1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các văn bản ngoại giao trong Quân Trung Từ Mệnh Tập

22 3,2K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 245,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Năm 1407, giặc Minh sang cướp nước ta, chúng tìm mọi cách dụ dỗ ông theo chúng nhưng Nguyễn Trãi nhất mực cự tuyệt.- Sau một thời gian dài bị quân Minh nhốt ở Đông Quan, Nguyễn Trãi th

Trang 1

Trường đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Khoa: Lịch sử

Chuyên ngành: Quốc tế học

Bộ môn: Nghiệp vụ thư kí văn phòng ngoại giao.

Tên đề tài:

Phân tích giá trị VĂN BẢN NGOẠI GIAO trong tác phẩm

“Quân Trung từ mệnh tập” của tác giả Nguyễn Trãi.

Giảng viên hướng dẫn: Thầy NGUYỄN VĂN KẾT.

Nhóm sinh viên thực hiện: (họ và tên, MSSV, SĐT)

2 NGUYỄN VŨ MINH TRÂM (NT) K38.608.030 0962 851 527

6 TRẦN NGỌC THẢO XUÂN K38.608.150

Trang 2

Phần 1: Tóm tắt đề tài 3

Phần 2: 3

2.1.1 Tên đề tài: 3

2.1.2 Nội dung giải quyết trong đề tài 3

2.1.3 Mục đích và mục tiêu khi thực hiện đề tài 4

2.1.3.1 Mục đích 4

2.1.3.2 Mục tiêu khi thực hiện đề tài 4

2.2.1 Văn bản ngoại giao 4

2.2.1.1 Khái niệm 4

2.2.1.2 Phân loại văn bản ngoại giao trong Lịch sử Việt Nam 4

2.2.1.2.1 Các loại văn bản ngoại giao trong lịch sử 4

2.2.1.2.2 Các loại văn bản ngoại giao hiện hành 5

2.2.1.3 Đặc điểm của văn bản ngoại giao 5

2.2.1.4 Mục đích ban hành văn bản ngoại giao 5

2.2.2 Khái quát về tác giả Nguyễn Trãi và tác phẩm “Quân trung từ mệnh Tập” 5

2.2.2.1 Đôi nét về Nguyễn Trãi 5

2.2.2.2 Tình hình Việt Nam thế kỉ XV 6

2.2.2.3 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm “Quân trung từ mệnh Tập” 7

2.2.2.4 Nội dung chính của “Quân trung từ mệnh Tập” 8

2.2.2.4.1 Tình yêu nước, không đội trời chung với kẻ thù 8

2.2.2.4.2 Sự nhận thức chính xác về chiều hướng thắng bại của ta 9

2.2.2.4.3 Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi thông qua tác phẩm “Quân trung từ mệnh Tập” 13

2.2.3 Phân tích giá trị Văn bản ngoại giao thông qua tác phẩm “Quân trung từ mệnh Tập” 15

2.2.3.1 Tiêu chí để gọi “Quân trung từ mệnh Tập” là văn bản ngoại giao 15

2.2.3.2 So sánh Quân trung từ mệnh Tập với văn bản ngoại giao 16

2.2.3.3 Giá trị của “Quân trung từ mệnh tập” đối với Việt Nam thời đó 17

2.2.3.3.1 Tiêu đề chiến đấu rõ ràng “chính nghĩa nhất định thắng gian tà” 17

2.2.3.3.2 Biện pháp chiến đấu thích đáng và hiệu quả chiến đấu cao, đỡ hi sinh xương máu cho hai nước 18

2.2.3.4 Giá trị ngoại giao của “Quân trung từ mệnh Tập” đối với Việt Nam 19

2.3 Kết luận 21

Tài liệu tham khảo: 22

Trang 3

Phần 1: Tóm tắt đề tài.

