn cũng như hoàn cảnh thực tế của

dạy, hoặc là khoa, bộ mụn phải cú sự biến chuyển hợp lý

Nếu căn cứ kế hoạch học tập ở một số lớp, cú thể thấy rằng cỏc khoa khi xõy dựng

kế hoạch khụng để ý đến yếu tố khả thi Vớ

dụ cú lớp trong một tuần học 24 tiết lý thuyết

và thi 03 học phần Chỉ riờng việc thi 03 học phần trong một tuần thỡ thiếu một số ngày ụn thi, cũn núi gỡ đến số tiết học?

Vỡ vậy, việc xõy dựng kế hoạch học tập trước hết phải cú tớnh khả thi và bao hàm những yếu tố cú thể tỏc nghiệp hàng tuần

2 Về Thời khúa biểu: Yếu tố tõm lý của người dạy và người học là phải cú sự thay đổi trong cỏc mụn học để trỏnh sự nhàm chỏn khi phải học chỉ một giỏo viờn hoặc một học phần liờn tục

Đó cú trường hợp trong một tuần 30 tiết chỉ cho học duy nhất cú một học phần;

hay như tiếng Anh là học phần khú học, khú nhớ, cú lỳc học liờn tục 3 buổi trong tuần, hoặc học cả sỏng và chiều Bố trớ lịch học như vậy người ta gọi là học dồn, hay là học theo kiểu cuốn chiếu Việc tiếp thu kiến thức

là cả quỏ trỡnh, và "mưa dầm thấm lõu" là nguyờn tắc cơ bản trong việc học của người học

Thậm chớ cú trường hợp trước ngày thi khụng cú ngày ụn Khụng bố trớ ụn tập để cho học sinh cú thời gian hệ thống tỏi hiện lại

N

Trang 10

kiến thức thì chỉ có cách chép tài liệu mang

vào phòng thi hoặc là phải thi lại

Các khoa lý luận rằng đã bố trí ngày

ôn vào các tuần trước đó, nhưng sát ngày thi

mà không bố trí ngày ôn lại là sai lầm

Thực tế diễn ra khi các khoa sợ hết

thời gian cho nên đã bố trí học vội, thi vội để

rồi cuối kỳ không còn gì để học, học sinh

nghỉ học dài dài

Việc xây dựng thời khóa biểu cũng

cần quan tâm đến yếu tố sinh học Có trường

hợp lớp học buổi sáng 05 ngày liên tục trong

tuần, đến ngày cuối tuần chuyển sang học

buổi chiều Sự phản ứng của học sinh là ngủ

gục tại lớp hoặc vắng học buổi này

Vì vậy, thời khóa biểu khi tác nghiệp

phải bám sát kế hoạch học tập, khoa học và

hợp lý, tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu và

tiêu hóa kiến thức một cách cơ bản, lô gich

3 Cơ sở vật chất cho đào tạo: Việc

đầu tư trang bị trong thời gian qua là có trọng

tâm và hiện đại, tuy nhiên hoàn toàn dựa vào

nội lực cho nên số lượng chưa nhiều Sự kết

hợp khéo léo trong thực hành là tài trí của

giáo viên Nền kinh tế tri thức đòi hỏi người

lao động dùng trí tuệ nhiều hơn là cơ bắp; vì

vậy cơ sở vật chất đào tạo phải hướng về

công nghệ cao, kết hợp thực hành ảo trước

khi làm thật, vừa tiết kiệm chi phí, vừa tăng

thời gian thực hành của học sinh

4 Thi đua, hội thao, hội thi là những

hoạt động tinh thần giúp cho cán bộ viên

chức có thêm sự đoàn kết và tinh thần nghị

lực vượt qua khó khăn, vươn lên chiếm lĩnh

đỉnh cao và hoàn thành nhiệm vụ Sự biểu

dương, khen thưởng kịp thời có tác dụng to

lớn động viên người lao động Trong năm

học 2011-2012, tính đến cuối tháng 6/2012,

Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Ban Chấp hành Công đoàn trường đã khen thưởng 55 lượt tập thể và 473 lượt cá nhân với tổng số tiền 163.721.000 đồng

Tất cả được xem là hoạt động hỗ trợ tinh thần, khuyến khích động viên cán bộ viên chức hoàn thành nhiệm vụ giáo dục và đào tạo

5 Người dạy và người học được xem

là đối tượng chính trong việc nâng cao chất lượng đào tạo Nhiều nghiên cứu khoa học đã công nhận giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo Muốn chất lượng đào tạo được đảm bảo phải kiểm soát được việc làm của giáo viên thể hiện trong quá trình truyền đạt kiến thức, giảng dạy cho học sinh Có nhiều kênh để kiểm soát nội dung, phương pháp giảng dạy của giáo viên như thông qua đề cương, đề thi,

dự giờ, kiểm tra đột xuất, kiểm tra định kỳ…

Có ý kiến cho rằng hiện nay giáo viên

là người chịu nhiều áp lực về công việc và tâm lý đứng lớp Thật ra, việc thực hiện quy chế là để giữ vững kỷ cương; nếu không, sự lan tỏa những hành động tùy tiện là điều không thể tránh khỏi, và ai dám đảm bảo rằng chất lượng đào tạo được đảm bảo, uy tín nhà trường được giữ vững trong môi trường giáo dục "mạnh ai nấy làm" mà không theo một hiệu lệnh thống nhất

Việc đảm nhận khối lượng giảng dạy gấp đôi định mức là điều cực chẳng đã; có giáo viên lên lớp cả sáng, chiều, tối trong ngày mà không nghĩ rằng thời gian nào đồng chí làm công tác chuẩn bị lên lớp Đã có ai bị nhắc nhở vì lên lớp nhiều đâu! Có chăng chỉ

là những trường hợp nghỉ dạy nhiều làm cho học sinh sốt ruột phải phản ảnh, sử dụng công nghệ copy nhưng không chỉnh sửa cho

Trang 11

phù hợp để xảy ra sự lộn xộn, trộn đề thi trắc

nghiệm làm đảo lộn phương án trả lời một

cách vớ vẩn mà không đọc lại để kiểm tra

kiểm soát,… Tất cả đều gây ra những áp chế

tâm lý cho người học, và đến lúc họ phản

ứng tiêu cực bằng cách gửi thư khiếu nại,

phản ảnh Thử hỏi cá nhân khi gây ra sự cố

như thế này có ý kiến gì? Trong nhiều năm

qua, không có ai bị xử lý vi phạm khi mà lý

do hoàn toàn khách quan

Nhiều giáo viên than phiền là đầu vào

của học sinh có mặt bằng kiến thức thấp

Theo logic của thầy cô, kiến thức thấp thì

tiếp thu kém, kéo theo chất lượng đào tạo

giảm

Có khi nào thầy cô nghĩ rằng mình

chưa thổi được luồng sinh khí mới vào những

mái đầu non trẻ này để cho các em hứng thú

với việc học tập, cũng như thầy cô hứng thú

với nghề dạy học của mình?

Có khi nào thầy cô nghĩ rằng khái

niệm "vừa sức" mà trong giáo trình Nghiệp

vụ sư phạm chúng ta đã nghiên cứu, được

thầy cô ứng dụng một cách tài tình vào lớp

học của mình?

Có khi nào thầy cô nghĩ rằng mình

giỏi chuyên môn nhưng chưa giỏi về khả

năng truyền trụ tri thức; nhất là biết được mặt

bằng kiến thức của học sinh để có cách

truyền đạt thích hợp theo kiểu "biết người

biết ta, trăm trận trăm thắng"?

6 Gia đình và xã hội là nơi có tác

động hai chiều vào giáo dục đào tạo theo

hướng đa dạng vốn có của nó Chúng ta cần

biết rằng học sinh của chúng ta đã có đủ

trách nhiệm trước pháp luật, đã có đủ tư cách

công dân Vì vậy không phải lúc nào gia đình

và xã hội tác động đều tốt đẹp cả Có chăng,

gia đình là hậu phương vững chắc của học

sinh và xã hội là nơi mà mọi người đều đối

xử theo phép nhập thế - không phải là xuất thế - nghĩa là, phải nhìn cho thấu đáo những điều tốt đẹp hiện có để hưởng ứng và phát hiện ra cái xấu xa để chủ động phòng tránh, hơn là đổ lỗi cho xã hội hoặc là than vãn xã hội sao mà có lắm tiêu cực, nhố nhăng…

Từ cuộc vận động "Kỷ cương – Tình thương – Trách nhiệm" đến cuộc vận động

"Mỗi nhà giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo"; hơn lúc nào hết, đội ngũ chúng ta cần phải soi rọi lại mình để trước mặt học sinh, chúng ta vừa là thầy, vừa là cha

mẹ, vừa là bạn đồng hành trong quá trình lĩnh hội tri thức./

Trang 12

Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên

đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới của trường cao đẳng công nghiệp tuy hòa

Trưởng phũng TCHC

rước những yờu cầu tăng về qui

mụ, nõng cao chất lượng giỏo

dục và đào tạo nguồn nhõn lực theo yờu cầu

đổi mới và hội nhập, việc xõy dựng đội ngũ

nhà giỏo và cỏn bộ quản lý giỏo dục đạt

chuẩn về trỡnh độ, đủ về số lượng, đồng bộ

về cơ cấu đang là vấn đề bức bỏch cần sự

quan tõm đầu tư của Đảng và Nhà nước, xó

hội và của ngành giỏo dục, đặc biệt là việc

xõy dựng và phỏt triển đội ngũ cỏn bộ đỏp

ứng yờu cầu đào tạo đạt trỡnh độ quốc tế

Trong những năm qua, Đảng ủy, Ban Giỏm

hiệu nhà trường đó triển khai việc qui hoạch,

sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ cỏn bộ, giảng

viờn nhằm đỏp ứng yờu cầu ngày càng cao

của sự nghiệp đào tạo và NCKH, phục vụ sự

nghiệp cụng nghiệp húa, hiện đại húa đất

nước Nhưng đứng trước những yờu cầu mới

thỡ đội ngũ cỏn bộ của nhà trường vẫn cũn sự

bất cập về số lượng và chất lượng, về năng lực chuyờn mụn và khả năng thớch ứng với bối cảnh hội nhập và phỏt triển

1 Thực trạng đội ngũ giảng viờn của nhà trường

Tớnh đến thỏng 6 năm 2012, tổng

số cỏn bộ, viờn chức: 297 người, trong đú cú

221 giỏo viờn cơ hữu và kiờm nhiệm; cú 03

GV trỡnh độ Tiến sĩ, 18 GV đang làm nghiờn cứu sinh (chiếm 9,5%), 62 GV cú trỡnh độ thạc sĩ, 43 GV đang học Thạc sĩ (chiếm

47,51%) Số cỏn bộ giảng dạy cú thời gian cụng tỏc dưới 5 năm: 139 người, từ 5 năm đến 20 năm là : 68 người, trờn 20 năm là: 14

người

Đến nay, số lượng giỏo viờn đó cú chiều hướng ngày càng chuẩn húa, số giỏo viờn tuyển mới nhiều người đó được đào tạo sau đại học

Trỡnh độ chuyờn mụn Trỡnh độ nghiệp

Thạc

Đang học thạc sĩ

Tỉ lệ

% sau đại học Lý luận dạy học

đại học

Sư phạm bậc 2

Trang 13

Khoa CNTT 13 0 1 2 6 69.23 01/13 10/13

Khoa Kinh tế 33 0 3 4 11 54.54 02/33 24/33 Khoa Đ-ĐT 31 0 4 10 4 58.06 06/31 26/31 Khoa Cơ khí 27 0 3 4 6 48.14 01/27 22/27

Tổ Thời trang 6 0 0 1 0 16.66 0 5/6

- Số lượng giảng viên một số ngành

còn thiếu như: Công nghệ kỹ thuật Cơ điện

tử, Thiết kế đồ họa, Quản lý đất đai, Khai

thác mỏ; Công nghệ điều khiển và tự động

hóa, Hướng dẫn du lịch,

- Số lượng giảng viên cơ hữu có trình

độ Tiến sĩ, Thạc sĩ một số ngành còn thấp

hoặc chưa có: Thiết kế đồ họa, Quản lý đất

đai, Công nghệ kỹ thuật Cơ điện tử, Công

nghệ điều khiển và Tự động hóa, Truyền

thông và mạng máy tính

- 84.6% giáo viên có chứng chỉ nghiệp

vụ sư phạm bậc 2 và sư phạm nghề

- 14.02% giáo viên có chứng chỉ

Phương pháp dạy học đại học

- Đa số giáo viên chưa thực sự đổi mới

trong phương pháp, còn nặng về truyền thụ

kiến thức, ít coi trọng rèn luyện tư duy độc

lập, khả năng tích cực học tập chủ động trong

học sinh

- Đội ngũ giáo viên hiện nay hầu hết

được đào tạo chính quy song chất lượng

không đồng đều, có 139/221 (tỉ lệ 62.9%)

giáo viên giảng dạy dưới 5 năm nên năng lực

chuyên môn và năng lực sư phạm còn non,

kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều , phương

pháp chưa phù hợp nên dẫn đến chất lượng

giảng dạy chưa cao Một số giáo viên chưa đạt chuẩn đào tạo;

