1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam Định đến năm 2020

354 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 354
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra vùng ven biển còn chịu ảnh hưởng của gió đất hướng thịnh hành là Tây và Tây Nam, gió biển hướng thịnh hành là Đông Nam; - Bão: Do nằm trong vùng Vịnh Bắc Bộ, nên hàng năm thườn

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nhân tố quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân

cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng;

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã ghi:

“Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm

sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” (chương II Điều 18), Luật Đất đai năm 2003

đã quy định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là một trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định bổ sung về quy hoạch

sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;

Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ trong giai đoạn trước mắt mà cả lâu dài Quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết trên địa bàn lãnh thổ, xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai, làm cơ sở để tiến hành giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích

sử dụng đất và đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là đảm bảo

an toàn lương thực quốc gia và môi trường sinh thái của cả nước;

Mục tiêu của quy hoạch là quản lý chặt chẽ tài nguyên đất đai theo quy hoạch, kế hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững Phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực về đất đai, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nông thôn mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước;

Do tầm quan trọng của việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong giai đoạn hiện nay Được sự hướng dẫn của Tổng cục Quản lý đất đai, UBND tỉnh Nam Định đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các cấp, các ngành triển khai xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai của tỉnh Nam Định đến năm 2020 để trình Chính phủ phê duyệt theo luật định;

Quy hoạch sử dụng đất của tỉnh khi được chính phủ phê duyệt sẽ làm cơ sở, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các huyện, thành phố đến năm 2020

Những căn cứ pháp lý và cơ sở lập quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam

Định đến năm 2020

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

Luật Đất đai năm 2003, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;

Trang 2

Nghị quyết số 54/NQ-TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;

Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước;

Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;

Quyết định số 109/2006/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án quy hoạch tổng thể phát triển thành phố Nam Định trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội của vùng Nam đồng bằng sông Hồng;

Quyết định số 87/2008/QĐ-TTg ngày 03/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nam Định đến năm 2020;

Quyết định số: 2084/QĐ-TTg, ngày 22 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định đến năm 2025;

Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quy hoạch về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2020 và

kế hoạch triển khai xây dựng nông thôn mới tỉnh Nam Định giai đoạn 2011 - 2015;

Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015

Công văn số 2778/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 04/8/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc triển khai lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch

sử dụng đất 5 năm 2011 - 2015;

Trang 3

Công văn số 429/TCQLĐĐ-CQHĐĐ ngày 16/4/2012 của Tổng cục quản lý đất đai về việc hướng dẫn quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Chỉ thị số 16/2009/CT-UBND ngày 25/9/2009 của UBND tỉnh Nam Định về việc kiểm kê đất đai năm 2010, lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch

sử dụng đất 5 năm 2011-2015;

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ XVIII tháng 9 năm 2010; Công văn số 23/CP-KTN ngày 23 tháng 02 năm 2012 về việc phân bổ chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia;

Nội dung quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam Định đến năm 2020

Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam Định đã được nghiên cứu xây dựng trên cơ sở khảo sát đánh giá thực trạng, tiềm năng sử dụng đất đai một cách có

hệ thống từ các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh Báo cáo tổng hợp gồm các nội dung chính sau:

- Phần thứ nhất: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội;

- Phần thứ hai: Tình hình quản lý, sử dụng đất đai;

- Phần thứ ba: Đánh giá tiềm năng và định hướng dài hạn sử dụng đất;

- Phần thứ tư: Phương án quy hoạch sử dụng đất;

- Kết luận và kiến nghị

Trang 4

Phần thứ nhất

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI

I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Nam Định là một tỉnh phía Nam châu thổ Sông Hồng, có toạ độ địa lý từ

19o52’ đến 20o30’ vĩ độ Bắc và từ 105o55’ đến 106o35’ kinh độ Đông;

Phía Bắc giáp với tỉnh Hà Nam;

Phía Đông giáp tỉnh Thái Bình lấy sông Hồng làm ranh giới;

Phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình lấy sông Đáy làm ranh giới;

Phía Nam giáp với biển Đông;

Nam Định có vị trí địa lý thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội Diện tích tự nhiên của tỉnh 1.651 km2 Dân số trung bình 1.830 nghìn người, gồm 9 huyện

và 1 thành phố Thành phố Nam Định là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của tỉnh Nam Định có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội Đường sắt xuyên Việt đi qua tỉnh dài 42 km với 5 ga, rất thuận lợi cho việc vận chuyển hành khách và hàng hoá Đường cao tốc Bắc Nam tiếp tục được đầu tư nâng cấp, Quốc lộ 10, Quốc lộ 21 qua tỉnh dài 108 km được đầu tư nâng cấp thành đường chiến lược ven biển của vùng nam đồng bằng sông Hồng Hệ thống các sông Hồng, sông Đào, sông Đáy, sông Ninh Cơ chảy qua địa phận tỉnh với chiều dài trên 251

km, cùng với hệ thống Cảng sông Nam Định và Cảng biển Thịnh Long rất thuận tiện cho việc phát triển vận tải thuỷ;

Nam Định nằm trong vùng ảnh hưởng của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, cách thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng khoảng 90 km, đó là hai thị trường lớn để giao lưu, tiêu thụ hàng hoá, trao đổi kỹ thuật công nghệ, thông tin và kinh nghiệm quản lý kinh doanh;

Với vị trí địa lý khá thuận lợi, đó là điều kiện quan trọng để Nam Định phát triển kinh tế năng động, đa dạng và hoà nhập với việc phát triển kinh tế - xã hội, khoa học kỹ thuật trong nước và quốc tế

1.1.2 Địa hình, địa mạo

Nam, quá trình hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của hệ Delta sông Hồng, tuổi khá trẻ tương ứng với quá trình trầm tích Delta hiện

Trang 5

đại Có thể chia địa hình Nam Định thành địa hình lục địa (phần trong đê) và địa hình bãi triều (phần ngoài đê);

- Địa hình lục địa bao gồm:

+ Địa hình bóc môn tổng hợp phân bố trên bề mặt đồi, núi sót ở Ý Yên, Vụ Bản; + Địa hình tích tụ sông, phân bố dọc theo sông Đáy, sông Hồng, sông Đào và sông Ninh Cơ;

+ Địa hình tích tụ sông biển hỗn hợp, có mặt ở hầu hết đồng bằng các huyện

từ Nam Trực đến Giao Thuỷ với cao độ 0,5 ÷ 2 m, khá bằng phẳng;

+ Đồng bằng tích tụ biển, phân bố rải rác thành các dải cát song song hoặc xiên góc với đường bãi cao 2 ÷ 2,5 m;

+ Đồng bằng tích tụ đầm lầy - sông phân bố ở Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc; + Đồng bằng tích tụ đầm lầy - biển phân bố ở Rạng Đông - Nghĩa Hưng; + Địa hình xâm thực sói mòn, phân bố ở Hải Lý, Hải Chính, Hải Triều, thị trấn Thịnh Long huyện Hải Hậu

- Địa hình bãi triều được tách ra:

+ Địa hình bãi tích tụ hỗn hợp sông biển vùng cửa sông (Ba Lạt, Cửa Đáy); + Địa hình bãi mài mòn, tích tụ do sóng ở bờ biển đoạn Văn Lý (Hải Hậu); + Địa hình thành đạo do sông và sóng ở Cửa Đáy, cửa Ba Lạt;

Ngoài ra, địa hình bãi triều còn tiếp cận các địa hình ngầm ven bờ như khu vực biển sói ở Văn Lý, địa hình tích tụ ngầm không chịu tác động của sóng ở độ sâu trên 6m, bờ biển Nam Định hàng năm lấn ra biển trên 80 m ở cửa Lạch Giang, 60 m

ở cửa Ba Lạt Đây là một đặc trưng khiến diện tích đất đai tự nhiên của Nam Định ngày càng được mở rộng Trung bình hàng năm khoảng 110 ha Tuy nhiên vùng Văn Lý (Hải Hậu) Nghĩa Phúc (Nghĩa Hưng - cửa sông Ninh Cơ) biển lại lấy đi một dải đất rộng 5 ÷ 50 m

Tóm lại: Địa hình Nam Định có thể chia thành 3 vùng:

Vùng đồng bằng thấp trũng nội đồng: Gồm các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường Đây là vùng có nhiều khả năng thâm canh phát triển nông nghiệp, công nghiệp dệt, công nghiệp chế biến, công nghiệp cơ khí và các ngành nghề truyền thống;

Vùng ven biển: Gồm các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu và Nghĩa Hưng, có bờ biển dài 72 km, đất đai phì nhiêu, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế tổng hợp ven biển;

Trang 6

Vùng trung tâm công nghiệp - dịch vụ thành phố Nam Định: Có các ngành công nghiệp dệt may, công nghiệp cơ khí, công nghiệp chế biến, các ngành nghề truyền thống, các phố nghề… cùng với các ngành dịch vụ tổng hợp, dịch vụ chuyên ngành hình thành và phát triển từ lâu Thành phố Nam Định từng là một trong những trung tâm công nghiệp dệt của cả nước và trung tâm thương mại - dịch vụ, cửa ngõ phía Nam của đồng bằng sông Hồng

Nam Định chủ yếu trầm tích sông, trầm tích biển, trầm tích sông - biển và trầm tích biển - đầm lầy và một số ít đá trầm tích bị biến chất mạnh như Gnaibiotit, phiến Thạch anh - Mica, phiến Granit hoá tạo lớp thổ bì đồi núi ở Vụ Bản, Ý Yên

1.1.3 Khí hậu

Đặc điểm khí hậu Nam Định mang tính chất chung của khí hậu đồng bằng Bắc Bộ, là khí hậu chí tuyến gió mùa ẩm, có thời tiết bốn mùa xuân - hạ - thu - đông tương đối rõ rệt;

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 - 24oC, số tháng có nhiệt độ trung bình lớn hơn 20oC từ 8 - 9 tháng Mùa đông, nhiệt độ trung bình là 18,9 oC, tháng lạnh nhất là tháng 1 và tháng 2 Mùa hạ, nhiệt độ trung bình là 27oC, tháng nóng nhất là tháng 7 và tháng 8 Tổng tích ôn nhiệt từ 8.550 - 8.650 oC/năm;

- Độ ẩm: Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình năm 80 - 85%, giữa tháng có độ ẩm lớn nhất và nhỏ nhất không chênh lệch nhiều, tháng có độ ẩm cao nhất là 90% (tháng 3), thấp nhất là 81% (tháng 11);

- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình trong năm từ 1.700 - 1.800 mm, phân bố tương đối đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ của tỉnh Lượng mưa phân bổ không đều trong năm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa

cả năm, các tháng mưa nhiều là tháng 7, 8, 9 Do lượng mưa nhiều, tập trung nên gây ngập úng, làm thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, nhất là khi mưa lớn kết hợp với triều cường, nước sông lên cao Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chiếm 20% lượng mưa cả năm Các tháng ít mưa nhất là tháng 12, 1, 2, có tháng hầu như không có mưa Tuy nhiên, có những năm mưa muộn ảnh hưởng đến việc gieo trồng cây vụ đông và mưa sớm ảnh hưởng đến thu hoạch vụ chiêm xuân;

- Nắng: Hàng năm trung bình có tới 250 ngày nắng, tổng số giờ nắng từ 1650-1700 giờ Vụ hè thu có số giờ nắng cao khoảng 1.100 - 1.200 giờ, chiếm 70%

số giờ nắng trong năm;

- Gió: Hướng gió thịnh hành thay đổi theo mùa, tốc độ gió trung bình cả năm

là 2 - 2,3 m/s Mùa đông hướng gió thịnh hành là gió đông bắc với tần suất 60 -70%,

Trang 7

tốc độ gió trung bình 2,4 - 2,6 m/s, những tháng cuối mùa đông, gió có xu hướng chuyển dần về phía Đông Mùa hè hướng gió thịnh hành là gió đông nam, với tần suất 50 - 70%, tốc độ gió trung bình 1,9 - 2,2 m/s, tốc độ gió cực đại (khi có bão) là

40 m/s, đầu mùa hạ thường xuất hiện các đợt gió tây khô nóng gây tác động xấu đến cây trồng Ngoài ra vùng ven biển còn chịu ảnh hưởng của gió đất (hướng thịnh hành là Tây và Tây Nam), gió biển (hướng thịnh hành là Đông Nam);

- Bão: Do nằm trong vùng Vịnh Bắc Bộ, nên hàng năm thường chịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 2 - 4 cơn/năm;

* Thuận lợi:

Nhìn chung, các yếu tố khí hậu thời tiết ảnh hưởng đến môi trường sống và

sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh;

- Do nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng - ẩm, nhiệt độ TB/năm cao, độ ẩm TB lớn cùng với sự phân hóa đa dạng cả về thời gian và không gian là một thuận lợi lớn cho phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới với nhiều loại nông sản phong phú (cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, rau đậu , chăn nuôi đại gia súc, gia súc, gia cầm, thủy sản) Cho phép trồng các loại cây có nguồn gốc nhiệt đới, cận nhiệt và ôn đới Cho phép tăng vụ, xen canh, gối vụ (nếu điều kiện ẩm được thỏa mãn);

- Lượng mưa trung bình hàng năm cao, nguồn nước ngầm phong phú cùng hệ thống sông ngòi dày đặc đủ để cung cấp nước cho sản xuất công nghiệp, nông

nghiệp, giao thông vận tải, sinh hoạt của dân cư

* Hạn chế:

hạn chế cho việc khai thác nhiệt Chính vì vậy thủy lợi vẫn là vấn đề hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh nhất là trong mùa khô, yêu cầu là phải tiết kiệm nước, phải tính đến việc thay đổi cơ cấu cây trồng cho phù hợp (ví dụ, trong mùa khô có thể hạn chế diện tích trồng lúa nước, hoặc những loại cây có nhu cầu về nước lớn) Trong điều kiện thời tiết nóng - ẩm, sâu bệnh dễ phát sinh và lây lan trên diện rộng gây hại cho cả cây trồng lẫn vật nuôi Các hiện tượng thời tiết cực đoan, nhiễu động thời tiết thường xảy ra vào thời gian chuyển mùa làm cho sản xuất nông - lâm - ngư thêm bấp bênh Bão, lụt, thiên tai hạn hán, cũng xảy ra, gây thiệt hại lớn cả về người và của cho nhân dân Bão thường tập trung vào tháng 6 - 9, có năm bão đổ bộ vào sớm, có năm muộn Bão thường kèm theo gió giật, mưa lớn kéo dài, nước sông

sẽ dâng cao ở vùng cửa sông, ven biển uy hiếp các công trình thủy lợi, đê điều Nếu mưa lớn lại trùng với lúc triều cường thì lại càng nguy hiểm hơn

Trang 8

- Đối với sản xuất công nghiệp: Độ ẩ m cao dễ làm cho những thiết bị, máy móc bị ăn mòn, ẩm mốc, các ngành công nghiệp khai thác cũng phải tuân theo nhịp điệu mùa, tính chất mùa của nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến

cũng phải tuân theo lịch thời vụ

bộ, đường thuỷ

- Đối với hoạt động du lịch, nghỉ dưỡng, tham quan, Tính chất gió mùa cũng ảnh hưởng khá sâu sắc, hiệu quả khai thác giảm hẳn