1.1 Cấu trúc trình bài của đề tài;

Đề tài của nhóm được trình bày theo cấu trúc sau:

Đầu tiên là phần mở đầu, tại đây nhóm sẽ nêu ra lý do thực hiện đề tài mà mục tiêu hướng đến là gì

Sau đó đi vào nội dung

Bắt đầu bằng khái niệm văn bản ngoại giao và phân loại các văn bản ngoại giao của Việt Nam, song song với đó là nêu lên đặc điểm của văn bản ngoại giao và mục đích của nó khi được ban hành là gì

Phần tiếp theo là nói về tác phầm “Quân trung từ mệnh tập”, tại đây, sẽ làm rõ những

vấn đề như: tác giả, hoàn cảnh lịch sử, tác phẩm và nội dung chính của tác phẩm ví dụ như: lòng yêu nước, không đội trời chung với kẻ thù, sự thức thời về địch và ta, và tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi và Lê Lợi

Tại phần cuối cùng, nhóm sẽ trình bày giá trị văn bản ngoại giao của tác phẩm “Quân

trung từ mệnh tập” Trong đó có các nội dung như: tiêu chí để gọi tác phẩm trên là

văn bản ngoại giao, so sánh tác phẩm trên với văn bản ngoại giao, giá trị của tác phẩm này đối với Việt Nam xưa và nay

Và kết thúc đề tài bằng kết luận chung của toàn đề tài

1.2 Nội dung chính của đề tài;

Nội dung chính mà nhóm nhắm vào khi làm đề tài này đó là hiểu rõ văn bản ngoại

giao là gì?, tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” nói như thế nào và kết hợp của hai

vấn đề trên để cho ra giá trị nội dung nổi bật quan trọng nhất của đề tài

1.3 Nội dung nổi bật, quan trọng nhất của đề tài.

Phân tích giá trị VĂN BẢN NGOẠI GIAO thông qua tác phẩm “Quân trung từ

mệnh tập”

Phần 2:

2.1 Giới thiệu đề tài.

2.1.1 Tên đề tài:

Phân tích giá trị VĂN BẢN NGOẠI GIAO trong tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập”.

2.1.2 Nội dung giải quyết trong đề tài.

2.1.2.1 Văn bản ngoại giao

Trang 4

2.1.2.2 Khái quát tác phầm: “Quân trung từ mệnh tập”

2.1.2.3 Phân tích giá trị VĂN BẢN NGOẠI GIAO thông qua tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập”

2.1.3 Mục đích và mục tiêu khi thực hiện đề tài.

2.1.3.1 Mục đích

Khi thực hiện đề tài này, mục đích đầu tiên mà nhóm nhắm tới đó chính là làm sáng tỏ

nội dung trong “Quân trung từ mệnh tập”, đây là phần kiến thức lịch sử mà các thành

viên trong nhóm nắm chưa vững

Tiếp đó là hiểu rõ được nghệ thuật quân sự, dụng nhân của Nguyễn Trãi và Lê Lợi thông qua hoàn cảnh lịch sử, phong cách ngoại giao khi làm việc với Trung Hoa

Nguyễn Trãi đã thể hiện được cái “thông thái” và “biết người biết ta” như thế nào mà

đời sau luôn mến mộ

Và quan trọng nhất là làm rõ giá trị văn bản ngoại giao trong tác phẩm “Quân trung từ

mệnh tập”.

2.1.3.2 Mục tiêu khi thực hiện đề tài.

Trả lời được phần lớn nội dung mà nhóm đã định sẵn trước khi bắt tay vào thực hiện đề tài được nêu ở hần 2.1.3.1 bên trên

Trau dồi thêm kỹ năng và kiến thức về văn bản ngoại giao, áp dụng kiến thức học được vào cuộc sống và công việc tương lai, với nền tảng là sự linh hoạt và kiến thức lịch sử, ngoại giao của các vị tiền nhân truyền lại cho hậu thế

Học thêm nhiều kiến thức lịch sử khác mà có liên quan tới đề tài trong khi thực hiện.Ngoài ra còn có nhiều kỹ năng mềm như: xử lí nguồn thông tin, hoạt động nhóm, làm việc với Office và kỹ năng thuyết trình

để biết hoặc để cam kết thực hiện

2.2.1.2 Phân loại văn bản ngoại giao trong Lịch sử Việt Nam

2.2.1.2.1 Các loại văn bản ngoại giao trong lịch sử

- Các loại văn bản ngoại giao đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc

- Các loại văn bản ngoại giao về quan hệ ngoại giao Việt Nam – Các nước và giao thương, văn hóa quốc tế

Trang 5

2.2.1.2.2 Các loại văn bản ngoại giao hiện hành

- Các loại văn bản ngoại giao về chính trị, lãnh thổ,…

- Các loại văn bản ngoại giao về tư pháp, lãnh sự, kinh tế, thương mại

- Các loại văn bản ngoại giao về lễ tân

2.2.1.3 Đặc điểm của văn bản ngoại giao

- Là loại văn bản mang tính chuyên môn dùng trong công tác đối ngoại

- Có hình thức đa dạng, nội dung phong phú đề cập đến nhiều vấn đề trong quan hệ đối ngoại: hiếu hỉ, nhân quyền, quan hệ song phương và đa phương…;