Hiện nay đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng, cơ cấu không đồng bộ, chất lượng còn thấp nên chưa đáp ứng việc đào tạo ở diện rộng hơn, đa dạng hơn về loại hình, phương thức, công tác NCKH vẫn coi là nhiệm

vụ thứ yếu sau đào tạo Trường cần phải tăng cường thêm đội ngũ, bổ sung bằng nhiều hình thức để khắc phục số lượng, nâng cao chất lượng về năng lực chuyên môn và NCKH để thích ứng với bối cảnh hội nhập nhằm không ngừng nâng cao uy tín của trường trong khu vực

Theo kế hoạch chiến lược phát triển đội ngũ, hàng năm Trường tuyển dụng thêm

từ 30 đến 40 giáo viên trẻ, hợp đồng thỉnh giảng với nhiều cán bộ giảng dạy có trình độ cao ngoài trường, chú trọng hợp tác với các trường có cùng chuyên ngành đào tạo vv…

2 Nhu cầu phát triển đội ngũ

Theo định hướng phát triển nhà trường đến năm 2015 toàn trường có 400 cán

bộ, viên chức Trong đó :

- Giảng viên : 320 người (tỉ lệ 80%)

- Cán bộ quản lý, phục vụ : 80 người (tỉ lệ 20%)

+ Chất lượng đội ngũ :

Trang 14

- Giảng viên có trình độ Thạc sĩ : 160 người

- Giảng viên dưới 40 tuổi phải có trình độ

ngoại ngữ đủ điều kiện để gửi đi đào tạo ở

nước ngoài

3 Mục tiêu phát triển đội ngũ

Trong giai đoạn 2010-2020 phát triển

đội ngũ được xác định là chiến lược trung

tâm, là tiền đề quan trọng để giữ vững qui

mô và nâng cao chất lượng đào tạo Sự tồn

tại và phát triển của Nhà trường phụ thuộc rất

nhiều vào chiến lược tuyển chọn, đào tạo, sử

dụng, đánh giá và đào thải cán bộ

Đội ngũ cán bộ của Trường phải đạt

các tiêu chí cơ bản :

+ Có trình độ chuyên môn giỏi, có

năng lực sáng tạo, tư duy đổi mới

+ Có đạo đức tốt, sức khoẻ tốt

+ Có ý thức tự chủ, tự chịu trách

nhiệm trước công việc

+ Yêu nghề, gắn bó với Nhà trường

-Về số lượng đảm bảo tỷ lệ giảng viên/sinh viên theo quy chuẩn Đào tạo đội ngũ kế cận có đủ đức, đủ tài, đảm bảo sự kế thừa và phát triển vững chắc để thực hiện tốt mục tiêu chiến lược phát triển của trường;

4.Chiến lược sử dụng nguồn nhân lực

- Bố trí, sắp xếp, bổ sung, cân đối nguồn nhân lực cho việc sử dụng đội ngũ cán

bộ, viên chức một cách tối ưu nhất; bố trí công việc đúng với khả năng của từng người, tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát huy cao nhất sở trường của mình;

- Thực hiện chính sách thu hút nhân tài, Tiến sĩ về trường giảng dạy đúng chuyên ngành đào tạo được hỗ trợ 300 triệu đồng Lựa chọn cán bộ giảng dạy trẻ có năng lực gửi đi đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài;

- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ kế cận

đủ năng lực để tiếp tục sự nghiệp phát triển trường trong giai đoạn tới;

-Tận dụng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có trình độ từ Thạc sĩ trở lên, có chuyên ngành đào tạo phù hợp có thể đảm nhận công tác giảng dạy một số học phần ngành và chuyên ngành ở các bộ môn để tăng thêm lực lượng giảng viên cơ hữu của trường

5 Các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên

- Xây dựng kế hoạch nguồn nhân lực, đặc biệt là cán bộ giảng dạy theo từng giai

Trang 15

đoạn đề án: 2010-2015 và 2016-2020, có đủ

số lượng cơ hữu, mạnh về trình độ, giỏi về

chuyên môn, theo tiêu chí: chuẩn hóa,

chuyên nghiệp hóa và trẻ hóa; đáp ứng yêu

cầu phát triển quy mô và nâng cao chất lượng

đào tạo, NCKH của nhà trường;

- Luôn chú trọng bồi dưỡng nâng cao

phẩm chất đạo đức, tạo điều kiện học tập,

bồi dưỡng về chính trị và pháp luật cho cán

bộ, giảng viên trong trường ;

- Đẩy mạnh việc bồi dưỡng năng lực

sư phạm cho giáo viên: Phấn đấu đến năm

2013 100% giáo viên có chứng chỉ sư phạm

bậc 2 và sư phạm nghề (trừ giáo viên mới

tuyển); đến năm 2014 80% giáo viên có

chứng chỉ phương pháp dạy đại học;

- Ưu tiên tuyển dụng người có học vị

tiến sĩ, thạc sĩ loại xuất sắc, giỏi từ nhiều

nguồn để bổ sung cho đội ngũ giảng dạy

Hoàn thiện quy trình tuyển dụng đội ngũ cán

bộ giảng dạy và cán bộ quản lý;

- Nâng cao năng lực cho đội ngũ giảng

dạy và nghiên cứu qua các dự án HTQT,

bằng nguồn kinh phí ngân sách Nhà nước,

kinh phí của trường và các nguồn kinh phí

khác;

- Tích cực phát huy các nguồn tài trợ

để tìm học bổng cử cán bộ giảng dạy trẻ đi

học tập và nghiên cứu;

- Chủ động bố trí kinh phí và có cơ

chế chính sách ưu đãi thực hiện chủ trương

đào tạo, xây dựng đội ngũ Có chính sách đãi

ngộ thích đáng với các cán bộ thực sự có

năng lực, tâm huyết với nghề nghiệp;

- Xây dựng kế hoạch và phương pháp

đánh giá hợp lý các hoạt động giảng dạy của

giảng viên; chú trọng triển khai đổi mới

phương pháp giảng dạy, phương pháp đánh

giá kết quả học tập của người học với hệ

thống chỉ số đánh giá chất lượng của đội ngũ cán bộ giảng viên thông qua khối lượng giờ giảng đảm nhận, các công trình NCKH, các tài liệu, giáo trình biên soạn, quỹ thời gian dành cho học tập, NCKH, tự đào tạo, đảm bảo khoa học, chính xác

- Yêu cầu bắt buộc đối với đội ngũ giảng viên mới được tuyển dụng khi hết thời gian tập sự phải học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ để:

+ Đối với thạc sĩ, sau ít nhất 2 năm kể

từ khi có bằng và có đủ điều kiện về ngoại ngữ và công trình khoa học để được xét chọn làm nghiên cứu sinh trong nước hoặc ở nước ngoài theo đúng ngành đào tạo qui định

+ Đối với cử nhân, tối thiểu sau 3 năm hết thời gian tập sự có sự chuẩn bị tốt về ngoại ngữ và công trình để được xét chọn đi làm nghiên cứu sinh hoặc xét đi học cao học

- Để đáp ứng được mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục thì cần có đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục có năng lực toàn diện Chỉ có đội ngũ giáo viên đạt chuẩn hoặc trên chuẩn mới có thể đảm đương được nhiệm vụ đó Vì vậy, xây dựng, bồi dưỡng chuẩn hoá đội ngũ cán bộ giáo viên trở thành một vấn đề quan trọng gắn liền với việc đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo Để có đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, nhà trường mỗi năm cử ít nhất 30 giảng viên đi học sau đại học ở trong nước hoặc nước ngoài; trong đó, nghiên cứu sinh từ 8-10 người /năm và cao học từ 20-22 người /năm Tóm lại, công tác cán bộ luôn là khâu then chốt, quyết định đến sự phát triển bền vững của nhà trường Việc xây dựng một đội ngũ cán bộ giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ phải

Trang 16

được coi là nhiệm vụ trọng tâm số một và

thường xuyên của nhà trường Tuy nhiên để

thực hiện được công tác quan trọng này nhà

trường cần có các giải pháp phù hợp với điều

kiện hoàn cảnh của nhà trường trong từng giai đoạn phát triển Có như vậy, việc xây dựng và phát triển đội ngũ mới có cơ sở để triển khai thực hiện một cách bền vững

Trang 17

Gi¶I ph¸p n©ng cao chÊt l−îng c«ng t¸c nghiªn cøu khoa häc

Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA

Trưởng Phòng Quản lý

Khoa học và Hợp tác quốc tế

1 Mở đầu

ghiên cứu khoa học (NCKH) để

phát hiện ra những cái mới về

bản chất của sự vật tự nhiên và xã hội, từ đó

sáng tạo ra phương pháp mới, phương tiện kỹ

thuật mới cao hơn có giá trị hơn, phục vụ cho

đời sống của con người Hoạt động NCKH

tạo ra Tri thức khoa học là những hiểu biết

được tích lũy có hệ thống Từ xưa đến nay

công tác NCKH được đầu tư và phát triển

mạnh ở các trường đại học và cao đẳng, đặc

biệt là các viện nghiên cứu Trong trường học

người thầy là người có tri thức khoa học, do

vậy NCKH là nhiệm vụ của người thầy,

nhằm phục vụ xã hội, nhưng cũng đồng thời

nâng cao vị thế của người thầy để bồi dưỡng

tri thức cho học sinh sinh viên Chất lượng

công tác NCKH có tầm ảnh hưởng lớn đến

uy tín và chất lượng đào tạo sinh viên của

Nhà trường Nhận thấy vai trò to lớn của

công tác NCKH trong Nhà trường, trường

CĐCN Tuy Hòa đã không ngừng đầu tư,

khuyến khích, động viên lực lượng làm

NCKH và đặt ra mục tiêu cho hoạt động

NCKH là tiếp cận, ứng dụng khoa học công

nghệ mới, hiện đại vào đào tạo nhân lực chất

lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp

hóa, hiện đại hóa của đất nước trong thời kỳ

mới

2 Thực trạng:

Trong 2 năm 2010 và 2011, hoạt động KH&CN của trường CĐCN Tuy Hòa, đã có nhiều chuyển biến tích cực Số lượng đề tài NCKH đăng ký và được phê duyệt thực hiện tăng cả về số lượng, chất lượng và kinh phí thực hiện Năm 2010 có 10 đề tài cấp trường

và 1 đề tài cấp tỉnh được triển khai với tổng kinh phí thực hiện 426,949 triệu đồng, năm

2011 triển khai thực hiện 17 đề tài cấp trường, với kinh phí 117,046 triệu đồng

Phần lớn đề tài tiến độ thực hiện còn chậm, nhiều đề tài đăng ký hoàn thành trong năm 2010, nhưng đến nay vẫn chưa nghiệm thu và một số đề tài không có khả năng thực hiện Cụ thể năm 2010 trong tổng số 11 đề tài thì có đến 4 đề tài không thực hiện được; năm 2011 nghiệm thu được 16 đề tài, còn 1

đề tài đang thực hiện

Một số đề tài dù đã được nghiệm thu, nhưng Chủ nhiệm đề tài và các thành viên tiến hành chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện chưa tận tâm, nhiệt tình Dẫn đến thanh quyết toán chậm

Năm 2010-2011 đăng ký và triển khai được duy nhất 01 đề tài cấp tỉnh: “Nghiên cứu đánh giá tai biến địa chất môi trường xã

An Lĩnh và các giải pháp khắc phục hiện tượng trượt lở đất đá”, với kinh phí 377 triệu

