1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xây dựng đề án phát triển mô hình và chiến lược hỗ trợ kinh doanh truyền thống và thủ công mỹ nghệ

101 402 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

M ục tiêu, mục đích Mục đích của dự án là xây dựng một đề xuất chính sách hỗ trợ cho các hộ gia đình sản xuất thủ công - mỹ nghệ truyền thống, các hộ kinh doanh thương mại dịch vụ truyề

Trang 1

BAN QU ẢN LÝ DỰ ÁN WTO II ĐÀ NẴNG – SỞ CÔNG THƯƠNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BÁO CÁO

LƯỢC ĐỂ HỖ TRỢ CHO TẦNG LỚP KINH DOANH KIỂU

Đơn vị nộp Báo cáo:

CÔNG TY C Ổ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN QUANG MINH

Hà Nội, tháng 12/2012

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 5

1 Bối cảnh 5

2 Mục tiêu, mục đích 6

3 Phương pháp nghiên cứu 7

3.1 Ho ạt động điều tra khảo sát đánh giá thực trạng tại Đà Nẵng và các t ỉnh lân cận về hoạt động của tầng lớp kinh doanh kiểu truy ền thống, thu nhập thấp và một số ngành nghề thủ công sau khi gia nh ập WTO 7

3.2 Tham kh ảo, học tập những kinh nghiệm cần thiết để hỗ trợ cho các đối tượng kinh doanh kiểu truyền thống, thu nhập thấp và các ngành ngh ề thủ công sau gia nhập WTO tại Thái Lan và Hàn Qu ốc 8

4 Một số định nghĩa được sử dụng trong đề án 9

PHẦN II: CÁC PHÁT HIỆN CHÍNH TỪ QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU 12

I CÁC ĐỐI TƯỢNG LIÊN QUAN CỦA CHÍNH SÁCH 12

1 Xác định đối tượng liên quan 12

1.1 Các đối tượng trực tiếp và gián tiếp 12

1.2 Nhóm đối tượng mục tiêu của chính sách 13

2 Vai trò, mối quan hệ các bên liên quan 14

2.1 Các h ộ gia đình làm nghề thủ công truyền thống trên địa bàn Đà Nẵng và các tỉnh MT-TN khác 14

2.2 Các h ộ gia đình kinh doanh thương mại dịch vụ truyền thống trên địa bàn Đà Nẵng và các tỉnh MT-TN khác 16

2.3 Cơ quan quản lý nhà nước 16

2.4 T ổ chức hiệp hội ngành nghề 17

Trang 3

2.5 Người tiêu dùng 18

2.6 Các ngành ngh ề có liên quan 18

3 Vị trí và định hướng phát triển cho các đối tượng mục tiêu trong chính sách và quy hoạch phát triển của thành phố Đà Nẵng và khu vực Miền Trung – Tây Nguyên 19

3.1 Đối với cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp truyền thống 19

3.2 Đối với cơ sở thương mại dịch vụ truyền thống 20

4 Nguyên tắc đề xuất chính sách 21

II KINH NGHIỆM HỖ TRỢ CỦA NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA, CÁC HỘ GIA ĐÌNH KINH DOANH KIỂU TRUYỀN THỐNG 22

1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 22

2 Kinh nghiệm của Thái Lan 25

3 Tổng hợp kinh nghiệm của Hàn Quốc và Thái Lan 29

III RÀ SOÁT KHUNG CHÍNH SÁCH, PHÁP LÍ ĐỐI VỚI NGÀNH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ THỦ CÔNG - MỸ NGHỆ TRUYỀN THỐNG 31

1 Ngành thủ công - mỹ nghệ và bán lẻ (TMDV) truyền thống đều chịu ảnh hưởng của các cam kết WTO và HNKTQT 31

1.1 Đối với ngành TMDV truyền thống 31

1.2 Đối với ngành TC-MN truyền thống 32

2 Ngành phân phối bán lẻ chưa được Nhà nước xem là ngành cần ưu tiên phát triển 32

3 Các hoạt động hỗ trợ tiểu thương kinh doanh TMDV truyền thống và sản xuất TC-MN- Làng nghề còn thiếu- Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện công tác hỗ trợ, quản lý các làng nghề, sản phẩm TC-MN còn chồng chéo về chức năng 35

IV NHẬN DẠNG NHỮNG VẤN ĐỀ BẤT CẬP 37

1 Phạm vi và phương pháp xác định vấn đề bất cập 37

Trang 4

1.1 Ph ạm vi 37

1.2 Phương pháp 37

2 Nhận dạng các vấn đề bất cập từ quá trình khảo sát nghiên cứu 38

2.1 Chỉ tập trung vào thị trường “sẵn có”- kênh phân phối kém đa d ạng 38

2.2 Phương thức – công nghệ kinh doanh còn đơn giản, chậm thay đổi 45

2.3 Tầm nhìn, nhận thức về cạnh tranh, định hướng phát triển của các h ộ gia đình sản xuất, kinh doanh truyền thống còn yếu 61

2.4 Chính sách cho TC-MN ch ồng chéo, chính quyền chưa quan tâm TMDV truy ền thống 72

PHẦN III: KHUNG LOGIC ĐỀ ÁN MÔ HÌNH HỖ TRỢ HỘ KINH DOANH THỦ CÔNG - MỸ NGHỆ VÀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ TRUYỀN THỐNG TẠI ĐÀ NẴNG, MỞ RỘNG TỚI MỘT SỐ TỈNH MIỀN TRUNG - TÂY NGUYÊN 78

I XÂY DỰNG NHẬN DẠNG VẤN ĐỀ CỐT LÕI VÀ XÁC ĐỊNH CÂY VẤN ĐỀ 78

1 Nhận dạng vấn đề bất cập cốt lõi 78

2 Hệ quả của vấn đề bất cập 78

2.1 Ngh ề TC-MN truyền thống mai một: 78

2.2 Thị trường khách du lịch bị lãng phí: 79

2.3 Th ị trường hàng thủ công cao cấp bị bỏ ngỏ: 79

2.4 Phân ph ối bán lẻ nội địa tại các đô thị rơi vào tay doanh nghi ệp nước ngoài: 80

2.5 Công ăn việc làm, đời sống của tiểu thương bị ảnh hưởng 80

3 Cây vấn đề của các hộ sản xuất kinh doanh truyền thống tại Đà nẵng, mở rộng tới một số tỉnh MT-TN 81

II XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU, CHIẾN LƯỢC VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN KHUNG LOGIC CHO VĂN KIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ 84

Trang 5

1 Xác định mục tiêu và kết quả cần đạt được của chính sách 84

2 Xác định chiến lược can thiệp 85

3 Cây mục tiêu 86

4 Khung logic cho văn kiện chính sách 90

Trang 6

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 B ối cảnh

Kể từ sau khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), 11/1/2007, đời sống kinh tế xã hội Việt Nam nói chung có những biến chuyển đáng kể Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương có nhiều hoạt động

nổi bật và đã đạt được những thành tựu về kinh tế - xã hội trong thời kì hội nhập

Một trong các thành tựu nổi bật là việc thành phố đã khai thác được tiềm năng du

lịch, trở thành một trong các thành phố du lịch được ưa thích tại Việt Nam Góp

phần vào sự thành công của ngành du lịch Đà Nẵng không thể thiếu sự đóng góp

của các ngành nghề thủ công - mỹ nghệ như đá mỹ nghệ Non Nước, bánh mè Cẩm

Lệ, và các sản phẩm thủ công truyền thống của miền Trung – Tây Nguyên TN) được giới thiệu tới du khách thông qua hệ thống thương mại dịch vụ trên địa bàn Đà Nẵng Tuy nhiên, đánh giá sơ bộ cho thấy ngành thủ công - mỹ nghệ Đà

(MT-Nẵng nói chung và của MT-TN nói riêng đang gặp nhiều khó khăn trong quá trình thích nghi với những yêu cầu mới trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng Song song với ngành thủ công - mỹ nghệ mang tính truyền thống, ở cùng cấp độ hộ gia đình, các tiểu thương nằm trong hệ thống phân phối bán lẻ của Đà Nẵng, mở

rộng ra các tỉnh MT-TN đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong giai đoạn khủng

hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu trong những năm qua Hiện nay tại Việt Nam, bán lẻ hiện đại mới chỉ chiếm gần 20%, khoảng 80% là bán lẻ truyền thống (chợ đầu mối, chợ dân sinh, cửa hàng tạp hóa…) Với quy mô nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu,

vốn ít, mặt bằng nhỏ, trình độ nhận thức, chuyên môn và trình độ quản lý thấp,…

bộ phận này đang là đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất từ hội nhập, khó lòng đứng

vững trước những cạnh tranh ngày càng gay gắt, kéo theo nguy cơ mất việc làm đặc biệt cho nhà bán lẻ vùng nông thôn và dân buôn bán nhỏ ở thành thị

Tinh thần hỗ trợ cơ sở kinh tế nhỏ mang tính truyền thống là phù hợp với các văn bản định hướng của Chính phủ như Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009

về việc trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 05/5/2010 về việc triển khai thực hiện Nghị định số 56/2009/NĐ-CP; Quy hoạch phát triển Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung đến năm 2025 phê duyệt tháng

Trang 7

8/2008 Ở cấp độ tỉnh-thành phố, Đà Nẵng và các tỉnh MT-TN đã có các hoạt động quy hoạch, liên kết ngành, thực hiện hỗ trợ cho các đối tượng hộ gia đình sản xuất, kinh doanh truyền thống trong các năm vừa qua Tuy nhiên, trước sự tác động của hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, nhiều khái niệm mới đã du nhập vào Việt Nam, nhiều biến đổi kinh tế cần được các cơ sở sản xuất kinh doanh cũng như cơ quan quản lý nhà nước cập nhật và thích ứng kịp thời Dự án này được thiết kế với hi vọng tham mưu cho UBND thành phố Đà Nẵng về công tác khuyến công, xúc tiến thương mại, phù hợp với trách nhiệm của Sở Công Thương được UBND thành phố giao cho là một trong các cơ quan chủ trì triển khai thực hiện Quy hoạch xây dựng

và phát triển các làng nghề, hỗ trợ các hộ tiểu thương truyền thống của thành phố