- Việc ban hành văn bản có thể là đơn phương, song phương hoặc đa phương;

- Có bố cục chặt chẽ; lời văn, từ ngữ trau chuốt; quan hệ giao tiếp trong văn bản thường dùng ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba; ngôn ngữ giao tiếp là tiếng Việt, tiếng nước sở tại (hay đang quan hệ) hoặc nước thứ ba;

- Nội dung và hình thức văn bản được quan tâm đặc biệt vì sẽ ảnh hưởng đến thể diện và quan hệ đối ngoại

2.2.1.4 Mục đích ban hành văn bản ngoại giao

- Dùng để thiết lập, duy trì mối quan hệ giữa các đối tác;

- Trao đổi thông tin;

- Thể hiện quan điểm, đường lối, chủ trương…;

- Thỏa thuận về một vấn đề trong quan hệ song phương hoặc đa phương…

2.2.2 Khái quát về tác giả Nguyễn Trãi và tác phẩm “Quân trung từ mệnh Tập”

2.2.2.1 Đôi nét về Nguyễn Trãi

a Đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp

- Nguyễn Trãi sinh năm 1380 ở Thăng Long Quê ở Nhị Khê, Hà Tĩnh, là cháu ngoại của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán

Trang 6

- Năm 1407, giặc Minh sang cướp nước ta, chúng tìm mọi cách dụ dỗ ông theo chúng nhưng Nguyễn Trãi nhất mực cự tuyệt.

- Sau một thời gian dài bị quân Minh nhốt ở Đông Quan, Nguyễn Trãi thoát được và theo Lê Lợi khởi nghĩa, ông chính là người soạn ra Bình Ngô sách Ngoài ra ông còn nhiều tác phẩm đã chứng tỏ được đường lối ngoại giao hết sức khôn khéo của Lê Lợi

và Nguyễn Trãi

- Sau khi Lê Lợi lên ngôi vua thì một thời gian sau Nguyễn Trãi xin cáo lão, sống ẩn

cư nhưng sóng gió vẫn đổ ập lên ông và thân tộc với oan án Lệ Chi Viên 1442, mãi đến 1464 mới được vua Lê Thánh Tông hạ chiếu minh oan cho ông

Ta thấy được Nguyễn Trãi sống trong một thời đại đầy biến động, chính những biến động đó đã tôi luyện nên một người anh hùng, một quân sư, một nhà thơ lớn của dân tộc

- Ngoài sự nghiệp chính trị thì sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi cũng khiến người

đời sau phải ngưỡng mộ, ông chính là tác giả của Bình Ngô đại cáo- một tác phẩm

được xem như là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, hay là một số tác phẩm

khác như Bình Ngô sách, Quốc âm thi tập, Ức trai thi tập,

2.2.2.2 Tình hình Việt Nam thế kỉ XV

a Cuộc xâm lược của nhà Minh và sự thất bại của nhà Hồ

- Tháng 11/1406 lấy cớ nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần, nhà Minh huy động một lực lượng lớn gồm 20 vạn quân cùng với hàng chục vạn quân phu do tướng Trương Phụ cầm đầu đã tràn vào biên giới nước ta

- Ngày 22/1/1407 sau khi đánh bại quân nhà Hồ ở Đa Bang, quân Minh chiếm Đông

Đô – Thăng Long Quân nhà Hồ lui về cố thủ ở Tây Đô

- Tháng 4/1407 quân Minh tấn công vào Tây Đô, Hồ Qúy Ly chạy vào Hà Tĩnh và bị bắt vào tháng 6/1407

b Sự đô hộ của nhà Minh ở nước ta

Chính sách đô hộ phong kiến vô cùng độc ác và dã man: thực hiện chính sách vơ vét triệt để, chính quyền tăng thuế ruộng đất, tất cả các ngành buôn bán đều bị đánh thuế; nhiều phụ nữ, trẻ em, dân phu, đào hát bị bắt đem về Trung Quốc; thủ tiêu quá khứ, thủ tiêu lịch sử, thủ tiêu văn hóa; cướp ruộng đất, biến ruộng đất thành đồn điền; chia

rẻ dân tộc và đàn áp tàn bạo các phong trào Hai mươi năm đô hộ của nhà Minh làm cho nền kinh tế nước ta trì trệ, nhân dân rơi vào cùng cực, đất nước rơi vào thời kỳ khủng hoảng

c Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1427)

Trang 7

- Trong bối cảnh khó khăn, nhiều cuộc nổi dậy chống quân Minh đều bị thất bại Đầu năm 1416 Bộ chỉ huy cuộc khởi nghĩa được thành lập ở Lũng Nhai gồm 19 người, đây là tiền đề bước đầu cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn sau này.