N

Trang 18

đồng, không có đề tài cấp Bộ và cấp Nhà

nước Nội dung các đề tài còn lại chủ yếu là

biên soạn giáo trình, mô hình học cụ, các đề

tài sản xuất thử nghiệm còn rất hạn chế

Năm 2011- 2012 với hai đợt xét duyệt

đề cương, có 19 đề tài cấp trường, 03 đề tài

cấp tỉnh thực hiện trong năm 2013 và 2 đề tài

cấp bộ Đưa vào thực hiện 16 đề tài cấp

trường (9/10 của đợt 1, 7/9 của đợt 2), 03 đề

tài cấp tỉnh đang chờ xét duyệt, 02 đề tài cấp

Bộ không được chấp nhận Trong những đề

tài này đã xuất hiện nhiều đề tài sản xuất thử

nghiệm như đề tài ủ nhanh RTSH sản xuất

phân compost, đề tài sản xuất điện từ nguồn

năng lượng thân thiện với môi trường, đề tài

chống trượt lở taluy đường Phước Tân – Bãi

Ngà, đề tài sản xuất sơn bảo vệ thép vùng

ven biển, Nghiên cứu nguyên tố gây bệnh

trong nước dưới đất của TP Tuy Hòa…

Số lượng đề tài năm sau có tăng hơn

năm trước, số đề tài cấp tỉnh, cấp bộ và loại

đề tài sản xuất thử nghiệm đã tăng đáng kể

(11/16=69%)

3 Điều kiện tác động:

3.1 Điều kiện thuận lợi:

Công tác NCKH muốn phát triển tốt,

đem lại hiệu quả kinh tế cao cần phải có cơ

sở vật chất, con người và cơ chế đáp ứng

được đòi hỏi tính đột phá của NCKH, nhằm

giải quyết những vấn đề cấp bách của công

nghệ và cuộc sống Những yếu tố có tác động

tích cực đến chất lượng công tác NCKH của

Nhà trường trong những năm qua phải kể đến

như:

Nhà trường đã ban hành nhiều văn bản

liên quan đến hoạt động NCKH như: Quy

chế quản lý công tác NCKH, Quy chế làm

việc của cán bộ giảng dạy, Hướng dẫn thực

hiện công tác NCKH, Hướng dẫn làm thủ tục

công nhận bài báo Đây là những cơ chế có tính chất tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ trí thức của trường tiếp cận với các lĩnh vực khoa học công nghệ và phát huy khả năng NCKH tốt nhất

Trường ta đã tích cực chủ động đầu tư chiều sâu cho các phòng thí nghiệm, thực hành với máy móc, thiết bị hiện đại như phòng thạch học, phòng máy vi tính, máy trắc địa, xưởng ô tô, xưởng may….Máy móc thiết bị thực hành mới đã đáp ứng được một phần hoạt động thực hành của HSSV tại trường Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng Nhà trường cũng đã đầu tư phần mềm quản

lý thư viện và mua thêm nhiều sách mới, tạo điều kiện nâng cấp phục vụ số đông bạn đọc

và quản lý được chất lượng đầu sách theo yêu cầu giảng dạy của giảng viên và học tập của HSSV

Cán bộ giảng dạy và làm công tác NCKH, được Nhà trường đặc biệt quan tâm tuyển dụng và đào tạo Cho nên đến nay hầu hết các lĩnh vực của Nhà trường đã bắt đầu

có cán bộ đầu ngành đủ khả năng làm công tác NCKH

3.2 Khó khăn và tồn tại:

Hiện nay một số phòng thí nghiệm còn thiếu và đầu tư chưa hoàn chỉnh, ảnh hưởng rất lớn đến không chỉ chất lượng đào tạo HSSV và ngay cả chất lượng NCKH Trường còn thiếu phòng thí nghiệm công nghệ sinh học Phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học rất cần thiết để nghiên cứu ứng dụng giải quyết các vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường, tạo ra các giống cây, con có chất lượng và năng suất cao phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của nông dân khu vực miền Trung và Tây nguyên

Trang 19

Phòng thí nghiệm địa chất công trình, địa

chất thủy văn cần được đầu tư hoàn chỉnh, để

phục vụ nghiên cứu khoa học ứng dụng xử lý

nền móng công trình thủy lợi, giao thông,

nhà cửa, phát hiện xử lý nguồn nước mặt và

nước dưới đất, phục vụ các ngành xây dựng

cơ bản và quản lý tài nguyên nước khu vực

miền trung, Tây nguyên

Các xưởng thực hành điện, điện tử, điện

lạnh, cơ khí, thời trang may mặc tuy đã

được đầu tư, nhưng chưa đủ sâu để phục vụ

công tác nghiên cứu khoa học ứng dụng

Lực lượng làm công tác NCKH còn

mỏng, mang tính tự phát, thiếu những kinh

nghiệm tích lũy cần thiết Điều này thể hiện

một số đề tài không thực hiện được hoặc thực

hiện dở dang, chỉ vì chủ nhiệm đề tài đi NCS

ở nước ngoài, các thành viên ở lại không thể

làm tiếp Chủ nhiệm đề tài giảng dạy khối

lượng nhiều, đi làm NCS, thời gian giành cho

công tác NCKH còn nhiều hạn chế, cho nên

việc hoàn thiện đề tài gặp nhiều khó khăn

Công tác tổ chức xét duyệt, nghiệm thu

đề tài NCKH cấp cơ sở tiến hành chưa chặt

chẽ, sâu sát, đôi khi là không phân biệt được

đúng sai, làm hạn chế tính định hướng, tính

thực tế của cấp cơ sở

Đồng thời khả năng tìm kiếm và đề xuất

những đề tài lớn cũng như khả năng tiếp cận

nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học của cấp

Bộ, cấp tỉnh và Nhà nước còn nhiều khó

khăn

4 Giải pháp thực hiện:

Với vị thế của Nhà trường, để nâng cao

chất lượng công tác NCKH trong thời gian

tới cần tập trung thực hiện một số giải pháp

cơ bản như:

4.1 Giải pháp định hướng đề tài NCKH:

Căn cứ vào chức năng của trường và năng

lực NCKH của đội ngũ Trí thức của trường Trong thời gian tới Nhà trường cần tập trung hoạt động NCKH vào những định hướng cụ thể:

- Nghiên cứu hoàn thiện lý thuyết, nhất là

lý thuyết liên quan đến môi trường, công nghệ sinh học, hóa – dược, tai biến địa chất, Công nghệ thông tin và truyền thông, Công nghệ vật liệu mới, Công nghệ chế tạo máy –

tự động hóa;

- Xây dựng mô hình sản xuất thử nghiệm

từ quy mô nhỏ đến trung bình liên quan đến các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, môi trường, cơ điện tử, tai biến địa chất, Công nghệ thông tin và truyền thông, Công nghệ vật liệu mới, Công nghệ chế tạo máy – tự động hóa;

- Cải tiến xây dựng mô hình giảng dạy: Loại mô hình học cụ có cải tiến với giá thành

hạ so với mô hình cùng loại trên thị trường

- Viết giáo trình học phần hệ cao đẳng, đại học của các ngành Nhà trường đang đào tạo

- Xây dựng chương trình môn học mới; chương trình khung các ngành đào tạo mới

- Viết bài cho các báo, tạp chí, hội thảo 4.2 Giải pháp định hướng lĩnh vực NCKH: Trên cơ sở định hướng phát triển KH&CN của tỉnh Phú Yên, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Công thương, đồng thời căn cứ vào năng lực đội ngũ NCKH của trường, thì trọng tâm hoạt động NCKH của trường ta cần đầu tư theo những định hướng như sau:

- Hóa - môi trường: Xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn sinh hoạt; tận dụng sản phẩm xử lý làm phân vi sinh, chạy máy phát điện; sản phẩm sinh học từ rác thải nông nghiệp…;

Trang 20

- Hóa – dược: Đề xuất các đề tài liên

quan đến sản xuất dược liệu quý

- Công nghệ sinh học: Phát triển nuôi cấy

mô, bảo tồn động, thực vật quý, hiếm

- Địa chất: Đề xuất giải pháp khắc phục

tai biến địa chất; Đề xuất biện pháp ứng phó

biến đổi khí hậu

- Điện, điện tử, điện lạnh: Sản xuất điện

thân thiện với môi trường như: Gió, nhiệt

mặt trời, nhiệt từ xử lý rác thải sinh hoạt…

- Cơ khí động lực: Gia công chế tạo máy

thiết bị cơ khí phù hợp với điều kiện hoàn

cảnh kinh tế của Việt Nam…

- Công nghệ thông tin

4.3 Giải pháp về cơ chế - tổ chức:

- Xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ

cán bộ NCKH theo cơ cấu: mỗi bộ môn

chuyên ngành, đến năm 2015 phải có từ một

tiến sĩ, ít nhất 50% phải có trình độ thạc sĩ,

100% sử dụng được một ngoại ngữ trong

chuyên môn 100% giảng viên được đào tạo

cập nhật hóa các phương pháp khoa học hiện

đại

- Trưởng các đơn vị cần tập trung làm tốt

công tác tổ chức Hội nghị xét duyệt, nghiệm

thu đề tài NCKH cấp cơ sở như: Phải chuẩn

bị chu đáo việc lập hội đồng cấp cơ sở, lập kế

hoạch thực hiện, mời UVHĐ, UVPB phù hợp

với từng đề tài Chọn Chủ trì hội nghị phải là

người có năng lực, uy tín về chuyên môn và

tư cách đạo đức, chọn thư ký phải đủ năng

lực tóm lược nội dung Hội nghị và hoàn thiện

hồ sơ Trong khi tiến hành hội nghị phải đảm

bảo được tư tưởng nhất quán thể hiện quan

điểm khoa học ngắn gọn, đầy đủ, chính xác

- Trưởng các đơn vị phải có đủ khả năng

tổng hợp, triển khai ý tưởng khoa học thành

đề tài NCKH hoặc tạo điều kiện cho các ý tưởng khoa học thăng hoa thành các đề tài NCKH trong CBVC

- Thành lập trung tâm Khoa học công nghệ TIC để thực hiện các đề tài NCKH và thi công các dự án sản xuất; tiếp cận sâu với nguồn ngân sách NCKH cấp tỉnh và cấp bộ

- Thành lập tập san và đưa vào hoạt động thường xuyên nhằm công bố kết quả nghiên cứu, bài tổng quan hoặc thong tin trao đổi thuộc các lĩnh vực kinh tế, xã hội

- Đến 2015 phải xây dựng hoàn chỉnh hệ thống các phòng thí nghiệm cơ bản và xây dựng được ít nhất một trung tâm thí nghiệm, chuyển giao công nghệ liên ngành

- Tạo các điều kiện thuận lợi cho cán bộ giáo viên nâng cao năng lực nghiên cứu (học tập, đi thực tế, tham quan các mô hình nghiên cứu ở nước ngoài)

- Cụ thể hóa các quy định chung về NCKH của bộ, tỉnh, trường thành các quy định cụ thể đối với hoạt động NCKH của cán

bộ giáo viên trong khoa

- Thúc đẩy quan hệ quốc tế, hợp tác với các cơ sở đào tạo nước ngoài để tận dụng cơ hội học tập kinh nghiệm, nắm bắt công nghệ

và tiến tới làm chủ công nghệ trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật mũi nhọn mà nhà trường có đào tạo

Trong khuôn khổ của bài tham luận này tác giả không có tham vọng nhiều, chỉ muốn

vẽ lên một bức tranh, để mọi người thấy được vai trò của mỗi chúng ta đối với công tác NCKH trong sự phát triển nhà trường quan trọng như thế nào, để cùng nhau phấn đấu xây dựng Nhà trường phát triển bền vững./

Trang 21

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC PHỤC VỤ NGƯỜI ĐỌC

Trần Thị Mỹ Bình

và bộ phận thư viện

ông tác người đọc hay việc tổ

chức phục vụ tài liệu cho người

đọc là một hoạt động của Thư viện nhằm

thúc đẩy và thoả mãn nhu cầu, hứng thú đọc

thông qua việc tuyên truyền và cung cấp tài

liệu dưới nhiều hình thức Công tác người

đọc bao gồm các hình thức tổ chức và

phương pháp phục vụ người đọc ở trong và

ngoài thư viện Và đây được xem là công tác

quan trọng nhất; Bởi vì, thông qua công tác

này vốn tài liệu của thư viện được sử dụng

hiệu quả từ đó nâng cao vai trò của Thư viện

trong xã hội

Trong thực tiễn hoạt động của các thư

viện và cơ quan thông tin cho thấy công tác

người đọc có rất nhiều vai trò khác nhau

song nổi bật là công tác người đọc được ví

như “chiếc cầu” nối liền người đọc với vốn

tài liệu thông qua vai trò của người cán bộ

Thư viện

Trước đây, hầu hết các Thư viện Việt

Nam như: các thư viện công cộng, thư viện

chuyên ngành hoặc các thư viện trường học

đều chọn hình thức phục vụ thông qua phiếu

yêu cầu Ngày nay với sự trợ giúp của các

thiết bị kiểm soát tài liệu như camera, cổng

từ, máy tính… để rút ngắn thời gian tra tìm

tài liệu, chờ mượn tài liệu, giảm bớt công sức

của cán bộ thư viện đồng thời kích thích nhu

cầu đọc, tạo điều kiện cho người đọc được

tiếp xúc trực tiếp với tài liệu Hình thức phục

vụ kho mở có nhiều ưu điểm, phù hợp với

việc lưu thông tài liệu trong các thư viện có

sử dụng phần mềm quản trị thư viện cho

phép quản lý người đọc và tài liệu bằng mã vạch, quản lý việc mượn, trả tài liệu qua đầu đọc cầm tay

