1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đánh giá hiện trạng nuôi và thị trường tiêu thụ cá trắm đen (mylopharyngodon piceus) thương phẩm tại thành phố hà nội

80 655 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 521,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI --- --- VŨ VĂN TRUNG NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NUÔI VÀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ CÁ TRẮM ĐEN Mylopharyngodon piceus THƯƠNG PH

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

-  -

VŨ VĂN TRUNG

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NUÔI

VÀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ CÁ TRẮM ĐEN

(Mylopharyngodon piceus) THƯƠNG PHẨM

TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành :Nuôi trồng thủy sản

Mã số : 60.62.70

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ XUÂN THÔNG

Hà Nội – 2012

Trang 2

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… i

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, do tôi tiến hành và thực hiện Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực

và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 16 tháng 3 năm 2012

Tác giả luận văn

Vũ Văn Trung

Trang 3

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… ii

Lời cảm ơn

Với tấm lòng chân thành nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Thầy hướng dẫn PGS.TS Hà Xuân Thông, người đã định hướng tôi, tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến cán bộ và thầy cô Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, Viện sau đại học trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã tham gia giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt những năm tháng học tập và nghiên cứu

Nhân đây tôi xin bày tỏ lời cám ơn tới những hộ dân nuôi cá, các hộ kinh doanh đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu

Sự động viện, giúp đỡ của bạn bè và đồng nghiệp đã khích lệ tôi rất nhiều, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Cuối cùng con xin ghi nhớ ơn dưỡng dục, sinh thành của bố mẹ và sự ủng hộ của người thân trong gia đình để con có ngày hôm nay

Tác giả luận văn

Vũ Văn Trung

Trang 4

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… iii

MỤC LỤC Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng v

Danh mục hình vi

PHẦN I MỞ ĐẦU 58

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu đề tài: 3

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Tiềm năng và hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản của Thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 – 2010 4

2.1.1 Tiềm năng mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 4

2.1.2 Tình hình phát triển nuôi trồng thuỷ sản 4

2.2 Tình hình nuôi cá Trắm đen thương phẩm ở Việt Nam và trên thế giới 8

PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17

3.1.1 Thời gian 17

3.1.2 Địa điểm 17

3.2 Nội dung nghiên cứu 17

3.3 Phương pháp nghiên cứu 18

3.3.1 Cách tiếp cận 18

3.3.2 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 19

3.3.3 Phương pháp thập số liệu sơ cấp (điều tra bằng bộ câu hỏi) 19

3.3.4 Phương pháp nhập, xử lý số liệu và phân tích số liệu 22

Trang 5

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… iv

PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23

4.1 Hiện trạng nuôi cá Trắm đen thương phẩm 23

4.1.1 Trình độ học vấn và kinh nghiệm nuôi 23

4.1.2 Hình thức nuôi 24

4.1.3 Hiện trạng ao nuôi 25

4.1.4 Nguồn giống và chất lượng con giống 29

4.1.5 Kích cỡ giống 30

4.1.6 Mật độ nuôi và tỉ lệ ghép 33

4.1.7 Chăm sóc và quản lý 35

4.1.8 Thời điểm thu hoạch và kích cỡ thu hoạch 39

4.1.9 Năng suất và sản lượng 40

4.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình nuôi cá Trắm đen thương phẩm 42

4.2.1 Đánh giá về mức đầu tư 42

4.2.2 Đánh giá về hiệu quả kinh tế 44

4.3 Hiện trạng thị trường tiêu thụ cá Trắm đen thương phẩm 45

4.3.1 Tại Chợ đầu mối cá Yên Sở 45

4.3.2 Tại các chợ tiêu dùng lớn nhỏ 48

4.4 Đánh giá những thuận lợi khó khăn và tính bền vững nuôi cá Trắm đen thương phẩm 49

4.5 Một số giải pháp hợp lý phát triển nuôi cá Trắm đen thương phẩm 51

V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 54

5.1 Kết luận 54

5.2 Kiến nghị và đề xuất 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Trang 6

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… v

PHỤ LỤC 58

Trang 7

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Kích cỡ cá Trắm đen và kích cỡ các loài thả ghép 31

Bảng 2: Mật độ nuôi và tỉ lệ ghép cá Trắm đen trong ao nuôi 33

Bảng 3: Giá của một số loại thức ăn 36

Bảng 4: Kích cỡ thu hoạch cá Trắm đen và các loài nuôi ghép với cá Trắm

đen 40

Bảng 5: Sản lượng, năng suất cá và cá Trắm đen thu hoạch năm 2011 41

Bảng 6: Chi phí đầu tư cho ao nuôi theo các chỉ tiêu tính trên đơn vị diện tích

ha 43

Bảng 7: Tổng thu và lợi nhuận thu được của các hộ nuôi 44

Trang 8

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… vii

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1: Sơ đồ chọn hộ điều tra nuôi cá Trắm đen thương phẩm 21

Hình 2: Tỷ lệ hộ theo số năm nuôi cá 24

Hình 3: Tỷ lệ số hộ theo diện tích nuôi 25

Hình 4: Thời điểm thả giống 29

Hình 5: Tỷ lệ số hộ nuôi theo kích cỡ thả cá Trắm đen 31

Hình 6: Tỷ lệ số hộ nuôi theo tỷ lệ ghép cá Trắm trong ao 34

Hình 7: Tỷ lệ số hộ nuôi theo các mức năng suất cá Trắm đen 41

Hình 8: Biểu đồ biểu thị sự biến động về giá theo kích cỡ cá Trắm đen ở các thời điểm 45

Hình 9: Biểu thị giá theo kích cỡ cá qua các năm trong thời điểm tết Nguyên Đán 49

Trang 9

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 1

PHẦN I MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Cá Trắm đen là loài cá nước ngọt đặc sản có giá trị kinh tế cao, thịt cá thơm ngon có hàm lượng dinh dưỡng rất cao nên được nhiều người ưa chuộng Trong y học, thịt cá Trắm đen có tính bình, vị ngọt, có rất nhiều tác dụng như chữa đau dạ dày mãn tính, phù nề, viêm gan, thận, tê thấp, sưng đau, nâng cao sức đề kháng, tăng cường miễn dịch (Phó Thu Phương, 2006), người Trung Quốc thường sử dụng cá Trắm đen như một vị thuốc quý (Nico

và ctv, 2005) Mật cá Trắm đen cũng là dược liệu quý chữa mờ mắt, mắt đỏ kéo màng, đau họng, tắc họng, trẻ con đờm dãi tắc (sách cây thuốc, bài thuốc

và biệt dược, nhà xuất bản Y học)

Cá Trắm đen phân bố ở vùng Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001) Ở Việt Nam cá Trắm đen sống chủ yếu ở các con sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sông Lam Chúng thường được thấy ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, giới hạn thấp nhất về phía Nam của sông Lam thuộc tỉnh Nghệ An (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001)

Ngoài tự nhiên cá Trắm đen thường sống ở hạ lưu các sông, đồng ruộng Cá Trắm đen sống ở tầng giữa và tầng đáy, ở nước tĩnh hoặc nước chảy yếu Cá Trắm đen là loài phàm ăn, khi nhỏ ăn động vật phù du, ấu trùng muỗi, ấu trùng chuồn chuồn, khi lớn cá chuyển sang ăn động vật đáy như trai,

ốc, hến, sò, tôm, cua và côn trùng (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001;

Vũ Trung Tạng và Nguyễn Đình Mão, 2005) Cá Trắm đen 4 tuổi cộng có khả năng tiêu thụ 1 - 2 kg ốc, hến kể cả vỏ trong 1 ngày Để tăng trọng được 1kg

cá thì phải cần 30 - 40 kg ốc, hến tính cả vỏ (Crosier và Mollo) Trong điều kiện nuôi trong ao hồ cá Trắm đen có thể sử dụng được thức ăn khô dầu, cám gạo, lúa mạch (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư, 2004) Cá Trắm đen thuộc loài

Trang 10

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 2

cá có kích thước lớn, chúng lớn nhanh nhất từ năm thứ 2 đến năm thứ 4, cỡ

cá khai thác trung bình từ 2 đến 5 kg Ở Việt Nam cá Trắm đen lớn nhất có kích thước từ 40 - 50 kg, trên thế giới ở Mỹ thì cá Trắm đen dài 2m và nặng tới 70 kg (Nico và ctv, 2005) và có tuổi thọ 15 năm Tuy nhiên cá sống ở môi trường tự nhiên thường lớn nhanh hơn cá nuôi trong ao hồ

Mặc dù vậy từ trước đến nay chúng ta chỉ biết đến chúng như một số loài nuôi thả ghép ở các ao cá nuôi truyền thống chủ yếu để tận dụng nguồn

ốc tự nhiên có trong ao Nhưng theo khảo sát đánh giá năm 2009 của Nguyễn Thị Diệu Phương và ctv thì cá Trắm đen thương phẩm được nhiều người nuôi

cá ở các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Hồng, trong đó có Hà Nội, quan tâm

và bắt đầu tập trung nuôi với số lượng lớn, mang lại hiệu quả kinh tế rất cao

Thành phố Hà Nội là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng có tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản lớn, với tổng diện tích có tiềm năng nuôi trồng thủy sản lên đến 30.840 ha Từ năm 2008 trở lại đây sau khi xuất hiện một vài mô hình nuôi cá Trắm đen thương phẩm, thì phong trào nuôi cá Trắm đen càng được phát triển mạnh do hiệu quả kinh tế từ nuôi đối tượng này đem lại Cùng với đó, trong tháng 3 năm 2011, Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản I đã công bố quy trình kỹ thuật nuôi cá Trắm đen thương phẩm sau