1.1.4 Thuỷ văn

độ mạng lưới sông vào khoảng 0,6 - 0,9 km/km2 Do đặc điểm địa hình, các dòng chảy đều theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, các sông lớn như sông Hồng, sông Đáy chảy qua Nam Định đều thuộc phần hạ lưu nên lòng sông thường rộng và không sâu lắm, tốc độ dòng chảy chậm hơn phía thượng lưu Chế độ nước của hệ sống sông ngòi chia theo 2 mùa rõ rệt là mùa mưa lũ và mùa cạn Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có 21 tuyến sông nội đồng với tổng chiều dài 279 km, phân bố đều khắp trên địa bàn các huyện theo hình xương cá, rất thuận lợi cho việc chủ động tưới tiêu

biên độ triều trung bình từ 1,6 - 1,7 m, lớn nhất là 3,3 m, nhỏ nhất là 0,1 m Ảnh hưởng của thủy triều thể hiện rõ nhất ở sự xâm nhập mặn và dâng nước ở các khu vực cửa sông, ven biển Thông qua hệ thống sông ngòi, kênh mương, chế độ nhật triều đã giúp quá trình thau chua, rửa mặn trên đồng ruộng Thủy triều cũng tác động vào sâu nội địa thông qua hệ thống các cửa sông và kênh mương Dòng chảy của sông Hồng và sông Đáy kết hợp với chế độ nhật triều đã bồi tụ vùng cửa sông, tạo thành những bãi bồi lớn là Cồn Lu, Cồn Ngạn ở huyện Giao Thuỷ và vùng Cồn Trời, Cồn Mờ ở huyện Nghĩa Hưng

Bảng 1: Thủy văn trên các sông chính trung bình qua các năm

Mực nước (cm)

STT Sông suối chính dài (km) Chiều Mực

nước

TB (mm)

Mực nước

TB (mm)

Khả năng gây lũ và cung cấp nước cho sinh

hoạt

1 Sông Hồng Trạm Phú

Hào)

65 Chảy qua Nam Định

255.0 598.0 -0.3 73.0 344.0 -29.0 Lũ lớn, chất lượng nước

sạch

2 Sông Đào (Trạm Nam Định) 33 244.0 577.0 -0.9 64.0 355.0 -24.0 Lũ lớn, chất lượng nước sạch

3 Sông Ninh Cơ (Trạm Trực Phương) 51 174.0 392.0 113.0 8.0 246.0 -69.0 Lũ lớn, chất lượng nước sạch

Trang 9

1.2 Các nguồn tài nguyên

1.2.1 Tài nguyên đất

Nam Định có tổng diện tích đất tự nhiên là 165.142,36 ha, về thổ nhưỡng đất đai Nam Định chia thành 2 vùng rõ rệt: Vùng đất cổ ở phía Bắc gồm các huyện Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc và thành phố Nam Định, vùng đất trẻ ở phía Nam gồm các huyện Trực Ninh, Nam Trực, Xuân Trường, Hải Hậu, Nghĩa Hưng và Giao Thủy Nhóm đất có diện tích lớn nhất là nhóm đất phù sa trẻ (Fluvisols) chiếm 81,88% diện tích tự nhiên, tiếp đến là nhóm đất mặn chiếm 14,19%, các loại đất khác có đất cát, đất phèn, đất có sản phẩm Feralitic chiếm diện tích nhỏ Nhìn chung đất của Nam Định chủ yếu là đất phù sa sông bồi lắng, có nhiều tính chất tốt thích hợp cho nhiều loại thực vật phát triển;

Theo kết quả điều tra, khảo sát, phân loại đất theo tiêu chuẩn Quốc tế

(FAO-UNESCO) đất Nam Định bao gồm 7 nhóm, 13 đơn vị và 20 đơn vị phụ như sau:

Đất cát nghèo mùn và N, P, K, có phản ứng chua Thường thiếu nước cho sinh hoạt và cây trồng gặp rất nhiều khó khăn, có thể tận dụng trồng hoa màu, cây công nghiệp hay trồng rừng;

Nhóm đất cát của Nam Định có 2 đơn vị:

1.1) Đất cát điển hình - Haplic Arenosols (ARh)

Diện tích 4.762,72 ha chiếm 3,67% diện tích các đơn vị đất và 2,91% diện tích tự nhiên của tỉnh;

Phân bố: Vùng ven biển của các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng Đơn vị đất này chỉ có một đơn vị phụ là đất cát điển hình bão hoà bazơ - Eutri Haplic Arenosols (Arh-c);

Đơn vị đất này có nhiều tính chất kém như: Nghèo dinh dưỡng, thường xuyên khô hạn, khả năng giữ nước và các chất dinh dưỡng rất thấp Hiện nay phần lớn đất cát còn chưa được sử dụng, một số nơi có điều kiện tưới đã khai thác trồng lúa và rau đậu các loại

Trang 10

1.2) Đất cát mới biến đổi - Cam Arenosol (ARb)

Diện tích 1.800,33 ha, chiếm 1,39% diện tích các đơn vị đất và 1,1% diện tích tự nhiên của tỉnh Đơn vị đất này có 1 đơn vị phụ là đất cát mới biến đổi glây sâu - EndoGleyi Cambic Arennosols (ARb - g2);

Phân bố: Gặp ở vùng ven sông huyện Mỹ Lộc, Xuân Trường, trên trục đường Vàng, đường 56 Đất có thành phần cơ giới khá đều từ tầng trên xuống dưới, phản ứng chua, mùn nghèo, độ phân giải hữu cơ mạnh, hàm lượng các chất dinh dưỡng nghèo Trên đất này hiện đang được sử dụng nhiều để trồng các loại hoa màu, cây

ăn quả và cây công nghiệp

Nhóm đất mặn của Nam Định có 3 đơn vị đất:

2.1) Đất mặn sú, vẹt, đước - Gleyi Salic Fluvisols (FLSg)

Diện tích 6.153,89 ha, chiếm 4,74% diện tích các đơn vị đất và 3,76% diện tích tự nhiên của tỉnh;

Đơn vị đất này chỉ có một đơn vị phụ là: Đất mặn sú, vẹt, đước, glây nông chịu sự tác động của biển, mỗi khi thuỷ triều lên, toàn bộ đất ngập dưới nước biển Đất có thành phần cơ giới nặng, đặc tính mặn chua, hàm lượng mùn trung bình, hàm lượng dinh dưỡng nghèo, ít có khả năng sản xuất nông nghiệp, chủ yếu để trồng rừng ngập mặn và nuôi thuỷ sản nước lợ, làm muối Phân bố: Gặp chủ yếu ở vùng ngoài đê biển thuộc các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng

2.2) Đất mặn nhiều - Hapli Fluvisols (FLSh)

Đất này do nước biển thẩm lậu và dẫn nước làm muối;

Đơn vị đất này chỉ có một đơn vị phụ là: Đất mặn điển hình glây sâu - Endo Gleyi Hapli Salic Fluvisols (FLSh - g2) Đất có thành phần cơ giới nặng, mùa khô thường nứt nẻ, muối bốc trắng trên mặt Đất có phản ứng trung tính, hàm lượng

Trang 11

mùn, đạm, lân, kali dễ tiêu khá, có thể đầu tư cải tạo làm ruộng muối hoặc nuôi tôm, hiện nay một số ít diện tích được cải tạo để trồng lúa Phân bố: Gặp chủ yếu ở các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng

2.3) Đất mặn trung bình và ít - Molli Salic Fluvisols (FLSm)

Diện tích: 7.058,25 ha, chiếm 5,44% diện tích các đơn vị đất và 4,31% diện tích tự nhiên của tỉnh;

Đơn vị đất này chỉ có một đơn vị phụ là: Đất mặn trung bình và ít glây sâu - End Gleyi Molli Salic Fluvisols (FLSm - g2) Thành phần cơ giới đất nhẹ, phản ứng chua, hàm lượng mùn khá, đạm tổng số nghèo, lân tổng số trung bình, catrion kiềm trao đổi khá Đây là loại đất có khả năng sản xuất nông nghiệp nếu được đầu tư cải tạo Hiện nay phần lớn đang được sử dụng để trồng lúa và hoa màu, tập trung ở các huyện ven biển, ngoài ra còn gặp ở Xuân Trường, Trực Ninh

3) Đất phèn - Thionic Fluvisols (FLt) và Thinonic Gleysols (GLt)

Diện tích 4.222,64 ha, chiếm 3,25% diện tích các đơn vị đất và 2,58% diện tích tự nhiên của tỉnh;

Phân bố: Gặp ở các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Nam Trực, Giao Thuỷ, thành phố Nam Định;

Nhóm đất phèn của Nam Định có nguồn gốc từ nhóm đất phù sa, đất mặn và đất glây Do không gặp các phẫu diện khoáng Jarosite điển hình nên nhóm đất phèn chỉ xếp vào một đơn vị đất phèn tiềm tàng với các tên tương ứng:

3.1) Đất phèn tiềm tàng sâu bị glây - Endo Gleyi Proto thionic Fluvisols (FLtp-2)

Diện tích 1.884,13 ha, chiếm 1,45% diện tích các đơn vị đất và 1,15% diện tích tự nhiên của tỉnh;

Phân bố: Gặp chủ yếu ở các huyện Trực Ninh (phía Nam sông Đào), Nam Trực, Xuân Trường, Giao Thuỷ;

Đơn vị đất này chỉ có nguồn gốc từ đất phù sa, đất mặn Trong PD đất ở độ sâu > 50 cm gặp tầng chứa vật liệu sinh phèn Tầng chứa vật liệu sinh phèn có màu xám, xám đen hoặc đen, có nhiều tàn tích hữu cơ và đạt các tiêu chuẩn theo FAO về tầng vật liệu sinh phèn (Sulfidic material) đất có tầng vật liệu sinh phèn được gọi là đất phèn tiềm tàng

3.2) Đất phèn tiềm tàng sâu - Endo Proto Thionic Gleysols (GLtp - 2)

Diện tích 2.338,51 ha, chiếm 1,8% diện tích các đơn vị đất và 1,43% diện tích tự nhiên của tỉnh;

Trang 12

Phân bố: Gặp chủ yếu ở phía Bắc tỉnh gồm các huyện Vụ Bản, Ý Yên, thành phố Nam Định;

Đơn vị đất này nằm sâu trong lục địa theo phân loại phát sinh là đất phù sa không được bồi, bị glây mạnh còn có các tên gọi khác là đất chiêm trũng hoặc đất úng nước mưa mùa hè Đất bị glây mạnh suốt PD có các đặc trưng theo quy định của FAO - UNESCO về đất glây nên được xếp vào nhóm đất chính Gleysols (GL) Trong PD đất ở độ sâu > 50 cm gặp tầng chứa vật liệu sinh phèn rất điển hình Đây

là căn cứ để xếp đất vào đơn vị phèn tiềm tàng với tên gọi theo FAO - UNESCO là Endo Proto Thionic Gleysols

4) Đất phù sa - Fluvisols (FL)

Diện tích 101.273,63 ha, chiếm 78,01% diện tích các đơn vị đất và 61,85% diện tích tự nhiên của tỉnh;

Phân bố: Gặp ở tất cả các huyện trong tỉnh;

Đây là nhóm đất có diện tích lớn nhất trong các nhóm đất của tỉnh Nam Định; Nhóm đất phù sa được hình thành do quá trình lắng đọng các vật liệu phù sa của hệ thống sông Hồng Hệ thống đê của các dòng sông chia đất phù sa thành 2 vùng: Vùng đất ngoài đê được bồi đắp phù sa hàng năm và vùng đất trong đê rộng lớn không được bồi hàng năm;

Đất phù sa của tỉnh Nam Định được chia thành 4 đơn vị sau:

4.1) Đất phù sa trung tính ít chua - Eutric Fluvisols (FLe)

Diện tích 59.022,55 ha, chiếm 45,47% diện tích các đơn vị đất và 36,05% diện tích tự nhiên của tỉnh;

Phân bố: Đơn vị đất gặp rất phổ biến ở các huyện trong tỉnh Toàn bộ vùng đất phù sa ngoài đê được bồi đắp hàng năm và nhiều vùng phù sa trong đê không được bồi đắp hàng năm thuộc đơn vị đất này;

Đất có tỷ lệ sét tương đối cao, khả năng giữ nước, giữ mùn khá Phản ứng đất

từ trung tính đến ít chua, giàu mùn Hàm lượng các chất dinh dưỡng từ trung bình đến khá Đây là loại đất tương đối tốt thích hợp với nhiều loại cây trồng, phần lớn diện tích đã được sử dụng trồng các loại hoa màu, cây lương thực, thực phẩm và các loại cây công nghiệp ngắn ngày;

Đơn vị đất này có các đơn vị đất phụ sau:

4.1.1) Đất phù sa trung tính ít chua cơ giới - Areni Eutric Fluvisols (FLe-a)

Trang 13

Diện tích 4.385,54 ha, chiếm 3,38% diện tích các đơn vị đất và 2,68% diện tích tự nhiên của tỉnh;

Phân bố: Đơn vị đất này gặp nhiều ở Nam Trực, thành phố Nam Định, Mỹ Lộc, Ý Yên, Vụ Bản…

4.1.2) Đất phù sa trung tính ít chua cơ giới trung tính và nặng - Sili Eutric Fluvisols (FLe-si)

Diện tích 23.094,33 ha, chiếm 17,79% diện tích các đơn vị đất và 14,1% diện tích tự nhiên của tỉnh;

Phân bố: Gặp ở tất cả các huyện trong tỉnh, chủ yếu là đất phù sa trong đê không được bồi hàng năm, được sử dụng gieo trồng lúa nước và các cây trồng khác

4.1.3) Đất phù sa trung tính ít chua có tầng glây - Gleyi Eutric Fluvisols (FLe-g)

Diện tích 13,729,64 ha, chiếm 10,58% diện tích các đơn vị đất và 8,39% diện tích tự nhiên của tỉnh;

Phân bố: Gặp ở các huyện Nghĩa Hưng, Giao Thuỷ, Xuân Trường, Trực Ninh, thành phố Nam Định, Ý Yên, Nam Trực và Hải Hậu;

Đơn vị đất chủ yếu nằm ở vùng đất phù sa trong đê không được bồi hàng năm

4.1.4) Đất phù sa trung tính ít chua nhiễm mặn - Sali Eutric Fluvisols (FLe-s)

Diện tích 17.813,04 ha, chiếm 13,72% diện tích các đơn vị đất và 10,88% diện tích tự nhiên của tỉnh;

Phân bố: Gặp đơn vị đất này ở các huyện Nghĩa Hưng, Giao Thuỷ, Hải Hậu thuộc vùng đất trong đê ít được bồi Nước ngầm vùng này chứa nhiều muối tan, trong mùa hanh khô, muối theo nước ngầm bốc lên có thể làm mặn hoá đất ở mức nhẹ hoặc trung tính