Hiện nay Thư viện Trường CĐCN Tuy Hòa sử dụng phần mềm tích hợp Libol 6.0 để quản lý việc lưu thông tài liệu và bạn đọc Phần mềm đã giải quyết được một số công việc như: ghi mượn và trả tài liệu qua đầu đọc cầm tay, thống kê tài liệu, thống kê lượt đọc, quản lý người đọc qua việc mượn trả như sách quá hạn, gia hạn, đặt trước, khóa thẻ và gia hạn thẻ

Thư viện Trường ngoài việc duy trì và nâng cao chất lượng dịch vụ đọc và mượn tài liệu, trong thời gian tới sẽ phát triển nhiều dạng dịch vụ như dịch vụ tra cứu, tham khảo

số, cung cấp thông tin chọn lọc, sử dụng tài liệu điện tử với các CSDL số hóa…

Để nâng cao chất lượng công tác phục

vụ người đọc chúng ta không thể phủ nhận vai trò của người cán bộ thư viện James I Wyer một học giả Mỹ ngay từ năm 1923 đã cho rằng người Cán bộ thư viện chính là linh hồn của thư viện Thực tiễn cho thấy ngày nay với sự xuất hiện của một số loại hình thư viện mới như Thư viện điện tử, thư viện ảo song vai trò của người cán bộ thủ thư không mất đi mà trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, đòi hỏi người cán bộ thủ thư luôn phải nâng cao trình độ thì mới có khả năng đáp ứng được các yêu cầu phức tạp và đa dạng của người dùng tin Nếu như trong các thư viện truyền thống, cán bộ thủ thư giữ vai trò chính trong việc trực tiếp tiếp nhận yêu cầu

C

Trang 22

và lấy tài liệu phục vụ thì trong các thư viện

hiện đại người thủ thư tiếp nhận, trả lời các

yêu cầu tin, và giao tiếp với người dùng tin

qua mạng với dịch vụ tham khảo

Bên cạnh việc chú trọng đến nâng cao

chất lượng cán bộ, đầu tư mua sắm trang

thiết bị hiện đại cho thư viện, ứng dụng công

nghệ thông tin vào các hoạt động của thư

viện thì công tác đào tạo người dùng tin là

nhiệm vụ được các thư viện hết sức quan

tâm Người dùng tin là một trong những yếu

tố cấu thành thư viện và đây là yếu tố “trung

tâm”, điều này có nghĩa tất cả các hoạt động

của thư viện suy cho cùng cũng nhằm đáp

ứng được các nhu cầu đọc và nhu cầu tin của

người đọc Các thư viện không chỉ có nhiệm

vụ trong việc thoả mãn nhu cầu tin của người

đọc mà còn có trách nhiệm trong việc giúp

cho người đọc có được những kỹ năng thông

tin bao gồm khả năng xác định nguồn tin, tìm

kiếm và đánh giá chất lượng thông tin Để

từng bước nâng cao trình độ sử dụng thư

viện, công tác đào tạo người dùng tin cần

được thực hiện bằng nhiều hình thức khác

nhau Cụ thể là mở các lớp hướng dẫn sử

dụng thư viện vào đầu các năm học cho sinh

viên mới

Mặt khác người Cán bộ phải có kỹ

năng giao tiếp tốt, thân thiện với đồng nghiệp

và người dùng tin, không tạo khoảng cách

hoặc ác cảm khi tiếp xúc; giữa người dùng

tin và cán bộ Thư viện phải luôn là những đối

tác mà hai bên đều có lợi khi khai thác thông

tin Cụ thể:

1 Công tác bổ sung sách:

- Đối với Giáo viên:

Để Thư viện có những tài liệu phục vụ

sát với môn học giảng dạy và học tập trong

nhà trường thì rất cần sự phối hợp của Giáo

viên bộ môn trong việc nắm bắt những giáo trình, sách tham khảo chuyên ngành trong Thư viện Trường Những sách cần thiết mà Thư viện chưa có để đáp ứng nhu cầu thì lập danh mục gửi về Thư viện

Giáo viên tích cực giới thiệu cho Sinh viên mở rộng kiến thức môn học thông qua việc sử dụng tài liệu Thư viện

- Đối với Cán bộ Thư viện:

Kiểm tra từng tên sách trong danh mục đăng ký mua mới, so sánh nhan đề và

số lượng trong kho Mỗi đợt sách mới, xử

lý kỹ thuật xong Cán bộ Thư viện gửi

Thông báo sách mới xuống từng Khoa để

tất cả Giáo viên nắm bắt và thông qua môn học giới thiệu sinh viên tham khảo

3 Công tác lưu thông:

- Kiểm tra kỹ thẻ Bạn đọc trước khi mượn sách

- Giải quyết thủ tục mượn, trả tài liệu nhanh gọn, chính xác

- Chủ động tiếp cận và hỗ trợ kịp thời bằng nhiều hình thức để bạn đọc đến Thư viện luôn tìm được tài liệu đúng nhu cầu

4 Công tác bảo quản tài liệu:

- Luôn kiểm tra kho sách, tránh tình trạng ánh nắng chiếu trực tiếp vào sách gây hư hỏng hoặc bị mối, mọt xâm hại

Trang 23

- Thường xuyên lọc các tài liệu bị rách, bị

bung… để hồi cố

- Quan sát bạn đọc trong kho và khi ra Thư

viện để tránh thất thoát tài liệu

- Rà soát thật kỹ danh sách các lớp chuẩn bị

ra trường còn nợ tài sản Thư Viện

- Xếp sách ngay ngắn khi Bạn đọc ra khỏi

kho

5 Công tác quản lý phòng đọc:

Dành một không gian riêng trong kho đọc để bạn đọc tham khảo tài liệu tại chỗ với

nhiều loại hình tài liệu phong phú; bố trí

phòng đọc chung gần kho mượn để độc giả

vừa mượn tài liệu vừa học nhóm

Mỗi cán bộ trong bộ phận luôn ý thức làm tốt từng khâu trong guồng máy của Thư viện đưa công tác Thư viện ngày càng hoạt động tốt hơn trong thời gian tới Cùng với sự phát triển chung của Nhà trường phấn đấu năm 2015 xây dựng thành trường Đại học, và Thư viện trở thành một Trung tâm thông tin đáp ứng mọi nhu cầu tin của độc giả Vì lý

do đó bộ phận Thư viện đề ra một số giải pháp có thể thực thi trong thời gian tới để nâng cao hoạt động quản lý Thư viện và thu hút độc giả sử dụng thông tin tại Thư viện ngày càng đông

Trang 24

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA

Khoa Giáo dục Đại cương

ể nâng cao chất lượng đào tạo

của nhà trường nói chung và

chất lượng đào tạo tiếng Anh cho học sinh

và sinh viên (HSSV) nói riêng, việc đổi mới

phương pháp dạy học (PPDH) trở thành

một trong những vấn đề mà mỗi giáo viên

phải suy nghĩ Người giáo viên (GV) vừa là

người hướng dẫn, người định hướng,

người trọng tài cố vấn cho sinh viên đồng

thời phải là người nghiên cứu, tìm tòi phát

hiện cái mới, mở rộng và làm phong phú

sâu sắc hơn những tri thức khoa học mà

bộ môn giảng dạy để giúp cho quá trình

giảng dạy có hiệu quả hơn

I/ Thực trạng việc học tiếng Anh của HSSV

tại trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa

Số lượng sinh viên thực sự thích môn

học và có ý thức tập trung vào học chăm chỉ,

tham gia tích cực sôi nổi các hoạt động dạy

và học trên lớp khá ít, chỉ chiếm khoảng

20%

Số còn lại tham gia học tập rất thụ

động Có rất nhiều nguyên nhân cả về khách

quan lẫn chủ quan Đầu tiên chúng tôi muốn

đề cập đến đó là:

- Chất lượng đầu vào của HSSV thấp nên

công tác đào tạo cũng gặp không ít khó khăn

- Hầu hết các sinh viên đều ngại môn học này

vì đây là môn học đòi hỏi cần nhiều thời

gian, phải nắm được phương pháp học và đặc biệt là tự học Việc học từ, luyện phát âm, cấu trúc câu, luyện nói cũng cần rất nhiều thời gian Có thể nói, hầu hết các sinh viên đều đã qua thời gian học 7 năm phổ thông nhưng do không tập trung môn học nên không còn nhớ, và khi vào trường coi như học lại từ đầu, những HSSV này nếu không đầu tư thời gian và công sức thì không thể học tốt được Có HSSV vẫn không thể nói được một số câu cơ bản như giới thiệu tên, tuổi, nghề nghiệp hoặc những câu giao tiếp

hề có giáo trình học, không làm bài giáo viên giao hay đọc tài liệu chuẩn bị bài giáo viên cho phô tô sẵn Giáo viên đã sử dụng mọi biện pháp từ khuyến khích cho đến phạt nhưng với những HSSV này vẫn không có chuyển biến tích cực

- Hầu hết các em không dành thời gian học

ôn chuẩn bị bài ở nhà nên tiếp thu bài chưa tốt Việc sinh viên thụ động tiếp thu, lười học, học yếu… ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giảng dạy của giáo viên trên lớp

Đ

Trang 25

Sinh viên của chúng ta có quá nhiều

thói quen cản trở đến việc học tiếng Anh theo

hướng tích cực, sau đây là một số hạn chế mà

chúng tôi muốn đề cập đến:

- Thói quen ngồi đợi nghe GV giảng bài, thụ

động trong việc tự trình bày kiến thức, suy

nghĩ của bản thân Chưa có tính độc lập, tính

tự giác cao

- E ngại chia sẻ với thầy cô và bạn bè vì chỉ

sợ nói sai thì mọi người chê cười

- Chưa có thói quen chuẩn bị bài, đọc tài liệu

- Do thi cử bằng hình thức viết, trắc nghiệm

nên trong quá trình học của HSSV tập trung

vào kỹ năng đọc, viết và các chủ điểm ngữ

pháp, còn kỹ năng nghe, nói hầu như bị xem

nhẹ

II/ Các giải pháp thưc hiện nhằm nâng cao

chất lượng giảng dạy tiếng Anh tại trường

Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa

Sử dụng phương pháp thực hành giao

tiếp trong việc dạy và học ngoại ngữ sẽ giúp

cho HSSV dần sử dụng ngôn ngữ phù hợp

với những mục đích giao tiếp cụ thể Đây là

mô hình dạy học lấy HSSV làm trung tâm,

trong đó cả GV và HSSV đều cùng tham gia

vào quá trình dạy và học Để phát triển năng

lực giao tiếp ở HSSV, sau đây chúng tôi đưa

ra một số giải pháp như sau:

1/ Lựa chọn các hoạt động học tập sao cho có

ích, phù hợp với nhu cầu của HSSV và phải

đặt vào trong đó những bối cảnh thật mà

HSSV có nhiều khả năng sẽ gặp phải trong cuộc sống hàng ngày Các chủ đề, tình huống phải thực tế và gần gũi với HSSV tạo hứng thú cho HSSV tham gia vào hoạt động

2/ GV cần vận dụng mọi thao tác , cử chỉ điệu bộ để tăng cường thúc đẩy các hoạt động giao tiếp

3/Các phương tiện dạy học như ứng dụng tin học, đồ dùng dạy học phải được phát huy triệt để

4/Cần thiết kế các dạng bài tập theo hướng tạo tính chủ động sáng tạo cho HSSV và phù hợp với trình độ của HSSV GV phải biết phân loại khả năng của HSSV để đặt mục tiêu cần đạt được từ cấp độ “nhớ” (Remembering), “hiểu” (Understanding),

“ứng dụng” (Applying), “phân tích” (Analyzing), “đánh giá” ( Evaluating), và cuối cùng là “sáng tạo” (Creating) Đối với HSSV có trình độ thấp thì tăng cường đưa bài tập thực hành theo hướng “nhận biết - bắt chước” Đối với HSSV có trình độ cao thì áp dụng thực hành theo hướng “nhận biết - liên

hệ - tư duy sáng tạo”

5/Nên xen kẽ các trò chơi nhằm tạo hứng thú học tập cho HSSV Tuy nhiên, “vui”, “sinh động” sẽ không thể đạt được hiệu quả cao nếu lượng kiến thức cho mỗi bài học quá nhiều mà không được bố trí hợp lý tiết học dành cho luyện tập và làm bài tập