- Ngày 7/2/1418 Lê Lợi dựng cờ Khởi nghĩa Lam Sơn, những năm đầu lực lượng còn yếu nên hay bị đàn áp

- Cuối năm 1421 nhà Minh huy động 10 vạn quân càn quyét nghĩa quân Lam Sơn, Lê Lợi tạm hoãn phong trào, quân Minh dụ hòa Lê Lợi để làm nhụt chí nghĩa quân

- Những năm 1424 – 1426, Nghĩa quân giải phóng Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa và tiến quân ra Bắc Đến năm 1427 cuộc khởi nghĩa kết thúc hoàn toàn thắng lợi, chấm dứt 20 năm đô hộ của nhà Minh ở nước ta

Sau khi nắm quyền lực, nhà Minh luôn có ý định xâm lược nước ta Sau nhiều lần do thám thì đến năm 1406 nhà Minh chính thức xâm lược nước ta Từ năm 1407 nước ta

bị nhà Minh đô hộ, nhân dân cơ cực, lầm than dẫn đến nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra nhưng đều gặp thất bại Trong bối cảnh đó Lê Lợi đã đứng lên khởi nghĩa Lam Sơn và năm 1418, trãi qua nhiều khó khăn, gian khổ và đến năm 1427 cuộc khởi nghĩa hoàn toàn giành thắng lợi

2.2.2.3 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm “Quân trung từ mệnh Tập”

Quân trung từ mệnh tập là tập sách gồm những thư từ do Nguyễn Trãi viết cho các

tướng lĩnh quân Minh như Sơn Thọ, Phương Chính, Thái Phúc, Vương Thông, Và viết cho bọn Việt gian Đỗ Trung, Lương Nhữ Hốt Ngay sau khi Nguyễn Trãi cùng gia tộc bị tru di, những thư từ nói trên cũng không còn nữa Đến năm 1480 sau khi Lê Thánh Tông xuống chiếu tẩy oan cho Nguyễn Trãi, Trần Khắc Kiệm mới sưu tầm những thư từ của Nguyễn Trãi viết cho quân Minh từ khoảng năm 1423 – 1427 Quân

trung từ mệnh tập còn lại đến nay chỉ có 46 bài trong đó có một “tờ tấu cầu phong”, một tờ “chiếu khuyến dụ hào kiệt” và một “tờ tấu về việc tìm hỏi con cháu họ Trần”.

Có thể nói phần lớn các tư tưởng triết học, chính trị, quân sự của Nguyễn Trãi đã nói

lên khá cụ thể trong “Quân trung từ mệnh tập” Toàn bộ tập văn sắc sảo này như một

cái thòng lọng vô hình mà mỗi bức thư là một cái nút Cái thòng lọng vô hình ấy trải qua thời gian diễn biến theo mặt trận quân sự mà quấn chặt dần quanh cái cổ tham vọng bá quyền của quân giặc

Sở dĩ “Quân trung từ mệnh tập” không bị xóa mờ bởi thời gian là vì nó cũng là một

“giá trị chân chính”, một “cống hiến thật quý cho thời đại và con người” Đó là một tập thư “địch vận” của Nguyễn Trãi gởi cho giặc Minh, một tập thư mang tiếng nói anh hùng của cả một thời đại chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc Đó là tấm gương phản chiếu một cách trung thực những đoạn đường đầy gian nan nhưng cũng đầy triển vọng của nghĩa quân, và những chặng đường bại vong nhục nhã của quân địch Xuyên qua nội dung tác phẩm, không những ta thấy được chủ trương, đường lối chiến thuật

và chiến lược của nghĩa quân Lam Sơn mà đồng thời cũng thấy được cái tình cảm yêu

Trang 8

nước thương dân nồng cháy, cái tư tưởng nhân nghĩa chói lòa, cái ý chí giải phóng dân tộc thiết tha của người anh hùng Nguyễn Trãi.