Đà nẵng trong giai đoạn 2013 đến 2020

2 M ục tiêu, mục đích

Mục đích của dự án là xây dựng một đề xuất chính sách hỗ trợ cho các hộ gia đình

sản xuất thủ công - mỹ nghệ truyền thống, các hộ kinh doanh thương mại dịch vụ truyền thống trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, mở rộng tới một số tỉnh miền Trung – Tây Nguyên tối đa hóa các lợi ích từ hội nhập nhằm thích nghi, phát triển bền

vững trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế

Mục tiêu của dự án là:

• Nhận dạng các vấn đề tồn tại của ngành thủ công nghiệp, ngành phân phối bán lẻ ở Đà Nẵng và các tỉnh MT-TN

• Đặt ra các mục tiêu và kết quả cần đạt được của chính sách hỗ trợ cho các

hộ gia đình sản xuất kinh doanh truyền thống, từ đó đưa ra các giải pháp trong ngắn hạn và dài hạn

• Tìm kiếm những nhận thức mới của các bên liên quan về vai trò của khu

vực kinh tế hộ gia đình truyền thống trong nền kinh tế hội nhập quốc tế

• Đưa ra kiến nghị với chính quyền và các bên liên quan trong việc xây dựng chiến lược và chính sách hỗ trợ cho các hộ gia đình sản xuất và kinh doanh thương mại dịch vụ truyền thống tại Đà Nẵng, mở rộng cho khu vực MT-

TN

Trang 8

• Đề xuất 1 đề án phát triển các mô hình phát triển chiến lược nhằm hỗ trợ các tiểu thương kinh doanh thương mại dịch vụ kiểu truyền thống và hộ sản xuất kinh doanh hàng thủ công - mỹ nghệ trong điều kiện hội nhập kinh tế

quốc tế

3 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp tiếp cận đề xuất chính sách hỗ trợ cho các hộ gia đình sản xuất TC-MN, kinh doanh TMDV truyền thống trong giai đoạn 2013 -2020 gồm: nghiên

cứu tại bàn, khảo sát số liệu bằng phiếu khảo sát và phỏng vấn trực tiếp

Các “đầu vào” cho hoạt động nghiên cứu xây dựng chính sách hỗ trợ bao gồm các

hoạt động sau:

3.1 Hoạt động điều tra khảo sát đánh giá thực trạng tại Đà Nẵng và các

t ỉnh lân cận về hoạt động của tầng lớp kinh doanh kiểu truyền thống, thu nh ập thấp và một số ngành nghề thủ công sau khi gia nhập WTO

 Nội dung khảo sát:

- Đánh giá thực trạng và các vấn đề của các hộ gia đình sản xuất thủ công

- mỹ nghệ truyền thống, kinh doanh TMDV truyền thống

- Đánh giá tác động của hội nhập (tích cực và tiêu cực) đối với đối tượng khảo sát

- Các kiến nghị/nguyện vọng của các hộ gia đình sản xuất kinh doanh truyền thống với chính quyền

 Địa bàn khảo sát đối với ngành thủ công - mỹ nghệ :

Tại Đà Nẵng, các đối tượng khảo sát gồm 50 hộ sản xuất TC-MN được chia làm 4 nhóm sau đây:

- Nhóm 1: Khai thác và chế biến thủy sản

- Nhóm 2: Sản xuất điêu khắc đá mỹ nghệ

- Nhóm 3: Sản xuất nước mắm

Trang 9

- Nhóm 4: Sản xuất thủ công - mỹ nghệ

Tại các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên (Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai, Daklak), nhóm đối tượng khảo sát gồm 100 hộ gia đình thuộc nhóm ngành nghề sản xuất:

 Địa bàn khảo sát đối với ngành thương mại dịch vụ:

Tại Đà Nẵng, đối tượng khảo sát gồm 150 hộ kinh doanh thương mại dịch vụ trên 7

quận của thành phố là: Cẩm Lệ, Hải Châu, Hòa Vang, Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà, Thanh Khê

Tại các tỉnh MT-TN, đối tượng khảo sát gồm 100 hộ kinh doanh thương mại trên 5

tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai, Dak Lak

3.2 Tham khảo, học tập những kinh nghiệm cần thiết để hỗ trợ cho các đối tượng kinh doanh kiểu truyền thống, thu nhập thấp và các ngành ngh ề thủ công sau gia nhập WTO tại Thái Lan và Hàn Quốc

Trang 10

Nội dung khảo sát gồm:

- Tập trung vào tìm hiểu thực tế và học hỏi kinh nghiệm trong việc hỗ trợ hoạt động kinh doanh – thương mại cho các đối tượng kinh doanh kiểu truyền thống và các ngành nghề thủ công trong quá trình hội nhập tại các địa phương của Thái Lan và Hàn Quốc Cụ thể là:

- Chức năng, nhiệm vụ và vai trò của các cơ quan đối tác

- Tổng quan về mô hình kinh doanh kiểu truyền thống và làng nghề thủ công tại Thái Lan, Hàn Quốc (quy mô, sản phẩm, chủng loại, thị trường, tình hình sản xuất kinh doanh, giá cả…)

- Tác động của quá trình HNKTQT, đặc biệt là sự phát triển các loại hình kinh doanh hiện đại (trung tâm thương mại, siêu thị) đối với mô hình kinh doanh truyền thống

- Phương thức tổ chức, kinh doanh, quản lý các đối tượng kinh doanh truyền

thống, các làng nghề thủ công - mỹ nghệ

- Sự can thiệp và mức độ can thiệp, điều tiết của Chính quyền đối với hoạt động kinh doanh của các đối tượng kinh doanh kiểu truyền thống, thu nhập thấp và các ngành nghề thủ công (luật, chính sách, chiến lược phát triển…)

- Một số hoạt động hỗ trợ các tầng lớp kinh doanh kiểu truyền thống, thu nhập

thấp và các ngành nghề thủ công đã triển khai hiệu quả trong thời gian qua

- Các mô hình thành công và các chiến lược để hỗ trợ các đối tượng kinh doanh truyền thống và các ngành nghề thủ công tại địa phương

- Tiếp cận các ấn phẩm, cẩm nang, tài liệu giới thiệu về các hoạt động kinh doanh kiểu truyền thống và ngành nghề thủ công ở Thái Lan, Hàn Quốc

- Tham quan, khảo sát thực tế một số cơ sở kinh doanh truyền thống và các làng nghề thủ công tại Thái Lan, Hàn Quốc

• Tiểu thủ công nghiệp: sản xuất tiểu thủ công nghiệp (TTCN) là những ngành sản xuất bằng tay và bằng công cụ thô sơ hoặc cải tiến có từ lâu đời

gắn với các làng nghề hoặc các hộ làm nghề, tạo ra những mặt hàng tiêu

Trang 11

dùng truyền thống và có kỹ xảo phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Căn cứ theo Quyết định số 132/2000/QĐ TTg của Thủ tướng Chính phủ về

một số chính sách phát triển ngành nghề nông thôn ngày 24/11/2000 thì Sản xuất TTCN ở nông thôn được quy định trong quyết định này bao gồm:

o Chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản

o Sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, cơ khí nhỏ ở nông thôn;

o Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn

• Thủ công - Mỹ nghệ: nhóm chuyên gia sử dụng cụm từ này nhằm tạo ra định nghĩa đủ rộng, bao quát khái niệm sản xuất hàng tiểu thủ công nghiệp và sản xuất hàng mỹ nghệ

• Truyền thống: truyền thống là một niềm tin hoặc một cách thức được lưu truyền trong xã hội với ý nghĩa biểu tượng hoặc có ý nghĩa quan trọng có nguồn gốc trong quá khứ Truyền thống có thể tồn tại âm ỉ hoặc tiến hóa trong hàng ngàn năm Theo cách hiểu thông thường, truyền thống có lịch sử

xa xưa, tuy nhiên theo cách hiểu ngày nay thì truyền thống có thể được tạo ra theo mục đích trong một thời gian ngắn (ví dụ mục đích chính trị hoặc văn hóa)

• Sản phẩm truyền thống: là các sản phẩm mang bản chất tự nhiên và tập tục của địa phương, có nguồn gốc tại địa phương, được hoàn thành sau một loạt các bước sản xuất công phu và mang lại cảm nhận riêng biệt cho người tiêu dùng Định nghĩa về sản phẩm truyền thống không bó hẹp trong việc sản phẩm đó đã tồn tại bao nhiêu năm mà phụ thuộc vào việc sản phẩm có mang các đặc tính truyền thống nêu trên hay không Ngày nay, người tiêu dùng đóng vai trò lớn trong việc tạo ra những đổi mới đối với sản phẩm truyền

thống Các đổi mới này thường liên quan đến: tạo ra sự mới lạ, sự đa dạng, công nghệ sản xuất, nguồn gốc địa phương, sự tiện lợi

Có sự khác nhau giữa định nghĩa “truyền thống” (tiếng Anh: traditional) và định nghĩa “cũ” hoặc “tồn tại trong thời gian dài” (tiếng Anh: existence) Không phải tất cả các sản phẩm hoặc đặc tính của sản phẩm đã tồn tại trong

thời gian dài là sản phẩm truyền thống hay mang đặc tính truyền thống Chỉ những sản phẩm hoặc đặc tính sản phẩm có ý nghĩa biểu tượng mới mang tính truyền thống Do đó, trong quá trình đổi mới các sản phẩm truyền thống,

Trang 12

những đặc tính về tiện dụng như độ dài ngắn, công năng,… không liên quan tới tính biểu tượng đều có thể thay đổi

• Mô hình hỗ trợ: mô hình hỗ trợ chỉ ra những yếu tố chính mà cơ quan quản

lý nhà nước cần cung cấp cho đối tượng được hỗ trợ Mô hình hỗ trợ là một định nghĩa khác với định nghĩa “mô hình sản xuất kinh doanh”, hay có thể nói mô hình sản xuất kinh doanh được cơ quan quản lý nhà nước tư vấn cho đối tượng hỗ trợ là một giải pháp, một nội dung trong các hoạt động hỗ trợ

Trang 13

P HẦN II: CÁC PHÁT HIỆN CHÍNH TỪ QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU

I CÁC ĐỐI TƯỢNG LIÊN QUAN CỦA CHÍNH SÁCH

1 Xác định đối tượng liên quan

1.1 Các đối tượng trực tiếp và gián tiếp

Đối tượng liên quan trực tiếp đến chính sách đối với ngành sản xuất, thương

mại dịch vụ truyền thống của Đà Nẵng và mở rộng cho khu vực Miền Trung – Tây Nguyên (MT-TN) là:

- Các hộ gia đình làm nghề thủ công truyền thống trên địa bàn Đà Nẵng

- Các hộ gia đình kinh doanh thương mại dịch vụ truyền thống trên địa bàn Đà

Nẵng

- Các hộ gia đình làm nghề thủ công truyền thống trên địa bàn các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên có liên quan đến một số chính sách chung với Đà Nẵng

- Các hộ gia đình kinh doanh thương mại dịch vụ truyền thống trên địa bàn các

tỉnh miền Trung – Tây Nguyên có liên quan đến một số chính sách chung với

Đà Nẵng

- Cơ quan quản lý nhà nước bao gồm:

+ UBND thành phố Đà Nẵng, Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Công Thương, Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Tài nguyên Môi trường, Sở xây dựng

và các Sở, Ban, ngành liên quan khác của Đà Nẵng

+ UBND các tỉnh, thành phố thuộc khu vực MT-TN có liên quan đến một số chính sách chung với Đà Nẵng; các Sở, Ban, ngành có liên quan của các tỉnh, thành phố này

Trang 14

- Các tổ chức hiệp hội nghề nghiệp: bao gồm các Hiệp hội làng nghề Việt Nam (VICRAFTS), Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam (AVR), Liên hiệp các hội khoa học kĩ thuật các tỉnh, Hiệp hội chế biến và sản xuất thủy sản Việt Nam (VASEP), Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành nghề nông thôn, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa TP Đà Nẵng, Hiệp hội du lịch thành phố Đà Nẵng, Hội quy hoạch và phát triển đô thị Đà Nẵng, Hội sở hữu trí tuệ TP Đà Nẵng, v.v…

Đối tượng liên quan gián tiếp đến chính sách là:

- Người tiêu dùng: bao gồm các cá nhân người tiêu dùng Việt Nam, khách du lịch nước ngoài, các công ty và cơ quan nhà nước tham gia vào hoạt động mua bán trong vai trò người mua

- Các ngành nghề liên quan tới ngành sản xuất, thương mại dịch vụ truyền

thống, bao gồm ngành du lịch, ngành văn hóa, ngành giáo dục và đào tạo

1.2 Nhóm đối tượng mục tiêu của chính sách

Nhóm đối tượng mục tiêu của chính sách là các đối tượng chịu tác động trực tiếp bởi các vấn đề bất cập và được hưởng lợi từ các chính sách đề ra Nhóm đối tượng chính của chính sách đối với ngành sản xuất, thương mại dịch vụ truyền thống khu vực MT-TN là:

- Các hộ gia đình làm nghề thủ công truyền thống trên địa bàn Đà Nẵng

- Các hộ gia đình kinh doanh thương mại dịch vụ truyền thống trên địa bàn Đà Nẵng

- Các hộ gia đình làm nghề thủ công truyền thống trên địa bàn các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên có liên quan đến một số chính sách chung với Đà Nẵng

Trang 15

- Các hộ gia đình kinh doanh thương mại dịch vụ truyền thống trên địa bàn các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên có liên quan đến một số chính sách chung với

Đà Nẵng

2 Vai trò, m ối quan hệ các bên liên quan

2.1 Các hộ gia đình làm nghề thủ công truyền thống trên địa bàn Đà Nẵng

và các tỉnh MT-TN khác

Hộ gia đình làm nghề thủ công truyền thống là mô hình kinh tế có từ lâu đời ở nước ta, đặc biệt khi các hộ gia đình trong cùng một địa bàn làm cùng một số nghề nhất định tạo thành làng nghề truyền thống Hộ gia đình và làng nghề truyền thống có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Trong thời kì kinh tế thị trường mở cửa, hộ gia đình và làng nghề truyền thống còn đóng vai trò mật thiết đối với ngành du lịch và ngành văn hóa Theo con số khảo sát của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, ở các địa phương Miền Trung - Tây Nguyên (MT - TN) hiện nay còn lưu giữ và phát triển hơn 1.500 làng nghề có lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm như: Đúc đồng Phường Đúc, thêu Thuận Lộc, nón lá Phú Cam, hoa giấy Thanh Tiên… ở Thừa Thiên - Huế; làng đá mỹ nghệ Non Nước Đà Nẵng; làng đúc đồng Phước Kiều, làng mộc Kim Bồng, dệt lụa Mã Châu, đền lồng Hội An, rau Trà Quế… ở

Quảng Nam; làng rượu Bàu Đá, tiện mỹ nghệ Nhạn Tháp (xã Nhơn Hậu), rèn Tây Phương Danh (thị trấn Đập Đá) Bình Định; gốm Chăm Ninh Thuận, dệt thổ cẩm Tây Nguyên…

Tuy nhiên, có rất nhiều làng nghề truyền thống đang hoạt động lay lắt, lụi tàn

dần do không tìm được phương thức sản xuất phù hợp với cơ chế thị trường, sản phẩm không cạnh tranh nổi với sản phẩm công nghiệp sản xuất hàng loạt giá rẻ, không đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng Đây là một trong nhiều nguyên nhân chủ yếu làm cho không ít làng nghề nổi tiếng, nhưng

Trang 16

giờ đây chỉ còn lại là di sản của quá khứ như: làng gốm Phước Tích, làng vàng

Kế Môn, rèn Hiền Lương, dệt zèng A Lưới (Thừa Thiên - Huế), làng gốm Thanh Hà, làng trống Lâm Yên (Quảng Nam)

Hiện nay, các hộ gia đình và làng nghề truyền thống đã và đang được các cơ quan chính quyền, chủ yếu là các UBND tỉnh, thành phố quan tâm hỗ trợ nhằm khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống Các hoạt động hỗ trợ chủ yếu bao gồm tổ chức hội thảo, tổ chức hội chợ triển lãm hàng thủ công - mỹ nghệ, quy hoạch tập trung cho các cụm làng nghề truyền thống nhằm đảm bảo điều kiện thuận lợi trong việc xử lí ô nhiễm môi trường và dễ dàng tiếp cận khách hàng Chính quyền một số tỉnh, thành phố cũng có những hỗ trợ tích cực đối với các hộ gia đình và làng nghề truyền thống trong hoạt động đăng kí và bảo

hộ nhãn hiệu

Với vai trò là một nhà sản xuất, các hộ gia đình và làng nghề truyền thống có mối liên hệ mật thiết với kênh phân phối của mình, hiện nay chủ yếu là các tiểu thương Các tiểu thương là đa phần là các hộ gia đình kinh doanh thương mại

dịch vụ trong hoặc ngoài địa bàn của hộ gia đình và làng nghề truyền thống Với vai trò là khách hàng, các hộ gia đình làm nghề thủ công truyền thống có

sự tương tác với các ngân hàng, các doanh nghiệp cung cấp nguyên vật liệu và máy móc

Là một mô hình kinh tế nhưng đồng thời cũng là một mô hình xã hội nơi lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống, hộ gia đình và làng nghề truyền thống tại miền Trung – Tây Nguyên có thể tham gia vào nhiều tổ chức xã hội nghề nghiệp như Hiệp hội làng nghề Việt Nam, Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam,

Hiệp hội du lịch của các địa phương v.v… Tuy nhiên, hiện nay mối quan hệ với các tổ chức xã hội nghề nghiệp của các hộ gia đình và làng nghề truyền thống còn khá lỏng lẻo và chưa đạt được những hiệu quả mong muốn

Trang 17

2.2 Các h ộ gia đình kinh doanh thương mại dịch vụ truyền thống trên địa bàn Đà Nẵng và các tỉnh MT-TN khác

Là một phần của hệ thống thương mại dịch vụ cả nước, các cửa hàng thương

mại dịch vụ truyền thống theo mô hình hộ gia đình trên địa bàn Đà Nẵng và các

tỉnh MT-TN đang chiếm tỷ lệ doanh số lớn nhất của ngành bán lẻ, có cơ sở phủ khắp các địa bàn từ nông thôn tới đô thị Ước tính đến cuối năm 2012 tổng số chợ trong cả nước là khoảng 8.703 chợ (tăng gần 1% so với năm 2011); trong

đó 14 tỉnh miền Trung- Tây nguyên có khoảng 1602 chợ, chiếm 18,4% số chợ

cả nước, nhiều nhất là chợ loại III 1.374 chợ, khoảng 51 chợ nông sản, trong đó

có 14 chợ nông sản đầu mối, nhiều nhất là Quảng Bình (3 chợ), Quảng Trị (3 chợ), Đắc Nông (2 chợ), Đà Nẵng, Thừa Thiên- Huế , chợ loại I khoảng 99 chợ Bên cạnh chợ, các cửa hàng thương mại dịch vụ hoạt động độc lập có số lượng tương đối lớn nhưng chưa có con số thống kê chính thức

Cửa hàng thương mại dịch vụ truyền thống có mối quan hệ gần gũi và gắn bó với chính quyền địa phương cấp huyện, xã Không chỉ đóng góp cho ngân sách địa phương, tài trợ cho các hoạt động trên địa bàn mà còn tạo ra nhiều công ăn

việc làm, giải quyết vấn đề an sinh xã hội của địa phương Các cửa hàng TMDV truyền thống có quan hệ rất tốt đối với người tiêu dùng địa phương thông qua giao tiếp cá nhân và cá nhân Các cửa hàng truyền thống nhận được

sự quan tâm hỗ trợ khiêm tốn từ phái các tổ chức hiệp hội ngành nghề

2.3 Cơ quan quản lý nhà nước

Cơ quan quản lý nhà nước của thành phố Đà Nẵng đóng vai trò trợ giúp, quản

lý về mặt pháp luật và chiến lược phát triển tổng thể của ngành thủ công nghiệp truyền thống, ngành thương mại dịch vụ truyền thống trên quy mô thành phố

Đà Nẵng Ngoài ra, chính quyền Đà Nẵng còn đóng vai trò đầu mối trung tâm liên kết các chính quyền các tỉnh, thành phố MT-TN trong một số chính sách chung như chính sách về đào tạo nguồn nhân lực, thử nghiệm các mô hình mới dành cho sản xuất, thương mại dịch vụ truyền thống