3 năm nghiên cứu từ 2008 đến năm 2010 Cùng thời gian Sở Khoa học và Công Nghệ tỉnh Hải Dương cũng đã công bố xây dựng thành công mô hình nuôi cá Trắm đen thương phẩm sử dụng thức công nghiệp và ốc, mang lại hiệu quả rất cao sau 2 năm xây dựng từ 2009 đến năm 2010 Kết quả và quy trình kỹ thuật của hai đề tài này đã công bố rộng rãi và hứa hẹn mang lại hiệu ứng tích cực cho nghề nuôi cá Trắm đen thương phẩm Người nuôi xuất hiện ngày càng nhiều, thị trường tiêu thụ cá Trắm đen thương phẩm ngày càng sôi động nhưng hiện tại chưa có những đánh giá cụ thể về hiện trạng nuôi cũng như thị trường tiêu thụ cá Trắm đen của Thành phố Hà Nội Vì vậy để có

Trang 11

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 3

những đánh giá hiện trạng cụ thể và tìm ra hướng đi đúng cho nghề nuôi Trắm

đen của Thành phố, tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng

nuôi và thị trường tiêu thụ cá Trắm đen (Mylopharyngodon piceus)

thương phẩm tại Thành phố Hà Nội”

1.2 Mục tiêu đề tài:

Đánh giá hiện trạng nuôi, thị trường tiêu thụ cá Trắm đen thương phẩm

và đề xuất một số giải pháp hợp lý cho phát triển nuôi cá Trắm đen thương phẩm tại Thành phố Hà Nội

Trang 12

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 4

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tiềm năng và hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản của Thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 – 2010

2.1.1 Tiềm năng mặt nước nuôi trồng thuỷ sản

Hà Nội có tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản lớn với tổng diện tích nuôi trồng mặt nước có khả năng nuôi trồng thuỷ sản là 30.840 ha, trong đó:

2.1.2 Tình hình phát triển nuôi trồng thuỷ sản

2.1.2.1 Diện tích nuôi trồng thuỷ sản

Theo cục thống kê thành phố Hà Nội thì diện tích mặt nước nuôi trồng

thuỷ sản tính đến năm 2010 (20.422,5ha) so với năm 2006 (15.157ha) tăng 18%

Phần lớn ao hồ nhỏ đều gần khu dân cư, hiện đang bị ô nhiễm, diện tích bị thu hẹp dần do phải chuyển một phần sang các dự án xây dựng giao thông, khu đô thị… Diện tích nuôi trồng thuỷ sản giai đoạn 2006 – 2010 tăng bình quân 9% năm do đã chuyển đổi ruộng trũng cấy lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản

Về nuôi cá lồng trên một số hồ chứa, sông năm 2006 là 291 lồng, năm

2007 là 241 lồng, năm 2008 là 379 lồng, năm 2009 là 291 lồng, năm 2010 là

162 lồng giảm rất lớn so với các năm và tập trung chủ yếu ở các huyện như:

Trang 13

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 5

Đan Phượng, Mỹ Đức, Mê Linh,…

Hiện tại, hồ chứa mặt nước lớn (4.327ha) chiếm 14% tổng diện tích tiềm năng, song nhiệm vụ chính của các hồ chứa là giữ nước phục vụ công tác thuỷ nông và một phần kết hợp du lịch, dịch vụ như hồ Quan Sơn, hồ Suối Hai, hồ Đồng Mô, hồ Tây, hồ Đồng Sương, hồ Văn Sơn,…vì vậy khả năng khai thác về nuôi trồng thuỷ sản hạn chế

2.1.2.2 Năng suất nuôi trồng thuỷ sản

Năng suất nuôi bình quân: năm 2006 đạt 2,15 tấn/ha, năm 2007 đạt 2,42 tấn/ha, năm 2008 là 1,94 tấn/ha, năm 2009 đạt 2,18 tấn/ha, năm 2010 đạt 2,33 tấn/ha so với năm 2006 tăng 14% Trong đó:

- Nuôi vùng chuyển đổi: 4,5 – 6 tấn/ha/năm Đặc biệt có một số mô hình nuôi thâm canh: cá Chép lai đạt 8 – 10 tấn/ha/vụ nuôi; rô phi đơn tính đạt

10 - 12 tấn/ha/vụ nuôi,

- Nuôi ao hồ nhỏ: 3,5 – 5 tấn/ha/năm

- Nuôi ruộng trũng 1 lúa – 1 cá: đạt 2,5 – 3,5 tấn/ha/năm

- Nuôi hồ chứa đạt 0,5 tấn/ha/năm

Diện tích tăng 18%, sản lượng tăng 17,6% so với năm 2006 do diện tích nuôi thâm canh tăng đầu tư cho nuôi trồng thuỷ sản, năng suất đã được cải thiện

Đối tượng nuôi chủ yếu vẫn là các loài cá truyền thống trôi, mè, Trắm

cỏ, chép lai, Rô phi, chiếm 80% còn các loại thủy đặc sản chiếm 15 - 20% gồm ba ba, Điêu Hồng, ếch, Trắm giòn, Chép giòn, cá lăng

Hình thức nuôi chủ yếu hiện nay vẫn là quảng canh, quảng canh cải tiến, bán thâm canh năng suất tăng lên xong còn khiêm tốn một số nơi đã nuôi theo hình thức thâm canh đối với cá truyền thống năng suất đạt từ 8 - 10 tấn,

Rô phi đạt 15 - 20 tấn/ha

2.1.2.3 Sản lượng và giá trị

Trang 14

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 6

- Về sản lượng: năm 2006 đạt 32.555 tấn, năm 2007 đạt 38.281 tấn, năm 2008 đạt 34.717 tấn và năm 2009 đạt 41.500 tấn

- Về giá trị sản lượng: Theo giá trị thực tế đạt 634,8 tỷ đồng, năm 2007 đạt 746,5 tỷ đồng, năm 2008 đạt 677 tỷ đồng và năm 2009 đạt 809 tỷ đồng

2.1.2.4 Về thức ăn, thuốc thú y thuỷ sản

* Về thức ăn: khoảng 15% diện tích nuôi trồng thuỷ sản của Hà Nội sử

dụng thức ăn công nghiệp (15.000 tấn), 85% diện tích sử dụng các sản phẩm phụ nông nghiệp làm thức ăn Nguồn thức ăn công nghiệp chủ yếu do một số công ty lớn sản xuất, cung ứng cho các cơ sở nuôi trồng thuỷ sản thông qua các đại lý

* Về thuốc thú y thuỷ sản

- Hiện tại, trên địa bàn Hà Nội có một số công ty và đại lý cung ứng các loại thuốc phòng, trị bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản, song một số hộ nuôi thâm canh thuỷ sản ít nên việc sử dụng thuốc thú y thuỷ sản chưa nhiều

- Quản lý thuốc thú y thuỷ sản: hiện nay trên địa bàn Hà Nội chưa có các cửa hàng chuyên kinh doanh thuốc thú y thuỷ sản, chủ yếu là kết hợp với thuốc thú y trong chăn nuôi nên việc quản lý gặp nhiều khó khăn

2.1.2.5 Môi trường và dịch bệnh

* Về môi trường:

Theo số liệu nghiên cứu mới nhất của Sở Tài Nguyên và Môi Trường

và nhà đất Hà Nội, lượng nước thải của Thành Phố đang tăng cả về lưu lượng

và nồng độ chất ô nhiễm Lượng nước thải đổ thẳng ra sông, hồ dự báo đến năm 2010 là 510.000m3/ngày Môi trường nước ở các con sông như sông Nhuệ, sông Đáy và một số hồ ở Hà Nội đã bị ô nhiễm tới mức báo động nhất

là ô nhiễm các chất hữu cơ gây ra nước sông bốc mùi hôi thối.Bên cạnh đó ảnh hưởng chất thải từ sản xuất Nông Nghiệp như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ dẫn đến nguồn nước trong nuôi trồng thuỷ sản bị ô nhiễm Hàm lượng amoni

Trang 15

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 7

trong nước các ao hồ dao động thấp nhất là 0,58mg/l và cao nhất là 51,5mg/l, trong khi tiêu chuẩn cho phép là 1mg/l; hàm lượng BOD dao động trong khoảng 13mg/l - 68mg/l, trong khi tiêu chuẩn là 25mg/l

Theo Tổng Cục thống kê Việt Nam - mỗi ngày, cư dân Hà Nội thải ra khoảng 600.000m3 nước thải sinh hoạt với khoảng 250 tấn ra các sông Thêm vào đó là một lượng lớn chất thải từ các bệnh viện và các khu công nghiệp Ước tính có khoảng 260.000m3 chất thải công nghiệp mỗi ngày và chỉ có khoảng dưới 10% lượng nước thải này là được xử lý trước khi đổ ra các con sông, các bệnh viện thải ra khoảng 7.000m3 nước thải mỗi ngày và chỉ có khoảng 30% là được xử lý Hầu hết các vùng nuôi trồng thuỷ sản của Hà Nội đều bị ảnh hưởng của nước thải Thành phố