6/ Xác định mục tiêu cụ thể của khóa học, của từng bài học

7/ Trong một khóa học luôn thiết kế 1-2 tiết học để giới thiệu chương trình giảng dạy, nội dung giảng dạy, phương pháp kiểm tra đánh giá và đặc biệt cho HSSV thảo luận tìm ra phương pháp học tập thích hợp cho bản thân 8/ Tạo cho giờ học thân thiện để HSSV vượt quá tâm lý e ngại khi giao tiếp

Trang 26

9/ GV phải giảm thời lượng giảng bài trên

lớp và tăng thời lượng thực hành cho HSSV

Luôn tạo cho HSSV có cơ hội thực hành theo

cặp, theo nhóm

10/ Luôn có phần liên hệ và áp dụng thực tế

vào bài giảng

11/Thay đổi hình thức kiểm tra, thi để thay

đổi Phương pháp học của HSSV

Cuối cùng, để quyết định thành công của

việc dạy và học tốt ngoại ngữ nói chung,

tiếng Anh nói riêng và những môn học

khác nữa trong nhà trường tất cả đều

phải cần đến sự quyết tâm nỗ lực của cả

GV bộ môn : từng GV phải kiên trì áp

dụng được những giải pháp đã nêu lên,

phải tùy theo đối tượng HSSV, trình độ

của HSSV mà đặt ra mục tiêu cần đạt

được, không đòi hỏi quá cao Ngoài ra,

chúng ta không thể không nói đến vấn đề

tâm lý, nên quan tâm đến tâm lý học tập

HSSV, cố gắng làm tốt vai trò của GV bộ

môn, chủ nhiệm, cố vấn học tập… trong việc giáo dục giúp đỡ các em nhận biết tầm quan trọng của việc học, giúp các em yêu trường, mến bạn và thích học, luôn gây được sự hứng thú trong các tiết giảng nói chung chứ không riêng gì môn tiếng Anh, phải hết sức tạo điều kiện cho các em học tập , không gây cản trở khó dễ, từ phương tiện học tập , phòng họ, sách tham khảo, môi trường học tập cho các em Chúng ta, những người thầy, cần kết hợp nhịp nhàng và liên kết với nhau hơn nữa chỉ có vậy mới mong chất lượng giảng dạy mới thực sự nâng cao được bên cạnh đó bản thân của mỗi HSSV cũng cần phải nổ lực , bởi vì mọi sự đổi mới về PPGD muốn thành công đều cần đến sự hợp tác của HSSV, nếu các em ý thức được vấn đề học tập là quan trọng và cần phải làm những

gì để nó mang lại kết quả thì việc đổi mới PPGD của thầy mới có hiệu quả /

Trang 27

§æi míi giê d¹y lý thuyÕt trªn líp theo häc chÕ tÝn chØ nh»m n©ng cao chÊt l−îng GI¶NG D¹Y

Khoa Giáo dục Đại cương

iáo dục là vấn đề hệ trọng của

mỗi quốc gia Việc nâng cao

chất lượng giảng dạy luôn là một trong

những mối quan tâm hàng đầu của giáo dục

Việt Nam và cũng là đích đến của các

trường Cao đẳng - Đại học (CĐ-ĐH) Chủ

trương chuyển từ học chế niên chế sang học

chế tín chỉ là một chủ trương đúng đắn, là xu

thế tất yếu phù hợp với tiến trình hội nhập

kinh tế của khu vực và thế giới, đáp ứng nhu

cầu đòi hỏi của xã hội đối với các trường

CĐ-ĐH trên cả nước hiện nay Đào tạo theo

học chế tín chỉ là phương thức đào tạo được

xem là tiên tiến trên thế giới vì mục đích đào

tạo của nó là hướng vào người học, coi người

học là trung tâm trong quá trình dạy - học

Nhưng hiện nay, người dạy vẫn đang băn

khoăn, trăn trở đi tìm những giải pháp phù

hợp để nâng cao chất lượng theo phương

thức đào tạo tín chỉ bởi người học vẫn chưa

quen với việc tự học, tự nghiên cứu Mặt

khác, sức ỳ của thói quen thiếu chủ động,

không tự giác tích cực của người học đang là

mối quan tâm của người dạy hiện nay Chính

vì vậy, trong bài viết này chúng tôi muốn

trao đổi và đưa ra những giải pháp để đổi

mới giờ dạy lý thuyết trên lớp theo học chế

tín chỉ nhằm nâng cao tính chủ động, sáng

tạo, tích cực của người học; góp phần vào

công cuộc đổi mới phương pháp dạy học,

không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo

của nhà trường

I.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Thế giới ngày nay luôn khuyến khích các hệ thống mở, nhiều lựa chọn và thiên về hướng có lợi cho người học Hệ thống đào tạo theo tín chỉ có đủ các tiêu chí đó và có rất nhiều ưu điểm mà chúng ta cần phải khai thác và sử dụng

Vấn đề tự học, tự đào tạo của người học đã được Đảng, Nhà nước quan tâm quán triệt sâu sắc từ nhiều năm qua Nghị quyết

Trung ương V khóa VIII từng nêu rõ: “

Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, tự sáng tạo của học sinh, bảo đảm mọi điều kiện và thời gian

tự học cho học sinh, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên

và rộng khắp trong toàn dân”

Học chế tín chỉ giúp đánh giá người học liên tục, nhiều lần trong một học kỳ nhằm giảm tải ở kỳ thi cuối kỳ và đồng thời rèn luyện cho người học được nhiều hơn Nhưng dù học niên chế hay tín chỉ thì cũng phải lấy người học làm trung tâm, xem đó là một cách tiếp cận với nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau như thảo luận, học nhóm, thậm chí cả đọc-chép… Riêng với người học, quan trọng nhất là phải hết sức chủ động, biết cách tự đánh giá khả năng học tập của mình để có sự lựa chọn môn học và cách thức học phù hợp

Vì vậy, bồi dưỡng năng lực tự học cho người học là một công việc có vị trí cực kì

G

Trang 28

quan trọng trong các trường (CĐ-ĐH) Chỉ

có tự học, tự bồi dưỡng tri thức bằng nhiều

con đường, nhiều cách thức khác nhau thì

người học mới có thể bù đắp được những

thiếu khuyết về tri thức khoa học và đời sống

xã hội Từ đó người học có được sự tự tin

trong cuộc sống và công việc bởi năng lực

toàn diện của mình

Để xác định cơ sở thực tiễn của bài

viết và có thêm căn cứ đề xuất các giải pháp

nhằm đổi mới phương pháp dạy học theo học

chế tín chỉ ở giờ dạy học lý thuyết trên lớp,

chúng tôi đã tiến hành khảo sát thông qua

phiếu điều tra đối với một số sinh viên (SV)

hệ Cao đẳng ở các khoa trong trường Ngoài

ra, qua thực tế giảng dạy, dự giờ, trao

đổi….chúng tôi nhận thấy:

1 Mức độ yêu thích ngành học mà

sinh viên đã chọn

Qua khảo sát, đa số SV chưa thực sự

yêu thích ngành học của mình, đa số SV

chọn mức “bình thường” chiếm 62% (với

nhiều lý do khác nhau) Trong đó, nhiều SV

cho rằng ngành học và thực tế xin việc làm

còn khó khăn; SV chưa hứng thú với ngành

học mình đã chọn

2 Những khó khăn trong quá trình

dạy và học

Qua thực tế giảng dạy, trao đổi và khảo

sát, chúng tôi nhận thấy quá trình dạy và học

còn gặp nhiều khó khăn Cụ thể:

* Về khách quan

- Phương thức đào tạo tín chỉ mới mẻ, SV

chưa quen với mô hình đào tạo này cũng như

chưa thích nghi với cách dạy và học ở trường

- Các môn chuyên ngành chưa gắn với thực

- SV chưa quen làm việc độc lập;

- SV chưa có ý thức tự học và yêu thích ngành học của mình;

- SV nghỉ học trên lớp nhiều (do nhiều nguyên nhân khác nhau), nhưng nhiều SV cho rằng GV dạy lại kiến thức trong bài giảng cần sáng tạo hơn để giờ học thêm sinh động, hấp dẫn;

- SV chưa hứng thú học tập chiếm 61%; (với nhiều nguyên nhân khác nhau từ phía SV và GV)

- GV cũng chưa thực sự trang bị được cho mình những kỹ năng cần thiết (kỹ năng sống…) để lôi cuốn SV học tập;

- Đội ngũ tư vấn (CVHT) chưa có kinh nghiệm, chưa phát huy hết vai trò cố vấn cho người học;

- GV trẻ, năng động nhưng chưa có kinh nghiệm nhiều về thực tế và giảng dạy

Trang 29

3 Đổi mới phương pháp dạy học

Mỗi trường CĐ-ĐH nói chung và mỗi

GV nói riêng đều luôn đổi mới và hoàn thiện

mình, bằng cách nào đó tìm những phương

pháp giảng dạy phù hợp với năng lực của bản

thân nhưng đồng thời phải phát huy được

năng lực tự học, tự sáng tạo của SV Chuyển

lối truyền đạt kiến thức một chiều từ GV

sang tăng cường các hoạt động học tập cho

SV, phát huy vai trò tích cực, chủ động sáng

tạo, tự nghiên cứu cho SV bằng các phương

pháp dạy học hiện đại như: dạy theo chủ đề,

thảo luận, làm việc nhóm, xử lý tình huống,

làm bài tập lớn, tiểu luận, viết báo

cáo,…Nhưng thực tế, do nhiều nguyên nhân

khách quan và chủ quan, GV lên lớp chưa sử

dụng hết các phương tiện dạy học hiện có;

GV chỉ sử dụng một vài phương pháp dạy

học truyền thống, chưa phối hợp nhiều

phương pháp và sử dụng phương pháp dạy

học hợp lý; thậm chí có GV chưa nắm vững

phương pháp dạy học…

II NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ ĐỔI MỚI

GIỜ DẠY LÝ THUYẾT TRÊN LỚP

Theo chương trình học tín chỉ, SV

phải ý thức rõ rằng yếu tố tự học là quan

trọng nhất, thời lượng chương trình sẽ được

rút ngắn để SV có thời gian tự nghiên cứu tài

liệu Tuy nhiên, vì hạn chế thời lượng lên

lớp, GV phải có một quỹ thời gian “mở” để

tiếp xúc, hướng dẫn SV và sẵn sàng giải đáp

thắc mắc, trao đổi thêm khi SV cần Đây là

yếu tố rất quan trọng của chương trình đào

tạo tín chỉ

Trong bài viết này chúng tôi đề cập

đến việc đổi mới giờ dạy lý thuyết bắt đầu từ

phía GV – một trong những nhân tố quan

trọng trong quá trình dạy-học GV từ vai trò

thuyết trình sang vai trò hướng dẫn Muốn

vậy, GV phải tham gia chặt chẽ hơn vào quá

trình học và thu nhận kiến thức của SV

Một số giải pháp pháp cơ bản nhằm

đổi mới giờ dạy lý thuyết nhằm nâng cao tính tích cực chủ động của SV trong học tập như sau:

1 Giải đáp những thắc mắc đầu giờ học

1.1 Mục đích

- Kiểm tra kiến thức cũ và kiến thức mới qua

việc tự học, tự nghiên cứu của SV (người GV

không đặt câu hỏi mà dẫn dắt, gợi ý để SV đưa ra câu hỏi thắc mắc cần giải đáp)

- Tạo bầu không khí cởi mở, thân thiện Tránh áp lực căng thẳng đầu giờ học

- Giải tỏa được những khúc mắc; giải đáp những kiến thức mà SV còn băn khoăn

1.2 Yêu cầu

- GV phải có kiến thức vững vàng; biết xử lý tình huống và giải đáp thắc mắc thấu đáo, rõ ràng;

- GV phải khuyến khích điểm kịp thời những

SV đưa ra những thắc mắc hay để khích lệ, động viên và xây dựng không khí học tập cởi mở;

- SV phải tự học, tự nghiên cứu bài đã học và bài mới để có thể đưa ra những thắc mắc cần giải đáp nhằm nắm chắc, hiểu sâu kiến thức hơn