4.2) Đất phù sa chua - Dystric Fluvisols (FLd)

Diện tích 6.100,43 ha, chiếm 4,7% diện tích các đơn vị đất và 3,73% diện tích tự nhiên của tỉnh;

Phân bố: Gặp ở các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Nam Trực;

Đơn vị đất này chỉ có một đơn vị phụ đất là đất phù sa chua glây - Gleyi Dystric Fluvisols (FLd - g), nằm ở vùng đất phù sa trong đê không được bồi hàng năm

4.3) Đất phù sa glây - Gleyic Fluvisols (FLg)

Diện tích 8.410,41 ha, chiếm 6,48% diện tích các đơn vị đất và 4,12% diện tích tự nhiên của tỉnh;

Trang 14

Phân bố: Gặp ở các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Trực Ninh, TP Nam Định

4.4) Đất phù sa có tầng đốm rỉ - Cambic FLuvisols (FLb)

Diện tích 27.740,24 ha, chiếm 21,37% diện tích các đơn vị đất và 16,94% diện tích tự nhiên của tỉnh Phân bố: Gặp ở các huyện Nam Trực, Vụ Bản, Ý Yên, Trực Ninh, thành phố Nam Định, Xuân Trường, Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng…

Đất có hàm lượng mùn, đạm tổng số từ nghèo đến trung bình, lân và kali tổng

số nghèo Do phân bố ở địa hình bậc thềm cao, dễ thoát nước nên thích hợp với khá nhiều loại cây trồng như lúa nước, hoa màu và các loại cây công nghiệp ngắn ngày;

Nằm ở các vùng đất phù sa trong đê không được bồi hàng năm Các tính chất khác như thành phần cơ giới, đặc tính gleyic, các hạt kết von (đặc tính ferric) được

sử dụng làm căn cứ chia thành các đơn vị phụ đất;

Đất phù sa có tầng đốm rỉ ở Nam Định có đơn vị phụ đất:

4.4.1) Đất phù sa có tầng đốm rỉ cơ giới nhẹ - Areni Cambic Fluvisols (FLb -a)

Diện 5.504,52 ha, chiếm diện tích các đơn vị đất và 3,36% diện tích tự nhiên của tỉnh;

Phân bố: Gặp ở các huyện Nam Trực, Vụ Bản, Ý Yên, Trực Ninh và thường

có ở địa hình cao, vàn cao chuyên màu hoặc lúa màu

4.4.2) Đất phù sa có tầng đốm rỉ có kết von - Ferri Cambic Fluvisols (FLb - fe)

Diện tích 5.922,91 ha, chiếm 4,56% diện tích các đơn vị đất và 3,62% diện tích tự nhiên của tỉnh;

Phân bố: Gặp ở các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc… Địa hình cao, vàn cao

và vàn, các công thức luân canh chính trên đất này là 2 lúa một màu và 2 lúa

4.4.3) Đất phù sa có tầng đốm rỉ bị glây - Gleyi Cambic Fluvisols (FLb - g)

Diện tích 16.312,81 ha, chiếm 12,57% diện tích các đơn vị đất và 9,96% diện tích tự nhiên của tỉnh;

Phân bố: Gặp ở các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc, Nam Trực, TP Nam Định… Địa hình vàn cao và vàn Trong phẫu diện phía dưới tầng đốm rỉ gặp tầng glây ở các mức độ khác nhau Đất hiện được sử dụng gieo trồng lúa nước và một số cây màu, công thức luân canh là 2 lúa một màu hoặc 2 lúa

Trang 15

trình khử diễn ra mạnh, ngay từ lớp đất mặt đã gặp đặc tính Gleyic và mạnh dần theo chiều sâu phẫu diện đất Đất có đặc tính stagnic, gleyic điển hình và đạt các tiêu chuẩn của FAO - UNESCO quy định về nhóm đất gleysols Đất hiện được sử dụng gieo trồng lúa nước, nuôi trồng thủy sản;

Nhóm đất Gleysols của Nam Định có một đơn vị đất là đất Glây chua - Dystric Gleysols (GLd) Đất Glây của Nam Định là đất Glây chua đọng nước tự nhiên

6) Đất xám - Acrisols (AC)

Diện tích 564,74 ha, chiếm 0,44% diện tích các đơn vị đất và 0,34% diện tích

tự nhiên của tỉnh;

Phân bố: Gặp ở các huyện Vụ Bản, Ý Yên;

Nhóm đất xám có một đơn vị là đất xám feralit - Ferralic (ACf);

Đơn vị đất xám feralit có một đơn vị phụ là đất xám feralit điển hình - Hapli Feraralic Acisols (ACf - h), sử dụng vào trồng rừng, chống xói mòn;

Đây là đơn vị đất đặc trưng của vùng đồi núi Việt Nam

7) Đất tầng mỏng - Leptosols (LP)

Diện tích 119,77 ha, chiếm 0,99% diện tích các đơn vị đất và 0,77% diện tích

tự nhiên của tỉnh;

Phân bố: Gặp ở các huyện Vụ Bản, Ý Yên, xen kẽ với đất ACf - h;

Nhóm này có một đơn vị là đất tầng mỏng chua - Dystric Leptosols (LPd) Đơn

vị đất tầng mỏng chua có một đơn vị phụ là đất tầng mỏng chua điển hình - Hapli Dystric Leptosols (LPd - h) Do đất hạn chế về tầng dày và độ dốc nên chỉ có thể sử dụng vào việc khai thác làm vật liệu xây dựng, khoanh nuôi bảo vệ và trồng rừng;

Nhìn tổng quát, trên địa bàn tỉnh có sự phong phú về chủng loại đất nên quá trình khai thác sử dụng có thể cho phép đa dạng hóa các loại hình sử dụng theo hướng đa dạng sinh học với thế mạnh là các loại cây rừng ven biển, cây ăn trái và

các loại cây công nghiệp ngắn ngày

Khả năng sử dụng: Đất phù sa nâu rất thích hợp cho việc canh tác lúa 2 - 3 vụ

và nuôi trồng thủy sản… Hiện tại đất đã được khai thác trồng lúa 2 vụ đạt năng suất

từ 5 - 7 tấn/ha

1.2.2 Tài nguyên nước

Tài nguyên nước bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 16

- Nguồn nước mặt: Do hệ thống các sông, hồ, mương máng và nguồn nước mưa cung cấp

Nguồn nước sông: Nam Định có 530 km sông với mật độ đạt 0,6 ÷ 0,9 km/km2, gồm 2 sông lớn sông Hồng, sông Đáy và 2 chi lưu là sông Đào và sông Ninh Cơ, có độ dài 251 km và 21 tuyến sông nội đồng với tổng chiều dài 279 km phân bố đều khắp trên địa bàn theo dạng xương cá rất thuận lợi cho việc chủ động tưới tiêu Vùng nam sông Đào có thể lấy nước bằng tự chảy là chủ yếu, tuy nhiên mùa khô do nước mặn lấn sâu nên việc lấy nước khó khăn;

Chế độ nước của hệ thống sông chia theo 2 mùa rõ rệt là mùa mưa lũ và mùa cạn phân lưu của chúng cùng với kênh mương thuỷ lợi các cấp ở nội đồng, các công trình đầu mối có khả năng tận dụng hoạt động của thuỷ triều ven biển cơ bản đáp ứng được nước tưới cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên do ở phần hạ lưu nên lòng sông không sâu lắm, tốc độ dòng chảy nhỏ khiến cho rải rác một số nơi có vùng úng ngập tạm thời trong mùa mưa lũ;

- Nước mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm lớn (1.700 - 1.800 mm) nhưng phân bố không đều trong năm, tập trung vào các tháng 7, 8, 9 tới 80% lượng mưa cả năm Do vậy mùa mưa thường gây ra úng lụt, mùa khô thường thiếu nước cho cây trồng và sinh hoạt;

- Nguồn nước ngầm: Trong giới hạn diện tích phân bố của tỉnh Nam Định có trữ lượng lớn, cụ thể như sau:

+ Hệ tầng Thái Bình: 30.434 m3/ngày đêm;

+ Hệ tầng Hải Hưng: 14.973 m3/ngày đêm;

+ Hệ tầng Vĩnh Phú - Hà Nội: 174.988 m3/ngày đêm;

Theo kết quả nghiên cứu của các cơ quan chuyên môn, có thể khai thác sử dụng 2 tầng chứa nước: Tầng chứa nước Haloxen ở độ sâu đến 25m và tầng chứa nước Plutôxen hệ tầng Hà Nội có 2 thấu kính nước nhạt với chất lượng tốt Thấu kính nước nhạt lớn nhất phân bố ở các huyện ven biển phía Nam với diện tích khoảng 775 km2 có thể khai thác sử dụng với lưu lượng lên tới 110.000 m3/ngày, hàm lượng Cl <200 mg/l, nước có chất lượng tốt và trữ lượng lớn có thể khai thác quy mô công nghiệp Thấu kính nước nhạt thứ 2 nằm ở phía Nam huyện Ý Yên - Vụ Bản với diện tích khoảng 72,5 km2 có thể khai thác sử dụng với lưu lượng khoảng 31.000 m3/ngày; Hiện đang có một số lỗ khoan đang khai thác với lưu lượng 40-60

m3/h ở nhà máy Dệt, nhà máy Xay và nhà máy Đồ hộp xuất khẩu Ngoài ra còn có nguồn nước mặn nằm trong tầng chứa lỗ hổng Holoxen hạ tầng Thái Bình phân bố

Trang 17

thành từng dải, chạy dọc ven biển từ cửa Đáy đến cửa Ba Lạt, nước có hàm lượng

Cl phổ biến từ 200- 400 mg/l

- Chất lượng nước: Nhìn chung, nước sông trong hệ thống sông còn sạch, có thể đáp ứng cho các nhu cầu sản xuất công, nông nghiệp và sinh hoạt Mùa lũ nguồn nước phù sa được khai thác triệt để làm giầu thêm độ phì nhiêu đất đai Tuy nhiên mùa khô hanh nước mặn lấn sâu vào nội địa cộng với quy trình thôi chua, bốc mặn bởi mạch nước ngầm gây nhiễm mặn nhiều diện tích đất đai ven biển

- Ý nghĩa kinh tế:

Hệ thống sông ngòi bồi đắp phù sa, cung cấp nước cho vùng đồng bằng, thuận lợi cho nền nông nghiệp lúa nước, định canh Tạo điều kiện tập trung dân cư

và phát triển các ngành kinh tế khác Chính vì thế, ở ven sông thường tập trung các

đô thị lớn, các trung tâm công nghiệp, dịch vụ; Các vùng ven sông và các cửa sông còn hình thành các cảng rất lớn (Hải Thịnh); Nhiều cửa sông rộng (hình phễu) rất thuận lợi cho tàu bè ra vào; các sông ngòi nếu được nạo vét thường xuyên sẽ là hệ thống giao thông vận tải lý tưởng

- Những hạn chế của nguồn tài nguyên nước:

Tính chất bất thường của thủy chế (lũ và kiệt) Lũ lụt năm nào cũng xảy ra gây thiệt hại rất lớn cả về người và của của nhân dân Mùa kiệt, lượng dòng chảy nhỏ, nước mặn vào khá sâu trong đất liền, trong phạm vi 20 - 30 km từ cửa sông vào ảnh hưởng đến nguồn nước phục vụ cho nông nghiệp các vùng ven biển;

Dòng chảy cát, bùn (phù sa) lớn, ước tính hàng năm sông Hồng đổ ra biển ~

120 triệu tấn phù sa Nếu ở thượng lưu, rừng bị khai thác quá mức, hiện tượng xói mòn đất diễn ra ngày càng mạnh, thì lượng bùn đổ ra biển càng lớn Phù sa một mặt bồi đắp cho các đồng bằng, nhưng mặt khác nó còn lắng đọng trong hệ thống sông, kênh mương, đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên nạo vét lòng sông rất tốn kém

- Sử dụng và bảo vệ các tài nguyên nước (trên mặt và nước ngầm):

+ Tình hình sử dụng: Tình trạng dư thừa nước gây lũ lụt vào mùa mưa, thiếu nước vào mùa khô là 2 vấn đề quan trọng nhất trong việc sử dụng nguồn tài nguyên này Do vậy, cần sử dụng có hiệu quả, đảm bảo cân bằng nước, chống gây ô nhiễm

nguồn nước;

+ Các biện pháp bảo vệ: Hạn chế việc làm ô nhiễm do chất thải (công nghiệp

và sinh hoạt) Nâng cấp, cải tạo các hệ thống thoát nước Hạn chế việc dùng hóa chất trong nông nghiệp, ở vùng trồng lúa thâm canh thường gây ô nhiễm ở tầng nước nông, đây lại là tầng nước phần lớn dùng cho sinh hoạt của nông dân Xử lý

Trang 18

hành chính với các cơ sở sản xuất, dịch vụ, dân cư không thực hiện đúng quy định

về nước thải nhằm ngăn chặn nguồn gây ô nhiễm Tuyên truyền người dân không xả nước bẩn, rác thải vào sông, hồ

1.2.3 Tài nguyên rừng

Theo kết quả tổng kiểm kê đất đai tính đến năm 2010 toàn tỉnh có 4.240 ha rừng các loại, trong đó rừng phòng hộ 1.880 ha, rừng đặc dụng 2.360 ha Tỷ lệ che phủ đạt 2,6% Rừng của Nam Định chủ yếu là rừng phòng hộ, cây trồng chính là sú, vẹt, phi lao, bần, bạch đàn, thông Phân bố ở vùng đồi núi Ý Yên, Vụ Bản và các bãi bồi ven biển Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng;

Tỉnh Nam Định có 2 trong số 5 khu vực đa dạng sinh học được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới châu thổ sông Hồng, phạm vi do UNESCO công nhận gồm 2 tiểu vùng nằm ở cửa Ba Lạt và cửa Lạch Giang gồm: Vườn quốc gia Xuân Thuỷ thuộc các xã Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân của huyện Giao Thuỷ và rừng phòng hộ ven biển Nghĩa Hưng thuộc các xã: Nghĩa Thắng, Nghĩa Phúc, Nghĩa Hải, Nghĩa Lợi; thị trấn Rạng Đông, xã Nam Điền huyện Nghĩa Hưng;

Khu Ramsar Xuân Thủy được công nhận vào năm 1989, là khu đầu tiên ở Việt Nam, cũng là khu Ramsar đầu tiên của Đông Nam Á và thứ 50 của thế giới Hệ động vật, thực vật tại đây khá phong phú Sinh cảnh đặc sắc nơi đây là những cánh rừng ngập mặn rộng hàng ngàn ha, đầm lầy mặn, bãi bồi ven biển và cửa sông Những cánh rừng này được ví như bức tường xanh bảo vệ đê biển, làng xóm khỏi bị tàn phá bởi gió bão, nước biển dâng và cả thảm hoạ sóng thần nếu xảy ra;