Trang 18

Sự phát triển của đối tượng mục tiêu phù hợp với định hướng của chính quyền tỉnh, thành phố sẽ giúp cơ quan quản lý nhà nước thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, đồng thời cơ quan quản lý nhà nước có sự điều chỉnh chính sách, công cụ quản lý phù hợp với thực tế UBND các tỉnh, thành phố đóng vai trò quyết định trong việc xác định mục tiêu của địa phương, từ đó có quyết định về quy hoạch cho các làng nghề truyền thống, các cửa hàng bán lẻ trên cơ sở cân đối các mục tiêu của địa phương

Hiện nay, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan quản lý nhà nước phụ trách các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp truyền thống Sở Công Thương là cơ quan phụ trách các cửa hàng thương mại dịch vụ truyền thống Phòng kinh tế các quận, huyện là cơ quan cấp giấy đăng kí kinh doanh cho các

hộ sản xuất, kinh doanh thương mại dịch vụ truyền thống Sở xây dựng chịu trách nhiệm về quy hoạch, trong đó có quy hoạch về địa điểm dành cho các cơ

sở sản xuất, thương mại dịch vụ Trung tâm WTO Đà Nẵng, trực thuộc Sở Công Thương Đà Nẵng là một đơn vị có chức năng mang tính chất đầu mối để triển khai các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế và WTO của UBND Thành

phố, Ủy ban quốc gia về Hội nhập kinh tế quốc tế cũng như để hỗ trợ, giúp đỡ các đơn vị, trong đó có các cơ sở truyền thống, thực hiện chương trình, kế hoạch về hội nhập kinh tế và gia nhập WTO

Cơ quan quản lý nhà nước của các tỉnh, thành phố khu vực MT-TN ngoài Đà

Nẵng phối hợp với chính quyền Đà Nẵng và Trung tâm WTO Đà Nẵng triển khai các hoạt động liên kết chung trong khu vực

2.4 Tổ chức hiệp hội ngành nghề

Các tổ chức hiệp hội nghề nghiệp đóng vai trò cầu nối các bên liên quan Sự hợp tác của các đối tượng quyết định sự thành công của tổ chức hiệp hội nghề nghiệp Một trong các cam kết quan trọng khi Việt Nam gia nhập WTO là Nhà nước sẽ không can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vì thế vai trò của các hiệp hội càng được nâng cao.Với vai trò là cầu nối, các hiệp hội

Trang 19

thường có tiếng nói trung tính và bảo vệ quyền lợi cho tất cả các bên.Các hiệp hội là tổ chức xã hội nghề nghiệp, vì vậy hầu hết hoạt động dựa trên sự tự nguyện và kinh phí tài trợ của các tổ chức phi chính phủ hoặc các doanh nghiệp Một trong các thế mạnh của các hiệp hội là nhân sự hiệp hội đã từng công tác tại cơ quan quản lý nhà nước, vì vậy nắm vững được các chủ trương, chính sách và phương thức hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước Từ đó

có điều kiện và cách thức phù hợp để đại diện cho các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp truyền thống, cửa hàng thương mại dịch vụ truyền thống, người tiêu dùng, nhà sản xuất… đề xuất chính sách

2.5 Người tiêu dùng

Người tiêu dùng là một trong các bên liên quan gián tiếp đến hệ thống chính sách đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thương mại dịch vụ truyền thống Ngày nay, người tiêu dùng vừa đóng vai trò quyết định tới sự thành công của các cơ sở này, vừa đóng vai trò người bị tác động như các tác động từ an toàn

vệ sinh thực phẩm, dịch vụ sau bán hàng, v.v… Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010) là một trong các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, thể

hiện vai trò và mối quan hệ của người tiêu dùng tới các bên liên quan khác trong hệ thống chính sách của ngành

2.6 Các ngành nghề có liên quan

Mặc dù ngành du lịch, văn hóa, giáo dục là các đối tượng có liên quan gián tiếp

tới sự phát triển của các cơ sở sản xuất, thương mại dịch vụ truyền thống, các ngành này đóng vai trò quan trọng đối với các đối tượng mục tiêu của chính sách Ngành du lịch ngày càng trở nên quan trọng đối với các làng nghề truyền

thống trong việc mở rộng thị trường của các cơ sở này tới đối tượng khách du

lịch trong và ngoài nước Ngành du lịch cũng đặt ra các đòi hỏi về tính chất, phong cách phục vụ, các xu hướng về hàng hóa đối với các cửa hàng thương mại dịch vụ truyền thống trên địa bàn Đà Nẵng cũng như các tỉnh MT-TN khác

nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách Ngành văn hóa ít liên quan tới hoạt động

sản xuất kinh doanh cụ thể của các đối tượng mục tiêu nhưng là ngành có vai

Trang 20

trò định hướng trong việc duy trì các tính chất đặc thù địa phương không chỉ trong sản phẩm mà còn trong phương thức kinh doanh, bảo tồn và lưu truyền những giá trị riêng có của các cơ sở địa phương, góp phần tạo nên lợi thế cạnh tranh cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh thương mại dịch vụ truyền thống Ngành giáo dục đào tạo có ảnh hưởng hỗ trợ về nguồn nhân lực cho tất cả các ngành kinh tế, trong đó có sản xuất, thương mại và dịch vụ truyền thống

3 V ị trí và định hướng phát triển cho các đối tượng mục tiêu trong chính sách và quy ho ạch phát triển của thành phố Đà Nẵng và khu vực Miền Trung – Tây Nguyên

3.1 Đối với cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp truyền thống

Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 về Phát triển ngành nghề nông thôn

có quy hoạch và đưa ra định hướng phát triển đối với hộ kinh doanh cá thể đăng

ký theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và các làng nghề, cụm cơ

sở ngành nghề nông thôn Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có các chính sách khuyến khích đối với các hộ gia đình và làng nghề truyền thống như sau:

a) Bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống;

b) Phát triển làng nghề gắn với du lịch;

c) Phát triển làng nghề mới

Để thực hiện các chính sách này, một số biện pháp khá toàn diện đã được đề cập tại nghị định này như hỗ trợ mặt bằng sản xuất, đầu tư, tín dụng, xúc tiến thương mại, khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực

Ở cấp độ địa phương, cụ thể là thành phố Đà Nẵng, định hướng phát triển cho

hộ gia đình và làng nghề truyền thống tại Nghị định 66/2006/NĐ-CP đã được

Trang 21

các Sở liên quan đưa ra các định hướng cụ thể Đặc biệt đối với làng nghề đá

mỹ nghệ Non Nước, một số chính sách ưu đãi về đất, về bảo vệ môi trường đã được triển khai thực hiện theo chương trình 68 của Chính phủ

3.2 Đối với cơ sở thương mại dịch vụ truyền thống

Quyết định số 8374/QĐ-UBND ngày 01 tháng 11 năm 2010 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc Phê duyệt quy hoạch phát triển một số ngành dịch vụ thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 có quan điểm phù hợp với quan điểm phát triển đa dạng tất cả các loại hình thương mại dịch vụ theo quy hoạch

tại Quyết định 3098/QĐ-BCT của Bộ Công Thương ngày 24/6/2011 Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển thương mại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 Cụ thể, quyết định 8374/QĐ-UBND nêu rõ: “Phát triển thương mại gắn với sự phát triển của các thành phần kinh tế; quan tâm các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ

kinh doanh và hình thành các doanh nghiệp lớn theo mô hình tập đoàn, có hệ thống phân phối hiện đại, có vai trò dẫn dắt thị trường”

Mục tiêu phát triển đối với cơ sở thương mại dịch vụ truyền thống tại QĐ 8374/QĐ-UBND đề cấp tới hai loại hình là thương mại bán buôn và thương mại bán lẻ

- Đối với loại hình bán buôn: đầu tư Trung tâm thương mại bán buôn Chợ Cồn; Trung tâm thương mại bán buôn Hòa Minh; chợ gia súc, gia cầm (Hòa Phước – Hòa Vang); Chợ vật liệu xây dựng (Liên Chiểu) và mở rộng chợ đầu mối nông sản (Hòa Cường – Hải Châu) Quy hoạch đầu tư một tổng kho hàng với diện tích 30-50 ha, tại địa điểm là đầu mối giao thông thuận lợi trên đại bàn thành

phố Đà Nẵng

- Đối với loại hình bán lẻ:

Trang 22

+ Đầu tư xây dựng 3 chợ truyền thống văn minh: Chợ Hàn, chợ trung tâm mua sắm Đà Nẵng và chợ An Hải Đông

+ Định hướng phát triển một số khu phố chuyên doanh trên địa bàn thành phố: Các đường: Bạch Đằng, Trần Hưng Đạo, Hoàng Sa, Trường Sa, Nguyễn Tất Thành là các khu phố chuyên về các ngành dịch vụ: du lịch, nhà hàng, khách sạn, vui chơi giải trí; Đường Nguyễn Văn Linh: dịch vụ tài chính Đường Lê Duẩn, Phan Châu Trinh, Hùng Vương: phố thời trang; các điểm phân phối, mua bán sản phẩm lưu niệm của thành phố phục vụ khách du lịch tại các khu thương

mại và các điểm du lịch Trong đó, quan trọng là hình thành khu phố buôn bán

hàng m ỹ nghệ trong quy hoạch Công viên Văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn

4 Nguyên t ắc đề xuất chính sách

Một trong những khó khăn của việc thiết kế và đề xuất chính sách là làm sao hài hòa được quyền lợi của các đối tượng Trong quá trình thiết kế đề xuất chính sách, một số nguyên tắc cần thống nhất:

- Các đối tượng mục tiêu cần được phát huy tối đa ưu điểm của mỗi đối tượng

để góp phần hoàn thiện mô hình phối kết hợp giữa sản xuất truyền thống và thương mại dịch vụ truyền thống Tránh đưa ra các đề xuất chính sách theo hướng giảm lợi ích của đối tượng này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng còn lại

- Đối với các đối tượng có mâu thuẫn về quyền lợi giá cả, lợi nhuận, thực hiện nguyên tắc tôn trọng sự điều tiết của thị trường nhưng không vi phạm các lợi ích lâu dài của toàn bộ hệ thống

- Đối với các đối tượng có mâu thuẫn về quyền lợi thông tin, các chính sách đề xuất theo hướng minh bạch hóa tối đa những thông tin mà pháp luật cho phép