Trang 30

+ Bước 2: SV nêu câu hỏi, GV yêu cầu cả

lớp lắng nghe, chú ý xem bạn hỏi gì? Sau đó

hỏi xem SV nào có thể trả lời giúp bạn? Nếu

không có bạn nào “trợ giúp”, GV tóm tắt ý

để trả lời và khen SV đó đã có tinh thần tự

học, tự nghiên cứu, biết tư duy

+ Bước 3: Trường hợp SV chưa tự tin, mạnh

dạn nêu câu hỏi (không có câu hỏi đặt ra) GV

gợi ý, đưa ra tình huống liên quan đến những

kiến thức trọng tâm của bài đã học để nêu

câu hỏi và tiếp tục khuyến khích SV mạnh

dạn đặt câu hỏi GV có thể bắt đầu bài học

bằng một cuộc thảo luận để lấy ý kiến và

quan điểm của SV

- Nâng cao chất lượng dạy và học;

- Rèn tinh thần tự học, tự nghiên cứu; giúp

người học có thêm “động cơ” để học tập

2.2 Yêu cầu

- SV phải tự giác học tập Giành thời gian

cho tự học, tự nghiên cứu ở nhà;

- SV phải chuẩn bị tốt những yêu cầu của GV

ở tiết học trước;

- SV phải có bài giảng, đọc trước bài mới (có

ghi chép, gạch chân các ý cần thiết hoặc

đánh dấu hỏi những chỗ cần thắc mắc) trong

bài giảng;

- GV phải chuẩn bị tốt bài giảng: dự kiến

những câu hỏi tình huống; kiến thức thực tế

phong phú;

- GV biết sử dụng phương tiện dạy học hiện

đại khi cần thiết; GV phải nắm vững các

phương pháp dạy học và biết vận dụng, phối hợp nhiều phương pháp trong giảng dạy

2.3 Cách thức thực hiện

+ Bước 1: Để kiểm tra phần tự học bài mới (phần lý thuyết) của SV ở nhà và nâng cao tinh thần tự giác, chủ động trong học tập của SV

(thay vì GV thuyết giảng, truyền đạt kiến thức

dễ gây nhàm chán), GV gọi hai hoặc ba SV lên

bảng trình bày tóm tắt kiến thức cơ bản nhất trong bài giảng (cho đem theo bài giảng hoặc không) bằng sơ đồ, công thức hoặc bằng các ý

đầu dòng lên bảng trong thời gian nhanh nhất

+ Bước 2: GV gọi SV khác nhận xét bằng phấn màu (đúng/ sai – sửa, bổ sung)

+ Bước 3: GV nhận xét, sửa chữa và cho điểm khuyến khích (nếu cần thiết)

Ngoài ra, GV có thể chia nhóm, đưa những câu hỏi thảo luận và hình ảnh liên quan đến nội dung bài dạy để gợi ý cho SV nhận xét hoặc sử dụng phương tiện dạy học cần thiết để minh họa, hệ thống bài học,… rèn kỹ năng tư duy cho SV

Do SV đã tự nghiên cứu, tự học ở nhà nên GV không cần truyền thụ đầy đủ các kiến thức đã được trình bày trong giáo trình, bài giảng (dễ gây nhàm chán)…mà nên thực hiện các công việc sau để hướng dẫn SV tích lũy kiến thức, kỹ năng; nâng cao hứng thú học tập

và yêu thích hơn ngành học mà mình đã lựa chọn:

- Giải thích kịp thời những vấn đề mà

GV cho là SV sẽ gặp khó khăn khi tự học; Nhấn mạnh những vấn đề mà SV cần chú ý trong giáo trình, bài giảng…mà GV đã yêu cầu

Trang 31

- Hướng dẫn SV thảo luận những vấn đề

trong tài liệu mà SV đã đọc hoặc những bài

nghiên cứu mà GV yêu cầu SV chuẩn bị;

- GV theo dõi những ý kiến thảo luận của

SV, kịp thời uốn nắn và giải thích rõ vấn đề khi

SV hiểu chưa đúng;

- Thông qua giờ lên lớp và thảo luận, GV

đánh giá thái độ và kết quả học tập trên lớp và

tự học ở nhà của SV;

- Tổ chức kiểm tra ngắn bằng hình thức

viết, đột xuất cả lớp hoặc thu một nhóm để

thúc đẩy SV thường xuyên học tập …

Tùy theo từng buổi lên lớp mà GV lựa

chọn các công việc trên phù hợp trong dạy học

Nói chung, bằng cách nào đó, người dạy phải

khơi nguồn sáng tạo, tính tự học, tự chủ chứ

không đơn thuần là việc truyền đạt lý thuyết

suông Cộng với sự hỗ trợ của trang thiết bị và

phương pháp giảng dạy Tất cả sẽ giúp cải

thiện môi trường học, nâng cao chất lượng

giảng dạy hướng tới đào tạo những SV vững về

kiến thức, thành thạo về kỹ năng và có thái độ

tích cực

Vấn đề là GV phải cải tiến phương pháp

để lôi cuốn được sự chú ý của SV Dù nội

dung có như thế nào thì một bài giảng tốt đều

phải được bố cục tốt và giảng giải một cách

rõ ràng, sáng tạo Để các SV dễ tiếp thu thì

GV phải phác thảo, định rõ, nhắc lại những

khái niệm quan trọng nhất, có minh hoạ phù

hợp và tóm tắt ngắn gọn Kỹ năng trình bày

cũng rất quan trọng và GV phải biết hướng

sự chú ý của SV vào nội dung bài chứ không

phải vào người giảng Chẳng hạn, GV nên

đưa ra một vấn đề trước khi giảng để định

hướng SV vào những thông tin nhất định

Khi bài giảng được kết cấu tương ứng với

vấn đề đặt ra, SV khi có định hướng sẽ tiếp

thu thông tin được chủ động hơn GV phải

tập trung chú ý đến SV và làm sáng tỏ nội dung bài cho SV, làm cho các ý liên quan đến các tình huống cụ thể, giúp SV ghi nhớ;

SV sẽ hứng thú hơn và học được nhiều hơn Muốn vậy, GV phải có kiến thức sâu rộng và

có nhiều kinh nghiệm thực tiễn

3 Hướng dẫn sinh viên về nhà tự học (cuối giờ dạy)

3.1 Mục đích

- Hướng dẫn và giao nhiệm vụ cụ thể cho

SV, định hướng giúp SV chủ động trong học tập và nghiên cứu tài liệu ở nhà;

- Hỗ trợ cho giờ học sau SV tiếp thu bài tốt hơn, chủ động hơn trong học tập; yêu thích môn học, ngành học của mình hơn

- SV phải đọc trước giáo trình, bài giảng ở nhà; giải quyết các vấn đề GV yêu cầu;

- SV cần lên thư viện hoặc truy cập internet

để tìm kiếm thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung bài học trên lớp

3.3 Cách thức thực hiện

+ Bước 1: Sau khi giải đáp hết các thắc mắc (nếu có) trong giờ học, GV hướng dẫn SV học và tìm hiểu thêm kiến thức liên quan đến bài vừa học:

- GV nêu câu hỏi có vấn đề (có thể gợi ý thêm)

để SV dễ thảo luận và nghiên cứu;

- GV hướng dẫn SV tìm tài liệu liên quan bài vừa học qua thư viện hoặc internet…

Trang 32

- GV hướng dẫn SV vận dụng kiến thức bài

đã học vào thực tế…Biến những gì học được

thành một phần của chính bản thân mình

+ Bước 2: GV hướng dẫn SV chuẩn bị cho

giờ học sau:

- GV gợi ý và đưa ra một số câu hỏi liên

quan đến trọng tâm của bài học mới;

- GV hướng dẫn SV tìm tài liệu liên quan đến

bài vừa học qua thư viện hoặc truy cập

internet…để chuẩn bị cho bài học mới;

- Hướng dẫn SV phải học cách tự đọc tài liệu

để hiểu sâu "linh hồn" của từng chương;

- Những vấn đề khó, GV có thể phân nhóm

để SV làm việc, chuẩn bị; tăng thêm cơ hội

học tập được lẫn nhau; nhằm tiết kiệm thời

gian thảo luận trên lớp, dành nhiều thời gian

cho tranh luận;

- GV hướng dẫn SV đọc giáo trình, bài giảng,

tài liệu và ghi lại những vấn đề cần được giải

thích, làm rõ

Nói chung, hướng dẫn càng rõ ràng,

cụ thể thì quá trình tự học của SV càng thuận

lợi; SV sẽ say mê, hứng thú hơn trong tự học

và nghiên cứu vì quá trình khám phá “cái

mới” dễ dàng Đồng thời SV sẽ có nhiều cơ

hội để rèn luyện các kỹ năng cần thiết và

quan trọng: có ý thức tự học, tự chịu trách

nhiệm Như vậy, đòi hỏi người GV ở một

mức độ cao hơn cả về kiến thức chuyên môn

lẫn những kỹ năng

Tóm lại, người GV hiện nay không đơn thuần là người truyền phát thông tin một chiều, cung cấp kiến thức cho SV, ngược lại người GV trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay phải năng động, không ngừng khơi gợi, phát huy năng lực tư duy sáng tạo

và khả năng tự học, tự tiếp thu cái mới, tự hoàn thiện mình của SV Muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo hãy bắt đầu bằng những giải pháp cụ thể nhất, thiết thực nhất Trí tuệ của từng người thầy, của một tập thể nhà giáo thống nhất ý chí và hành động sẽ có sức mạnh to lớn để cụ thể hoá các bước đi thực hiện sự đổi mới quá trình dạy học, bởi chính họ làm chủ nhiệm vụ, khám phá, sáng tạo, tìm giải pháp để chất lượng đào tạo ngày một tốt hơn, chuẩn hơn và tiết kiệm hơn Ngoài ra, để giáo dục phát triển theo đúng kỳ vọng của đất nước phải có những con người tâm huyết, xuất phát từ tấm lòng với thế hệ tương lai./

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ giáo dục và Đào tạo (2001), Quy chế

31/2001: Về học chế tín chỉ, Hà Nội

2 Giang Bách (2008) Giảng đường đại học

việt nam thế kỷ 21 Vietimes

3 Trần Lê Hữu Nghĩa (2008) Dạy và học

theo quan điểm học suốt đời

Trang 33

Đổi mới phương pháp giảng dạy môn toán

để phù hợp VớI đào tạo theo tín chỉ

Ths.Nguyễn Thị Khỏnh Hũa

Ths Vừ Hoàng Vũ

GV Khoa Giỏo dục Đại Cương

iỏo dục đại học, cao đẳng trờn thế giới đó khẳng định rằng đào tạo theo tớn chỉ là một phương thức đào tạo

cú nhiều ưu thế so với phương thức đào tạo

truyền thống Đào tạo theo tớn chỉ thực chất

là cỏ nhõn húa quy trỡnh đào tạo, trao quyền

chủ động cho SV, tạo cơ hội cho SV tự quyết

định về tiến độ và tốc độ tớch lũy tớn chỉ một

cỏch phự hợp nhất với năng lực và nhu cầu

cỏ nhõn

Nhưng đối với cỏc SV từ phổ thụng

mới lờn, việc phải tự quyết định mụn học, tự

lập kế hoạch học tập-nghiờn cứu là một khú

khăn rất lớn vỡ lõu nay cỏc em đó quen được

thầy cụ "nắm tay chỉ việc" từng bước một

Và việc học chế tớn chỉ sẽ khụng đạt được

hiệu quả cao như nú vốn cú nếu như cỏc

giảng viờn vẫn giảng dạy một cỏch thụ động

theo phương phỏp đọc chộp lõu nay Vỡ vậy

việc đổi mới PPGD (PPGD) để phự hợp với

phương thức đào tạo theo tớn chỉ là một đũi

hỏi hết sức khỏch quan Và đổi mới PPGD

phải được thực hiện theo hướng: bồi dưỡng

năng lực tự học, tự nghiờn cứu, tạo điều kiện

cho người học phỏt triển tư duy sỏng tạo và

tạo tiền đề để họ cú khả năng tự học suốt đời

Trường ta đó thực hiện hỡnh thức đào

tạo theo tớn chỉ từ khúa 32, việc vấp phải

những khú khăn trong giảng dạy những năm

đầu tiờn này là điều khụng thể trỏnh khỏi

Nhưng toàn thể giỏo viờn trong trường đó nỗ

lực hết sức để cố gắng hoàn thiện PPGD, tạo điều kiện thuận lợi cho người học Hũa chung với những cố gắng khụng biết mệt mỏi