Rừng ngập mặn ngoài việc bảo tồn nguồn gen động thực vật còn điều hòa nguồn nước, khí hậu, là nơi nuôi dưỡng sinh đẻ của các loài hải sản Như một vườn ươm cho sự sống của biển, rừng ngập mặn cung cấp nguồn lợi thuỷ sản phong phú cùng với nhiều loài động thực vật thuỷ sinh và cỏ biển cung cấp nhiều loài thuỷ hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm, cua, cá biển, vạng, trai, sò, cá tráp, rong câu chỉ vàng v.v Khu dự trữ sinh quyển thế giới đồng bằng sông Hồng có tiềm năng rất lớn

về du lịch sinh thái, tham quan và tìm hiểu về thế giới tự nhiên Chính vì vậy việc khôi phục vốn rừng đã mất, trồng thêm, tái tạo quỹ rừng là một trong những nhiệm

vụ cần được quan tâm đặc biệt trong các chương trình bảo vệ môi trường sinh thái của tỉnh

Rừng ngập mặn Xuân Thuỷ ngoài việc bảo tồn nguồn gen động thực vật còn điều hòa nguồn nước, khí hậu, là nơi nuôi dưỡng sinh đẻ của các loài hải sản Khu dự

Trang 19

trữ sinh quyển thế giới đồng bằng sông Hồng có tiềm năng rất lớn về du lịch sinh thái, tham quan và tìm hiểu về thế giới tự nhiên Diện tích khoảng 6.000 ha

1.2.4 Tài nguyên biển

Tỉnh Nam Định có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển kinh tế biển Nam Định có 72 km đường ven biển có 3 cửa sông lớn đổ ra biển như cửa Đáy, cửa Lạch Giang, cửa Ba Lạt, có cảng và các bến cá thuận lợi cho việc ra khơi đánh bắt hải sản

- Khí hậu: Biển Đông cùng với các khối khí di chuyển qua biển đã mang lại cho nước ta một lượng mưa lớn, làm giảm tính chất khắc nghiệt của thời tiết lạnh khô trong mùa đông và dịu bớt thời tiết nóng bức trong mùa hạ Các luồng gió hướng Đông Nam từ biển thổi vào luồn sâu theo các thung lũng làm giảm độ lục địa của các vùng ở phía Tây đất nước Nhờ có Biển Đông, khí hậu Nam Định mang nhiều đặc tính của miền khí hậu hải dương, điều hòa hơn;

- Địa hình và các hệ sinh thái ven biển: Các dạng địa hình ven biển Nam Định chủ yếu địa hình vịnh cửa sông, với bãi triều rộng, các bãi cát phẳng (độ sâu tăng dần từ trong ra ngoài khoảng từ 0,5 - 10 m) có giá trị về kinh tế như xây dựng các hải cảng - vận tải biển, khai thác - nuôi trồng thủy sản, du lịch biển Các hệ sinh thái ven biển đa dạng gồm: hệ sinh thái rừng ngập mặn lên tới 10.000 ha (gồm khu sinh quyển Xuân Thủy và vùng bãi triều Nghĩa Hưng) Hệ sinh thái rừng ngập mặn cho năng suất sinh học cao (nhất là sinh vật nước lợ), nhưng hiện nay rừng đã bị thu hẹp nhiều do chuyển đổi thành diện tích nuôi trồng thủy sản Các hệ sinh thái trên đất phèn, đất mặn và hệ sinh thái rừng trên cồn cũng đa dạng và phong phú

- Tài nguyên thiên nhiên vùng biển: Vùng ven biển thuận lợi cho nghề làm muối (Hải Hậu, Giao Thủy) Nước biển có độ mặn cao, độ mặn 1,5 - 4,2% cho phép khai thác mỗi năm khoảng 10 vạn tấn, với sản lượng muối hàng năm vào loại cao của cả nước; Ngoài khơi các cửa sông của Nam Định hình thành nhiều bãi cá, bãi tôm lớn của vịnh Bắc Bộ (bãi cá ngoài khơi từ cửa Ba Lạt đến Hải Phòng, bãi cá từ cửa Ba Lạt đến ngang Lạch Trường - Thanh Hoá, bãi tôm từ cửa Ba Lạt đến ngoài khơi đảo Cát Bà - Hải Phòng) Vùng biển Nam Định rất phong phú về chủng loại hải sản, đã phát hiện 45 loài tôm, trong đó có các loài có giá trị kinh tế như tôm he, tôm bộp, tôm sắt, tôm vàng, tôm rảo ở độ sâu từ 5 - 30 m nước, tập trung ở khu vực Ba Lạt, vịnh Miều (Hạ Long) ước tính trữ lượng khoảng 3.000 tấn, khả năng cho phép khai thác khoảng 1.000 tấn, 20 loài cá trữ lượng ước tính khoảng 157.000 tấn, chiếm 20% tổng trữ lượng cá vịnh Bắc Bộ, trong đó cá nổi khoảng 95.150 tấn,

cá đáy 62.350 tấn, khả năng cho phép khai thác khoảng 70.000 tấn, trong đó cá nổi 38.100 tấn (18.500 tấn ở độ sâu 30 m nước trở vào, 19.600 tấn ở độ sâu 30 m nước trở ra), cá đáy 31.900 tấn (21.200 tấn ở độ sâu 30 m nước trở vào, 10.700 tấn ở độ

Trang 20

sâu 30m nước trở ra) Nhìn chung cá phong phú về giống loài nhưng nghèo về mật

độ và trữ lượng, cá có giá trị kinh tế cao chỉ có 9 loài với trữ lượng khoảng 2.000 tấn, khả năng cho phép khai thác dưới 1.000 tấn;

Nguồn lợi thuỷ sản vùng biển Nam Định có thời gian sản xuất quanh năm, nhưng không được thuận lợi như các vùng biển khác của cả nước, thường bị gián đoạn bởi các cơn bão, gió mùa Đông Bắc mạnh, số ngày khai thác trên biển thuận lợi mỗi năm thường từ 180 - 240 ngày;

Sóng biển Nam Định không dữ dội, có nhiều bãi tắm lý tưởng, cát trắng mịn như bãi tắm Thịnh Long, Quất Lâm

Biển Nam Định mỗi năm lùi ra khoảng 100 - 200 m, do phù sa sông Hồng bồi đắp ở cửa Ba Lạt, Lạch Giang tạo thêm diện tích khoảng 400 ha/năm Bình quân mỗi năm quai thêm được 300 ha đất ở cao trình (- 0,5 ÷ -0,8) m trở lên;

- Thiên tai: Bão, mỗi năm trung bình có 3 - 4 cơn bão qua Biển Đông Bão lớn kèm theo với sóng lừng, nước dâng cao gây nên lũ lụt là loại thiên tai bất thường, khó phòng tránh, gây thiệt hại lớn về người và tài sản (nhất là với dân cư ven biển), sạt lở bờ biển: Hiện tượng này đang đe dọa nhiều đoạn đê biển (Bạch Long - Giao Thủy, Hải Lý - Hải Hậu);

Như vậy, sử dụng hợp lí nguồn lợi thiên nhiên biển, phòng tránh ô nhiễm môi trường biển, thực hiện các biện pháp phòng tránh thiên tai là những vấn đề hệ trọng trong chiến lược khai thác tổng hợp, phát triển kinh tế biển của Nam Định Biển thực sự đóng góp vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

1.2.5 Tài nguyên khoáng sản

Khoáng sản Nam Định không nhiều Theo tài liệụ điều tra khảo sát của Cục Địa chất cho thấy trên địa bàn tỉnh có một số khoáng sản nhưng nghèo về chủng loại

và trữ lượng;

- Khoáng sản cháy: Có than nâu nằm ở Giao Thuỷ mới phát hiện dưới dạng

mỏ nhỏ và nằm sâu dưới lòng đất, khả năng có dầu mỏ và khí đốt ở thềm lục địa;

- Khoáng sản kim loại: Có các vành phân tán Inmenit, Zincon, mônazit mới tiến hành tìm kiếm và phát hiện tại Hải Hậu và Nghĩa Hưng, Zincon phân bố dưới dạng “vết”, trữ lượng ít;

- Các nguyên liệu sét (nhìn chung mới chỉ có nghiên cứu sơ bộ):

+ Sét làm gốm sứ, bột màu: Có ở núi Phương Nhi (Ý Yên), Nam Hồng (Nam Trực), trữ lượng không nhiều nhưng chất lượng khá, đang được khai thác phục vụ xí nghiệp gốm sứ Bảo Đài;

Trang 21

+ Sét làm gạch ngói: Nằm rải rác ở các bãi ven sông, trữ lượng tổng số khoảng 25 - 30 triệu tấn;

- Cát xây dựng: Tập trung chủ yếu ở lòng sông Hồng, sông Đáy, sông Đào, sông Ninh Cơ, trữ lượng không ổn định, hàng năm được bồi lắng tự nhiên, mức khai thác hàng năm (của các cơ sở trên địa bàn tỉnh) từ 0,3 - 0,5 triệu m3/năm Ngoài ra còn có mỏ cát xây dựng ở Quất Lâm - Giao Thuỷ, phân bố thành dải dọc ven biển dài khoảng 25 km, rộng 50 - 200 m và dầy từ 2,5 - 3m;

- Nước khoáng: Đã phát hiện ở Núi Gôi (Vụ Bản), Hải Sơn (Hải Hậu), Hồng Thuận (Giao Thủy) Nước có chất lượng khá có thể khai thác sử dụng làm nước giải khát, chữa bệnh;

- Tài nguyên khoáng sản Nam Định phần lớn là mỏ nhỏ, phân tán nên khó

khăn trong quản lí khai thác Hiện nay ở nhiều nơi khai thác khoáng sản bừa bãi,

không xin phép (khai thác cát), gây lãng phí tài nguyên và ô nhiễm môi trường Các

biện pháp bảo vệ: Quản lý chặt việc khai thác Tránh lãng phí tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường từ khâu khai thác - vận chuyển - chế biến Xử lý những trường hợp vi phạm luật

1.2.6 Tài nguyên nhân văn

Nam Định là vùng đất có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu đời, các cư dân Việt cổ đã từng bước khai khẩn và mở rộng vùng đất châu thổ sông Hồng, phát triển nghề trồng lúa nước, trồng dâu tằm, dệt vải làm nghề thủ công, là nơi phát tích của vương triều Trần, một triều đại hưng thịnh bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, người dân Nam Định đã xây dựng nên một truyền thống văn hiến, một nền văn hoá mang đậm đà bản sắc dân tộc Thành quả lao động của nhiều thế hệ để lại nguồn tài nguyên nhân văn vô giá với các

di tích lịch sử văn hoá, nghệ thuật, kiến trúc độc đáo, các sinh hoạt văn hoá, lễ hội truyền thống, các làng nghề, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ nổi tiếng trong nước và quốc tế Trên địa bàn tỉnh có di tích, trong đó 369 di tích đã được xếp hạng (113 di tích do Trung ương quản lý, 256 di tích do địa phương quản lý);

Hàng năm có nhiều lễ hội truyền thống, lễ hội dân gian được tổ chức, trong

đó có những lễ hội nổi tiếng như lễ hội Phủ Dầy, lễ hội đền Trần, lễ hội chùa Cổ Lễ, chùa Keo Hành Thiện Nam Định có trên 100 làng nghề với các nghề thủ công tạo

ra các sản phẩm nổi tiếng như chạm, khắc gỗ La Xuyên, đúc đồng Tống Xá (Ý Yên), ươm tơ dệt vải, thêu ren Phương Định (Trực Ninh), trồng hoa, cây cảnh Vị Khê (Nam Trực)

Trang 22

Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế, xã hội, các giá trị nhân văn cũng đang được gìn giữ, phục hồi và phát triển, các di tích được bảo vệ tôn tạo, các sinh hoạt văn hoá truyền thống được khôi phục lại Tuy nhiên hiện nay vấn đề quản lý, khai thác, bảo vệ tôn tạo tài nguyên nhân văn chưa đạt hiệu quả cao, nhiều di tích thiếu nguồn vốn đầu tư, tu bổ, có nguy cơ xuống cấp, làm giảm giá trị nghệ thuật, giảm giá trị nhân văn

1.3 Thực trạng môi trường

Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức Tình trạng tách rời công tác bảo

vệ môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng;

1.3.1 Hiện trạng môi trường nông nghiệp nông thôn

a) Sử dụng các loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiêp

Trong canh tác, việc dùng phân hoá học và thuốc bảo vệ thực vật là rất lớn Với khoảng 113.433 ha đất nông nghiệp, trong đó khoảng 93.775 ha đất đang sử dụng, nông dân Nam Định hàng năm đã sử dụng khoảng 32.500 tấn đạm, 60.600 tấn NPK, 45.200 tấn lân, 15.310 tấn Kali và 246,1 tấn thuốc bảo vệ thực vật Số lượng thuốc bảo vệ thực vật hàng năm không tăng, nhưng lượng thuốc trừ sâu, bệnh, thuốc kích thích sinh trưởng có tốc độ cao, kể cả loại thuốc không rõ nguồn gốc có chiều hướng gia tăng Tình trạng dùng phân chuồng, phân bắc chăm bón trực tiếp cho cây trồng còn khá phổ biến, đây là nguy cơ dễ gây ô nhiễm môi trường đất, nước đồng thời dễ gây ngộ độc và dịch bệnh cho người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp

b) Vệ sinh môi trường nông thôn

Về rác thải và thu gom rác: Đến nay đã có nhiều xã, thị trấn xây dựng được

hố chôn rác thải, thực hiện văn minh và bảo vệ môi trường Tuy nhiên, theo số liệu điều tra cho thấy hiện nay toàn tỉnh mới có 15% số xã có đội thu gom rác và có bãi chôn lấp rác, lượng rác thu gom còn ít và còn thiếu nhiều bãi chôn lấp rác đảm bảo

vệ sinh;

Rác thải của các khu dân cư nông thôn, khu vực thị trấn, thị tứ, làng nghề bước đầu được thu gom và xử lý trước khi chảy ra hệ thống thoát nuớc chung Tuy nhiên, vẫn còn một vài cơ sở sản xuất trực tiếp xuống sông, ao hồ, mương đã gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới sức khỏe nhân dân;

Trang 23

Số lượng nhà vệ sinh khu vực nông thôn tăng chậm (mới đạt 49%), xuất hiện nhiều hộ gia đình, chăn nuôi gia súc, gia cầm, ở quy mô trung bình theo hướng công nghiệp do không đầu tư đồng bộ các giải pháp bảo vệ môi trường ngay trong khu vực dân cư và gây ô nhiễm nguồn nước;

Hiện nay đã có 10 bệnh viện tuyến tỉnh xây dựng được lò đốt rác thải y tế đạt tiêu chuẩn

c) Hoạt động các cụm công nghiệp, làng nghề trong nông thôn

Cùng với sự ra đời các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề thủ công truyền thống cũng có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ Việc phát triển các làng nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết việc làm ở các địa phương Tuy nhiên, hậu quả về môi trường do các hoạt động sản xuất làng nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng Tình trạng ô nhiễm không khí, chủ yếu là do nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO2, SO2 và Nox thải ra trong quá trình sản xuất khá cao