2.2.2.4 Nội dung chính của “Quân trung từ mệnh Tập”

2.2.2.4.1 Tình yêu nước, không đội trời chung với kẻ thù.

Những bức thư mà Nguyễn Trãi viết cho kẻ địch không phải chỉ là những điều suy nghiệm thuần lí trí mà còn ẩn chứa những tình cảm cháy bỏng, tha thiết với đất nước, nhân dân Việt Nam Dù rằng trong tập văn luận chiến, lí lẽ là chủ đạo, phương pháp lập luận là quan trọng nhưng thấm trong từng câu văn Ức Trai là một ước vọng quật ngã kẻ thù xâm lược, giành lại độc lập tự do cho đất nước Với Nguyễn Trãi, yêu nước trước hết là nỗi thương xót muôn dân phải chịu cảnh đọa đầy dưới sự thống trị

hà khắc của quân giặc Trong nhiều trang thư, ông đã thống thiết nói lên điều đó: “

Song không làm cho nước đã diệt được phục hưng, dòng đã tuyệt được kế nối, mà lại muốn cùng binh độc vũ, khiến người vô tội liền năm thiệt mạng dưới gươm đao, dân hiền lành liền năm dầm gan ở ngoài nội cỏ Lẽ nào bụng dạ bực nhân nhân quân tử lại như thế ư?” 1 Những câu hỏi ông đặt ra cho người đối diện, kẻ nắm giữ biết bao

sinh mạng con người như xoáy sâu vào tâm can y, khiến y không thể thờ ơ: “Nước

các ngươi trước đây nhân khi họ Hồ lỗi đạo, mượn tiếng thương dân đánh kẻ có tội,

kì thực làm việc bạo tàn, lấn cướp nước ta, bóc lột nhân dân ta, thuế nặng hình phiền,

vơ vét của quý, dân mọn nơi làng quê không được sống yên Lòng nhân nghĩa mà lại thế ư?”2 Câu hỏi như muốn dồn kẻ đối thoại vào đường cùng của cuộc đấu trí Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà quân sự, chính trị, ông còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa lớn Chính vì thế, yêu nước với ông còn là niềm tự hào về giá trị văn hiến vững bền của dân tộc Sang xâm chiếm nước ta, giặc Minh đã tàn bạo thi hành rất nhiều chính sách nhằm đồng hóa dân tộc ta, đốt phá mọi của cải văn hóa, tinh thần của người Việt Nam ta.Vì thế ta phải khẳng định rõ ràng với chúng rằng trình độ văn minh của ta không thua kém gì bọn chúng và dân tộc ta quyết tâm bảo vệ nền văn hiến

ấy đến cùng Nguyễn Trãi đặc biệt nhấn mạnh đến truyền thống văn hóa tinh thần riêng biệt của Đại Việt, độc lập với nền văn hóa Trung Quốc Trong thư dụ hàng

thành Bắc Giang ông khẳng định: “Nước An Nam ta tuy xa ở ngoài Ngũ Lĩnh mà

danh tiếng là nước thi thư Những bậc trí mưu tài thức chẳng đời nào thiếu vắng”3 Ý định dập vùi mọi truyền thống tốt đẹp của nước ta thực sự chỉ là ảo tưởng của quân giặc mà thôi Nền văn hiến của dân tộc ta không chỉ được khẳng định qua những lời Nguyễn Trãi nói trong thư mà còn được khẳng định qua chính những gì mà nghĩa quân Lam Sơn và Nguyễn Trãi thể hiện trong suốt cuộc đấu tranh chống xâm lược

Đó chính là vẻ đẹp của những con người dũng cảm, kiên cường nhưng cũng rất khoan dung, nhân ái Họ thông minh và cũng rất hiền hòa Họ biết trọng chữ “tín”, biết đem tấm lòng thành thực đáp lại với thành thực, biết yêu chuộng hòa bình, biết tự hào về truyền thống đấu tranh quật cường của dân tộc

Tấm lòng yêu nước của Nguyễn Trãi trong hoàn cảnh đất nước có giặc ngoại xâm không thể không gắn với việc tố cáo tội ác của giặc Nguyễn Trãi đã đem đối lập giữa

1 Trích: “Lại thư cho Vương Thông”

2 Trích: “Lại thư trả lời Phương Chính”

3 Trích: “Thư dụ thành Bắc Giang”

Trang 9

cái đẹp của dân tộc ta với cái xấu xa của quân địch, cái nhân nghĩa sáng ngời của ta với cái phản nhân nghĩa của chúng, cái tín nghĩa mà ta thực hiện với cái bất tín mà chúng đã làm, cái chân thành, cao thượng của ta với cái giả trá, thấp hèn của chúng…