* Về dịch bệnh:

Cùng với tình trạng ô nhiễm nước và thời tiết thay đổi đột ngột dẫn đến hiện tượng cá chết hàng loạt tại các huyện ngoại thành như: năm 2006 bệnh xuất hiện trên cá rô phi tại Huyện Thanh Trì đã làm cho người nuôi trồng thuỷ sản bị thiệt hại về kinh tế và bệnh xuất huyết do virus ở cá Trắm cỏ ở các Huyện Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn Ngày 9 tháng 3 năm 2009 hiện tượng

cá chết trên sông Nhuệ tại địa phận Thành phố Hà Đông, cuối tháng 3 đầu tháng 4 cũng xảy ra hiện tượng cá chết hàng loạt ở các xã Quang Lãng, Đại Xuyên, Phúc Tiến của Huyện Phú Xuyên số các chết lên tới 8000kg, nguyên nhân qua đánh giá đó là do tình trạng ô nhiễm nước và do thời tiết thay đổi

Với việc chuyển đổi cơ cấu Nông Nghiệp hình thành các vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung, thâm canh năng suất cao với các giống thuỷ sản mới, công nghệ mới thì khả năng xuất hiện bệnh thuỷ sản là tất yếu

2.1.2.6 Tình hình sản xuất giống phục vụ nuôi trồng

Trên địa bàn thành phố Hà Nội có 17 cơ sở sản xuất giống nhân tạo cá giống, tổng diện tích 50ha, với 33.990 kg cá bố mẹ các loại và trên 1000 hộ

Trang 16

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 8

ương nuôi cá giống Hàng năm, sản xuất khoảng 650 – 700 triệu cá bột, 160 –

175 triêu cá giống các loại đáp ứng 55 – 60% về số lượng nhưng chất lượng con giống chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu về phát triển nuôi trồng thuỷ sản do cá bố mẹ của các cơ sở giống tư nhân trên địa bàn chủ yếu vẫn được tuyển chọn ở tại cơ sở và các ao nuôi thương phẩm nên không tránh khỏi hiện tượng cận huyết, làm giảm chất lượng con giống Ngoài ra cơ chế thị trường cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng con giống

2.1.2.7 Về tiêu thụ và chế biến thuỷ sản

Hiện nay, sản phẩm thủy sản được tiêu thụ chủ yếu dưới dạng tươi sống

và tập trung theo thời vụ, thị trường tiêu thụ chủ yếu là nội thành và một số tỉnh xung quanh Hà Nội, phần lớn do tư thương và thị trường tiêu thụ tự do

Hiện tại trên địa bàn thành phố Hà Nội chưa có cơ sở chế biến sản

phẩm thuỷ sản nước ngọt

2.2 Tình hình nuôi cá Trắm đen thương phẩm ở Việt Nam và trên thế giới

Cá Trắm đen chỉ có ở Trung Quốc và Việt Nam Nhưng nhìn chung cá Trắm đen từ trước đến nay vẫn được coi là loài thả ghép thêm mà vẫn còn rất ít

có những nghiên cứu về loài này

Các hệ thống nuôi chủ yếu:

- Nuôi ghép cá Trắm đen cùng các loài cá khác và lấy các loài cá khác

làm đối tượng nuôi chính: hệ thống nuôi này thường thấy ở các tỉnh phía Bắc

cũng như ở Trung Quốc, cá Trắm đen (Mylopharyngodon piceus) thường được

nuôi ghép với tỉ lệ rất nhỏ trong các hệ thống nuôi kết hợp trong ao, hồ, đầm và

ruộng trũng với cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idella), cá trôi (Cirrhina molitorela), cá mè trắng (Hypophthalmichthys molitrix), cá mè hoa (Aristichthys nobilis), cá chép (Cyprinus carpio) để tận dụng thức ăn tự nhiên ở

các tầng nước Theo các tài liệu của Việt Nam, cá ăn tầng đáy dùng để nuôi ghép thường đề cập đến là cá chép, ghép với tỉ lệ là từ 5 - 10% (Nguyễn Văn

Trang 17

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 9

Việt, 1993; Nguyễn Văn Hảo, 1997) hay ghép với cá Trắm đen với tôm càng xanh (Phạm Văn Trang và ctv, 2004) Trong thực tế, nuôi cá Trắm đen thả thưa trong ao đầm có động vật nhuyễn thể một năm có đạt trong lượng từ 3 – 4 kg với cỡ cá giống 100 – 150 g (Nguyễn Văn Việt, 1993) Mặc dù vậy thì trong những thập kỉ gần đây xu hướng chuyển sang nuôi các đối tượng mới có gía trị kinh tế ngày càng gia tăng nhưng các loài cá truyền thống vẫn giữ vai trò quan trọng

- Nuôi cá Trắm đen làm chính: hệ thống nuôi này thả cá Trắm đen từ

50 - 60% tổng số cá thả và ghép thêm với cá trắm cỏ, mè trắng, mè hoa, trôi sẽ cho năng suất cá Trắm đen bằng 33 - 45% năng suất chung Cũng theo phương thức nuôi ghép các loài cá này, nếu nuôi cá Trắm đen và trắm cỏ làm chính, tỉ

lệ thả cá Trắm đen từ 15 - 20% tổng số cá thả trong ao thì năng suất riêng của

cá Trắm đen là 13 - 18% năng suất chung (Ngô Trọng Lư, Thái Bá Hồ, 2004)

Tại Trung Quốc, các thí nghiệm gần đây của Hiệp Hội đậu tương Hoa Kì nghiên cứu sản xuất thức ăn cho cá Trắm đen giống, cá Trắm đen thương phẩm làm đối tượng chính ngoài ra còn ghép thêm cá mè trắng để tận dụng tầng nước

và xử lý môi trường Hệ thống nuôi này cho năng suất 5 tấn/ha/vụ nuôi (Michaelc Cremer, Zhang Jian và Zhou, 2004; Michaelc Cremer, Zhang Jian

và Zhou, 2006)

- Nuôi cá lúa: là hệ thống thả ghép các loài cá vào trong ruộng lúa để

tận dụng diện tích canh tác và tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên có trong ruộng lúa Hệ thống này được ghi nhận chính thức ở Trung Quốc từ năm 1950 (Cai Renkui, Ni Dashu và Wang Jianguo, http://www.idrc.ca/en/ev-27634-201-1-DO_TOPIC.html), theo kết quả nghiên cứu của Trung Quốc được Ngô Trọng

Lư và Thái Bá Hồ (2004) sưu tầm thì với các khu ruộng giàu ốc có thể thả ghép cá Trắm đen với mật độ 1 con trên 80 – 150 m2ruộng, cỡ cá giống thả tốt nhất là 0,5 - 0,7 kg/con Sau 1 năm nuôi đạt cỡ 4 – 7 kg/con Ở Việt Nam

Trang 18

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 10

nghiên cứu nuôi cá lúa cũng được nghiên cứu từ năm 1980 thả ghép các loài

cá chép, trắm cỏ, cá mè vinh, cá rô phi và cá trôi Trong thực tế cá Trắm đen được các hộ nông dân thả ghép trong ruộng lúa với các loài cá khác mang lại hiệu quả, tuy nhiên chưa có báo cáo nào

Một số nghiên cứu về thức ăn, dinh dưỡng cá Trắm đen gần đây trên thế giới:

- Năm 2001, Ben Ami và Heller đã thí nghiệm nuôi cá Trắm đen để tiêu diệt các loài ốc có hại cho sức khỏe con người và phá hoại nông nghiệp

Giả thuyết cá Trắm đen sẽ tiêu diệt hai loài ốc có hại Physella acuta và Melanoides tuberculata Thí nghiệm được công bố trong phòng thí nghiệm, kết quả cho thấy cá Trắm đen cỡ 30 - 50g tiêu thụ tới 300 con ốc Physella acuta/ngày Trong điều kiện thực tế đồng ruộng, ở những nơi không có mặt

của cá Trắm đen thì quần đàn ốc phát triển lên tới đỉnh cao là 181% so với mật độ ban đầu Với sự có mặt của cá Trắm đen cỡ lớn từ 4 - 5 kg/con thì số lượng ốc giảm đi tới 79%, với sự có mặt của cá Trắm đen cỡ 3 - 4 kg/con thì mật độ ốc giảm 34% Như vậy cá Trắm đen có hiệu quả trong việc xử lý ốc gây hại cho nông nghiệp

- Năm 2003, Leng XiangJun và Wang DaoZun ở Trường Đại học Thủy Sản Thượng Hải (Trung Quốc) đã nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của

cá Trắm đen, lập công thức thức ăn, chế biến thức ăn bằng nguyên liệu địa phương Nghiên cứu đã mở ra triển vọng để phát triển sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi cá Trắm đen ở Trung Quốc

- Năm 2004, Ismail và El-Deeb đã phân tích thành phần thức ăn trong

dạ dày cá Trắm đen nuôi ao ở Ai Cập cho thấy các loài ốc là thức ăn chủ yếu

ở cá Trắm đen ở tất cả các mùa, xuất hiện nhiều vào mùa hè, thu và xuân, tuy nhiên mùa đông dạ dày trống thức ăn Thức ăn nhân tạo là sự lựa chọn thứ hai của cá Trắm đen vào mùa hè, mùa thu nhưng chúng không ăn vào mùa xuân