Trang 23

II KINH NGHI ỆM HỖ TRỢ CỦA NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI CÁC DOANH

Hàn Quốc có diện tích và dân số trung bình, nên chủ trương của họ là vừa tập trung đầu tư trong nước để đáp ứng nhu cầu thị trường ngoài ra còn mở

rộng ra nước ngoài để giải phóng năng lực tạo ra giá trị tăng thêm Chính quyền Hàn Quốc luôn xây dựng hệ thống nền kinh tế mở, đảm bảo cạnh tranh công bằng cho tất cả các thành phần kinh tế ở trong và ngoài nước Hàn Quốc đã khai thác hết những lợi thế, cũng như vượt qua được những thách thức mà WTO đem lại (từ năm 1994 - tiền thân là GATT - Hiệp định chung về thuế quan và thương mại) và đang hướng tới tới tầm cao mới là thúc đẩy lợi thế, tăng thêm

độ mở của nền kinh tế và tập trung vào tăng trưởng xanh bằng việc đã và đang đàm phán, ký kết các Hiệp định về khu vực mậu dịch tự do FTAs (7 hiệp định

đã có hiệu lực, đã ký với Hoa Kỳ, đang đàm phán với 7 quốc gia và vùng lãnh

thổ, liên minh kinh tế và đưa vào xem xét chuẩn bị đàm phán với 12 quốc gia, liên minh kinh tế, trong đó có Việt Nam), không những tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lớn (Hyundai, Samsung ) và còn hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs)

Theo Viện Chính sách kinh tế quốc tế Hàn Quốc, Hàn Quốc có rất nhiều chính sách để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong đó có các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại địa phương để đạt được sự phát triển cân bằng Bằng chứng là tỉ lệ sản phẩm xuất khẩu của các SMEs ngày càng tăng lên Một trong số các hoạt động

đó là hỗ trợ các SMEs phát triển thương mại điện tử để tạo cơ sở dễ dàng thâm

nhập vào thị trường thế giới Bên cạnh đó, chính quyền thiết lập các cổng thông tin để cung cấp các thỏa thuận quốc tế đã ký kết để các doanh nghiệp nắm thông tin về thị trường, ngoài ra còn cung cấp các dịch vụ “một cửa” để tận dụng những ưu đãi từ các thỏa thuận, hiệp định thương mại quốc tế (http://www.ftahub.go.kr) Chính quyền cũng làm trung gian phối hợp và thiết lập

cơ chế trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp vừa và nhỏ để cùng nhau phát triển

Trang 24

Các doanh nghiệp xuất khẩu chưa tận dụng được các ưu đãi từ các thỏa thuận thương mại quốc tế còn được chính quyền hỗ trợ bằng việc cử chuyên gia tư vấn trực tiếp (gọi là các FTA Doctor) về những hoạt động có liên quan đến xuất

nhập khẩu, những vấn đề thị trường các nước đã ký kết Hiệp định… Chính phủ cũng gửi các giám đốc doanh nghiệp SME đến các nước FTA đối tác để nghiên cứu các hoạt động sản xuất công nghiệp, thương mại có liên quan và những lợi ích mà đối tác tận dụng được từ thỏa thuận thương mại quốc tế được kí kết, trực

tiếp tìm kiếm cơ hội kinh doanh…

Đối với người tiêu dùng và tầng lớp kinh doanh kiểu truyền thống, thu nhập

thấp như nông dân, ngư dân… được bảo hộ sản phẩm hàng hóa và dịch vụ bằng Luật hỗ trợ điều chỉnh thương mại (Law on Trade Adjustment Assistance) và Luật đặc biệt trợ giúp nông dân và ngư dân (Special Law on Assisting Farmers and Fishermen for Damages)…, ngoài ra còn có những chính sách về hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp SME… Chính phủ cũng đã thiết lập các Trung tâm hỗ trợ FTA (FTA Utilizing Support Centers) địa phương tại 8 vùng chính ở các tỉnh Kyungki, Incheon và Busan để nhận sự hỗ trợ của Chính phủ, thiết lập cơ

chế hỗ trợ theo hệ thống từ Trung ương xuống địa phương với sự hỗ trợ trực

tiếp của Bộ Tài chính và Chiến lược Hàn Quốc Lĩnh vực hỗ trợ chủ yếu là đào tạo công nhân, tư vấn kinh doanh, phát triển dịch vụ marketing ở nước ngoài, chiến thuật thực hiện ưu đãi từ FTA… Ngoài ra, nhiều Khu kinh tế mở được thiết lập để tăng cường đầu tư ở khu vực địa phương

Đối với khu vực doanh nghiệp, đại diện của Tập đoàn Lotte chia sẻ một số kinh nghiệm về chiến lược phát triển của công ty và các hoạt động hỗ trợ mà công ty dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong hệ thống của mình Tập đoàn Lotte có 5 vấn đề lớn trong chiến lược phát triển kinh doanh của mình: Thường xuyên phát triển và cải tiến sản phẩm; Ổn định nguồn lực tài chính;

Củng cố tổ chức và hoạt động quản lý; Mở rộng thị trường và tăng cường quan

hệ với đối tác; Phát triển các hoạt động giao lưu văn hóa hỗ trợ cho phát triển kinh doanh Việc duy trì thường xuyên và đồng thời 5 chiến lược trong quá trình phát triển kinh doanh của mình đã hình thành nên đặc trưng về văn hóa doanh nghiệp cho tập đoàn, từng bước tạo nên thành công của cả tập đoàn ngày hôm nay Bên cạnh chiến lược kinh doanh, Lotte còn đưa ra các chương trình, chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ nằm trong hệ thống của mình và

hỗ trợ các doanh nghiệp để được tích hợp vào hệ thống: phát triển các nhãn

Trang 25

hiệu nhỏ dành riêng cho Lotte và hình thành các hiệp hội riêng để hỗ trợ và phát triển cho mỗi nhãn hiệu; hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ nghiên cứu phát triển sản phẩm mới để đưa vào hệ thống Lotte; hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ với lãi suất ưu đãi; hỗ trợ về đào tạo, nâng cao kĩ năng cho nhân lực của các công ty này; thiết lập website chung để tạo cầu nối giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm giữa tập đoàn và các nhà cung cấp, luôn duy trì và phát triển tốt mối quan hệ giữa bên trong và bên ngoài tập đoàn… Khi Lotte đầu tư vào Đà Nẵng trong thời gian đến, hứa hẹn sẽ mang lại nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Đà Nẵng có cơ hội để thâm nhập vào

một hệ thống phân phối lớn và cơ hội để nâng cao năng lực, tìm kiếm đối tác, phát triển kinh doanh

Bên cạnh đó, trên phương diện của một tổ chức đại diện và hỗ trợ doanh nghiệp, KOIMA cho rằng một cơ quan chuyên làm công tác hỗ trợ, tư vấn cho doanh nghiệp, trước hết phải xác định nguyên tắc cơ bản: lắng nghe và thực hiện - lắng nghe, tìm hiểu nhu cầu của doanh nghiệp, sau đó hỗ trợ họ thực hiện những nguyện vọng đó Xác định nguyên tắc đó trong suốt quá trình hoạt động

của mình, KOIMA thành lập các tổ dịch vụ thông tin làm cầu nối với các doanh nghiệp thành viên và hàng năm liên tiếp tổ chức các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp với các loại hình rất phong phú (tư vấn, nghiên cứu thị trường, tổ chức đoàn giao thương, tìm kiếm đối tác, tổ chức các sự kiện xúc tiến thương mại, liên hệ kí kết các biên bản ghi nhớ hợp tác để hỗ trợ doanh nghiệp với các cơ quan tổ chức nước ngoài, mở các lớp huấn luyện cho học viên đến từ các doanh nghiệp không chỉ trong nước mà cả các doanh nghiệp đến từ các nước đang phát triển…) Chi phí cho các hoạt động của KOIMA đều được lấy từ nguồn ngân sách do các doanh nghiệp hội viên đóng góp và do Nhà nước hỗ trợ Các

hoạt động hỗ trợ, tư vấn doanh nghiệp của KOIMA ngày càng được doanh nghiệp tìm đến và xem đó là một đầu mối đáng tin cậy Thành công của một cơ quan hỗ trợ doanh nghiệp như KOIMA còn thể hiện ở cơ cấu tổ chức khoa học, chặt chẽ với các phân ban phụ trách theo các nhóm hàng chính cùng mối quan

hệ gần gũi, gắn bó và hệ thống chia sẻ thông tin chuyên nghiệp với các hiệp hội thương mại khác trên toàn quốc

Bên cạnh đó, các cơ quan cũng chia sẻ một trong những yếu tố cốt lõi trong hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp để nâng cao năng lực và sức cạnh tranh trên trường quốc tế là vấn đề giáo dục, đào tạo Hàn Quốc có dân số khoảng 50 triệu

Trang 26

dân, các nguồn lực tự nhiên khan hiếm, do đó họ tập trung vào yếu tố con người

để phát triển đất nước Đặc biệt, họ thường xuyên gửi người đi học tập ở nước ngoài, các nước phát triển để mang kiến thức, kinh nghiệm về phục vụ phát triển tại đất nước

Riêng đối với hoạt động khảo sát thực tế, có thể thấy rằng hệ thống kết cấu

hạ tầng của bạn rất hiện đại, đặc biệt là giao thông, trung tâm mua sắm, tài chính… Seoul vẫn tồn tại hệ thống chợ truyền thống, sử dụng những khu phố

nhỏ, ít xe qua lại để bố trí cho tiểu thương kinh doanh ở lòng đường như quần

áo, mỹ phẩm, tạp hóa phục vụ du khách và nhân dân Các chợ truyền thống (lương thực, thực phẩm) cơ sở vật chất cũng giống như Việt Nam, nhưng bố trí

lô rộng (để trưng bày hàng hóa), thông thoáng, có nhiều hướng mở ra đường giao thông Đặc biệt, tại Hàn Quốc, hoạt động kinh doanh tại chợ truyền thống

và một số loại hình truyền thống khác được khai thác triệt để và hiệu quả, tạo thuận tiện cho người mua hàng bởi sự kết hợp nhịp nhàng của hệ thống mua sắm với hệ thống giao thông trên bộ, giao thông ngầm (Metro)