Nam Định có gần 100 làng nghề, hầu hết các làng nghề đang hoạt động sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng tới môi trường, trong số này có 15 làng nghề có nguy

cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và ảnh hưởng tới sức khoẻ nhân dân, đó là các làng nghề: Vân Chàng (Nam Trực), Xuân Tiến (Xuân Trường), Tống Xá, Yên Tiến, Yên Ninh (Ý Yên), Quang Trung (Vụ Bản), Cổ Chất (Trực Ninh), Nam Thanh (Nam Trực)… Hình thức các đơn vị sản xuất của làng nghề rất đa dạng, có thể là gia đình, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp Tuy nhiên, do sản xuất mang tính tự phát, sử dụng công nghệ thủ công lạc hậu, chắp vá, mặt bằng sản xuất chật chội, việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải ít được quan tâm, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của người dân làng nghề còn kém, bên cạnh đó lại thiếu một cơ chế quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng của Nhà nước, chưa có những chế tài đủ mạnh đối với những hộ làm nghề thủ công gây ô nhiễm môi trường và cũng chưa kiên quyết loại bỏ những làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nên tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ngày càng trầm trọng và hiện nay đã ở mức “báo động đỏ” Hoạt động gây ô nhiễm môi trường sinh thái tại các làng nghề không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sinh hoạt và sức khoẻ của những người dân làng nghề mà còn ảnh hưởng đến cả những người dân sống ở vùng lân cận, gây phản ứng quyết liệt của

bộ phận dân cư này, làm nảy sinh các xung đột xã hội gay gắt

1.3.2 Hiện trạng môi trường đô thị và khu, cụm công nghiệp

a) Hiện trạng môi trường đô thị

- Tại thành phố Nam Định:

Trang 24

Thành phố Nam Định đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là đô thị loại I

và phê duyệt quy hoạch trở thành trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật đô thị được mở rộng nâng cấp; tốc độ đô thị hoá ngày càng tăng;

+ Về xử lý rác thải: Xử lý rác thải được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong quản lý đô thị vì ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan, diện mạo đô thị, môi trường sống và an toàn sức khoẻ của nhân dân Bên cạnh việc xử lý rác thải sinh hoạt, công tác quản lý, xử lý đối với rác thải y tế, rác thải công nghiệp, phế thải xây dựng cũng được quan tâm thực hiện;

+ Rác thải sinh hoạt: Hiện nay, lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thành phố Nam Định khoảng 160 tấn/ngày Trong đó, công ty TNHH một thành viên Môi trường Nam Định thực hiện thu gom khoảng 150 tấn/ngày Tổng khối lượng thu gom 1 năm đạt khoảng 55.000 tấn Khối lượng thu gom ở 17 phường nội thành đạt 100%, ở 3 phường mới thành lập và 5 xã ngoại thành đạt khoảng 90% vì việc thu gom

do đội vệ sinh của các phường, xã đảm nhận công ty chỉ chuyên chở từ điểm tập trung rác đến nhà máy xử lý Thành phố với đội ngũ gần 350 công nhân thu gom rác, 18 xe

ép rác; nhà máy xử lý rác thải có công suất 250 tấn/ngày và lò đốt rác thải công suất 4 tấn/giờ (hiện mới sử dụng 50% công suất); khu chôn lấp rác có tổng diện tích 20 ha… bảo đảm xử lý rác thải khi thành phố được mở rộng Hiện nay, thành phố Nam Định đang triển khai xây dựng thêm bãi chôn lấp rác thải có diện tích gần 10 ha tại thôn Dị

Sử - xã Mỹ Thành (Mỹ Lộc), đảm bảo đáp ứng yêu cầu xử lý rác đến năm 2025 Bên cạnh đó, nhằm nâng cao hơn chất lượng xử lý rác thải, bảo vệ môi trường đô thị, UBND thành phố đã giao cho Cty TNHH một thành viên Môi trường Nam Định nhập

xe xúc lật rác và xây dựng trạm xử lý nước rỉ rác có công suất 20 m3/giờ Dự kiến trạm xử lý nước rỉ rác sẽ bắt đầu hoạt động từ cuối năm 2012;

+ Về rác thải y tế: Thành phố Nam Định bình quân mỗi ngày có gần 2 tấn rác thải y tế và đều được thu gom, xử lý tại lò đốt của các bệnh viện Tính đến nay toàn tỉnh có 10 bệnh viện đa khoa huyện đã có lò đốt rác thải y tế đạt tiêu chuẩn;

+ Về rác thải công nghiệp và rác thải xây dựng: Thành phố đã xây dựng quy chế xử lý vi phạm về ô nhiễm sản xuất và quy chế về xử lý phế thải xây dựng, bước đầu đã có chuyển biến rõ rệt Với hiệu quả của Luật thuế bảo vệ môi trường (có hiệu lực từ năm 2010) và đề án xử lý chất thải rắn của tỉnh sẽ tạo hành lang pháp lý chặt chẽ, khép kín về xử lý rác thải, bảo vệ môi trường thành phố;

+ Về hệ thống thoát nước: Được cải tạo nâng cấp như Hàng Thao, Tô Hiệu, Đồng Tháp Mười, Quang Trung… Hiện tượng ngập úng nhiều giờ gây ô nhiễm môi trường khu dân cư ở nhiều tuyến phố đã từng bước được khắc phục;

Trang 25

Nhiều khu đô thị mới đã đang hoàn thành xây dựng hạ tầng, đi vào sử dụng như khu đô thị mới Hoà Vượng, Thống Nhất, các khu dân cư thu nhập thấp của thành phố Nam Định (WB) với tổng mức đầu tư 46 triệu USD Quản lý trật tự, an toàn giao thông, vệ sinh môi trường, văn minh đô thị có sử chuyển biến tích cực Tỷ

lệ dân số đô thị được sử dụng nước sạch đạt 100%;

Đã xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch tài nguyên nước, khoáng sản… Tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đảm bảo kế hoạch Duy trì thường xuyên hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện luật bảo vệ môi trường; thực hiện công tác thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định;

Tuy nhiên, tình trạng các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp lớn, nhỏ, vừa và các bệnh viện vẫn còn nằm xen kẽ trong khu dân cư còn nhiều đã và đang gây ô nhiễm môi trường khí thải, bụi, tiếng ồn nhất là nước thải với số lượng lớn không được xử lý đổ thẳng vào cống thành phố, sau đó chảy ra sông Đào gây ô nhiễm nguồn nước mặt Hệ thống thoát nước thải của thành phố về mùa mưa thường bị quá tải gây ngập úng tại nhiều khu phố, gây ô nhiễm dễ phát sinh và lây truyền dịch bệnh;

- Tại các thị trấn, thị tứ:

Hiện tại tỉnh Nam Định có 10 đơn vị hành chính (1 thành phố và 9 huyện) với 15 thị trấn, 194 xã 20 phường Vấn đề môi trường ở các thị trấn, thị tứ còn nhiều bức xúc;

Các thị trấn đã có đội thu gom rác thải và quy hoạch đất dành cho chôn lấp chất thải sinh hoạt, nhiều thị trấn còn đổ rác ở những vị trí gây ô nhiễm nguồn nước như

TT Cổ Lễ, TT Thịnh Long, TT Ngô Đồng… Hầu hết các thị tứ (trung tâm xã) đều chưa có tổ chức thu gom rác thải, rác đổ tuỳ tiện ven đường Quốc lộ, sông, mương gây ô nhiễm môi trường Hiện có 10/15 thị trấn đã có công trình cấp nước hợp vệ sinh xong thực tế số dân tham gia sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh vẫn còn thấp;

b) Khu vực sản xuất công nghiệp tập trung, các khu cụm công nghiệp

Nội thành thành phố Nam Định hiện có 2 khu vực sản xuất công nghiệp tập trung; khu vực có các cơ sở chế biến lương thực, thực phẩm nằm ở phía Đông Bắc thành phố; khu vực có các cơ sở công nghiệp dệt may, tẩy nhuộm, mạ điện nằm ở phía Tây thành phố; khu công nghiệp Hoà Xá nằm ở phía Tây Nam thành phố Khu công nghiệp Hoà Xá đã xây dựng hệ thống nước thải đã bước đầu hoạt động đã có tác dụng tốt;

Trang 26

Các cụm công nghiệp đều chú trọng xây dựng mạng lưới đường, điện hệ thống tiêu thoát nước thải Trong các dự án đầu tư đều có phương án xử lý nước thải, chất rắn Thực trạng ở các cụm công nghiệp do diện tích sản xuất chật hẹp, máy móc lạc hậu, có cụm công nghiệp xây dựng nhà ở gắn liền với xưởng sản xuất như cụm công nghiệp Nam Giang - Nam Trực, do vậy tình trạng ô nhiễm môi trường kể cả nước thải, bụi, tiếng ồn và chất thải rắn vẫn không giảm mà có nguy cơ gia tăng Một số cơ sở lượng nước thải hàng ngày từ 500-800 m3 chưa được xử lý vẫn được thải trực tiếp vào cống thoát nước của thành phố, và mùa mưa nước thải chảy tràn cả khu vực đường phố và khu dân cư Đã xuất hiện tình trạng rác thải không được thu gom kịp thời gây ô nhiễm

1.3.3 Môi trường nước biển ven bờ

* Về khai thác hải sản: Thực trạng môi trường ven biển đang quan tâm nhất

hiện nay là tình trạng khai thác chưa hợp lý các nguồn khai thác tài nguyên ven biển, tình trạng đánh bắt như nổ mìn, xung điện lưới mắt nhỏ, ánh sáng… vẫn còn xảy ra gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái thay đổi chuỗi thức ăn, mất tính đa dạng sinh học có vùng gây suy thái tài nguyên đất, đất bị tái nhiễm mặn do chuyển đổi cơ cấu sản xuất chưa hợp lý;

Số lượng tàu thuyền, đặc biệt là tàu đánh bắt xa bờ tăng ít về số lượng nhưng tăng nhanh về công suất do đóng mới, cải hoán tàu thuyền có công suất lớn thay thế tàu các công suất nhỏ phục vụ đánh bắt xa bờ Hiện nay, toàn tỉnh có 2.469 tàu đánh

cá với công suất là 80.084 CV, tăng 845 tàu, công suất tăng 33.523 CV so với năm 2005: Trong đó nghề kéo lưới có 963 chiếc (chiếm 39%), nghề lưới rê kiêm chụp mực có 1.254 chiếc (chiếm 50,8%), còn lại là nghề câu và các nghề khác Tuy nhiên việc quản lý chất thải khai thác thuỷ sản vẫn còn nhiều bất cập;

- Về nuôi trồng thuỷ sản: Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản phát triển với công thức nuôi công nghiệp nên lượng thức ăn dư thừa cũng như hoá chất, thuốc chữa bệnh gia tăng, theo nguồn nước thải vào môi trường xung quanh;

- Về chế biến, xuất khẩu và dịch vụ hậu cần nghề cá: Hoạt động chế biến tiêu thụ nội địa tiếp tục phát triển, chủ yếu là ở khu vực dân doanh Đến nay, tại 3 huyện ven biển Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng có 15 doanh nghiệp, 10 HTX và trên 70

cơ sở thu mua, sơ chế, chế biến thuỷ sản (tươi sống, đông lạnh, sản phẩm khô) Tuy nhiên, hầu hết các cơ sở chế biến thuỷ sản vẫn chưa được quy hoạch, mang tính thủ

công quy mô nhỏ nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao (chủ yếu là môi trường

* Môi trường ở các khu du lịch nghỉ mát ở Quất Lâm, Thịnh Long:

Trang 27

Vấn đề môi trường ở các khu nghỉ mát ở Quất Lâm, Thịnh Long cũng đã bộc

lộ bất cập như việc thu gom chất thải rắn, nước thải chưa hoàn chỉnh, đồng bộ đã gây mất mỹ quan và nguy cơ gây ô nhiễm khu vực nghỉ mát, cả 2 khu vực du lịch chưa có điểm chôn lấp rác hợp vệ sinh, hệ thống tiêu thoát nước thải chưa hoàn chỉnh, chưa được xử lý, thải trực tiếp vào môi trường xung quanh;

Nước mặt khu vực cửa sông ven biển hàm lượng một số nguyên tố kim loại nặng như chì (Pb), kẽm (Zn) đồng (Cu) tăng cao, chất hữu cơ về mùa mưa vượt tiêu chuẩn nhiều lần, đã xuất hiện dư lượng bảo vệ thực vật và dầu mỡ xong còn ở ngưỡng xấp xỉ cho phép;

1.3.4 Hiện trạng các thành phần môi trường

a) Hiện trạng môi trường đất

Diện tích đất nông nghiệp dùng cho trồng trọt đang thu hẹp và có xu thế bị xói mòn, mất cân đối về dinh dưỡng đất do tình trạng canh tác độc canh và thâm canh cao Đất khu dân cư bị ô nhiễm bởi nước thải, chất thải rắn từ hoạt động sản xuất của các làng nghề có chiều hướng gia tăng: Đất ven biển có nguy cơ bị tái nhiễm mặn, phèn hoá do chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ nông nghiệp sang nuôi trồng thuỷ sản hoặc do nuôi trồng thuỷ sản không đảm bảo tính khoa học;

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm môi trường đất chủ yếu từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp, nước thải, rác thải sau khi phân huỷ ngấm xuống đất làm ô nhiễm môi trường đất Với hoạt động nông nghiệp, lượng thuốc trừ sâu, phân bón và hoá chất dư thừa cũng là nguồn gây ô nhiễm nhiều vùng chứa nước ở nông thôn; nước bị ô nhiễm mang nhiều chất vô cơ và hữu cơ thấm vào đất gây ô nhiễm nghiêm trọng cho đất;

Tỉnh Nam Định đã triển khai xử lý triệt để ô nhiễm môi trường do hoá chất bảo vệ thực vật tồn lưu trong sản xuất nông nghiệp tại hai địa phương có nồng độ ô nhiễm cao Với tổng mức đầu tư hơn 42 tỷ đồng, sẽ xử lý toàn bộ đất bị ô nhiễm nặng và ô nhiễm nhẹ tại thôn Vạn Diệp, xã Nam Phong (ngoại thành Nam Định) và

xã Hoành Sơn (Giao Thủy) Đây là hai địa phương đang chịu ảnh hưởng nặng nề về tồn dư của thuốc bảo vệ thực vật đối với đời sống hàng ngày Ước tính, khối lượng đất ô nhiễm nặng là 2.400 m3 và đất ô nhiễm nhẹ là gần 2.800 m3 Đối với đất ô nhiễm nặng, phương án xử lý là chôn lấp cô lập bằng bê tông kết hợp xử lý hoá học

Sử dụng mặt bằng cách xa khu dân cư, lấp đất và đổ lớp bê tông trên mặt, phủ đất trồng cỏ bên trên; đối với đất ô nhiễm nhẹ sẽ tiến hành xử lý hóa học kết hợp biện pháp chống thấm tại vùng tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật Sau đó lấy mẫu kiểm tra