Trang 19

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 11

Tác giả khẳng định rằng ốc là thức ăn cá Trắm đen ưa thích nhất với tần suất xuất hiện là 80% ốc vào mùa xuân, 70% ốc vào mùa hè, 50% ốc vào mùa thu Ngược lại thức ăn nhân tạo được chúng sử dụng nhiều nhất vào mùa thu (39%), và giảm dần vào mùa hè (22%) và không sử dụng vào mùa xuân

- Michael C Cremer, Zhang Jian và Zhou (2004) nghiên cứu sử dụng đậu tương nuôi cá Trắm đen giống trong chương trình nghiên cứu của Hiệp Hội đậu tương Hoa Kì ASA/China 2004 Feeding Trail 35-04-82, ở tỉnh Heilongjiang (Trung Quốc) trong ao có diện tích 0,33 ha với mật độ 60.000 cá Trắm đen và 15000 cá mè trắng giống trên 1ha thì cho thấy: Sau 99 ngày ương nuôi cá Trắm đen thả cỡ 0,06 g/con lên được 37,4 g/con, trung bình tăng trọng 0,37 g/con/ngày Năng suất trung bình 2.115 kg/ha đối với cá Trắm đen và 381 kg/ha với cá mè Tỷ lệ sống đối với ương nuôi cá Trắm đen giống là 94,3% và cá mè trắng là 67,5% Hệ số thức ăn là 0,95 với số lượng cho ăn trong ngày từ 4 - 5 lần bằng thức ăn dạng viên nổi có hàm lượng Protein là 41% và hàm lượng Lipid là 11% Các tác giả gợi ý rằng với mật độ ương cá giống có thể tăng lên gấp đôi so với thí nghiệm họ đã tiến hành

- Nghiên cứu của Cremer, Zhou Enhua và Zhang Jian (2006) về sử dụng đậu tượng làm thức ăn cho cá Trắm đen do Hiệp Hội đậu tương Hoa Kì tài trợ:

Thí nghiệm tại Viện nghiên cứu thuỷ sản Shenyang (Trung Quốc) đã nuôi ghép cá Trắm đen cỡ 51 g/con trong ao 0,16 ha với mật độ 9.000 con/ha, nuôi ghép với cá mè trắng mật độ 1.500 con/ha Thí nghiệm thực hiện trong

131 ngày từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2006 Cá được cho ăn 2 lần/ngày bằng thức ăn viên nổi, cá đã tăng trọng từ 51g lên 693 g/con, trung bình tăng trưởng 5 g/con/ngày Năng suất trung bình của cá Trắm đen là 5,9 tấn/ha và 1,4 tấn/ha cá mè trắng Tỉ lệ sống của cá Trắm đen là 95% với hệ số thức ăn là 1,32 Hiệu quả kinh tế là 2.430 $/ha bằng 38,8 triệu VND với giá trên thị

Trang 20

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 12

trường tại Trung Quốc là 1,14 $/kg bằng 18.240VND/kg đối với cá Trắm đen còn với mè trắng là 0,32 $/kg bằng 5.120VND/kg (1 $ = 16.000 VND)

Thí nghiệm khác tại Trung tâm Khuyến ngư Trung Quốc của tỉnh Heilongjiang năm 2006 đã thả cá Trắm đen cỡ 250 g/con ở ao 0,2 ha với mật

độ 6.750con/ha ghép với cá mè trắng ở mật độ 1500 con/ha Cá thí nghiệm trong 129 ngày từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2006, được cho ăn bằng thức ăn viên nổi, kết quả đạt 855 g/con, trung bình tăng trưởng 5 g/con/ngày, năng suất cá Trắm đen là 5,6 tấn/ha và cá mè trắng là 0,7 tấn/ha Tỷ lệ sống của cá Trắm đen là 95,7% với hệ số thức ăn là 1.08 Hiệu quả kinh tế đạt 4.090 $/ha bằng 65,4 triệu VND với giá cá Trắm đen tại Trung Quốc là 2,02 $/kg bằng 32.000 VND/kg và cá mè trắng là 0,5 $/kg bằng 800 VND/kg

Qua thí nghiệm trên các tác giả kết luận rằng thức ăn 36% Protein và 7% Lipid nuôi cá Trắm đen thương phẩm có hiệu quả tốt, với phương pháp quản lý ao không thay nước nhằm giảm chi phí đầu vào, thức ăn sản xuất không có hợp chất hay chế phẩm gì đảm bảo an toàn thực phẩm và được thị trường chấp nhận

Một số nghiên cứu về cá Trắm đen ở Việt Nam trong thời gian gần đây:

- Nguyễn Thị Diệu Phương và ctv (2009), hiện trạng nuôi cá trắm đen vùng đồng bằng sông Hồng Theo nghiên cứu cá Trắm đen được nuôi rải rác

ở một số tỉnh thành như Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Trong quá trình điều tra cho thấy, không có hộ nào nuôi đơn cá trắm đen mà 100% là nuôi ghép Mật độ cá trắm đen trung bình là 0,1 con/m2 (1con/10m2), trong ao nuôi có mật độ trung bình 0,4 con/m2 (4 con/10m2) Mật độ thả chung trong ao có xu hướng giảm dần khi mật độ cá trắm đen tăng lên Người dân cho biết, cá trắm đen là loài rất nhạy cảm với điều kiện môi trường xấu vì vậy nuôi thương phẩm cá trắm đen cần có môi trường nuôi sạch, tức là phải thả thưa và mật độ các loài cá khác phải thấp

Trang 21

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 13

Cá trắm đen thường được nuôi ghép với nhiều loài cá khác nhau Sự kết hợp ghép các loài cá nuôi với tỷ lệ ghép hợp lý sẽ tận dụng tối ưu dinh dưỡng

tự nhiên trong ao, xử lý ô nhiễm môi trường và tăng hiệu quả của hệ thống nuôi Kích cỡ cá trắm đen khi thả trung bình là 0,48 kg/con, cỡ nhỏ nhất là 0,03 kg/con

Cá trắm đen nếu thả thưa trong ao đầm có động vật nhuyễn thể phong phú thì một năm nuôi cá thể đạt khối lượng 3 - 4 kg với cỡ cá giống 0,1 - 0,15 kg/con Nhưng ở Trung Quốc cỡ cá trắm đen thả tốt nhất là 0,5 - 0,7kg/con khi nuôi ghép trong ruộng lúa với mật độ rất thưa là 1 con/80 - 150m2 ruộng, với điều kiện giầu ốc thì sau một năm đạt 4 – 7 kg

Thức ăn ưa thích của cá trắm đen là ốc Và có thể bổ sung thêm ngô, cám, gạo hoặc thức ăn viên công nghiệp Thức ăn nhân tạo là sự lựa chọn thứ

2 của cá trắm đen vào mùa hè, mùa thu nhưng chúng không ăn vào mùa xuân

Bệnh của cá trắm đen: Vào khoảng tháng 5 - 6 là thời điểm tiết trời chuyển mùa xuân sang hạ, nhiều đợt gió mùa xuất hiện làm sự thay đổi nhiệt

độ và môi trường đột ngột cùng với sự phát triển mạnh mẽ của vi sinh vật gây bệnh làm cho cá dễ mắc bệnh Các biểu hiện của bệnh cá trắm đen là cá tuột vẩy, mất nhớt, đóng rêu, thối mang và không có biểu hiện gì Bệnh thường xuất hiện khi thay đổi thời tiết đột ngột Bệnh thường xảy ra ở mọi kích cỡ của cá

Hệ thống nuôi ghép trắm đen kết hợp với trồng sen không những cho lợi nhuận thu từ cá mà còn thu được từ hạt sen với năng suất 300 - 600 kg hạt sen khô/ha Với giá bán tại đầm 20.000 đồng/kg hạt thì sau mỗi vụ sen người sản xuất thu thêm ít nhất từ 6 triệu đến 12 triệu đồng/ha đầm

Trong ao nuôi cá trắm đen thương phẩm nên được ghép kết hợp 2 - 3 loài để sử dụng hiệu quả dinh dưỡng trong các tầng nước Trong đó, cá trắm đen là chính, còn mè trắng có vai trò lọc thực vật phù du , tỷ lệ thả từ 50%

Trang 22

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 14

đến 75% cá trắm đen Cá giống cỡ lớn 100g – 500 g/con thả với mật độ 2 - 3 con/10m2 cho ăn thức ăn bằng ốc và thức ăn viên sẽ cho hiệu quả nuôi tốt