Bên cạnh duy trì và phát triển hệ thống chợ truyền thống, trong môi trường ngày càng hội nhập sâu rộng với quốc tế, Hàn Quốc vẫn còn lưu giữ và bảo tồn được các hoạt động và ngành nghề thủ công truyền thống Qua khảo sát tại Làng dân tộc truyền thống của Hàn Quốc, Đoàn khảo sát có thể thấy được một

hệ thống các hoạt động cổ truyền của nhân dân Hàn Quốc được quy hoạch tại một khu vực riêng với sự kết hợp giữa du lịch, trưng bày và buôn bán Tại đây,

tất cả các loại hình từ làm gốm, chế biến đồ gỗ, chế biến các món ăn cổ truyền, đan lát… cho đến các hoạt động vui chơi, ca múa truyền thống của người Hàn Quốc vẫn hàng ngày được thực hiện cho khách tham quan và mua sắm

Thái Lan đặc trưng là một quốc gia nông nghiệp và Phật giáo Từ năm 1985 đến 1995, kinh tế Thái Lan phát triển nhanh và trở thành nước công nghiệp mới trong đó du lịch có những điểm đến nổi tiếng như Pattaya, Bangkok, Phuket

và xuất khẩu đóng góp quan trọng vào nền kinh tế

Thái Lan là một trong những nước sáng lập ra Tổ chức Thương mại thế giới nên tác động đến doanh nghiệp khi hội nhập là tương đối ít, ngoài ra các doanh nghiệp cũng đã chủ động đối phó với các luật chơi của WTO Theo Vụ Nội thương – Bộ Thương mại Thái Lan và Phòng Thương mại Thái Lan, Chính phủ

Trang 27

và các các cơ quan nhà nước Thái Lan chỉ quản lý doanh nghiệp trên hệ thống luật và điều tiết, định hướng vĩ mô, còn sự hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh là do các hiệp hội ngành nghề với sự tham gia tự nguyện của các doanh nghiệp Ngoài ra, nhà nước còn hỗ trợ (nếu có) doanh nghiệp chủ

yếu về cung cấp thông tin và các chương trình tập huấn

Đối với công tác quản lý, phát triển thị trường nội địa: Bộ máy quản lý nhà nước Thái Lan không có các cơ quan tham mưu chuyên ngành địa phương như

cấp Sở ở Việt Nam Tuy nhiên, Bộ Thương mại của Thái Lan xây dựng hệ

thống cập nhật và xử lý thông tin đến từng các địa phương (ở mỗi Vụ, Cục đều

có các phòng chức năng gọi là Operation Room để đảm trách công việc này) Những người này sẽ là những nhà cung cấp thông tin hằng ngày về nguồn cung, giá cả, xu hướng của thị trường, từ đó Bộ Thương mại (thông qua Vụ Nội thương) sẽ có những chính sách kịp thời nhằm định hướng thị trường thông qua

việc kiểm soát nguồn nguồn cung điều tiết thị trường hoặc trong trường hợp cấp bách có thể cho nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu khi cần thiết

Đối với công tác phát triển hệ thống kinh doanh truyền thống tại Thái Lan: Ở Thái Lan, kể từ khi hệ thống kinh doanh hiện đại xâm nhập thị trường và phát triển với tốc độ nhanh chóng, mặc dù có những đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế của Thái Lan nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến bộ phận các đối tượng kinh doanh truyền thống nhỏ lẻ (do năng lực cạnh tranh) và các nhà sản xuất cung cấp sản phẩm cho các hệ thống kinh doanh hiện đại này Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đó, với sự hỗ trợ của Nhà nước, các đối tượng kinh doanh truyền thống nhỏ lẻ tại Thái Lan đã có những cải tiến, tự phát triển về công nghệ, trang thiết bị và chất lượng phục vụ để có thể cạnh tranh trên thị trường và một số nơi còn cạnh tranh bằng việc kinh doanh những sản phẩm khác biệt Bên cạnh đó, ở Thái Lan, hệ thống kinh doanh truyền thống và hiện đại vẫn có những mối quan hệ nhất định để hỗ trợ cùng phát triển Ví dụ như tại Tập đoàn CP, họ thường xuyên tổ chức 4 đến 5 buổi hội thảo miễn phí trong một năm về các vấn đề nâng cao chất lượng dịch vụ, cải thiện phương thức hoạt động kinh doanh dành cho các cửa hàng truyền thống tham dự Đổi lại, những

cửa hàng, đối tượng kinh doanh truyền thống này lại là người cung cấp sản phẩm cho CP để phân phối trong hệ thống của CP đến tay người tiêu dùng Nội dung quan trọng nhất mà Đoàn tìm hiểu và học tập được là mô hình

“Mỗi làng một sản phẩm” (OTOP – One Tambon One Product) – Một chương

Trang 28

trình quan trọng do Chính phủ Thái Lan phát động nhằm hỗ trợ và khuyến khích người dân nông thôn để họ có thể tự phát triển sự nghiệp cho mình thông qua hoạt động sản xuất, chế biến các sản phẩm thủ công truyền thống Chương trình OTOP được Chính phủ Thái Lan lấy ý tưởng từ tỉnh OITA của Nhật Bản

và bắt đầu đi vào thực hiện từ năm 2001 Đến nay đã có hơn 60.000 doanh nghiệp và cơ sở tư nhân ở Thái Lan tham gia chương trình này với những sản phẩm phong phú về chất liệu, mẫu mã, đa dạng về kiểu mẫu Mỗi làng tập trung

sản xuất một sản phẩm duy nhất từ những nguyên liệu thô của chính địa phương họ Họ sử dụng kiến thức và kinh nghiệm của mình để phát triển sản

phẩm Đây cũng là một thực tiễn áp dụng của Thuyết kinh tế vừa đủ tại Thái Lan

Mục tiêu của Chương trình là tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, thúc đẩy nông dân ở lại làm ăn ở quê hương mình, tránh sự tập trung dân số quá đông về các khu vực thành thị; tăng cường năng lực cho cộng đồng địa phương

để có thể tự phát triển; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tận dụng và phát triển kiến thức, kinh nghiệm địa phương; khuyến khích sự sáng tạo của dân chúng để phát triển những sản phẩm tuân theo những chuẩn mực và đặc trưng

của nền văn hóa và cuộc sống tại địa phương

Nguyên tắc của Chương trình là không trao trợ cấp cho các địa phương, các làng nghề vì điều này không thể thúc đẩy sự tự phát triển của mỗi địa phương, làng nghề Chính phủ hỗ trợ họ về chính sách và công nghệ và đóng vai trò là người quản lý, giám sát kết nối các sản phẩm từ mỗi làng nghề đến với thị trường trong nước và quốc tế thông qua hệ thống mạng lưới lưu trữ và Internet

để hỗ trợ xúc tiến quá trình phát triển ở mỗi địa phương Trong marketing, người ta thường dùng tên gọi “Tập đoàn một sản phẩm” (One product Corporation) để nói về hoạt động đưa hàng hóa ra thị trường của các địa phương, làng nghề trong Chương trình OTOP

Những quan điểm chính sách chính của Chương trình OTOP gồm có:

- Phát triển sản phẩm mang tiêu chuẩn quốc tế: Các sản phẩm có thể dễ dàng được nhận biết và có tiềm năng phân phối hiệu quả ở các thị trường địa phương, quốc gia, khu vực và quốc tế

- Phát triển sản phẩm mang tính độc nhất: Độc nhất nghĩa là các sản phẩm sử dụng chính nguồn nguyên liệu và tài nguyên thô có sẵn ở địa phương làm ra sản

Trang 29

phẩm Với tinh thần kế thừa sâu sắc những kinh nghiệm của những người đi trước truyền lại từ đời này sang đời khác, các làng nghề sản xuất ra các sản phẩm có giá trị và dễ nhận biết Do đó, tuy mang tiêu chuẩn quốc tế nhưng các

sản phẩm vẫn mang đậm nét văn hóa của địa phương và là nét nổi bật của địa phương đó

- Phát triển năng lực cho con người và cải tiến kỹ thuật thông qua sự hỗ trợ từ Chính phủ

Những chiến lược và hoạt động chính của Chương trình:

- Tận dụng nguồn tài nguyên, kiến thức và kinh nghiệm địa phương để sản xuất

ra những sản phẩm mang thuộc tính địa phương nổi bật

- Tập trung sản xuất những sản phẩm thân thiện với môi trường

- Hỗ trợ cho làng nghề về hoạt động marketing, đặc biệt chú trọng thường xuyên tổ chức các hội chợ triển lãm sản phẩm làng nghề trong và ngoài nước và

tổ chức các trung tâm phân phối sản phẩm OTOP trên khắp đất nước

- Đẩy mạnh giáo dục đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

- Xúc tiến phát triển kinh tế địa phương và kinh tế vùng

- Thiết lập sự liên kết mạnh mẽ, chuyên nghiệp giữa các hiệp hội

- Nhấn mạnh sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan Trung ương và địa phương trong quá trình sản xuất cũng như mở rộng thị trường quốc gia và quốc tế cho các sản phẩm thông qua hệ thống bán lẻ và mạng Internet

Để có được thành công của Chương trình này, ngoài việc xây dựng kế hoạch triển khai phù hợp các chiến lược và hoạt động, lựa chọn phát triển các sản

phẩm độc đáo, chất lượng thì bên cạnh đó còn có nhiều hoạt động thực tiễn quan trọng khác như: Lồng ghép các chương trình trong hoạt động giáo dục (Chương trình “Trẻ em Thái tự hào là người Thái”, tổ chức các cuộc thi cho học sinh với chủ đề về sản phẩm của chính bố mẹ họ làm ra, cho học sinh trực tiếp

bắt tay vào làm các sản phẩm thủ công này trong các chương trình ngoại khóa…) nhằm nâng cao ý thức của người dân đặc biệt là lớp trẻ về truyền thống

và niềm tự hào đối với các làng nghề; Sự cổ vũ tinh thần từ Nhà Vua Thái Lan đối với chương trình khi trong chính cung điện của Nhà Vua Thái Lan có xuất

Trang 30

hiện trang trại trồng trọt chăn nuôi và khu vực chế tác ; Thực hiện Dự án “Phát triển doanh nghiệp trẻ” (dự kiến từ ngày 29/9 đến ngày 05/10/2012 sẽ diễn ra triển lãm kết quả của Dự án)…