Ý nghĩa tố cáo kẻ thù nhờ thế càng thêm sắc cạnh, thêm đanh thép, thêm hùng hồn Ngay từ bức thư mở đầu, dưới danh nghĩa là thư xin hàng, bằng giọng văn mang tính phân trần, kể lể Nguyễn Trãi đã chất vào đó nỗi căm hờn oán giận về tội ác quân giặc

gây ra đối với dân ta: “Nhữ Hốt liền báo với quan quản binh cùng nội quan Mã Kỳ,

vô cớ dẫn quân đến đánh úp bọn chúng tôi, chẳng kể trẻ hay già đều bị chém giết bắt

bớ Họ hàng tôi tan tác, vợ con tôi chia lìa Lại khai quật mồ mả cha ông tôi mà phơi bày hài cốt”4 Lời tạ tội cũng đồng thời là lời buộc tội giặc Minh từ to đến nhỏ

Cùng với thời gian, lực lượng nghĩa quân ngày một lớn mạnh, những cuộc đối đầu với

kẻ thù do họ chủ động đưa lại kết quả nhiều hơn, liên tiếp hơn, thì những lời buộc tội của Nguyễn Trãi trong thư từ gửi cho tướng giặc cũng thêm phần cứng rắn, quyết liệt

hơn: “Bớ nghịch tặc Phương Chính Kể đạo làm tướng, lấy nhân nghĩa làm gốc, lấy

trí dũng làm vốn Nay bọn bay chỉ chuộng lừa dối, bắt giết kẻ vô tội, hãm người vào chỗ chết mà không xót thương là cớ làm sao?”5

Với Nguyễn Trãi, mỗi tên tướng tá, quan lại giặc Minh hiện ra, không phải chỉ là hình ảnh riêng của cá nhân hắn mà còn có ý nghĩa tượng trưng cho cả tập đoàn chủ tớ của đội quân xâm lăng Nguyễn Trãi mượn tiếng chửi một tên để lên án cả bọn vua tôi nhà

Minh: “Nước các ngươi trước đây nhân khi họ Hồ lỗi đạo, mượn tiếng thương dân

đánh kẻ có tội, kỳ thực làm việc bạo tàn.” 6 Tất nhiên, không vì yêu cầu tố cáo tội ác

chung của cả bọn mà người viết bỏ quên hành vi cụ thể của từng tên Dưới ngòi bút của Nguyễn Trãi, bộ mặt tàn ác đủ vẻ của chúng đều bị phơi bày: Phương Chính thì

cực kì bất nhân, bất nghĩa, giết chóc không ghê tay, nhưng khi thất thế lại “đóng

thành bền giữ như mụ già”; Vương Thông, vừa đa nghi vừa do dự, không biết giữ chữ

tín, mưu kế gian trá “ngoài nói giảng hòa mà trong lại mưu kế khác”, Liễu Thăng hữu

dũng vô mưu hung ác nhưng lại kiêu căng, không biết mình biết người

Có thể nói, bao nhiêu bức thư là bấy nhiêu cách Nguyễn Trãi bêu riếu kẻ thù Ông hạ

uy thế của chúng bằng cách gieo vào lòng chúng những nghi ngờ về thực chất của tài năng, nhân cách, đạo nghĩa, lí tưởng hành động, chiến đấu… của chính chúng Những lời tố cáo của ông rõ ràng mang tính chân thực và tính khái quát cao độ Nó thể hiện một tinh thần yêu nước thiết tha và ý chí quyết tâm chiến đấu đến cùng để giành độc lập cho dân tộc

2.2.2.4.2 Sự nhận thức chính xác về chiều hướng thắng bại của ta.

Từ sự thấu suốt của mình đối với diễn biến của cuộc chiến, Nguyễn Trãi đã đưa ra hàng loạt những luận điểm khẳng định nhận thức đúng đắn của ông về xu thế tất thắng của ta, tất bại của địch