Nuôi cá trắm đen là hướng đi mới được người nuôi cá ở một số tỉnh như Hải Dương, Ninh Bình, Hưng Yên quan tâm Cá trắm đen hiện nay chủ yếu được nuôi ghép trong ao đất hoặc nuôi kết hợp trong đầm trồng cây sen ở mức độ bán thâm canh Cá trắm đen được nuôi ghép cùng với các loài cá truyền thống: mật độ chung của ao nuôi ghép là 0,3 - 0,6 con/m2 với tỷ lệ trắm đen trung bình 29% Nuôi ghép cá trắm đen cho hiệu quả kinh tế cao hơn

so với nuôi cá truyền thống

- Nguyễn Văn Tiến và ctv (2011) “Nghiên cứu xây dựng quy trình

công nghệ nuôi thương phẩm cá Trắm đen Mylopharyngodon piceus

(Richardson, 1846)” thuộc Hợp phần Hỗ trợ phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững (SUDA), Dự án Hỗ trợ chương trình ngành Thủy sản giai đoạn II (FSPS II), được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt và cho phép thực hiện từ tháng 1/2008 đến tháng 9/2010 Qua 3 năm thực hiện, trên

cơ sở các chỉ tiêu kỹ thuật đạt được từ các nội dung nghiên cứu, đề tài đã xây dựng được dự thảo quy trình công nghệ nuôi thương phẩm cá Trắm đen cho năng suất trên 7 tấn/ha Quy trình nuôi gồm 2 giai đoạn: nuôi cá giống lớn và nuôi thương phẩm Giai đoạn giống lớn, cá Trắm đen được nuôi với mật độ 0,5 con/m2 bằng thức ăn viên hỗn hợp có hàm lượng protein 41% và lipid 7% với khẩu phần 3-5% khối lượng thân Từ cỡ cá ban đầu 49 g/con, sau 11 tháng nuôi cá đạt khối lượng trung bình 653,3 g/con Hệ số thức ăn ở giai đoạn giống lớn đạt 1,85 và tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 1,82 g/con/ngày, năng suất đạt 3,26 tấn/ha Giai đoạn nuôi thương phẩm, cá được nuôi với mật

độ 0,25 con/m2 bằng thức ăn viên hỗn hợp có hàm lượng protein 35% và lipid 7% với khẩu phần 3 - 4% khối lượng thân Từ cỡ cá ban đầu 795 g/con, sau

12 tháng nuôi cá đạt khối lượng trung bình 4.180 g/con Hệ số thức ăn là 2,8

Trang 23

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 15

và tốc độ tăng trưởng đạt 9,59 g/con/ngày Năng suất nuôi giai đoạn thương phẩm đạt 7,08 tấn/ha Tỷ lệ sống đạt 98,4% Quy trình nuôi thương phẩm cá Trắm đen đã được kiểm chứng trong điều kiện sản xuất ở quy mô nhỏ nên có tính ứng dụng cao Đề tài đã nghiên cứu thiết lập một số công thức thức ăn và

tổ chức sản xuất thành công thức ăn viên hỗn hợp cho cá Trắm đen giai đoạn giống lớn và giai đoạn nuôi thương phẩm Qua thử nghiệm, thức ăn có hàm lượng protein 41% và lipid 7% phù hợp cho giai đoạn giống lớn; thức ăn chứa 35% protein và 7% lipid phù hợp với giai đoạn nuôi thương phẩm

- Kim Văn Vạn và ctv (2011), xây dựng được mô hình nuôi đơn cá Trắm đen và mô hình nuôi ghép các trắm đen thương phẩm với một số loài cá khác (cá rô đồng, mè trắng và cá chép) tại tỉnh Hải Dương Mô hình được triển khai tại một số huyện Nam Sách, Gia Lộc trên quy mô 17.200m2 Sau hai năm triển khai đã cho thấy, mô hình nuôi cá trắm đen thương phẩm theo hướng bán thâm canh mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi và cho cộng đồng hơn hẳn các đối tượng nuôi truyền thống

Mô hình nuôi đơn cá trắm đen với mật độ thả từ 0,5 đến 1con/m2, kích

cỡ cá giống thả lớn từ 300 đến 500g/con, sử dụng thức ăn công nghiệp có hàm lượng Protein 28 - 35% với khẩu phần ăn từ 3 – 5% trọng lượng cá/ngày Sau

10 tháng, thả đơn cá trắm đen (trọng lượng khoảng 300 gam), cá đạt khoảng 3

- 3,3 kg, năng suất khoảng 14 tấn/ha, giá trị sản xuất 400 triệu đồng/ha

Mô hình nuôi ghép cá trắm đen với cá rô đồng trong giai đoạn cá còn nhỏ hoặc nuôi ghép cá trắm đen với cá chép cho hiệu quả kinh tế cao, cá ít bị dịch bệnh do có sự hỗ trợ giữa các loài nuôi và tăng hiệu quả do tận dụng mặt nước và thức ăn trong ao nuôi Cá trắm đen là loài cá có giá trị dinh dưỡng cao và rất được ưa chuộng trên thị trường, giá bán trung bình 80 – 90 nghìn đồng/kg Nếu nuôi ghép cá trắm đen với cá rô đồng hoặc cá chép cho giá trị sản xuất khoảng 650 - 700 triệu đồng/ha

Trang 24

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 16

Như vậy hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam thì nghiên cứu về

cá Trắm đen còn rất ít…những nghiên cứu ở Việt Nam còn rất mới mẻ và đã cho thấy hiệu quả mang lại từ việc nuôi cá Trắm đen Gần đây nhu cầu tiêu dùng các loại thuỷ đặc sản tăng lên nên giá các mặt hàng thuỷ đặc sản tăng cao Nắm bắt được điều này nhiều hộ nuôi cá đã quan tâm do thấy được hiệu quả kinh tế từ nuôi đối tượng này, phong trào nuôi phát triển rất mạnh Ở Thành phố Hà Nội việc nghiên cứu về cá Trắm đen rất ít, hiện tại Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội đang nghiệm thu đề tài “Hoàn thiện quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm xây dựng quy trình nuôi cá Trắm đen thương phẩm trong lồng và trong ao”, đề tài được tiến hành trong 3 năm từ 2009 đến hết năm 2011 do Chị Cục Thủy Sản chủ trì thực hiện Đề tài tiến hành nghiên cứu cho sinh sản, ương nuôi sản xuất giống cá Trắm đen và cùng với đó thực hiện nuôi cá Trắm đen thương phẩm trong lồng, trong ao với thức ăn là cám công nghiệp Trên thực tế việc đánh giá hiện trạng nuôi, thị trường tiêu thụ cá

Trắm đen ở Hà Nội cũng chưa được nghiên cứu Vì vậy “Nghiên cứu đánh

giá hiện trạng nuôi và thị trường tiêu thụ cá Trắm đen (Mylopharingodon

piceus) thương phẩm tại Thành phố Hà Nội” góp phần đánh giá về tình hình

nuôi, hiệu quả kinh tế và thị trường tiêu thụ đối tượng này để có những giải pháp hợp lý cho phát triển nuôi cá Trắm đen thương phẩm trong tương lai

Trang 25

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 17

PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra hiện trạng nuôi thương phẩm cá Trắm đen thương phẩm của Thành phố Hà Nội

+ Chăm sóc và quản lý ao nuôi

+ Năng suất và sản lượng cá nuôi

- Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình nuôi cá Trắm đen thương phẩm + Đánh giá về mức đầu tư

+ Đánh giá hiệu quả kinh tế

- Điều tra hiện trạng thị trường tiêu thụ cá Trắm đen thương phẩm + Khối lượng tiêu thụ

+ Giá cá thương phẩm

+ Khả năng cung ứng của thị trường

Trang 26

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 18

- Đánh giá những thuận lợi khó khăn và tính bền vững nuôi cá Trắm đen thương phẩm

+ Đánh giá trong nuôi thương phẩm + Đánh giá hiệu quả và khả năng nhân rộng

- Đề xuất một số giải pháp hợp lý cho phát triển nuôi cá Trắm đen thương phẩm

3.3 Phương pháp nghiên cứu

1 Thực trạng kỹ thuật nuôi

2 Hiệu quả kinh tế nuôi

Phần mềm excel và SPSS trên máy tính

Đánh giá thông tin hiện trạng:

1 Đánh giá tính bền vững của nuôi cá Trắm đen

2 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn, điểm mạnh và điểm yếu.

Đầu ra của thông tin:

Đề xuất các giải pháp hợp lý góp phần nuôi cá Trắm đen bền vững

Trang 27

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 19

3.3.2 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp

Thu thập tài liệu và thông tin liên quan đến đề tài từ Sở Nông Nghiệp &

PTNT, Phòng Kinh tế huyện và các xã của Thành phố Hà Nội, trên internet,

sách, báo, tạp chí, từ các trại giống và những lái buôn cá giống, cá thương phẩm trong vùng điều tra Các thông tin thu thập gồm:

Thông tin về hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản Hà Nội

Thông tin về tình hình nghiên cứu về cá Trắm đen trên thế giới và ở Việt Nam

Thông tin về các hộ nuôi thương phẩm cá Trắm đen ở thành phố Hà Nội Thông tin về các hộ kinh doanh buôn bán cá Trắm đen thương phẩm ở thành phố Hà Nội

3.3.3 Phương pháp thập số liệu sơ cấp (điều tra bằng bộ câu hỏi)

3.3.3.1 Xây dựng bộ câu hỏi

Căn cứ nội dung nghiên cứu của đề tài tôi xây dựng hai bộ câu hỏi: bộ câu cho thu thập số liệu từ các nông hộ nuôi cá Trắm đen thương phẩm và bộ câu hỏi cho thu thập số liệu từ các hộ sản xuất kinh doanh cá Trắm đen thương phẩm

Cấu trúc bộ câu hỏi gồm:

* Bộ câu hỏi điều tra tình hình nuôi cá Trắm đen thương phẩm gồm 2 phần chính:

 Thông tin về cơ bản về chủ hộ

 Thông tin hiện hành về gia đình nuôi cá

- Thông tin về hệ thống ao và công tác chuẩn bị ao nuôi

- Thông tin về hình thức nuôi

- Thông tin về giống

- Thông tin về thức ăn nuôi cá

- Thông tin về công tác quản lý ao nuôi

Trang 28

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 20

- Thông tin về tình hình dịch bệnh

- Thông tin về thu hoạch

- Thông tin về tiêu thụ sản phẩm

- Đầu tư và hiệu quả kinh tế

- Những thuận lợi khó khăn trong quá trình nuôi

* Bộ câu hỏi điều tra tình hình kinh doanh cá Trắm đen thương phẩm gồm hai phần:

 Thông tin cơ bản về chủ hộ

 Thông tin về tình hình kinh doanh cá Trắm đen

 Thông tin về quan điểm định hướng phát triển

Bộ câu hỏi gồm nhiều câu hỏi:

 Các câu hỏi đóng: là dạng câu hỏi chỉ có hai đáp án có hoặc không, để người được hỏi trả lời

 Các câu hỏi dạng mở: là dạng câu hỏi có một vài đáp án sẵn cho người được hỏi chọn và trả lời

 Có dạng câu hỏi là dạng nhánh tiếp theo của câu hỏi đóng hoặc mở

3.3.3.2 Chỉnh sửa bộ câu hỏi cho phù hợp

Kiểm tra bằng cách hỏi thử trực tiếp một số hộ dân nuôi cá, kinh doanh

cá thương phẩm xem câu hỏi có phù hợp không để chỉnh sửa thêm những thông tin còn thiếu, loại bỏ những câu hỏi thừa cho hoàn thiện trước khi tiến hành điều tra

3.3.3.3 Chọn hộ điều tra

- Đối với hộ nuôi cá Trắm đen thương phẩm: sau khi tìm hiểu thông tin các hộ nuôi từ nhiều nguồn khác nhau, đề tài thực hiện lựa chọn không ngẫu nhiên các hộ nuôi (hình 1)

- Đối với các hộ kinh doanh cá Trắm đen thương phẩm:

+ Cả thành phố Hà Nội có nhiều chợ buôn bán mặt hàng thủy hải sản

Trang 29

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 21

tuy nhiên chỉ có chợ Yên Sở - Thanh Trì là chợ đầu mối cá lớn nhất, là nơi tập

trung thu mua và tiêu thụ cá của cả Thành phố vì vậy đề tài tiến hành chọn

chợ Yên Sở để điều tra Sau khi khảo sát về số hộ kinh doanh cá Trắm đen tại

cá Đầu mối Yến Sở, có tới 80 hộ kinh doanh buôn bán cá Trắm đen thương

phẩm Đề tài tiến hành chọn ngẫu nhiên 30 hộ kinh doanh để tiến hành điều

tra thu thập số liệu

+ Đề tài còn tiến hành điều tra ngẫu nhiễn 30 hộ kinh doanh tại các chợ tiêu dùng lớn, nhỏ thuộc các Quân Thanh Xuân, Hà Đông, Hoàng Mai, Long Biên

Huyện Thanh Trì (gồm 16 xã thị trấn,

3 xã nuôi cá Trắm

đen) Chọn Chọn Chọn Chọn

Liên Châu

Tân Ước

Tuy Lai

Đốc Tín

Đông

Mỹ Chọn

4 hộ 15 hộ 3 hộ 3 hộ 2 hộ 3 hộ 3 hộ 4 hộ

Hình 1: Sơ đồ chọn hộ điều tra nuôi cá Trắm đen thương phẩm

3.3.3.4 Tiến hành điều tra

Trang 30

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 22

Sau khi đã chuẩn bị và chỉnh sửa bộ câu hỏi hoàn thiện tiến hành điều tra trên tất cả các hộ nuôi cá và hộ kinh doanh cá với 2 bộ câu hỏi Phương pháp điều tra gồm các bước sau:

Giới thiệu mục đích ngắn gọn tên, địa chỉ, nghề nghiệp bản thân và mục đích cuộc phỏng vấn để người dân hiểu mục tiêu nghiên cứu của đề tài,

từ đó tạo mối quan hệ tốt với chủ hộ để thuận tiện cho việc thu thập thông tin

Quan sát điều kiện ao đầm, nguồn nước và các điều kiện khác trong sản xuất ở trạng trại của nông hộ, cơ sở kinh doanh Phỏng vấn bằng bộ câu hỏi

và ghi chép số liệu

Phỏng vấn thu thập thông tin không chính thức với những người tiêu dùng và thợ thu mua buôn bán cá thương phẩm, cá giống, thức ăn

3.3.4 Phương pháp nhập, xử lý số liệu và phân tích số liệu

Sau khi thu số liệu kiểm tra số liệu, mã hoá nhập số liệu, xử lý và phân tích số liệu trên phần mềm Excel, SPSS 13.0

• Phương pháp thống kê mô tả: các chỉ số về trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất, sai số trung bình, phần trăm tỷ lệ

• Phương pháp phân tích tài chính: lợi nhuận, lợi nhuận trên đơn vị diện :tích canh tác

Lợi nhuận = Tổng thu - Tổng chi phí - Chi phí cơ hội của vốn

Lợi nhuận Lợi nhuận trên đơn vị diện tích (ha) =

Tổng diện tích (ha) Trong đó:

+ Tổng chi gồm các khoản (không bao gồm các khoản chi khác như vật

tư trang thiết bị, công lao động, thuốc hóa chất phòng trị bệnh): sản ao, giống, thức ăn, điện và xăng dầu

+ Tổng thu: từ cá Trắm đen và các loại cá khác

Trang 31

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 23

+ Chi phí cơ hội của vốn:

Số tháng nuôi Chi phí cơ hội của vốn = Tổng chi x lãi suất ngân hàng x

2

PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Quá trình thực hiện đề tài tôi đã tiến hành điều tra nghiên cứu đánh giá hiện trạng nuôi, thị trường tiêu thụ cá Trắm đen thương phẩm, kết quả tôi thu được như sau:

4.1 Hiện trạng nuôi cá Trắm đen thương phẩm

4.1.1 Trình độ học vấn và kinh nghiệm nuôi

Số liệu điều tra cho thấy hầu hết 80% số hộ nuôi có trình độ học vấn 12/12, chỉ có số ít 20% là trình độ học vấn thấp hơn Hầu hết các hộ nuôi đều

đã có kinh nghiệm từ việc nuôi các loại cá truyền thống khác như: Trắm cỏ, Chép, Trôi, mè… ít nhất từ 3 – 5 năm và các hộ này 100% đã tham gia một số lớp tập huấn nuôi trồng thủy sản Điều này cho thấy khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật của các hộ nuôi cá Trắm đen cũng khá cao

Thực tế nghiên cứu chỉ ra rằng trong 37 hộ điều tra, thì hầu hết các hộ dân này chỉ mới bắt đầu tham gia nuôi cá Trắm đen trong 2 – 3 năm trở lại đây, số hộ nuôi được 2 năm chiếm tỷ lệ cao nhất 59,5%, còn những hộ nuôi năm đầu và nuôi trên 4 năm rất ít (hình 2)

Trang 32

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 24

16.2

59.5

18.9

5.4 0.0

Hình 2: Tỷ lệ hộ theo số năm nuôi cá

Kết quả này cho thấy việc nuôi Trắm đen thương phẩm chỉ mới xuất hiện tại Hà Nội do người nuôi tìm hiểu thông tin và học hỏi tự phát triển nuôi kết hợp với kinh nghiệm từ việc nuôi cá truyền thống sẵn có

4.1.2 Hình thức nuôi

Hình thức nuôi cá ở Hà Nội chủ yếu vẫn là nuôi ghép các đối tượng cá truyền thống, rất ít khu vực nuôi đơn thâm canh một đối tượng (Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội, 2011) Kết quả phân tích cho thấy 100% các hộ tham gia nuôi cá Trắm đen thương phẩm sử dụng hình thức nuôi ghép cá Trắm đen với các đối tượng cá truyền thống Chép, Trắm cỏ, Mè, Trôi Kết quả này cũng tương tự với kết quả điều tra về khảo sát tình hình nuôi cá Trắm đen thương phẩm khu vực Đồng bằng sông Hồng của Nguyễn Thị Diệu Phương và ctv (2009)

Theo chúng tôi và từ người nuôi kinh nghiệm cho biết khi nuôi như vậy sẽ tận dụng được diện tích, thức ăn thừa, chất thải từ đối tượng chính là

cá Trắm đen và làm sạch môi trường ao nuôi vì khi nuôi cá Trắm đen thì thức

ăn chủ yếu của chúng là động vật (ốc, don), có hàm lượng đạm cao nên lượng phân thải ra và thức ăn thừa sẽ làm môi trường nước ao nhanh bẩn

Trang 33

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 25

4.1.3 Hiện trạng ao nuôi

* Diện tích ao:

Kết quả điều tra cho thấy diện tích ao trung bình của các hộ nuôi là 4.235m2, lớn nhất 25.000m2 và nhỏ nhất 1.200m2 Kết quả phân tích cụ thể ở hình 3:

Hình 3: Tỷ lệ số hộ theo diện tích nuôi

Số hộ có diện tích ao nằm trong khoảng từ 2.000 - 4.000m2 chiếm chủ yếu 43,2% và số hộ nuôi ở diện tích nhỏ dưới 2.000m2 và quá lớn trên 4.000 – 6000m2 chiếm tỷ lệ thấp Có nhiều người nuôi ở mức diện tích này theo chúng tôi là do Trắm đen là loại cá có giá trị kinh tế cao nên việc đầu tư lớn

và loại cá này cũng chỉ mới được nuôi trong một vài năm trở lại đây Vì vậy ở diện tích nuôi này phù hợp với mức độ cũng như dễ dàng trong công tác quản

lý ao nuôi và chăm sóc cá

Ở diện tích nuôi nhỏ diện tích mặt thoáng kém cũng phần nào ảnh hưởng đến cá nuôi do Trắm đen là loại ưa nước sạch và có nồng độ oxy cao, nhưng ở diện tích này phù hợp với những người có khả năng đầu tư thấp Ở diện tích quá lớn tuy đảm bảo được điều kiện tốt cho cá phát triển tuy nhiên

Trang 34

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 26

mức độ đầu tư cũng như quản lý chăm sóc cá khó khăn hơn

* Công tác chuẩn bị ao:

Chuẩn bị ao là khâu rất quan trọng trong nuôi trồng thuỷ sản nói chung

và nghề nuôi thuỷ sản nước ngọt nói riêng Trong quá trình điều tra các hộ nuôi cá Trắm đen thương phẩm đều thực hiện công tác chuẩn bị ao khá tốt

- Có 100% các hộ nuôi không nạo vét đáy, do ở các ao nuôi cá Trắm đen thức ăn chủ yếu là các loại động vật thân mềm như: ốc, don, ốc bươu vàng nên khi ăn chúng thải ra vỏ của các loại này, tạo thành một lớp vỏ dày dưới đáy ao (đặc biệt những khu vực đổ thức ăn nhiều) vì vậy việc nạo vét bùn ao ở các ao nuôi Trắm đen sau các vụ nuôi là không có, việc nạo vét này chỉ thực hiện với những hộ nuôi cá năm đầu và ở các ao có độ bùn dày

- Có 100% hộ nuôi dùng vôi để diệt tạp cho ao với liều lượng không đồng nhất nhưng hầu hết liều lượng khoảng từ 7 - 15 kg/100m2

Sau khi nạo vét bùn ao và bón vôi thì hầu hết (80%) số hộ phơi ao trong vòng 1 tuần đến nửa tháng sau đó mới lấy nước vào ao, 20% số hộ còn lại không có điều kiện phơi ao do lượng ốc mà cá sự dụng vẫn còn nhiều nên việc phơi đáy ao sẽ làm chết ốc vì vậy các hộ này không thực hiện phơi ao

Nhưng khác với các công tác chuẩn bị ao trong các hệ thống nuôi các loài cá nước ngọt khác khi bắt đầu mỗi vụ nuôi phải bón phân gây màu nước cho ao (Nguyễn Duy Khoát, 2005), ở hệ thống nuôi cá Trắm đen thương phẩm thì 100% các hộ không sử dụng phân để gây màu nước trước khi thả cá

vì theo một số người nuôi trả lời: “cá Trắm đen là loài cá sống trong môi trường sạch nếu bẩn chúng sẽ chết nên không cần gây màu” Nhưng theo chúng tôi điều này ngoài lý do cá Trắm đen sống trong môi trường nước sạch thì còn do cá Trắm đen ăn thiên về động vật (ăn ốc, trai, hến, sò nhỏ, cua và côn trùng) (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001; Vũ Trung Tạng và Nguyễn Đình Mão, 2005), chúng không ăn tảo vì vậy khi nuôi cá Trắm đen

Trang 35

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 27

không cần gây màu nước

* Nguồn nước cấp và mực nước nuôi:

Nuôi cá Trắm đen thương phẩm theo những hộ nuôi, thì nguồn nước là rất quan trọng Nước nuôi cá Trắm đen phải là nước sạch không bị ô nhiễm vì khi dùng nguồn nước ô nhiễm thì cá sẽ dễ bị nhiễm bệnh và giảm tăng trưởng làm giảm hiệu quả kinh tế Nhưng hiện nay theo chúng tôi điều tra thì nguồn nước cung cấp cho các ao nuôi chủ yếu vẫn phụ thuộc vào nguồn nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp vì vậy việc chủ động về nguồn nước và chất lượng nước là chưa đảm bảo cho các ao nuôi cá Trắm đen thương phẩm

Nguồn nước nuôi cá chủ yếu vẫn lấy từ các mương máng xung quanh, những nguồn nước này được người nuôi bơm vào ao hoặc tháo trực tiếp bằng cống

Mực nước mà người nuôi cá Trắm đen thương phẩm ở các Huyện sử dụng để nuôi cá cũng có sự khác nhau tương đối nhưng hầu hết mức nước nuôi cá trong khoảng từ 1 – 3 m Số hộ nuôi cá ở mực nước nuôi từ 1,5 - 2 m chiếm tỉ lệ cao nhất, 84,6% tổng số hộ nuôi Ở mực nước này lượng cá chứa được trong ao là vừa phải, đảm bảo cho cá không bị quá nóng vào mùa hè và quá lạnh vào mùa đông, đảm bảo cho sự phát triển cho cá Ngoài ra ở mực nước này nguồn thức ăn chính của cá là ốc không bị chết vì vậy nhiều hộ chọn nuôi ở mực nước này

Ở mức nước dưới 1,5 m và >2 - 3 m có số rất ít hộ nuôi Ở mức nước sâu >2 - 3 m tuy chứa được nhiều cá nhưng lại ảnh hưởng đến loài làm thức

ăn chính cho cá là ốc, chúng sẽ chết, gây thối ảnh hưởng đến nguồn thức ăn cho cá và ảnh hưởng tới môi trường trong ao nuôi, ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế cả vụ nuôi Ở mực nước quá thấp thì chứa được ít cá hơn so với mực nước lớn, hơn nữa ở mực nước này lúc thời tiết quá nóng, quá lạnh gây sốc cho cá ảnh hưởng đến khả năng hoạt động bắt mồi làm cá giảm tăng trưởng cá

Trang 36

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 28

sẽ chậm lớn Vì vậy chỉ có số ít hộ nuôi ở mực nước này

Từ kết quả phân tích năng suất của các hộ nuôi và sự quan sát trong quá trình điều tra chúng tôi nhận thấy nuôi cá ở mực nước từ 1,5 - 2 m là tốt nhất

và cho năng suất cá là cao nhất Mực nước này cũng tương tự với mực nước tốt nhất khuyến cáo nuôi các loài cá nước ngọt khác ở ao nước tĩnh là 1,5 - 2m (Nguyễn Duy Khoát, 2005)

Trang 37

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 29

4.1.4 Nguồn giống và chất lượng con giống

Kết quả điều tra, hầu hết nguồn giống cá Trắm đen được nuôi hiện nay chủ yếu mua từ: Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên và ở trong tỉnh Các tỉnh này cũng là nơi có phong trào nuôi cá Trắm đen rất mạnh trong những năm gần đây (Nguyễn Thị Diệu Phương và ctv, 2009) Theo chúng tôi

ở các vùng này thì cùng với sự phát triển nuôi cá thương phẩm người dân cùng phát triển ương, nuôi giống nhằm chủ động nhu cầu nuôi thương phẩm tại địa phương và thực hiện mục đích kinh doanh bán giống

Các nguồn giống này được người nuôi mua từ các lái buôn hoặc tự đi tới tận nơi sản xuất giống lấy về Con giống được vận chuyển bằng túi nilon

có bơm oxy hoặc bằng sọt có sục khí, được chuyên trở bằng ô tô và xe máy Nguồn giống nói chung theo người nuôi cá trả lời là đảm bảo về chất lượng, dễ mua và đủ các chủng loại theo yêu cầu

4.1.2.3 Mùa vụ thả giống

Mùa vụ thả giống được trình bày ở (Hình 4)

21.6 62.2

10.8 5.4 0

Hình 4: Thời điểm thả giống

Trong tất cả các hộ nuôi cá Trắm đen thương phẩm đa số hộ nuôi chọn

Trang 38

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 30

thời điểm thả giống vào tháng 2 (dương lịch) là 21,6% và tháng 3 là 62,2% (dương lịch) Số hộ thả giống vào các thời điểm khác rất ít, những hộ này đều

là hộ mới nuôi năm đầu nên việc thả giống còn phụ thuộc vào thời gian chuẩn

bị ao

Theo chúng tôi thả giống vào thời điểm tháng 2 và tháng 3 là thích hợp nhất vì thả giống vào thời điểm này là thời điểm mùa xuân khí hậu đã ấm, nhiệt độ môi trường khá cao (Đoàn Văn Điếm, 2005) đảm bảo cho cá phát triển và hơn nữa thả vào thời điểm này cũng đảm bảo kích cỡ thu hoạch vào khoảng cuối tháng 1 đầu tháng 2 năm sau (vì hầu hết các hộ nuôi đều sản xuất

1 vụ/năm) trùng với dịp tết Nguyên Đán nên giá cá thịt là cao nhất trong năm Khi thả cá từ tháng 4 đến tháng 8 (dương lịch) tuy lúc này nhiệt độ môi trường cao tốt cho cá phát triển nhưng rơi vào đúng thời điểm dịch bệnh phát triển mạnh và khó đảm bảo kích cỡ thu hoạch với những cá thả ở kích cỡ nhỏ,

sẽ ảnh hưởng đến năng suất và giá Còn thả cá từ tháng 9 đến tháng 12, đúng vào thời điểm mùa đông lạnh của miền Bắc (Đoàn Văn Điếm, 2005), nhiệt độ môi trường xuống thấp cá sinh trưởng chậm, ngoài ra thả vào thời điểm này quá gần thời điểm thu hoạch cá không đủ kích cỡ thu, chủ yếu để giữ cá giống cho vụ sau