đú là sự đúng gúp khụng nhỏ của đội ngũ giỏo viờn bộ mụn toỏn trong việc tỡm tũi đổi mới PPGD để phự hợp hơn với phương thức đào tạo theo tớn chỉ và phự hợp với hoàn cảnh

cụ thể của Nhà trường

Hụm nay, tụi xin thay mặt cho giỏo viờn đang giảng dạy mụn toỏn theo tớn chỉ tại Trường CĐ CN Tuy Hũa nờu lờn một số PPGD đó được thực hiện và mang lại hiệu quả cũng như đề xuất một số giải phỏp để gúp phần nõng cao hơn nữa chất lượng dạy

và học mụn toỏn theo tớn chỉ tại trường ta

I MỘT SỐ KHể KHĂN CỦA TRƯỜNG CĐCN TUY HềA KHI CHUYỂN ĐỔI SANG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ

1.1 Về cơ sở vật chất

- Tài liệu trờn thư viện để phục vụ cho việc tự học, tự nghiờn cứu của SV chưa nhiều, khụng đỏp ứng đủ nhu cầu của SV Và khả năng cập nhật tài liệu dạy học mới của một số giỏo viờn chưa thật tốt

- Số lượng mỏy vi tớnh để SV truy cập internet cũn hạn chế

1.2 Về giỏo viờn

- Đội ngũ giỏo viờn cũn trẻ Ít giỏo viờn cú kinh nghiệm giảng dạy theo tớn chỉ

G

Trang 34

- Giáo viên phải đảm đương nhiều học

phần khác nhau nên không có nhiều thời gian

đầu tư cho tiết giảng Hơn nữa một số học

phần vẫn chưa có nhiều giáo viên cùng giảng

dạy Do đó sự lựa chọn của SV bị hạn chế và

giáo viên cũng không còn nhiều thời gian để

hướng dẫn và thảo luận kỹ với SV về nội

dung của học phần cũng như phương pháp tự

học cho tốt

- Hai phương thức đào tạo theo niên chế

và tín chỉ cùng tồn tại song song nên việc tìm

ra PPGD phù hợp cho cả hai loại hình này

tốn rất nhiều thời gian và công sức

- Cố vấn học tập chưa dành nhiều thời

gian để hướng dẫn SV phương pháp tự học

hay lựa chọn học phần phù hợp với năng lực

bản thân

1.3 Về sinh viên

- Chất lượng đầu vào của SV chưa cao Cụ

thể, kiến thức nền và ý thức tự giác học tập

của SV không tốt Đa số SV đã quen ỷ lại

vào giáo viên, ngại phát biểu, ngại trao đổi,

việc đọc bài và làm bài tập về nhà chủ yếu là

do bị giáo viên ép buộc mới thực hiện

- Đa số SV chưa quen với việc tự học hỏi

qua bạn bè, qua tài liệu và qua internet Hầu

như SV không biết cách tự học, tự nghiên

cứu Thậm chí một số còn thiếu kĩ năng đọc

sách

- Đa số SV chưa nắm rõ quy chế đào tạo

theo tín chỉ

1.4 Về đặc điểm môn Toán ở bậc cao đẳng

- Khối lượng nội dung của các môn

Toán là như nhau đối với cả hai hình thức

đào tạo theo niên chế và tín chỉ Tuy nhiên

với niên chế, tổng thời gian giảng dạy trên

lớp là từ 60 – 75 tiết; còn đối với tín chỉ, thời

gian giảng dạy trên lớp bị cắt giảm xuống

còn từ 30 – 45 tiết Điều này có nghĩa là khi học theo chế tín chỉ, SV phải tự học là chủ yếu và thời gian trên lớp chỉ là để hướng dẫn cách tự học, cách giải bài tập và giải đáp thắc mắc cho SV

- Nội dung kiến thức các môn toán ở bậc cao đẳng, đại học khác nhiều so với phổ thông Có nhiều nội dung thuần túy toán học, rất trừu tượng, khó thấy được bản chất của vấn đề Điều này gây khó khăn lớn cho SV khi tự nghiên cứu ở nhà

- Không có nhiều nội dung đơn giản để SV

có thể tự chuẩn bị ở nhà theo nhóm sau đó lên lớp trình bày

- Phương pháp đánh giá môn Toán được thực hiện theo hình thức trắc nghiệm nhưng hiện nay trên thị trường không phổ biến loại sách bài tập viết theo hình thức này nên SV không có điều kiện làm nhiều bài tập và rèn

kĩ năng làm toán nhanh

Kết luận: Các khó khăn nêu trên là những

thách thức không nhỏ đối với giáo viên trong trường CĐ CN Tuy Hòa nói chung và giáo viên bộ môn Toán nói riêng Thực tế này đã yêu cầu chúng tôi phải nhanh chóng nghiên cứu, tìm tòi, thay đổi PPGD sao cho phù hợp hơn với phương thức đào tạo theo tín chỉ

Qua 3 năm nghiên cứu, tìm tòi và học hỏi lẫn nhau chúng tôi cũng đã lựa chọn được những PPGD phù hợp cho môn học và cho

SV để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán theo tín chỉ Sau đây chúng tôi xin phép được trình bày những giải pháp trong giảng dạy bộ môn Toán đã được áp dụng trong thời gian qua và những kết quả đạt được

II MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG GIẢNG DẠY MÔN TOÁN THEO CHẾ TÍN CHỈ 2.1 Một số giải pháp đã được áp dụng

Trang 35

2.1.1 Về công tác chuẩn bị trước khi lên

lớp

* Đối với tiết học đầu tiên:

- Soạn những nội dung cơ bản có kèm theo

ví dụ rõ ràng và trình bày thành quyển bài

giảng Yêu cầu mỗi SV đều phải có một

quyển để đọc bài trước khi lên lớp và tiết

kiệm thời gian chép bài

- Xây dựng, thu thập, phân loại, hướng

dẫn sử dụng các tài liệu sẵn có trên thư viện

phục vụ cho việc tự học, tự nghiên cứu của

SV

* Đối với các tiết học tiếp theo:

- Xác định những mục tiêu cụ thể cần đạt

được sau mỗi bài học

- Soạn bài giảng bằng powerpoint để tiết

kiệm thời gian ghi bảng và tạo sự lôi cuốn

học tập của SV

- Chuẩn bị các câu hỏi để hỏi SV ở trên

lớp, các bài tập, bài kiểm tra trên lớp và các

tiêu chí đánh giá

- Xác định các nội dung tự học và cách

học cho SV để hoàn thành khối lượng kiến

thức theo yêu cầu của buổi học sau, các vấn

đề, các câu hỏi, bài tập, các loại tài liệu phải

đọc, phải tìm kiếm để bổ sung kiến thức

- Giáo viên phải tự học, tự nghiên cứu rất

nhiều để nâng cao kiến thức của mình, có thể

giải đáp thắc mắc của SV trong quá trình dạy

– học

2.1.2 Về quá trình thực hiện tiết giảng

Học theo chế tín chỉ, thời gian lên lớp

rất ít, chủ yếu là SV tự học, do đó việc tiếp

thu những kiến thức giáo viên truyền đạt

trong tiết giảng là rất quan trọng Nó giúp SV

tiếp nhận được kiến thức cơ bản mà không

mất nhiều thời gian, định hướng cho SV biết

cách nghiên cứu đúng tài liệu và đúng kiến

thức cần học Vì vậy việc tăng hiệu quả tiếp thu bài giảng trên lớp của SV là vô cùng cần thiết Để làm tốt được nhiệm vụ này, chúng tôi đã sử dụng các giải pháp trong giảng dạy như sau:

* Đối với tiết học đầu tiên:

- Trình bày vai trò của môn toán đối với việc nâng cao tư duy, rèn luyện óc trừu tượng, suy luận hợp logic, rèn luyện tính cần

cù, nhẫn nại, tính cẩn thận, chính xác, … để

SV thấy được tầm quan trọng của môn toán

và có tinh thần tự giác học ngay từ đầu

- Trình bày ý nghĩa thực tiễn của môn học

để SV định hướng và phân chia thời gian tự học cho các học phần một cách hợp lý

* Đối với các tiết học tiếp theo:

- Lựa chọn những vấn đề cơ bản, cốt lõi, quan trọng để giảng, đây phải là những vấn

đề mà nếu không có người dạy thì người học khó có thể lĩnh hội được

Hoặc Dùng xác suất để tính xem khả năng

trúng một giải nào đó khi mua vé số, hoặc chơi lô đề, qua đó nhận xét xem có nên chơi

lô đề hay không?

- Liên hệ nội dung của môn toán với

chuyên ngành của SV

Ví dụ: Kiểm định giả thiết là phương pháp

để đánh giá một báo cáo, một kết luận là có

cơ sở không

Trang 36

- Nên áp dụng nhiều PPGD trong một

tiết giảng để tiết giảng không bị nhàm chán

và thu hút được người nghe

- Sử dụng phương pháp đàm thoại gợi

mở để đưa SV vào quá trình tiếp thu kiến

thức một cách tự nhiên và hứng thú Đàm

thoại cũng giúp cho giáo viên biết SV đã nắm

kiến thức được đến đâu và bổ sung những

kiến thức còn thiếu

Ví dụ: Để giúp SV phân biệt ước lượng điểm

và ước lượng khoảng trong thống kê, ta nên

yêu cầu SV ước lượng thử chiều cao của 1 SV

trong lớp Hầu như tất cả SV đều đưa ra một

chiều cao nhất định như 1.67cm; 1.71cm; …

Lúc này giáo viên sẽ đưa ra ước lượng của

mình đó là khoảng (1.68cm; 1.72cm)

- Sử dụng phương pháp trực quan để

SV dễ tiếp thu

Ví dụ: Khi dạy về cực trị hàm nhiều biến nên

đưa đồ thị cụ thể và chỉ cho SV thấy rõ

- Thường xuyên đặt các câu hỏi vì sao để

kích thích SV tư duy và khuyến khích SV trả

lời theo quan điểm của mình

- Luôn gần gũi với SV để tạo sự thân

thiện, gần gũi giúp SV bớt e ngại trong việc

thắc mắc về bài học và tạo không khí vui vẻ

để SV tiếp thu bài học một cách nhanh

chóng Khuyến khích SV phát biểu bằng

cách cộng điểm chuyên cần

- Trong mỗi buổi học, tranh thủ thời gian

SV làm bài tập trên lớp, giáo viên sẽ gọi

ngẫu nhiên từ 5 – 10 SV để kiểm tra việc làm

bài tập ở nhà Nếu không làm hoặc chuẩn bị

sơ sài sẽ bị trừ điểm chuyên cần

- Kiểm tra việc tự đọc tài liệu trước ở nhà

bằng cách hỏi những câu đơn giản, chẳng hạn

như đối tượng này có kí hiệu là gì? Hoặc yêu

cầu SV trình bày những kiến thức đơn giản

đã được giao chuẩn bị ở nhà Sẽ cho điểm khuyến khích để SV thấy được tầm quan trọng của việc đọc bài trước khi lên lớp Hoặc trừ điểm chuyên cần nếu SV không chuẩn bị bài ở nhà Việc này sẽ tạo cho SV

có thói quen nghiên cứu tài liệu trước và đánh dấu những phần chưa hiểu để hỏi giáo viên, nhằm nâng cao hiệu quả tiếp thu trên lớp

- Thực hiện phương pháp kiểm tra đánh giá ngay sau mỗi tiết học như hỏi những nội dung cơ bản vừa học, yêu cầu lập bảng so sánh những kiến thức cũ và mới nhưng có mối tương đồng hoặc cho làm bài tập chạy,…

- Cho phép SV nhận xét câu trả lời của bạn sau đó giáo viên mới tổng kết lại

Ví dụ: Lập bảng để phân biệt công thức

tính các đặc trưng của ĐLNN rời rạc và liên tục Hoặc là tổng hợp các phương pháp xét

sự hội tụ của từng loại chuỗi

- Nên khuyến khích SV thắc mắc về kiến thức vừa học mà SV chưa kịp tiếp thu trong tiết giảng và giải đáp ngay hoặc hướng dẫn cho SV tự tìm hiểu thêm

- Khuyến khích các SV học tốt giúp giáo viên trả lời thắc mắc của các bạn trong lớp Điều này sẽ tạo thói quen hỏi bạn trước khi hỏi giáo viên

- Dành thêm thời gian vào cuối mỗi tiết học hoặc giờ ra chơi để giải đáp thắc mắc cho SV