4 Trích: “Thư xin hàng”

5 Trích: “Lại thư trả lời Phương Chính”.

6 Trích: “Lại thư trả lời Phương Chính”.

Trang 10

Đó cũng chính là điểm mấu chốt làm chỗ tựa cho Ức Trai trong hầu hết các lập luận của ông nhằm dụ hàng kẻ địch Trong rất nhiều bức thư, ông chỉ rõ tầm quan trọng của việc nắm được thời cơ Thời, theo Nguyễn Trãi chính là xu thế tất yếu của lịch sử,

là một vấn đề của hiện thực khách quan và con người sáng suốt, thông minh là người

có con mắt nhìn thấu những biến chuyển bên trong của sự vật Nghĩa là phải “thông

biến” Để thuyết phục địch có lúc Nguyễn Trãi đứng về phía quyền lợi chính đáng của

tướng Minh mà bàn bạc phải trái, vạch cho chúng con đường đi đúng đắn Ông hay

nhắc đến chữ thời và chữ thế Viết cho Vương Thông, ông nói: “Tôi từng nghe nói

Kinh Dịch có ba trăm tám mươi tư hào, mà cốt yếu ở chữ “Thời” Cho nên người

quân tử tùy theo thời thế mà ứng biến Chữ “Thời” có ý nghĩa to tát làm sao! Ngày

trước khi mới sang đánh Giao Chỉ, Tướng quân vâng mệnh đi đánh kẻ có tội, bấy giờ

là một thời vậy

Ngày nay vận trời tuần hoàn, không có gì đi rồi mà không quay trở lại… Bảo là tùy

thời ứng biến, chính là ở chỗ phải lo liệu từ sớm.” (Lại thư dụ Vương Thông) “Kể ra

người dùng binh giỏi là ở chỗ biết rõ thời thế mà thôi Được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn; mất thời thất thế thì mạnh hóa ra yếu, yên lại chuyển nguy Sự thay đổi ấy chỉ trong khoảnh khắc trở bàn tay mà thôi” “Tôi nghe: Cái điều đáng quý ở người tuấn kiệt là ở chỗ biết thời thế, hiểu sự biến mà thôi”7

Phân tích thời và thế, Nguyễn Trãi nêu rõ rằng, lúc trước khác, bây giờ khác Lúc trước quân Minh mượn danh diệt nhà Hồ là kẻ cướp ngôi, phục hồi nhà Trần là triều đại chính thống cho nên tạm thời có thể thành công

Bây giờ ở lại chiếm đóng, thống trị, vơ vét, bóc lột lại là một việc làm phi nghĩa để mất lòng dân Cho nên nếu không sớm rút lui sẽ bị tiêu diệt Lúc trước, quân Lam Sơn còn ở thế yếu mà quân Minh còn chẳng làm gì nổi nữa là bây giờ quân Lam Sơn đã có phần lớn đất đai Hơn nữa, binh lính trong quân Minh lại chán nản, nhiều nơi đã đầu hàng Nếu còn ngoan cố, trì hoãn không chịu rút quân thế tất thua to Đó là nội dung các bức thư gửi cho Vương Thông khi viên tướng này tuy còn có nhiều quân nhưng

đã nao núng Nguyễn Trãi nhận xét tình hình và tính toán hộ tướng giặc như sau:

“Nay tính hộ các ông thì có sáu điều phải thua Nước lũ mùa hạ chảy tràn, cầu sàn,

rào lũy sụp lở, củi cỏ thiếu thốn, ngựa chết quân ốm Đó là điều phải thua thứ nhất Xưa Đường Thái Tôn bắt Kiến Đức mà Thế Sung phải ra hàng Nay các con đường, cửa ải xa xôi hiểm trở đều bị binh lính và voi chiến của tôi đồn giữ, nếu viện binh có đến, thì cũng muôn phần tất phải thua; viện binh đã thua, bọn các ông tất bị bắt Đó

là điều phải thua thứ hai Quân mạnh ngựa khỏe nay đều đóng cả ở biên giới phía Bắc để phòng bị quân Nguyên, không rỗi nhìn đến miền Nam Đó là điều phải thua thứ ba Luôn luôn động binh đao, liên tiếp bày đánh dẹp, dân sống không yên, nhao nhao thất vọng Đó là điều phải thua thứ tư Gian thần chuyên chính, bạo chúa giữ ngôi, người cốt nhục hại nhau, chốn cung đình sinh biến Đó là điều phải thua thứ năm Nay tôi dấy nghĩa binh, trên dưới cùng lòng, anh hùng hết sức, quân sĩ càng luyện, khí giới càng tinh, vừa cày ruộng lại vừa đánh giặc Còn quân sĩ trong thành