4.1.5 Kích cỡ giống

Kích cỡ giống thả tuỳ thuộc vào thời gian thả cá và kích cỡ thu hoạch để đạt được hiệu quả cao nhất, thả giống nhỏ thì thời gian nuôi dài còn thả giống lớn thì thời gian nuôi ngắn nhanh thu hoạch Trên thực tế chúng tôi điều tra được trong 37 hộ nuôi thì kích cỡ giống cá Trắm đen thả nuôi trung bình là 0,52 kg/con với kích cỡ lớn nhất là 1,5 kg/con và nhỏ nhất là 0,3 kg/con Kết quả phân tích về kích cỡ cá Trắm đen thả của các hộ nuôi cá Trắm đen thương phẩm được thể hiện

ở bảng 1

Trang 39

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 31

Bảng 1: Kích cỡ cá Trắm đen và kích cỡ các loài thả ghép

Loài

Giá trị

Trắm đen Chép

Trắm

cỏ

Mè trắng Mè hoa Trôi

Trung bình 0,52 0,17 0,49 0,16 0,51 0,16 Sai số chuẩn 0,04 0,01 0,02 0,01 0,02 0,01 Lớn nhất 1,50 0,30 1,00 0,30 1,00 0,30 Nhỏ nhất 0,30 0,10 0,30 0,10 0,40 0,10

Hình 5: Tỷ lệ số hộ nuôi theo kích cỡ thả cá Trắm đen

Ta thấy rằng, trọng lượng cá từ 0,3 - 0,7 kg/con chiếm tỷ lệ cao hơn so với các kích cỡ khác Theo chúng tôi thả cá ở kích thước nhỏ giá tuy cao hơn

cá cỡ giống lớn nhưng số đầu con nhiều, dễ vận chuyển và vẫn đảm bảo được kích cỡ thu hoạch vào đầu năm sau trên 3 kg/con, hơn nữa cá ở cỡ này trên thị

Trang 40

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp……… 32

trường dễ tìm mua Thả cá ở kích cỡ lớn, số đầu con rất ít nên chi phí đầu tư cho giống lớn, tốn kém và ở cỡ này rất khó mua giống vì hầu hết những người sản xuất giống có rất ít người nuôi cá giống cỡ to như vậy Ngoài ra cá giống

to có trọng lượng lớn vận chuyển sẽ rất khó, tốn chi phí và rất dễ bị xây xát trong khi đánh bắt, vận chuyển Ở kích cỡ lớn này chủ yếu là những cá từ vụ trước không đủ kích cỡ thương phẩm và giá thương phẩm không cao nếu bán

sẽ không có lợi nhuận nhiều hoặc do người nuôi tự nuôi giống để chủ động giống Tuy nhiên cũng theo một số hộ cho biết hiện nay trên thị trường tiêu thụ thì cá thương phẩm có kích thước lớn lại dễ tiêu thụ và bán được giá cao

vì vậy đây cũng là nguyên nhân một số hộ thả giống ở kích cỡ lớn

Kết quả nghiên cứu về kích cỡ thả cá Trắm đen của các hộ nuôi tương đương như kết quả nghiên cứu của Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ (2004) sưu tầm, với các khu ruộng giàu ốc có thể thả ghép cá Trắm đen với mật độ 1 con trên 80 - 150 m2 ruộng, cỡ cá giống thả tốt nhất là 0,5 - 0,7 kg sau 1 năm nuôi đạt cỡ 4 - 7 kg; Nguyễn Văn Việt (1993) cá Trắm đen thả thưa trong ao đầm

có động vật nhuyễn thể một năm có đạt trong lượng từ 3 - 4 kg với cỡ cá giống 0,1 - 0,15 kg; Ths Kim Văn Vạn và ctv (2011) (từ 0,3 – 0,5 kg/con)

Sự giống nhau về kích cỡ giống cá Trắm đen thả của các nghiên cứu qua các năm, ta thấy ở kích cỡ cá từ 0,1 - 0,5 kg/con là phù hợp với nuôi thương phẩm

cá Trắm đen

Đối với kích cỡ thả của những loài nuôi ghép với cá Trắm đen được thể hiện ở bảng 1, thì kích cỡ thả những loài này tuỳ thuộc vào tốc độ tăng trưởng, đặc tính từng loài và kích cỡ thương phẩm để người nuôi lựa chọn kích cỡ thả phù hợp để thu hoạch đạt hiệu quả cao nhất Tuy nhiên với kích cỡ

cá thả các loài cá này cũng tương đương với kích cỡ thả giống khuyến cáo trong một số sách kỹ thuật nuôi cá nước ngọt

Ngày đăng: 15/11/2015, 19:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1:  Sơ đồ chọn hộ điều tra nuôi cá Trắm đen thương phẩm  3.3.3.4. Tiến hành điều tra - nghiên cứu đánh giá hiện trạng nuôi và thị trường tiêu thụ cá trắm đen (mylopharyngodon piceus) thương phẩm tại thành phố hà nội
Hình 1 Sơ đồ chọn hộ điều tra nuôi cá Trắm đen thương phẩm 3.3.3.4. Tiến hành điều tra (Trang 29)
Hình 2: Tỷ lệ hộ theo số năm nuôi cá - nghiên cứu đánh giá hiện trạng nuôi và thị trường tiêu thụ cá trắm đen (mylopharyngodon piceus) thương phẩm tại thành phố hà nội
Hình 2 Tỷ lệ hộ theo số năm nuôi cá (Trang 32)
Hình 3: Tỷ lệ số hộ theo diện tích nuôi - nghiên cứu đánh giá hiện trạng nuôi và thị trường tiêu thụ cá trắm đen (mylopharyngodon piceus) thương phẩm tại thành phố hà nội
Hình 3 Tỷ lệ số hộ theo diện tích nuôi (Trang 33)
Bảng 1: Kích cỡ cá Trắm đen và kích cỡ các loài thả ghép - nghiên cứu đánh giá hiện trạng nuôi và thị trường tiêu thụ cá trắm đen (mylopharyngodon piceus) thương phẩm tại thành phố hà nội
Bảng 1 Kích cỡ cá Trắm đen và kích cỡ các loài thả ghép (Trang 39)
Bảng 2: Mật độ nuôi và tỉ lệ ghép cá Trắm đen trong ao nuôi - nghiên cứu đánh giá hiện trạng nuôi và thị trường tiêu thụ cá trắm đen (mylopharyngodon piceus) thương phẩm tại thành phố hà nội
Bảng 2 Mật độ nuôi và tỉ lệ ghép cá Trắm đen trong ao nuôi (Trang 41)
Hình 6: Tỷ lệ số hộ nuôi theo tỷ lệ ghép cá Trắm trong ao - nghiên cứu đánh giá hiện trạng nuôi và thị trường tiêu thụ cá trắm đen (mylopharyngodon piceus) thương phẩm tại thành phố hà nội
Hình 6 Tỷ lệ số hộ nuôi theo tỷ lệ ghép cá Trắm trong ao (Trang 42)
Bảng 3: Giá của một số loại thức ăn - nghiên cứu đánh giá hiện trạng nuôi và thị trường tiêu thụ cá trắm đen (mylopharyngodon piceus) thương phẩm tại thành phố hà nội
Bảng 3 Giá của một số loại thức ăn (Trang 44)
Bảng 4: Kích cỡ thu hoạch cá Trắm đen và các loài nuôi ghép - nghiên cứu đánh giá hiện trạng nuôi và thị trường tiêu thụ cá trắm đen (mylopharyngodon piceus) thương phẩm tại thành phố hà nội
Bảng 4 Kích cỡ thu hoạch cá Trắm đen và các loài nuôi ghép (Trang 48)
Hình 7: Tỷ lệ số hộ nuôi theo các mức năng suất cá Trắm đen - nghiên cứu đánh giá hiện trạng nuôi và thị trường tiêu thụ cá trắm đen (mylopharyngodon piceus) thương phẩm tại thành phố hà nội
Hình 7 Tỷ lệ số hộ nuôi theo các mức năng suất cá Trắm đen (Trang 49)
Bảng 7: Tổng thu và lợi nhuận thu được của các hộ nuôi - nghiên cứu đánh giá hiện trạng nuôi và thị trường tiêu thụ cá trắm đen (mylopharyngodon piceus) thương phẩm tại thành phố hà nội
Bảng 7 Tổng thu và lợi nhuận thu được của các hộ nuôi (Trang 52)
Hình 8: Biểu đồ biểu thị sự biến động về giá theo kích cỡ cá Trắm đen - nghiên cứu đánh giá hiện trạng nuôi và thị trường tiêu thụ cá trắm đen (mylopharyngodon piceus) thương phẩm tại thành phố hà nội
Hình 8 Biểu đồ biểu thị sự biến động về giá theo kích cỡ cá Trắm đen (Trang 54)
Hình 9: Biểu thị giá theo kích cỡ cá qua các năm - nghiên cứu đánh giá hiện trạng nuôi và thị trường tiêu thụ cá trắm đen (mylopharyngodon piceus) thương phẩm tại thành phố hà nội
Hình 9 Biểu thị giá theo kích cỡ cá qua các năm (Trang 55)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w