Trang 28

đánh giá hiệu quả xử lý và hoàn trả lại mặt bằng Dự kiến thời gian hoàn thành vào năm 2013;

b) Hiện trạng môi trường nước

Số liệu quan trắc nguồn nước hàng năm cho thấy nguồn nước mặt tại các sông lớn như sông Hồng, sông Đào, sông Đáy chưa có dấu hiệu bị ô nhiễm, tuy nhiên các chỉ số về hữu cơ có tăng về mùa mưa xong có thể sử dụng làm nguồn nước cung cấp cho các công trình nước sạch được (trừ khu vực cửa xả kênh Gia và quán Chuột) chất lượng nước của các sông nội đồng và ao hồ cả ba vùng của tỉnh đều bị ô nhiễm bởi hàm lượng chất hữu cơ và vi sinh vựơt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần do đó khi sử dụng cho các hộ cấp nước quy mô thôn xã phải hết sức chú ý

Về nguồn nước ngầm tại thấu kính phía Nam tỉnh qua phân tích cho thấy chưa bị ô nhiễm, tuy nhiên hàm lượng Fe2+ còn tương đối vào: Nguồn nước khu vực phía Tây

và Tây Bắc của tỉnh bị nhiễm mặn hàm lượng Fe2+ vượt tiêu chuẩn nhiều lần, các giếng khoan dưới 20 m khu vực thành phố Nam Định chỉ số NO2, NO3 khá cao không thể sử dụng làm nước sinh hoạt được;

- Ở thành thị và các khu sản xuất:

Hiện nay ở Nam Định, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại;

Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ Môi trường nước ở thành phố, thị trấn, thị tứ, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn Tỉnh Nam Định có khoảng 34.270 cơ

sở sản xuất công nghiệp, 39.712 cơ sở thương mại, du lịch, khách sạn, nhà hàng và

509 cơ quan, xí nghiệp, 248 cơ sở y tế, đang gây ô nhiễm môi trường nước do không

có công trình và thiết bị xử lý chất thải;

Hiện nay tổng lượng nước thải thành phố Nam Định mỗi ngày xả ra khoảng hơn 60.000 m3 ngày đêm (trong đó 58% là nước thải sinh hoạt, 1,8% nước thải bệnh viện, còn lại là nước thải công nghiệp) Nước thải tại các làng nghề trên địa bàn tỉnh khoảng 800 - 900 m3/ngày đêm nồng độ chất ô nhiễm rất cao ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường khu vực;

Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường nước là nước thải sinh hoạt trong nước thải sinh hoạt thường gặp các hợp chất hữu cơ như: Cacbon, Albumin có nguồn gốc động vật các chất béo, các chất dầu… Còn các chất vô cơ chủ yếu thường gặp là các muối dễ hoà tan ở dạng ion như: Na, K, Ca, Mg, Cl … nước thải sinh

Trang 29

hoạt thường xuyên chứa các loại vi khuẩn gây bệnh Hàm lượng oxy hoà tan (DO) ở các sông kênh, rạch thoát nước ở các đô thị thường rất nhỏ, hàm lượng DO < 2mg/l;

Một nguyên nhân khác cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường nước

là nước thải công nghiệp ở các khu đô thị và khu công nghiệp Các loại nước thải công nghiệp với thành phần gồm nhiều chất độc hại như: Thuốc tẩy rửa, chất dung môi, thuốc nhuộm, các chất có chứa clo… thường không được xử lý mà được đổ trực tiếp ra các sông, ngòi thoát nước gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường Ngoài ra các loại nước thải khác như nước thải của các bệnh viện, các cơ sở dịch vụ và nước thải nông nghiệp… chưa được xử lý đều đổ ra các sông này gây ô nhiễm nguồn nước mặt;

Kết quả quan trắc một số vị trí:

Nước thải tại trạm bơm Kênh Gia (trong mương trước khi ra sông Đào): Kết quả quan trắc ở điểm trước khi thải ra sông Đào cho thấy, các chỉ tiêu ô nhiễm cơ bản nằm trong tiêu chuẩn cho phép, chỉ có 04 thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho

phép, đó là COD 135/100 mg/l (đo được 135, cho phép 100; BOD5(20oC) 66/50 mg/l; Amoni (theo N) 12/10 mg/l; Coliform 11500/5000 MPN/100ml;

Nước thải tại mương nước thải khu vực ngâm tre nứa xã Yên Tiến - Ý Yên (trước UBND xã) các chỉ tiêu ô nhiễm cơ bản nằm trong tiêu chuẩn cho phép, chỉ có 01 thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép, đó là Coliform 6.200/5.000 MPN/100ml

Nước thải tại mương nước thải KCN Hoà Xá - xóm 3 thôn Mỹ Trung - Mỹ Xá,

có 6 chỉ tiêu vượt tiêu chuẩn cho phép, đó là COD 192/100 mg/l (đo được 192, cho phép 100) , BOD5(20oC) 81,9/50 mg/l, Amoni (theo N) 14,5/10 mg/l, tổng Ni tơ 36/30mg/l, Sunfua 0,61/0,5 mg/l Coliform 9.800/5.000 MPN/100ml Các chỉ tiêu còn lại tuy nằm trong giới hạn cho phép nhưng nồng độ vẫn cao gần bằng với giới hạn cho phép;

- Ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp:

Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay Nam Định có 82,2% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao Kết quả phân tích so sánh với QCVN 08:2008 (B1) như sau: Có 06/12 thông số được phân tích cao hơn so với quy chuẩn Việt Nam Thông số COD vượt quy chuẩn từ 1,1 đến 5,1 lần Thông số BOD vượt quy chuẩn từ 1,07 đến 5,31 lần Thông số tổng chất rắn lơ lửng vượt quy chuẩn từ 1,24 đến 1,86 lần Thông số tổng dầu mỡ vượt quy chuẩn 1,1 đến 1,8 lần Thông số Phenol vượt quy chuẩn từ 1,17 đến 2,1 lần Thông số Coliform vượt quy chuẩn từ

Trang 30

1,04 đến 1,44 lần ở các kênh tưới tiêu, nước ao, hồ, sông nhỏ, sông nội đồng trên địa bàn tỉnh;

Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khoẻ nhân dân;

Theo thống kê đất đai, tổng diện tích mặt nước sử dụng cho nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2010 của tỉnh là 14.153 ha Do nuôi trồng thuỷ sản, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản, thì các thức ăn dư lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi trường nước

bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh;

+ Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước sông lớn

Cung cấp nước cho các mục đích sản xuất nông nghiệp, công nghiệp dịch vụ và dân sinh trong tỉnh là nguồn nước mặt là sông Hồng và sông Đáy và 2 chi lưu là sông Đào và sông Ninh Cơ Đồng thời đây cũng là nguồn tiếp nhận nước thải từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt Việc xử lý nước thải từ các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN), làng nghề chưa đạt tiêu chuẩn môi trường và

xả thải ra môi trường, gây ô nhiễm các lưu vực tiếp nhận; kết quả phân tích tình hình ô nhiễm môi trường nước trên các sông lớn như sau:

cao nhất Tuy cũng có dấu hiệu bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ và amôni, nhưng mức

độ không cao Thông số BOD5(20oC) tại các vị trí Hữu Bị A - Mỹ Trung; ngã ba sông

Hồng và sông Ninh Cơ (Trực Chính) đo được 17 ÷ 18 mg/l (cho phép 15mg/l) vượt

TCCP từ 1,13 đến 1,2 lần Tổng chất rắn lơ lửng đo được từ 53 ÷ 101 mg/l (cho phép

50 mg/l) tại cả 4 vị trí quan trắc đều vượt TCCP từ 1,06 đến 2,02 lần;

Sắt xã Yên Bằng - Ý Yên đo được 15,9 ÷ 17 mg/l (cho phép 15 mg/l), vượt TCCP từ

1,06 đến 1,13 lần Thông số tổng chất lửng lơ tại cống Tiền Phong đo được 108

mg/l (cho phép 50 mg/l) vượt TCCP 2,16 lần;

+ Môi trường nước biển ven bờ

Nam Định có bờ biển dài 72 km có 4 cửa sông lớn: Cửa Ba Lạt, cửa sông Đáy, cửa Lạch Giang và cửa Hà Lạn Có điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản và du lịch Đồng thời đây cũng là nơi tiếp nhận phần lớn các chất thải từ lục địa theo các dòng chảy sông đổ ra biển như dầu và sản phẩm dầu, nước thải, phân bón nông nghiệp, thuốc trừ sâu, chất thải công nghiệp, chất thải phóng xạ

Trang 31

và nhiều chất ô nhiễm khác Đây là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường nước biển ven bờ, cụ thể tình hình ô nhiễm môi trường nước biển ven bờ tỉnh Nam Định tại một số vị trí quan trắc như sau:

Nước biển khu vực xóm 9 Nam Điền áp dụng cho vùng nuôi trồng thủy sản

có 4 chỉ tiêu vượt quy chuẩn cho phép, đó là COD(KMnO4) 8,9/3 mg/l (đo được 8,9

Nước biển khu vực đội 8 xã Hải Lý - Hải Hậu áp dụng cho vùng nuôi trồng

thủy sản có 4 chỉ tiêu vượt quy chuẩn cho phép, đó là COD(KMnO4) 8,4/3 mg/l (đo được 8,4 cho phép 3 mg/l); tổng chất rắn lửng lơ 244/50 mg/l; Sunfua 0,006/0,005

mg/l; Amoni(theo N) 0,23/0,1 mg/l;

Nước biển tại bãi tắm thị trấn Quất Lâm - Giao Thuỷ áp dụng cho vùng bãi tắm có 4 chỉ tiêu vượt quy chuẩn cho phép, đó là COD(KMnO4) 12,5/3 mg/l (đo được 12,5 cho phép 3 mg/l); sắt 0,23/0,1mg/l; Coliform 1700/1000 MPN/100m;

Nước biển tại bãi tắm Thịnh Long - Hải Hậu áp dụng cho vùng bãi tắm có 3 chỉ

tiêu vượt quy chuẩn cho phép, đó là COD(KMnO4) 11,2/3 mg/l (đo được 11,2 cho phép

Chất lượng nước biển so sánh với QCVN10: 2008 khu vực vùng nuôi trồng thuỷ, hải sản Thông số COD: Ở tất cả các điểm quan trắc đều vượt quy chuẩn cho phép từ 2,166 đến 2,996 lần Thông số Fe tại vị trí nước biển khu vực thị trấn Rạng Đông vượt 0,12 lần so với quy chuẩn cho phép Thông số chất lơ lửng (TSS) tại các

vị trí vùng nước biển Nghĩa Hưng và Hải Hậu vượt từ 1,36 đến 4,88 lần so với quy chuẩn cho phép Thông số sunfua tại các vị trí bờ biển Nam Định vượt từ 1,2 đến 1,6 lần so với quy chuẩn cho phép Thông số váng dầu mỡ ở tất cả các điểm quan trắc đều xuất hiện váng dầu mỡ vượt quy chuẩn cho phép Thông số Amoni: Tại các

vị trí trí vượt quy chuẩn cho phép từ 1,2 đến 2,3 lần;

Khu vực bãi tắm tại 02 vị trí với 09 thông số kết quả như sau: Thông số COD, Fe, tổng chất rắn lơ lửng, váng dầu mỡ ở cả 2 vị trí đều vượt quy chuẩn cho phép cụ thể như sau: Thông số COD vượt từ 2,8 lần đến 3,125 lần Thông số Fe vượt từ 1,3 lần đến 2,3 lần Thông số tổng chất rắn lơ lửng vượt từ 2 đến 3,02 lần Thông số váng dầu mỡ ở cả 2 điểm đều thấy xuất hiện Thông số Coliform tại vị trí

Trang 32

Quất Lâm vượt 1,7 lần so với quy chuẩn cho phép Các thông số còn lại nằm trong quy chuẩn cho phép;

- Môi trường không khí:

Về tổng thể quan trắc môi trường không khí tại khu vực nông thôn ven biển chưa bị ô nhiễm, xong tại một số làng nghề cơ khí, đúc (Xuân Tiến, Vân Chàng, Yên Xá) một số khu vực ven tuyến sông Ninh Cơ tình trạng hàng trăm lò nung gạch thủ công và khu vực xung quanh nhà máy dệt Nam Định hàm lượng các chất có trong không khí như SO2, CO2, bụi vượt trên tiêu chuẩn cho phép;

Kết quả quan trắc một số vị trí:

Khu công nghiệp Hòa Xá: 1/1 vị trí quan trắc có nồng độ bụi lơ lửng trong

không khí (107 µg/m3) thấy hơn TCCP (300 µg/m3) tiếng ồn dao động trong khoảng

từ 54 đến 60 dBA thấp hơn TCCP (75 dBA), các thông số khí thải độc hại CO, NO2, bụi Chì đều thấp hơn giới hạn cho phép;

Cụm công nghiệp Vân Chàng: Vị trí quan trắc được lấy tại tại khu vực trung tâm làng nghề Vân Chàng cho thấy, nồng độ bụi lơ lửng giao động trong khoảng

150 µg/m3 đến 168 µg/m3 nằm trong giới hạn cho phép (300 µg/m3), các thông số về khí thải độc hại SO2, NOx, ,CO tiếng ồn nằm trong giới hạn cho phép;

Mẫu không khí lấy tại khu vực cổng bến xe Nam Định: 1/1 vị trí quan trắc có nồng độ bụi lơ lửng trong không khí (318 µg/m3 ) vượt TCCP (300 µg/m3 ) tiếng ồn 76,83 dBA cao hơn TCCP (75 dBA), các thông số khí thải độc hại CO, NO2, bụi Chì đều thấp hơn giới hạn cho phép;

- Hiện trạng chất thải rắn:

Hiện nay, lượng chất thải rắn toàn tỉnh phát sinh khoảng 1.100 tấn/ngày, trong đó lượng sinh hoạt chiếm 73%, nhiều nhất là TP Nam Định phát sinh khoảng

200 tấn/ngày Chất thải rắn sinh hoạt đã được tỉnh quan tâm đầu tư quản lý, đặc biệt

là chất thải rắn sinh hoạt đô thị Hiện tỷ lệ thu gom, xử lý đạt trên 70% ở TP Nam Định và khoảng 30-50% ở khu vực nông thôn Hiện toàn tỉnh có 1 khu liên hợp xử

lý chất thải rắn (tại Hoà Xá, TP Nam Định) xử lý CTR bằng công nghệ hiện đại, tuy nhiên mới chỉ phục vụ được nhu cầu xử lý của thành phố Tại các huyện, nhiều xã/ thị trấn đã được đầu tư nơi xử lý bằng công nghệ chủ yếu là chôn lấp Theo điều tra tại các huyện hiện có trên 50 bãi xử lý chính thức với công nghệ chủ yếu là chôn lấp, trong đó 33 cơ sở được thiết kế hợp vệ sinh bằng nguồn vốn sự nghiệp môi trường Ngoài ra tại các xã/thôn còn lại hầu hết đều có nơi đổ thải không chính thức, không được xử lý hợp vệ sinh Tại các bãi đổ chính thức, việc quản ký vận hành cũng không được thực hiện đúng quy trình vệ sinh, kể cả tại các bãi được đầu tư