7 Trích: “Lại thư cho Vương Thông”.

Trang 11

thì đều mỏi mệt, tự chuốc bại vong Đó là điều phải thua thứ sáu” 8 Một mặt vạch con đường sáng cho tướng giặc, một mặt Nguyễn Trãi lại nêu cái lẽ tùy thời thông biến cho tướng giặc có thể dựa vào đó để rút quân mà bớt xấu hổ Đó cũng là một cách

thông cảm với sĩ diện của tướng sĩ “Thiên triều” Ông viết: “Nay trộm tính giùm các

ông, chẳng gì bằng cùng Thái Đô đốc đem quân về nước là hơn cả… Kinh Dịch có câu: “Cùng thì biến, biến thì thông” Các ông không nghĩ đến điều đó, lại cứ khư khư

ôm giữ cái tiểu tiết của Trương Tuần, Hứa Viễn, ta e sĩ tốt của các ông ngày đêm thiết tha mong về, lại thêm cơm cháo chẳng no, bệnh tật lây lan, dẫu ông muốn đánh với giữ, đã dễ ai theo”9 Từ lí lẽ cho đến thái độ, những bức thư của Nguyễn Trãi đều

có sức thuyết phục mạnh mẽ

Nguyễn Trãi rất chú ý đến đối tượng, đến kẻ đọc thư của mình Đối với những tên ra mặt hung hăng như Phương Chính, Mã Kỳ thì từ cách xưng hô cho đến nội dung và lời văn thường có tính chất đả kích không thương tiếc Trái lại đối với những hạng người có thể tranh thủ được như Thái Phúc và tướng sĩ cấp dưới, thì từ cách xưng hô cho đến nội dung và lời văn đều có tính chất ôn tồn trọng thị Đối với hạng tướng tá cấp cao như Tổng binh Vương Thông, nếu thuyết phục được là có thể kết thúc chiến tranh, thì Nguyễn Trãi lại tỏ thái độ kiên nhẫn vừa phê phán, vừa tranh thủ Còn lời lẽ trong các bài biểu và tấu gửi vua Minh thì lại nhún nhường Ngay trong thư từ gửi các tướng Minh, khi nói đến vua Minh thì bao giờ cũng ra vẻ suy tôn Đó chẳng qua chỉ là một thuật ngoại giao, thực tế không ảnh hưởng gì đến chủ quyền quốc gia cả Nhưng điều đó lại góp phần đưa đến quan hệ hòa bình giữa nước nhỏ và nước lớn trong hoàn cảnh chế độ phong kiến Vấn đề đối với nghĩa quân lúc bấy giờ là làm sao cho nhà Minh từ bỏ cái tham vọng chiếm đóng nước ta, đừng cho viện binh sang và chịu rút quân về

Có khi kẻ đối thoại là đám tướng hiệu, quan viên, quân nhân ít học thì Nguyễn Trãi lại lựa một cách nói đơn giản mà hiệu quả là chính những so sánh cụ thể, gần gũi nhất

với chúng, để chúng có thể dễ dàng tiếp cận với chữ “thời”: “Nếu các ngươi cho là

thành cao, hào sâu, lương thực lại nhiều thì thử xem như ở các xứ Thanh Hóa, Diễn (Châu), Nghệ (An), thành không phải là không cao, hào không phải là không sâu, lương thực không phải là không nhiều, quân không phải là không mạnh, mà như Thái

Đô đốc so với các ngươi chức không phải không to, trí không phải không sáng, mà còn tùy thời ứng biến để bảo toàn tính mệnh cho mấy vạn con người”10

Nguyễn Trãi cũng đặc biệt nhấn mạnh đến tình hình rối ren trên đất nước Trung Quốc những năm 1425 – 1427 mà tình hình đó theo ông là nhân tố chính yếu của chữ

“Thời”, nhìn từ góc độ nội tại của kẻ địch: “…Huống chi ở nước các ông, quốc vương

liền năm tử táng, cốt nhục tàn hại lẫn nhau, giặc phương Bắc xâm lăng, các đại thần

bỏ rơi không phò tá Lại thêm nạn mất mùa liên tiếp, việc thổ mộc luôn bày, chính lệnh phiền hà, giặc cướp nổi lên như ong…”11

8 Trích: “Lại thư dụ Vương Thông”

9 Trích: “Lại thư cho Vương Thông”.

10 Trích: “Thư dụ thành Bắc Giang”

11 Trích: “Lại thư cho Vương Thông”

Ngày đăng: 15/11/2015, 18:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w