Trong tương lai, Chương trình OTOP sẽ tiếp tục được phát triển theo một số định hướng như: nâng cấp quá trình sản xuất thông qua nghiên cứu và phát triển, tạo giá trị tăng thêm cho sản phẩm, nâng cao hơn nữa kết nối mạng lưới thông qua Internet, kết hợp phát triển các sản phẩm OTOP gắn với du lịch, văn hóa…

1 Hỗ trợ cơ sở hạ tầng - Hỗ trợ doanh nghiệp

nhỏ và vừa phát triển thương mại điện tử

- Nằm trong chương trình “Mỗi làng một sản phẩm”: hỗ trợ sản phẩm thân thiện môi trường

2 Hỗ trợ thông tin thị

trường, phương thức

kinh doanh

- Chính quyền thiết lập các cổng thông tin để cung cấp các thỏa thuận

quốc tế đã ký kết

- Cung cấp dịch vụ “một cửa” để tận dụng những

ưu đãi từ các thỏa thuận,

hiệp định thương mại

quốc tế

- Tư vấn kinh doanh, phát triển dịch vụ marketing ở nước ngoài, chiến thuật thực hiện ưu đãi từ FTA…

- Bộ Thương mại của Thái Lan xây dựng hệ

thống cập nhật và xử lý thông tin đến từng các địa phương (ở mỗi Vụ, Cục đều có các phòng chức năng gọi là Operation Room để đảm trách công việc này)

- Mô hình “Mỗi làng

một sản phẩm” (OTOP – One Tambon One Product): phát triển bán

lẻ và thương mại điện tử, tuyên truyền người dân dùng hàng Thái, cải tiến

kĩ thuật, tập trung vào sản phẩm độc đáo, tổ chức hội chợ triển lãm,…

Trang 31

3 Hỗ trợ liên kết - Chính quyền làm trung

gian phối hợp và thiết

lập cơ chế trao đổi, chia

sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp vừa và nhỏ để cùng nhau phát triển

- Cơ quan nhà nước Thái Lan chỉ quản lý doanh nghiệp trên hệ thống luật

và điều tiết, định hướng

vĩ mô, còn sự hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh là do các hiệp hội ngành nghề

với sự tham gia tự nguyện của các doanh nghiệp

- Hỗ trợ liên kết giữa các Hiệp hội

4 Hỗ trợ đào tạo - Cử chuyên gia tư vấn

trực tiếp (gọi là các FTA Doctor) về những hoạt động có liên quan đến

xuất nhập khẩu, những

vấn đề thị trường các nước đã ký kết Hiệp định…

- Đào tạo công nhân

- Nằm trong chương trình “Mỗi làng một sản phẩm”: nâng cao nguồn nhân lực

Trang 32

III RÀ SOÁT KHUNG CHÍNH SÁCH, PHÁP LÍ ĐỐI VỚI NGÀNH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ THỦ CÔNG - MỸ NGHỆ TRUYỀN

TH ỐNG

1 Ngành th ủ công - mỹ nghệ và bán lẻ (TMDV) truyền thống đều chịu ảnh hưởng của các cam kết WTO và HNKTQT

1.1 Đối với ngành TMDV truyền thống

Các cam kết mở cửa sâu và rộng nhất thị trường phân phối- bán lẻ nội địa là các cam kết WTO, mở ra cơ hội cạnh tranh cho các nhà bán lẻ hiện đại nước ngoài tham gia thị trường Việt Nam, cạnh tranh trực tiếp với các nhà PPBL kiểu truyền thống, hiện chiếm hơn 80% thị phần PPBL nội địa Theo các cam kết WTO, Dịch vụ Phân phối là 1 trong số 11 phân ngành dịch vụ cam kết mở cửa Theo đó, Việt Nam cam kết mở cửa tất cả các phân ngành dịch vụ phân phối theo phân loại của WTO, bao gồm:

- Dịch vụ đại lý hoa hồng;

- Dịch vụ bán buôn;

- Dịch vụ bán lẻ (bao gồm cả hoạt động bán hàng đa cấp);

- Dịch vụ nhượng quyền thương mại

Theo cam kết, cho đến thời điểm hiện tại, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được gia nhập thị trường Việt Nam trên cả 4 phân ngành nêu trên, ngoại trừ các hạn chế sau:

Trang 33

Trong trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào một số tiêu chí như số lượng các nhà cung cấp dịch vụ đang hiện diện tại một khu vực địa lý,

sự ổn định của thị trường và quy mô địa lý để quyết định có cho phép mở thêm điểm bán lẻ hay không

H ạn chế về mặt hàng được phân phối

Danh mục các mặt hàng hạn chế lâu dài bao gồm thuốc lá và xì gà, báo và tạp chí, vật phẩm đã ghi hình, kim loại quý và đá quý, dược phẩm, thuốc nổ và dầu

đã qua chế biến, gạo, đường mía và đường củ cải

Các nhà phân phối nước ngoài không được phép làm đại lý hoa hồng, bán buôn, bán lẻ và nhượng quyền đối với tất cả các mặt hàng thuộc danh mục này Ngoài

ra, họ không được bán các mặt hàng này thông qua các cơ sở đã thiết lập tại Việt Nam như liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và không được phép bán các mặt hàng này qua mạng

1.2 Đối với ngành TC-MN truyền thống

Các mặt hàng thủ công - mỹ nghệ truyền thống như gốm sứ, đồ thêu, gỗ chế

biến, đồ da, thiết bị gia dụng, đồ trang trí nội thất cũng chịu ảnh hưởng bởi các cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu theo WTO, với mức cắt giảm TB là 23% cho toàn bộ biểu thuế, tạo điều kiện cho các sản phẩm thay thế, sản phẩm nhập khẩu của nước ngoài cạnh tranh trên thị trường

2 Ngành phân ph ối bán lẻ chưa được Nhà nước xem là ngành cần ưu tiên phát tri ển

Thương mại nội địa, trong đó chủ yếu là phân phối bán lẻ hàng năm đóng góp khoảng từ 13 đến 15% GDP, tạo công ăn việc làm cho trên 5 triệu lao động, là

cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, góp phần tích cực vào bình ổn thị

Trang 34

Tuy nhiên trong những năm vừa qua ngành phân phối- bán lẻ chưa

có được sự quan tâm đúng mức từ phía Chính phủ:

Chưa có 1 chiến lược tổng thể phát triển ngành phân phối bán lẻ trên phạm vi toàn quốc, các quy hoạch phân phối – bán lẻ của từng địa phương và toàn quốc chậm được xây dựng, triển khai thực hiện Quy hoạch về mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại Về khung pháp lý cho ngành phân phối- bán lẻ, mặc dù

có nhiều đề xuất từ cộng đồng doanh nghiệp, từ AVR, tuy nhiên đến nay việc ban hành Luật Phân phối Bán lẻ vẫn chưa được đưa vào chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội Dự thảo Nghị định về Bán lẻ hàng hoá được đề xuất đã tương đối lâu và vẫn chưa được ban hành Các văn bản pháp lý có tính chất “khung” cho ngành phân phối bán lẻ chưa được ban hành dẫn tới việc các chính sách, chiến lược hỗ trợ ngành bán lẻ nội địa chậm được ban hành, các cam kết quốc tế về bảo hộ bán lẻ nội địa không được thực hiện triệt để trong thời gian qua

Theo Luật Đầu tư 2005 và Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm

2006 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư 2005 , ngoại trừ các dự

án đầu tư xây dựng chợ loại 1, tất cả các dự án đầu tư trong lĩnh vực phân phối- bán lẻ khác đều không thuộc danh mục các lĩnh vực dự án khuyến khích đầu tư hoặc đặc biệt khuyến khích đầu tư, điều này dẫn đến việc các dự án đầu tư trong lĩnh vực phân phối bán lẻ, đặc biệt là các dự án của các doanh nghiệp nội địa không được hưởng các chính sách về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư như giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm tiền thuê đất v.v theo Luật Đầu tư 2005

Do đặc thù của ngành kinh doanh dịch vụ, mặt bằng của ngành phân phối bán lẻ đòi hỏi vị trí tốt và diện tích rộng, không có các chính sách ưu đãi về đất đai cho ngành phân phối – bán lẻ theo Luật Đất đai 2003 hiện hành Khả năng tiếp

cận quyền sử dụng đất, mở rộng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp phân phối- bán lẻ nội địa là rất khó khăn Tình hình còn khó khăn hơn khi Nghị định 69/2009/NĐ-CP Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu

hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quy định tại Điều 28 về việc các chủ đầu tư phải tự thoả thuận chuyển nhượng, đền bù đối với các dự án thu hồi đất

1 Theo kết luận của Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng tại buổi làm việc với AVR ngày 13/3/2012

Trang 35

không vì lợi ích công cộng hoặc mục đích an ninh- quốc phòng Quy định này 1 cách gián tiếp đã làm tắc nghẽn các kênh tiếp cận quyền sử dụng đất của doanh nghiệp phân phối-bán lẻ, vô hiệu hoá các chính sách ưu đãi của Nghị định 61 dưới đây

Chính sách ưu đãi gần như duy nhất mà các dự án phân phối bán lẻ được hưởng

là đối với các dự án phân phối- bán lẻ (xây dựng siêu thị, trung tâm thương mại, kho, trung tâm logistic) tại vùng nông thôn theo Nghị định 61/2010/NĐ-CP về Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn Các

dự án này đầu tư tại khu vực nông thôn (bên ngoài địa bàn phường, quận của các tỉnh, thành phố) được xếp vào danh mục đặc biệt ưu đãi đầu tư; được hưởng các ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo Nghị định 61 trong đó quan trọng nhất là được

miễn tiền sử dụng đất khi được nhà nước giao đất, được miễn tiền thuê đất trong trường hợp thuê đất của nhà nước, miễn tiền thuê đất đối với các công trình phúc lợi công cộng, nhà ở của cán bộ công nhân, đất trồng cây xanh cho

dự án

Ngoài ra, vi ệc áp dụng các “hàng rào” bảo hộ các nhà phân phối, bán lẻ

n ội địa cũng chưa thực sự hiệu quả, cụ thể là:

Chưa có quy định rõ ràng và minh bạch về ENTs Theo như kinh nghiệm quốc

tế, ngoài ENTs, các hàng rào “kỹ thuật” khác nhằm bảo hộ các nhà bán lẻ trong nước, đặc biệt là các nhà bán lẻ truyền thống cũng được các nước coi trọng

Một trong những điểm yếu kém của thị trường dịch vụ phân phối bán lẻ ở Việt Nam là chưa đưa ra tiêu chí rõ ràng về kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) khi doanh nghiệp (DN) muốn mở điểm bán lẻ thứ hai trở lên Sau 5 năm gia nhập WTO, do không có quy định cụ thể về điều kiện xem xét cấp phép cho nhà đầu

tư nước ngoài về mở điểm bán lẻ thứ hai nên việc cấp phép hoặc từ chối cấp phép ở các địa phương là tùy tiện Vì vậy, cần có một “công thức” rõ ràng về ENT tạo sự minh bạch cho môi trường đầu tư nước ngoài cũng như phát huy công cụ ENT để bảo hộ ngành phân phối bán lẻ nội địa

Cụ thể, ban hành quy định về “kiểm tra nhu cầu kinh tế” phải đảm bảo ba tiêu chí:

Trang 36

- Bảo vệ sự ổn định của hệ thống bán lẻ đã hình thành từ trước Một đơn vị bán

lẻ mới ra đời không làm giảm doanh thu, giảm thu nhập và việc làm của hộ kinh doanh cũ

- Phải xem xét điều kiện về mật độ giao thông tập trung tại khu vực

- Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người tiêu dùng tại khu vực đó

Chưa thực hiện nghiêm túc danh mục “hàng hoá loại trừ lâu dài” đối với các doanh nghiệp bán lẻ FDI; chưa phân biệt rõ ranh giới giữa bán buôn và bán lẻ Hiện tượng các doanh nghiệp FDI kinh doanh hàng hoá trong danh mục hàng hoá loại trừ lâu dài; GPĐT bán buôn nhưng kinh doanh bán lẻ trá hình được

phản ảnh nhiều, nhưng cơ quan chức năng chưa có biện pháp xử lý

3 Các ho ạt động hỗ trợ tiểu thương kinh doanh TMDV truyền thống và

s ản xuất TC-MN- Làng nghề còn thiếu- Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện công tác hỗ trợ, quản lý các làng nghề, sản phẩm TC-MN còn ch ồng chéo về chức năng

Nguồn kinh phí đào tạo- hỗ trợ tiểu thương còn hết sức hạn chế Hàng năm nguồn ngân sách TB chi cho công tác đào tạo, hỗ trợ tiểu thương bởi các Sở Công Thương chỉ trông đợi vào nguồn kinh phí sự nghiệp rất ít Không có 1 chương trình hoặc đề án nào ở cấp quốc gia nào hỗ trợ ngành TMDV truyền thống

Đối với sản xuất làng nghề truyền thống, chức năng quản lý nhà nước về làng nghề còn chồng chéo, các chính sách hỗ trợ cho phát triển nghề và làng nghề còn bất cập, chưa hoàn chỉnh, chưa đi sâu và tác động mạnh mẽ đến các cơ sở sản xuất trong làng nghề, chỉ tập trung vào các nghĩa vụ của làng nghề, của các

cơ sở sản xuất trong làng nghề mà chưa chú trọng nhiều đến các quyền lợi Cụ

thể:

- Nghị định số 134/2004/NĐ-CP và Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ chưa tách bạch rõ ràng chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực công nghiệp nông thôn giữa Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) với Bộ

Trang 37

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng như giữa Sở Công nghiệp (nay là Sở Công thương) với Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các địa phương;

- Các Thông tư hướng dẫn thực hiện của các Bộ, ngành có nhiều điểm còn thiếu

và bất cập như: hướng dẫn nội dung khuyến công, phát triển nghề, làng nghề còn chung chung, chưa xác định rõ, cụ thể các nội dung, hình thức thực hiện; chưa hướng dẫn rõ và thiếu các định mức, tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật, đơn giá làm căn cứ thiết kế, lập dự toán kinh phí cho các dự án khuyến công, phát triển nghề, làng nghề; một số mức chi cụ thể đang áp dụng thấp không phù hợp nên

việc lập, thẩm định, phê duyệt các đề án còn chậm, triển khai một số hoạt động phát triển nghề, làng nghề còn gặp khó khăn;

- Chưa xây dựng và ban hành được bộ tiêu chuẩn quy định về mức hỗ trợ kinh phí khuyến công từ ngân sách địa phương để thực hiện các đề án trên địa bàn;

- Chưa ban hành được văn bản hướng dẫn quy trình thống nhất về quản lý, đánh giá các dự án khuyến công;

- Mạng lưới cán bộ quản lý và thực hiện công tác phát triển nghề, làng nghề mới có ở cấp tỉnh, thành phố; Đối với cấp huyện với hàng chục làng nghề, hàng trăm doanh nghiệp cũng chỉ có tối đa là 2 biên chế cho lĩnh vực quản lý nhà nước về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; ở nhiều làng nghề, xã nghề có doanh thu hàng trăm tỷ đồng với hàng nghìn hộ sản xuất nhưng chưa có người chuyên phụ trách công tác quản lý nhà nước về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Vì vậy việc truyền đạt, phổ biến, thực thi các cơ chế chính sách, việc hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, làng nghề ở các làng, các xã còn phụ thuộc vào sự nhiệt tình với khả năng ít chuyên môn của lãnh đạo xã, thôn

Bên cạnh đó vẫn còn thiếu một số chính sách như: dự báo năng lực và nhu cầu

thị trường, chính sách bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường, tổ chức phối hợp liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở sản xuất… cho dù các chính sách này không mang tính bắt buộc nhưng cũng sẽ tác động mạnh mẽ đến việc phát triển nghề

và làng nghề trên địa bàn thành phố

Những hạn chế của các cơ chế chính sách sau khi ban hành phần nào đã được

thể hiện qua việc triển khai chậm trễ và kết quả đạt thấp ở các khâu: phát triển làng nghề không theo định hướng, ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng,

Trang 38

khó khăn trong việc cấp quyền sử dụng đất, cho thuê đất lâu dài, chuyển giao

kỹ thuật khoa học công nghệ, đào tạo cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý, miễn giảm thuế, cho vay lãi xuất ưu đãi…

nhập WTO Bên cạnh đó, các đóng góp ý kiến của các Sở, Ban, ngành tại Đà

Nẵng, cán bộ quản lý nhà nước, đại diện tổ chức hiệp hội cũng là những nguồn khảo sát nhằm xác định vấn đề bất cập của của các hộ kinh doanh kiểu truyền thống tại Đà Nẵng và một số tỉnh MT-TN

thể các bước của Phương pháp tiếp cận Khung Logic:

Bước 1: Xác định các bên liên quan đến chính sách

Bước 2: Xác định vấn đề bất cập và xây dựng cây vấn đề, trong đó xác định được vấn đề cốt lõi (core problem), các nguyên nhân và hậu quả của vấn đề

Trang 39

Bước 3: Xác định mục tiêu của đề xuất chính sách

Bước 4: Xác định chiến lược để đạt được mục tiêu

Bước 5: Xây dựng Khung Logic chính sách bao gồm Mục đích – Mục tiêu – Đầu ra – Chương trình hành động

2 Nh ận dạng các vấn đề bất cập từ quá trình khảo sát nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu và khảo sát thực trạng các hộ kinh doanh kiểu truyền thống được tiến hành vào tháng 5/2012, các nghiên cứu về quy định pháp lí và hệ

thống chính sách của nhà nước dành cho tầng lớp này, các kinh nghiệm nước ngoài và ý kiến các Sở, Ban, ngành được tổng hợp và phân loại, từ đó rút ra 4 nhóm vấn đề bất cập như sau:

2.1 Ch ỉ tập trung vào thị trường “sẵn có”- kênh phân phối kém đa dạng

1) Kênh phân ph ối của các hộ sản xuất truyền thống tại Đà Nẵng cũng như một số tỉnh MT-TN kém đa dạng, phần lớn là qua các

ti ểu thương địa phương:

Tại Đà Nẵng, hầu hết các hộ gia đình đều sử dụng kênh phân phối trung gian nhưng phần lớn là kênh truyền thống, 90% có bán cho các tiểu thương địa phương, chỉ có 22% có bán qua kênh bán lẻ hiện đại là siêu thị, công ty thương

mại

Trang 40

Bi ểu đồ 1: Tỷ lệ các hộ sản xuất truyền thống tại Đà Nẵng tiêu thụ hàng hóa qua các kênh phân ph ối

Kênh phân phối của các hộ sản xuất tại 5 tỉnh MT-TN ngoài Đà Nẵng tỏ ra kém hiện đại và kém đa dạng hơn khi chỉ có 3% phân phối qua kênh bán lẻ

hiện đại là siêu thị và trung tâm thương mại Phần lớn các hộ sản xuất tại các

tỉnh này phân phối hàng hóa thông qua tiểu thương Tuy nhiên, về độ đa dạng của kênh phân phối qua tiểu thương thì các 5 tỉnh MT-TN này lại đa dạng hơn Đà Nẵng khi có 86% có qua tiểu thương địa phương và 58% qua

tiểu thương ngoại tỉnh, trong khi chỉ có 6% các hộ sản xuất truyền thống tại

Đà Nẵng phân phối hàng hóa của mình qua tiểu thương ngoại tỉnh

Bi ểu đồ 2: Tỷ lệ các hộ sản xuất truyền thống tại các tỉnh MT-TN ngoài

Đà Nẵng tiêu thụ hàng hóa qua các kênh phân phối

Ngày đăng: 15/11/2015, 20:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  a: D ự báo lượng khách du lịch đến Đà Nẵng giai đoạn 2010 -2020 - xây dựng đề án phát triển mô hình và chiến lược hỗ trợ kinh doanh truyền thống và thủ công mỹ nghệ
ng a: D ự báo lượng khách du lịch đến Đà Nẵng giai đoạn 2010 -2020 (Trang 42)
Bảng  b : Mức độ chi tiêu bình quân của 1 du khách đến Đà Nẵng - xây dựng đề án phát triển mô hình và chiến lược hỗ trợ kinh doanh truyền thống và thủ công mỹ nghệ
ng b : Mức độ chi tiêu bình quân của 1 du khách đến Đà Nẵng (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w