Trang 33

bằng nguồn vốn sự nghiệp môi trường Nguyên nhân do công tác tổ chức vận hành theo quy trình vệ sinh không được ra nhiều bãi xử lý đã được đầu tư xây dựng nhưng công tác bàn giao quản lý sử dụng thực hiện chậm, gây xuống cấp công trình;

Về mặt lựa chọn công nghệ và quy hoạch xử lý rác thải ở các địa phương cũng còn nhiều bất cập Hiện nay định hướng xử lý chất thả rắn tại các xã chủ yếu là chôn lấp Có tới 29% lượng rác thu gom được đổ không đúng nơi quy định, 58% lượng rác thu gom được đổ vào các nơi quy định của thôn xóm, 8% lượng rác thu gom được xử lý chôn lấp và tiêu huỷ tại các hộ gia đình, chỉ 10% lượng rác thu gom được đổ theo quy hoạch cũng như quy định của xã Việc quản lý chất thải rắn theo hướng liên xã, liên huyện chưa được quan tâm đúng mức Rác thải chưa được quan tâm xử lý theo hướng tái chế, tái sử dụng để hạn chế chôn lấp Trong khi đó công tác quy hoạch, lựa chọn, điểm chôn lấp rác chưa hợp lý gây tốn kém quỹ đất, kinh phí hoạt động cho công tác bải vệ môi trường còn hạn chế, một bộ phận người dân chưa có ý thức bảo vệ môi trường chung…

Vì vậy việc quy hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh Nam Định nhằm xây dựng một chương trình quản lý chất thải rắn tổng hợp theo hướng tiên tiến, có lộ trình, nâng cao hiệu quả công tác quản lý và xử lý chất thải, tiết kiệm về kinh tế và tài nguyên, đáp ứng các yêu cầu của chiến lược quốc gia về quản lý chất thải rắn tổng hợp đối với tỉnh Nam Định hiện nay đặt ra hết sức cấp bách

1.4 Ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu

Nam Định là tỉnh ven biển nằm ở phía Nam Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) Diện tích tự nhiên 165.142 km2 bằng 0,5% diện tích cả nước và 11,12% đồng bằng Bắc Bộ Là một tỉnh có địa hình tương đối thấp và bằng phẳng, cao độ biến thiên không lớn, chỉ từ 0,2 - 2 m so với mực nước biển, vùng nội đồng cao độ trung bình

từ 0,5 - 1,0 m, cùng với các chế độ khí hậu - thủy văn mà đặc biệt là chịu ảnh hưởng bởi chế độ nhật triều;

Biểu hiện của biến đổi khí hậu tỉnh Nam Định trong thời gian qua:

Ảnh hưởng chung của biến đổi khí hậu trên toàn cầu và biến đổi khí hậu (BĐKH) đã thể hiện ở tỉnh Nam Định giai đoạn 1990 - 2010 trên cả 3 giá trị: Nhiệt

độ trung bình, nhiệt độ thấp và nhiệt độ cao Nhiệt độ cao nhất qua các năm dao động trong khoảng từ 28,5 - 30,50C (chênh lệch 2,00C) và nhiệt độ thấp nhất dao động trong khoảng 15,1 - 17,70C (chênh lệch 2,60C), nhiệt độ với sự chênh lệch mức nóng nhất và lạnh nhất qua các năm 13,0 - 13,40C nhiệt độ trung bình năm tăng lên khoảng 0,2 ÷ 0,500C Biểu hiện sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất trong cùng một năm tại Nam Định có sự khắc nghiệt và có chiều hướng ngày càng gia tăng qua các năm

Trang 34

Lượng mưa biến đổi qua nhiều năm rất lớn, năm mưa nhiều gấp 2-3 lần lượng mưa năm mưa ít Do đặc tính khí hậu nhiệt đới gió mùa nên chế độ mưa trên lưu vực sông Hồng biểu hiện tính mùa khá rõ rệt Mùa mưa thường kéo dài 5 tháng

từ tháng 5 đến tháng 10 Nơi mưa nhiều có thể kéo dài 7 - 8 tháng Nhiệt độ không khí trung bình từ 150C - 2400C Lượng bốc hơi trung bình năm (đo bằng ống Piche) khoảng 1000mm Hiện tượng “mưa nắng thất thường” do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên toàn cầu là vào mùa mưa, tần suất mưa và chu kỳ mưa đã có sự thay đổi đáng kể, trong những năm qua mưa thường đến sớm hơn, kéo dài và kết thúc muộn, chứ không còn theo quy luật của mấy chục năm trước Cụ thể trong năm 2010 mưa vào tháng 5 kết thúc vào tháng 10;

Chế độ gió: Hai hướng gió thịnh hành trong năm là hướng Nam và Đông Nam Trong mùa đông khi gió Đông Bắc tràn về, hướng gió Đông Bắc và Bắc cùng xuất hiện, song không đều trên lưu vực và tần suất xuất hiện nhỏ hơn nhiều so với hướng Đông Nam Hướng Đông Nam không những thịnh hành trong mùa hè mà còn thịnh hành trong cả một số tháng mùa đông, đồng thời là nguyên nhân tạo ra những đợt nóng ẩm xen kẽ trong mùa đông;

Mực nước: Mực nước đầu nguồn sông Hồng, sông Đáy và các sông chi lưu trong tỉnh Nam Định diễn biến khá phức tạp, mực nước đạt đỉnh cao nhất vào những tháng mùa mưa (khoảng từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm), hầu hết mực nước các tháng mùa mưa những năm sau xấp xỉ hoặc cao hơn những năm trước, vào mùa khô thấp hơn các năm trước;

Xâm nhập mặn: Tỉnh Nam Định có 72 km giáp biển, vì thế, ảnh hưởng của xâm nhập mặn là khó tránh khỏi Đất nhiễm mặn do 2 nguyên nhân do ngập nước triều mặn và nước ngầm mặn gây ra Độ mặn thay đổi mạnh từ tháng 11 năm trước đến hết tháng 5 năm sau, tăng từ đầu mùa đến giữa mùa rồi lại giảm dần tới cuối mùa (tháng 5) Tuy nhiên, độ mặn trung bình tháng lớn nhất mùa cạn thường xảy ra vào tháng 3 (chiếm 64%) số trạm đo, phần lớn trên sông Đáy và sông Hồng và một

số trạm ở các sông khác), còn lại là một số trạm mặn nhất xảy ra Số liệu liệu quan trắc trên sông Ninh Cơ, sông Hồng và sông Đáy diễn biến độ mặn mùa cạn diễn biến như sau:

- Trên sông Hồng độ mặn thực đo lớn nhất tại Ba Lạt là 23,40/00 đo được vào lúc 14h ngày 21/4/2006, tại Cống Tài là 9,30/00 tại thời điểm 1h ngày 22/4/2006 và tại Mom Rô là 1,40/00 tại thời điểm 2h ngày 22/4/2006, như vậy độ mặn lớn nhất xảy

ra tại Ba Lạt, Mom Rô và Cống Tài khá gần nhau, chênh lệch 1 giờ;

Trang 35

- Trên sông Đáy, độ mặn thực đo lớn nhất tại Như Tân là 19,10/00 đo được tại thời điểm 22h ngày 19/4/2006, tại cống 16 là 8,70/00 vào lúc 22h 18/4/2006 và tại Lý Nhân là 4,60/00 tại thời điểm 21h ngày 18/4/2006;

- Trên sông Ninh Cơ độ mặn thực đo lớn nhất đo được tại Phú Lễ, cách biển 7km là 22,8/‰ đo được vào 0h ngày 22/4/2006, nhưng giá trị mặn lớn nhất tại cống Nam Tân cách biển 28 km là 6,90/00 xảy ra lúc 22h ngày 18/4/2006;

Như vậy, có thể thấy độ mặn lớn nhất xuất hiện tại 3 trạm xảy ra cách nhau 1 giờ, độ mặn lớn nhất xảy ra ở Ba Lạt là trạm các biển cách biển 10 km sớm nhất, và

ở đó giá trị độ mặn lớn nhất nguyên nhân do đây là trạm gần biển nhất nên bị ảnh hưởng mạnh độ mặn do thủy triều đem vào;

Từ những phân tích trên, tính cần thiết của công tác dự báo trước diễn biến

độ mặn để giải đáp các vấn đề thực tế đang đặt ra dưới đây:

- Hệ thống đê khống chế toàn bộ vùng cửa sông nên đối với khu vực cửa sông thuộc Nam Định mặn không xâm nhập vào trong đồng nhưng làm ngưng trệ quá trình lấy nước từ sông, chủ yếu phục vụ cho nông nghiệp trên một phạm vi rộng lớn của đồng bằng vào các tháng kiệt;

- Do không dự báo trước tình hình xâm nhập mặn nên nhiều địa phương rất lúng túng khi quyết định thời điểm lấy nước cho nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt trong vụ Đông Xuân (ĐX);

- Sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nước, đặc biệt là vụ sản xuất ĐX Tất cả các khu vực cửa sông của các huyện Xuân Trường, Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Trực Ninh thường xuyên gặp khó khăn mỗi khi cần lấy nước vào đồng, do vùng này được bao bọc và chia cắt bởi các con sông lớn đổ ra biển quanh năm bị nhiễm mặn do thuỷ triều vịnh Bắc Bộ truyền vào;

Việc mở cống lấy nước từ các đập, cống ngăn triều cho nông nghiệp và thuỷ sản có độ mặn hoặc vượt quá (với cây trồng) hoặc thấp hơn (thuỷ sản) nồng độ cho phép đã gây thiệt hại không nhỏ đến năng suất cây trồng;

Các yếu tố thời tiết cực đoan: Trong những năm qua, tình hình thời tiết diễn biến rất phức tạp Các đợt nắng nóng, số ngày nắng nóng, các đợt rét, số ngày rét, lốc xoáy đã có sự thay đổi, tăng lên và tác động ngày càng lớn Nắng nóng gay gắt trong mùa khô, mùa mưa có lượng mưa tương đối nhiều, thường xuyên xảy ra lốc xoáy, giông, sét;

Một số dẫn chứng của sự biến đổi khí hậu:

Trang 36

+ Vụ ĐX 98-99 và vụ ĐX 2002-2003 phải cấy chậm lại so với thời vụ do không lấy được nước vào đồng ở 4 huyện Xuân Trường, Giao Thủy, Hải Hậu và Nghĩa Hưng;

+ Vụ ĐX 87-88 ở Xuân Thuỷ và vụ ĐX 98-99 ở miền hạ huyện Nghĩa Hưng (Nam Định) đã có nơi bị chết lúa do nước lấy vào đồng có độ mặn vượt quá giới hạn cho phép Vùng đất lúa Nam Điền huyện Nghĩa Hưng từ năm 2008 có khoảng 100

ha đất trồng lúa hiện nay đang bị nhiễm mặn nặng nề không cấy được lúa nhân dân đang phải lên luống trồng rau màu;

+ Liên tiếp trong các năm từ 2004 - 2006, nước mặn đã lấn sâu vào sông trên địa bàn tỉnh Nam Định Ranh giới mặn 10/00 đã xâm nhập ngày càng sâu vào trong các sông Hồng, Ninh Cơ và Đáy Đặc biệt, trong tháng 01/2006, trên tất cả 3 vùng cửa sông, mặn xâm nhập sâu đến mức kỷ lục: trên sông Hồng mặn lấn sâu đến cửa cống Hạ Miêu I với độ mặn 7,20/00 cách biển 26km; trên sông Ninh Cơ mặn đã lấn đến cửa cống Múc 2 với độ mặn 1,70/00, cách biển tới 37km, trên sông Đáy mặn đã đến cửa cống Bình Hải I với độ mặn 50/00, cách biển 18km;

Nguyên nhân chính là do dòng chảy trên toàn hệ thống sông Hồng ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm nên dòng chảy đổ ra cửa biển rất thấp, làm mặn xâm nhập sớm và lấn sâu vào gần 30 km;

+ Ảnh hưởng của cơn bão số 2, ngày 31-7-2005, tại huyện Giao Thuỷ, Nam Định các xã Giao Tân, Giao Long, Giao Hà, Giao Hải, Giao Tiến đã bị ngập úng nặng Đê biển sạt 700 m, trong đó có 300 m bị sạt lở nặng, đê sông Sò tràn 1.000 m đê bối 100% diện tích thuỷ sản bị ngập trắng, tại xã Giao An, một người chết trong khi đang cố kè lại hồ tôm;

+ Cơn bão số 7 (9/2005) đã làm sạt lở, vỡ nhiều đoạn đê, kè, cống Tổng số

23.000m đê biển Nam Định, chủ yếu tại các huyện Hải Hậu, Giao Thủy, Nghĩa Hưng bị vỡ làm ngập úng 48.300 ha diện tích lúa (trong đó mất trắng 13.000 ha, hoa màu bị mất 5.193 ha), đất đã bị nhiễm mặn nên phải 4 đến 5 năm sau mới có thể canh tác và trồng trọt được Tình trạng ô nhiễm môi trường đang ở mức báo động, diện tích gieo trồng bị tàn phá nặng nề;

+ Ảnh hưởng của cơn bão số 9 (năm 2006), một số vùng ven biển của tỉnh cũng xảy ra tình trạng nước biển dâng cao, tràn vào ruộng đồng Tại Thịnh Long, người dân cho biết mặc dù trong cơn bão số 9 ở đây không xảy ra mưa bão, nhưng nước dâng rất cao và tràn vào nhà cửa, vườn cây ngập cao lên đến hơn 1m Cả một vùng trắng xoá mênh mông nước mặn Dân bản xứ ở đây đều nói: Chưa bao giờ thấy thuỷ triều dâng cao như trong đợt vừa qua;

Trang 37

+ Kể từ năm 2005 cho đến nay, mực nước biển tại khu du lịch thị trấn Quất Lâm (huyện Giao Thủy) đã dâng cao thêm 20cm Mỗi lần thủy triều lên, mực nước biển tràn qua bờ đê này vào đường khu du lịch Năm 2007, chính quyền địa phương

đã đầu tư gia cố thêm 50 cm ngăn mực nước biển tràn vào khu du lịch thị trấn Quất

Lâm, đây là biểu hiện sâu xa có liên quan tới vấn đề biến đổi khí hậu (Số liệu này được Công ty khai thác công trình thủy lợi của huyện và trung tâm Khí tượng thủy văn của tỉnh Nam Định đo đạc và ghi nhận);