- Tạo thêm kênh thông tin ngoài giờ lên lớp để SV có thể trao đổi thảo luận với nhau

và với giáo viên như là qua điện thoại và email

Trang 37

2.2 Kết quả đạt được sau khi đổi mới

PPGD

Trong phần này chúng tôi sẽ so sánh

điểm tổng kết môn Toán cao cấp 1 và điểm

thi giữa kỳ của hai môn Toán cao cấp 2 và

Xác suất thống kê (vì hiện tại SV K34 chưa thi hai môn này) của SV khóa 33 và khóa 34 Bởi vì ở khóa 33, gần như chúng tôi vẫn sử dụng PPGD theo niên chế áp dụng cho tín chỉ Chúng tôi đã có sự thay đổi phương pháp

rõ nét nhất khi giảng dạy cho SV khóa 34

Yếu, kém

Tổng

số SV

Xuất sắc

Khá, giỏi

Yếu, kém

ta thấy rằng việc áp dụng các giải pháp trong

giảng dạy như đã nêu ở mục 2.1 cũng đã góp

phần nâng cao tỷ lệ SV xuất sắc, giỏi, khá và

cũng đã giảm bớt tỷ lệ SV yếu kém

Tuy nhiên có thể thấy rằng sự thay đổi

ở môn Toán cao cấp 1 là không nhiều, bởi

học phần này được xếp vào kỳ học đầu tiên

của khóa học Do đó SV vẫn còn gặp bỡ ngỡ

vì chưa quen với cách học theo chế tín chỉ

Vì vậy, sang các năm tiếp theo chúng tôi sẽ

cố gắng tìm kiếm thêm những phương pháp

phù hợp hơn để góp phần nâng cao chất

lượng dạy và học môn Toán cao cấp 1

2.3 Một số giải pháp dự định sẽ áp dụng

trong năm học 2012 – 2013

Sang năm học 2012 – 2013, chúng tôi

sẽ tiếp tục áp dụng những giải pháp đã nêu ở

mục 2.1 Thêm vào đó, sau khi trao đổi với tổ

chuyên môn chúng tôi quyết định sẽ thực

hiện thêm một số giải pháp sau:

- Yêu cầu SV làm tiểu luận hoặc bài tập lớn để phát huy khả năng tư duy sáng tạo của

SV

- Đối với những phần kiến thức đơn giản

SV có thể tự học, giáo viên nên giao nhiệm

vụ cho mỗi nhóm nghiên cứu Sau đó yêu cầu các nhóm thuyết trình, giải đáp thắc mắc cho các nhóm khác ngay trên lớp Điều này bước đầu tạo cho SV thói quen tự học, tự nghiên cứu, làm việc theo nhóm và mạnh dạn hơn trong việc trao đổi kiến thức với bạn và với thầy Lúc đầu có thể SV sẽ thấy khó khăn nhưng sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ, SV

sẽ cảm thấy tự hào vì mình có thể tự nghiên cứu, tự hiểu ra vấn đề, tự làm chủ kiến thức

mà không cần giáo viên giảng cụ thể Đây sẽ

là động lực để SV cố gắng hơn nữa trong việc tự học và có hứng thú với học phần

Trang 38

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA NGÀNH ĐỊA CHẤT TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA

Ks Nguyễn Thành Sơn

Ks Nguyễn Việt Cường

Cn Dương Vĩnh Nhiều Khoa Tài nguyên Môi trường

ài nguyên khoáng sản của nước

ta rất phong phú, sự phát triển

của các công trình ngầm ngày càng đa dạng

Thành tựu kinh tế đạt được trong lĩnh vực

Địa chất đã có những đóng góp đáng kể cho

nền kinh tế của đất nước Tuy nhiên vấn đề

đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực Địa

chất ở các trường Đại học, Cao đẳng nói

chung và trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy

Hòa nói riêng còn nhiều tồn tại đã ảnh hưởng

đến sự phát triển kinh tế của đất nước

Bài viết này nêu lên một số phương

hướng và giải pháp thiết thực trong hoạt động

giảng dạy và học tập của Thầy và Trò

trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa để

nâng cao chất lượng đào tạo ngành Địa chất

nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội

I Tình hình chung

Ngành Địa chất Việt Nam có tiềm năng

phát triển rất mạnh với sự đa dạng của các

loại tài nguyên khoáng sản cùng với việc xây

dựng các cơ sở hạ tầng nhằm mục đích đưa

nước ta thành một nước công nghiệp vào

năm 2020 Từ khi nước ta bước vào hội nhập

quốc tế, ngành Địa chất Việt Nam lại có điều

kiện để trở thành kinh tế mũi nhọn và thu

được nhiều thành tựu to lớn

Tuy nhiên, tiềm năng trong lĩnh vực Địa

chất mạnh nhưng vai trò con người có ý

nghĩa quyết định cho sự phát triển đ ó

Không có con người được đào tạo chất lượng thì không thể biến tiềm năng thành kinh tế Mặc dù trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa đã có những cố gắng, nổ lực

và tiến bộ trong những năm vừa qua, nhưng việc đào tạo những học sinh - sinh viên thành những con người có chất lượng cho ngành Địa chất còn nhiều tồn tại và hạn chế, nếu không chú ý nâng cao chất lượng đào tạo thì ngành Địa chất không thể phát triển bền vững về sau này

II Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của ngành Địa chất trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa

1 Một số vấn đề còn tồn tại của ngành Địa chất của trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa

- Chương trình đào tạo có ý nghĩa quan trọng nhất Mặc dù hiện nay chương trình đào tạo ngành Địa chất của trường đã có những thay đổi tích cực nhưng cần phải có sự thay đổi mạnh mẽ hơn nữa Nội dung chương trình cần phải cập nhật liên tục để theo kịp với thực tiễn trong nước và khu vực Các môn học cần phải được đổi mới và bổ sung để phù hợp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật

- Nội dung chương trình còn nhiều bất cập, nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành (lý

do ngành còn thiếu về trang thiết bị dạy và học thực hành) dẫn đến việc rèn luyện kỹ

T

Trang 39

năng và tay nghề còn hạn chế

- Phương pháp dạy học còn chưa được

đổi mới triệt để Tiết giảng độc thoại vẫn còn

tồn tại Học sinh - sinh viên vẫn còn ghi chép

và học thuộc lòng, không phát huy tư duy

sáng tạo (lý do sinh viên còn thụ động, hạn

chế về khả năng, đội ngũ cán bộ giảng dạy

còn rất trẻ chưa có kinh nghiệm thực tế và

chưa có thời gian trau dồi kiến thức)

- Chất lượng đầu vào chưa cao Đây là

thực trạng chung của hệ Trung cấp, học sinh

có trình độ thấp, nhiều học sinh chưa tốt

nghiệp THPT, khả năng nhận thức còn yếu,

khả năng tiếp thu bài chậm

- Dụng cụ, trang thiết bị thí nghiệm thô

sơ, lạc hậu Đây là nguyên nhân chính làm

giảm chất lượng giảng dạy các môn thực

hành như Địa chất công trình, Khảo sát địa

chất công trình, Giám sát thi công công trình

địa chất, Phòng thí nghiệm Địa chất công

trình chưa được đầu tư đúng mức nên học

sinh - sinh viên không có điều kiện thực

hành, dẫn đến tay nghề yếu; trang thiết bị thí

nghiệm đã lỗi thời, quá hạn sử dụng nên học

sinh - sinh viên khi đi thực tập tốt nghiệp và

ra trường đi làm khó tiếp cận thực tiễn tại các

cơ quan

- Công việc thực tập hàng năm và thực

tập cuối khóa mang tính chất hình thức, đối

phó (lý do trước đây ngành còn thiếu đội

ngũ giảng dạy) Từ đó không rút được

những kinh nghiệm và bài học quí báu trong

thực tiễn hoạt động Địa chất

Hệ quả là học sinh - sinh viên ra trường

chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành Địa

chất nói riêng và yêu cầu xã hội nói chung

2 Những điều cần làm để nâng cao chất

lượng đào tạo ngành Địa chất của trường

Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa

a Về giảng viên, giáo viên

- Đội ngũ giảng viên, giáo viên cần xem xét nghiêm túc lại nội dung chương trình đào tạo theo hướng hiện đại, phù hợp với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu xã hội Cụ thể cần tham khảo chương trình đào tạo của trường

ĐH - CĐ trong và ngoài nước (Ví dụ: trường Đại học Mỏ Địa chất Hà Nội, Đại học Bách khoa Tp HCM,…) để từ đó bổ sung thêm một số môn học cần thiết cho phù hợp với hiện nay và loại bỏ những môn học không còn phù hợp với thực tiễn

- Thực hiện tốt chương trình tín chỉ cho từng môn học phát huy tích cực tinh thần tự học tập và nghiên cứu của người học

- Tăng cường đầu tư trang thiết bị phòng thí nghiệm Địa chất công trình, cử cán bộ giáo viên đi học tập, bồi dưỡng tay nghề để truyền thụ những kinh nghiệm thực tiễn, rèn luyện thuần thục kỹ năng tay nghề cho học sinh - sinh viên

- Tăng cường rèn luyện kỹ năng nghiệp

vụ, chú ý rèn luyện tay nghề, tích cực đi thực tế lao động sản xuất nghề nghiệp đối với cán bộ giảng dạy trẻ mới ra trường Ngành Địa chất việc rèn luyện tay nghề là quan trọng nhất

- Chú ý công tác hướng dẫn học sinh - sinh viên thực tập hàng năm và cuối Khóa

để các em nắm bắt được tình hình thực tế của công việc nhằm rút ra những kinh nghiệm quí báu trong ngành Địa chất

- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng “lấy người học làm trung tâm”, phát huy tư duy sáng tạo Chấm dứt phương pháp giảng dạy độc thoại

- Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học

Trang 40

nhằm phát huy tối đa khoa học kỹ thuật trong

và ngoài nước

- Xây dựng bộ giáo trình và sách chuyên

ngành Địa chất

- Xây dựng chuẩn đầu ra đáp ứng với nhu

cầu xã hội và thiết thực

b Về sinh viên:

- Phát huy tinh thần tự học, tự nghiên

cứu, không học thuộc lòng thiếu tính độc

lập sáng tạo

- Xây dựng tác phong học tập theo nhóm

để phát huy trí tuệ tập thể kết hợp với trí tuệ

cá nhân nhằm chuẩn bị ra trường làm việc

- Tăng cường xâm nhập thực tế, thực

tiễn ngành Địa chất để học hỏi chuyên môn

nghiệp vụ và rèn luyện tay nghề

- Đẩy mạnh việc học ngoại ngữ (đặc biệt

là tiếng Anh) và tin học để phục vụ cho học

tập cũng như công việc sau này

- Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ Thầy

- Trò để học hỏi về tri thức, kinh nghiệm

được thuận lợi và sâu sắc

- Rèn luyện lý tưởng đạo đức, tác phong

nghề nghiệp để chuẩn bị ra trường làm việc

được tốt trong bất cứ môi trường nào

III Định hướng nâng cao chất lượng dạy

và học của giờ thực hành Địa chất công

trình

1 Xác định mục tiêu dạy học của từng

giờ học phù hợp với hình thức tổ chức thực

hiện theo giờ tín chỉ, giờ niên chế và phải

phù hợp với hệ đào tạo

2 Trên cơ sở đề cương môn học, hình

thức tổ chức thực hiện giờ thực hành lập kế

hoạch chi tiết và giáo án để xây dựng các

kịch bản lên lớp Chuẩn bị các trang thiết bị

vật chất, máy móc cần thiết cho giờ thực

hành Địa chất công trình

3 Lựa chọn các phương pháp phù hợp

với từng nội dung của từng bài Đồng thời kết hợp nhiều phương pháp trong một giờ học nhằm lấy ưu điểm của phương pháp này khắc phục những nhược điểm của phương pháp kia và tạo sự linh hoạt, đa dạng trong một giờ học Trong quá trình lựa chọn các phương pháp phù hợp, giảng viên cần kết hợp việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên trong suốt quá trình dạy học Kiểm tra, đánh giá thường xuyên là một phương pháp bổ trợ rất hiệu quả cho các phương pháp dạy học

4 Để thực hiện tốt nội dung của giờ thực hành Địa chất công trình giáo viên cần thực hiện như sau:

- Giáo viên phát cho học sinh - sinh viên tài liệu thực hành trước, yêu cầu học sinh - sinh viên về nghiên cứu trước ở nhà để có thể nắm được nội dung thực hành Đồng thời giáo viên hướng dẫn cho các em nghiên cứu tìm những tài liệu tham khảo có liên quan đến bài và yêu cầu các em ghi những thắc mắc dưới dạng câu hỏi và nộp lại cho giáo viên

- Giáo viên sẽ tập hợp, chọn lọc các câu hỏi và sau đó đưa cho các nhóm cùng suy nghĩ để làm rõ những vấn đề còn thắc mắc giúp cho các em có hứng thú để chờ đón giờ thực hành

- Trước khi thực hành yêu cầu học sinh - sinh viên nhắc lại phần lý thuyết có liên quan đến phần thực hành Đồng thời yêu cầu học sinh - sinh viên khái quát những nội dung thực hành mà các em đã được chuẩn bị trước

Ngày đăng: 15/11/2015, 22:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng so sánh kết quả học tập - CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO  CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NĂM 2012
Bảng so sánh kết quả học tập (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w