+ Trong thời gian qua, tỉnh Nam Định đã huy động nhiều nguồn kinh phí để triển khai các dự án ứng phó, khắc phục hậu quả của BĐKH tại các xã khu vực ven biển Trong đó, riêng tại các xã vùng đệm và Vườn Quốc gia Xuân Thủy (huyện Giao Thủy) đến nay đã thụ hưởng 5 dự án về quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng,

du lịch dựa vào cộng đồng, nuôi ngao bền vững, đa dạng sinh kế thân thiện với môi trường Mới đây nhất, cơ quan Hợp tác phát triển Thuỵ Điển (SIDA) đã hỗ trợ Nam Định triển khai dự án "Nâng cao sức đề kháng, phục hồi trước biến đổi khí hậu của Khu Dự trữ sinh quyển Châu thổ sông Hồng, góp phần đảm bảo hài hòa giữa bảo tồn và phát triển thông qua tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững sinh kế cộng đồng" tại huyện ven biển Giao Thuỷ;

Tình trạng biến đổi khí hậu nắng nóng, ngập úng, triều cường và xâm nhập mặn gây áp lực cho việc sử dụng đất đai, tác động xấu đến giống cây trồng, vật nuôi v.v sẽ càng làm cho tình trạng cung cấp lương thực trên trở nên bấp bênh hơn bao giờ hết Thiệt hại vật chất do thiên tai, dịch bệnh tác động chủ yếu vào nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và người dân Vì vậy tỉnh Nam Định đã điều chỉnh quy hoạch phát triển giữa công nghiệp, dịch vụ với nông nghiệp để ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu;

Hạn chế và tồn tại: Nhận thức về BĐKH và phòng chống thiên tai còn thấp;

dự báo về tác động của BĐKH đối với tỉnh và dự báo thiên lai còn hạn chế; kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH và phòng chống thiên tai còn thiếu cụ thể

1.5 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

- Với vị trí địa lý kinh tế thuận lợi, Nam Định giữ vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội khu vực nam Đồng bằng sông Hồng và cả nước Tiếp cận với Thủ đô Hà Nội - Thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa lớn, là trung tâm tài chính lớn của cả nước, nơi chuyển giao khoa học, công nghệ, kinh nghiệm quản lý đô thị nên Nam Định có nhiều lợi thế so sánh tỉnh, mở ra khả năng phát triển trong tương lai;

Trang 38

- Về điều kiện đất đai: Tỉnh Nam Định đã phát huy các tiềm năng đất đai để phát triển đa dạng, bao gồm cả nông nghiệp và thuỷ sản Đất đai Nam Định chủ yếu

là đất phù sa sông bồi lắng, có độ phì khá, có khả năng giữ nước và giữ chất dinh dưỡng tốt nên rất phù hợp với các loại cây trồng nhiệt đới Điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, nguồn nước đã tạo cho Nam Định có thảm thực vật tự nhiên khá phong phú đặc biệt là thảm thực vật ven biển với hệ sinh thái rừng ngập mặn, tài nguyên động vật mang tính chất độc đáo của vùng cửa sông, ven biển, với hàng trăm loài chim trong đó có nhiều loài được ghi vào sách đỏ quốc tế như bồ nông, cò mỏ thìa, ngỗng trời, cò trắng Trung Quốc, nguồn lợi thuỷ, hải sản khá phong phú, đa dạng Đó là những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và tăng giá trị cho hoạt động du lịch, tài nguyên nhân văn phong phú, đa dạng với nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh tạo cho Nam Định có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch;

- Điều kiện tài nguyên: Nam Định đã tận dụng lợi thế về tài nguyên biển để phát triển đánh bắt hải sản và phát triển du lịch;

- Phát triển dân số và nguồn nhân lực: Là tỉnh có nguồn lao động phong phú, chất lượng nguồn lao động cao, tỉnh đã biết phát huy lợi thế về nguồn nhân lực để phát triển ngành nghề phù hợp với các đối tượng để duy trì tăng trưởng kinh tế cao

Song điều kiện tự nhiên của tỉnh cũng còn hạn chế như:

- Khí hậu tuy ôn hòa, thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp đa dạng nhưng các yếu tố thời tiết cực đoan ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân;

- Tài nguyên khoáng sản hầu như không có;

- Quá trình khai thác nguồn tài nguyên biển chưa tương xứng với tiềm năng, còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện bên ngoài, tiềm năng du lịch và thu hút đầu tư còn hạn chế;

- Sức ép của sự gia tăng dân số, phát triển kinh tế - xã hội, cùng với sự khai thác tài nguyên quá mức và những tác động tiêu cực của con người đã và đang gây

ra những biến đổi xấu đến môi trường đất, nguồn nước, không khí, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái của tỉnh

II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI

2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Tổng GDP năm 2000 đạt 4.500,4 tỷ đồng, năm 2005 đạt 6.395,4 tỷ đồng và năm

2010 tăng lên 10.480 tỷ đồng (giá cố định năm 1994) Tốc độ tăng GDP bình quân Năm

Trang 39

2005 đạt 7,28%, và giai đoạn 2006 - 2010 đạt 10,38%, trong cả giai đoạn

2001-2010, tốc độ tăng trưởng bỡnh quõn 8,82% cao hơn tốc độ bỡnh quõn cả nước;

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế đó cú bước chuyển dịch tớch cực theo hướng tăng tỷ trọng cỏc ngành cụng nghiệp và dịch vụ Trong GDP tỷ trọng cỏc ngành nụng- lõm- thủy sản giảm từ 49,9% năm 2000 xuống cũn 29,5% năm 2010, cụng nghiệp - xõy dựng tăng từ 20,9% năm 2000 lờn 31,5% năm 2005 đạt 36,4% năm 2010 và dịch vụ giảm nhẹ từ 38,2% năm 2000 xuống 36,6% năm 2005 và giảm xuống 34,1% năm 2010 Tuy nhiờn, tốc độ chuyển dịch của cỏc ngành cụng nghiệp, dịch vụ cũn chậm, tỷ trọng cỏc ngành nụng, lõm, ngư nghiệp trong GDP của tỉnh vẫn cũn cao hơn so với bỡnh quõn chung của cả nước;

Cỏc ngành kinh tế đều đạt sự tăng trưởng liờn tục, trong đú ngành nụng lõm nghiệp và thủy sản giai đoạn 2006 - 2010 đạt 4,99%/năm, ngành cụng nghiệp và xõy dựng đạt 16,73%, khu vực dịch vụ đạt 8,84%/năm;

GDP bỡnh quõn đầu người theo giỏ hiện hành tăng từ 5,14 triệu đồng năm 2005 lờn 14,4 triệu đồng năm 2010 bằng 53% bỡnh quõn của vựng đồng bằng sụng Hồng

Bảng 2: Một số chỉ tiờu kinh tế chủ yếu qua 1 số năm

1/ GDP (Giỏ so sỏnh 1994) Tỷ đồng 4.500,4 6.396,6 10.459,0

3/ GDP bỡnh quõn đầu người (Giỏ hiện hành) Tr đồng 3.1 5,5 14,5

(Nguồn: Niờn giỏm thống kờ tỉnh Nam Định và bỏo cỏo chớnh trị Đại hội tỉnh Đảng

bộ tỉnh lần thứ XVIII)

2.2 Thực trạng phỏt triển cỏc ngành kinh tế

2.2.1 Khu vực kinh tế nụng nghiệp

Cỏc ngành nụng, lõm, ngư nghiệp trong thời gian qua cú một bước phỏt triển khỏ, tốc độ tăng trưởng bỡnh quõn hàng năm thời kỳ 2001- 2010 đạt 3,96 %, thời kỳ

Trang 40

2006 - 2010 đạt 4,9 % Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản năm 2010 đạt 4.454,1 tỷ đồng, (gấp 1,36 lần so với năm 2000 là 3.021 tỷ đồng (giá cố định 1994)) Trong đó: Nông nghiệp đạt 3.592,2 tỷ đồng, thủy sản 938,5 tỷ đồng, lâm nghiệp 23,4 tỷ đồng;

(giá cố định 1994);

Trong cơ cấu nông lâm nghiệp thủy sản, nông nghiệp có tỷ trọng giảm dần song vẫn cao, năm 2005 chiếm 83,58%, năm 2010 chiếm 84,3%, thủy sản chiếm tỷ trọng thấp 1 năm 2010 chiếm 15,26%, lâm nghiệp chiếm tỷ trọng không đáng kể 0,44% Sản xuất nông nghiệp từng bước đã hình thành một số vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung có quy mô vừa, gắn với bảo quản chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

2.2.1.1 Nông nghiệp

Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp bình quân giai đoạn 2006 - 2010 đạt 3,9%/năm, trong đó: Trồng trọt có tốc độ tăng trưởng 2,31%, chăn nuôi 7,41%, dịch vụ nông nghiệp tăng 0,52 %;

Trong ngành nông nghiệp, cơ cấu sản xuất đã có bước chuyển đổi theo hướng tăng tỷ trọng các ngành chăn nuôi và dịch vụ, xong còn chậm, tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng từ 21,02% năm 2000 lên 35,1% năm 2010; tỷ trọng ngành trồng trọt giảm

từ 73,33 % năm 2000 xuống còn 61,38 % năm 2010 Dịch vụ nông nghiệp khoảng trên 3,5%;

- Trồng trọt:

+ Cây lương thực: Sản xuất lương thực trong những năm qua có bước phát triển vượt bậc và khá vững chắc Mặc dù diện tích trồng lúa giảm nhưng sản lượng cây có hạt giữ ổn định Năm 2000 đạt 976,5 nghìn tấn Năm 2010 đạt 972,4 nghìn tấn, trong đó thóc 951,9 ngàn tấn, ngô 20,5 ngàn tấn, lương thực bình quân đầu người 531 kg/người/năm Giá trị sản phẩm trên một ha canh tác năm 2000 đạt 27,6 triệu đồng/1ha, năm 2010 đạt 75,6 triệu đồng/ha;

Cây màu chủ yếu là ngô, khoai lang Diện tích trồng ngô tăng từ 2.815 ha năm 2001 lên 4.889 ha năm 2010, sản lượng tăng từ 9.231 tấn lên 20.483 tấn Cây khoai lang diện tích, sản lượng đang có xu hướng giảm so với năm 2005 (4.153 ha), năm 2010 (2.448 ha);

Rau đậu các loại diện tích tăng từ 14.328 ha năm 2000 lên 20.279 ha năm

2010 Sản lượng rau đậu hàng năm đạt từ 165 ngàn tấn đến 238 ngàn tấn, với sản lượng trên đủ cung cấp tại chỗ cho nhân dân trong tỉnh Khả năng mở rộng diện tích

Ngày đăng: 15/11/2015, 21:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Tổng quan QH phát triển KT-XH Việt Nam - Nhà xuất bản chính trị quốc gia - Hà Nội 2002 Khác
2- Báo cáo QH, KH sử dụng đất đai quốc gia đến năm 2020 Khác
3- Kết quả tổng kiểm kê đất đai toàn quốc năm 2010, Bộ Tài nguyên và Môi trường Khác
4- Quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010 Khác
5- Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Nam Định đến năm 2020 Khác
6- Nam Định đất nước con người - NXB Văn hoá thông tin - Phạm Vĩnh Khác
7- Niên giám thống kê tỉnh Nam Định năm 2010 - Cục Thống kê tỉnh Nam Định Khác
8- Kịch bản biến đổi khí hậu nước biển dâng cho Việt Nam (2009) Bộ Tài nguyên và Môi Trường Khác
9- Quy hoạch phát triển không gian thành phố Nam Định đến năm 2020 Khác
10- Quyết định của Thủ tướng chính phủ về nâng cấp TP. Nam Định lên đô thị loại I Khác
11- Báo cáo tổng hợp nhu cầu sử dụng đất của các huyện - TP (2011 - 2020) Khác
12- Bản đồ địa giới theo 364 tỉnh Nam Định Khác
13- Bản đồ Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 tỉnh Nam Định Khác
14- Báo cáo tổng hợp 5 năm tình hình sử dụng đất (2001-2010) của Sở Tài nguyên và Môi trường Nam Định Khác
15- Đề án khai thác sử dụng đất hoang tỉnh Nam Định Khác
16- Thống kê đất đai năm 2011 tỉnh Nam Định Khác
17- Kế hoạch khai hoang, đắp đê lấn biển của Sở Nông nghiệp &amp; Phát triển nông thôn Khác
18- Thuyết minh quy hoạch tổng thể khu di tích Đền Trần và công viên Tức Mạc Khác
19- Thuyết minh quy hoạch tổng thể khu di tích Phủ Dầy Khác
20- Quyết định điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định đến năm 2025 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 6: Diện tích, cơ cấu đất đai năm 2010 - Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam Định đến năm 2020
Bảng 6 Diện tích, cơ cấu đất đai năm 2010 (Trang 82)
Bảng 8: Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp - Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam Định đến năm 2020
Bảng 8 Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp (Trang 84)
Bảng 10: Tình hình biến động diện tích đất phi nông nghiệp - Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam Định đến năm 2020
Bảng 10 Tình hình biến động diện tích đất phi nông nghiệp (Trang 105)
Bảng 17: Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế chủ yếu - Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam Định đến năm 2020
Bảng 17 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế chủ yếu (Trang 180)
Bảng 18: Dự báo nhu cầu điện đến năm 2020 - Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam Định đến năm 2020
Bảng 18 Dự báo nhu cầu điện đến năm 2020 (Trang 194)
Bảng 19: Dự báo dân số, lao động tỉnh Nam Định - Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam Định đến năm 2020
Bảng 19 Dự báo dân số, lao động tỉnh Nam Định (Trang 204)
Bảng 21: Dự kiến phân bổ quy hoạch đất lúa đến năm 2020 - Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam Định đến năm 2020
Bảng 21 Dự kiến phân bổ quy hoạch đất lúa đến năm 2020 (Trang 208)
Bảng 25: Diện tích, cơ cấu đất phi nông nghiệp năm 2020 - Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam Định đến năm 2020
Bảng 25 Diện tích, cơ cấu đất phi nông nghiệp năm 2020 (Trang 239)
Bảng 27: Phương án chia sẻ lợi ích tiềm năng - Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam Định đến năm 2020
Bảng 27 Phương án chia sẻ lợi ích tiềm năng (Trang 274)
Bảng 30: Diện tích, cơ cấu đất sử dụng đất giai đoạn 2016 – 2020 - Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam Định đến năm 2020
Bảng 30 Diện tích, cơ cấu đất sử dụng đất giai đoạn 2016 – 2020 (Trang 290)
Bảng 31: Phân bổ các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 - Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam Định đến năm 2020
Bảng 31 Phân bổ các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 (Trang 294)
Bảng 32: Chỉ tiêu sử dụng đất theo mục đích sử dụng đến từng năm kỳ  đầu 2011 – 2015 - Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam Định đến năm 2020
Bảng 32 Chỉ tiêu sử dụng đất theo mục đích sử dụng đến từng năm kỳ đầu 2011 – 2015 (Trang 297)
Bảng 33: Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp năm - Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam Định đến năm 2020
Bảng 33 Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp năm (Trang 298)
Bảng 36: Diện tích đất chuyển mục đích sử dụng từ 2011 – 2015 - Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam Định đến năm 2020
Bảng 36 Diện tích đất chuyển mục đích sử dụng từ 2011 – 2015 (Trang 323)
Bảng 37: Diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng từ 2011 - 2015 - Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Nam Định đến năm 2020
Bảng 37 Diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng từ 2011 - 2015 (Trang 324)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w