Hàm lượng các axit amin trong lá, quả của cây Moringa oleifera AGADA, 1997.... Nắm bắt ñược xu thế ñó, trong vài năm trở lại ñây, các trung tâm nghiên cứu giống gia cầm, các công ty thức
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
NGUYỄN THỊ HẢO
SỬ DỤNG BỘT LÁ MORINGA OLEIFERA CHO GÀ ðẺ
TRỨNG THƯƠNG PHẨM AI CẬP
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số: 60.62.40
Người hướng dẫn khoa học: TS ðẶNG THÚY NHUNG
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa
từng ñược sử dụng và công bố trong bất kỳ công trình nào
Tôi xin cam ñoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều
ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hảo
Trang 3LỜI CẢM ƠN
để hoàn thành luận văn này ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân tôi còn nhận ựược sự quan tâm giúp ựỡ nhiệt tình của nhà trường, thầy cô, gia ựình và bạn bè
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn:
TS đặng Thúy Nhung, bộ môn Dinh dưỡng Ờ Thức ăn, Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng Thuỷ sản Ờ Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội ựã hướng dẫn tôi tận tình trong suốt quá trình thực hiện ựề tài này
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành của mình tới các thầy
cô giáo trong khoa Chăn nuôi và NTTS, Viện đào tạo sau ựại học, trường đại học Nông nghiệp Hà Nội ựã giúp ựỡ và tạo ựiều kiện cho tôi trong nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn chương trình Mekarn (Thụy điển) ựã tài trợ kinh phắ giúp tôi thực hiện ựề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn gia ựình, người thân và bạn bè ựã ựộng viên, khắch lệ tạo ựiều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hảo
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ðOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
PHẦN I MỞ ðẦU 1
1.1 ðặt vấn ñề 1
1.2 Mục ñích và ý nghĩa của ñề tài 2
1.2.1 Mục ñích 2
1.2.2 Ý nghĩa 2
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Dinh dưỡng protein ở gia cầm 3
2.1.1 ðặc ñiểm của protein 3
2.1.2 Vai trò của protein và axit amin ñối với gia cầm 3
2.1.3 Những yếu tố làm tăng giá trị sử dụng protein của thức ăn 4
2.1.4 Phương pháp tính nhu cầu protein 5
2.1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng ñến nhu cầu protein của gia cầm 7
2.1.6 Nhu cầu axit amin của gia cầm 8
2.1.7 Mối quan hệ giữa năng lượng – protein – axit amin 11
2.2 Khả năng sinh sản ở gia cầm 13
2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng ñến sức ñẻ trứng của gia cầm 17
2.4 Một số ñặc ñiểm của giống gà Ai Cập 22
2.5 Giới thiệu về cây Moringa oleifera 22
2.5.1 Nguồn gốc, phân bố của cây Moringa oleifera 22
Trang 52.5.2 ðặc ñiểm sinh học của cây Moringa oleifera 23
2.5.3 Giới thiệu vài nét về kỹ thuật gieo trồng 23
2.5.4 Tình hình nghiên cứu về cây Moringa oleifera trên thế giới 23
2.5.5 Tình hình nghiên cứu trong nước 30
2.5.6 Những hạn chế của cây Moringa oleifera trong nuôi dưỡng gia súc 31
2.5.7 Những nghiên cứu về năng suất và sản lượng của cây Moringa oleifera 32
PHẦN III ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 ðịa ñiểm, thời gian nghiên cứu 34
3.2 ðối tượng và vật liệu nghiên cứu 34
3.3 Nội dung nghiên cứu 34
3.4 Phương pháp nghiên cứu 35
3.4.1 Phương pháp phân tích 35
3.4.2 Bố trí thí nghiệm 35
3.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi 39
3.5 Hiệu quả sử dụng Moringa oleifera cho gà ñẻ trứng thương phẩm 43
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 43
PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44
4.1 Tỷ lệ ñẻ của gà thí nghiệm 44
4.2 Năng suất trứng của gà thí nghiệm 47
4.3 Lượng thức ăn thu nhận của gà thí nghiệm 49
4.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn của ñàn gà thí nghiệm 51
4.5 Khối lượng trứng qua các tuần tuổi 55
4.6 Một số chỉ tiêu chất lượng trứng gà thí nghiệm 59
4.7 Tỷ lệ nuôi sống và loại thải của ñàn gà thí nghiệm 65
4.9 Khối lượng của gà thí nghiệm 69
Trang 64.10 Hiệu quả của việc sử dụng bột lá Moringa oleifera 70
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 73
5.1 Kết luận 73
5.2 ðề nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 83
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CP : Protein thô (crude protein)
FAO : Tổ chức lương thực nông nghiệp của Liên Hợp Quốc
(Food and Argriculture Organization)
GD : Giáo dục
KHKT : Khoa học kỹ thuật
KLT : Khối lượng trứng
ME : Năng lượng trao ñổi (metabolisable energy)
MOLM : Bột lá Moringa oleifera (Moringa oleifera leaf meal)
TTTA : Tiêu tốn thức ăn
VCN : Viện Chăn nuôi
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Cân bằng lý tưởng axit amin cho gà theo lysine 9
Bảng 2.2 Nhu cầu năng lượng và protein cho gà (NRC, 1994) 11
Bảng 2.3 Ảnh hưởng của năng lượng và protein ñến lượng thức ăn
thu nhận và hiệu quả sử dụng thức ăn (Summer, 1974) 12
Bảng 2.4 Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của lá, quả của cây Moringa oleifera (AGADA, 1997) 24
Bảng 2.5 Hàm lượng khoáng chứa trong lá, quả của cây Moringa oleifera 25
Bảng 2.6 Hàm lượng các vitamin chứa trong lá, quả của cây Moringa oleifera 26
Bảng 2.7 Hàm lượng các axit amin trong lá, quả của cây Moringa oleifera (AGADA, 1997) 27
Bảng 3.1 Sơ ñồ bố trí thí nghiệm 36
Bảng 3.2 Công thức thức ăn cho gà ñẻ thí nghiệm 37
Bảng 3.3 Thành phần dinh dưỡng của khẩu phần thí nghiệm 38
Bảng 3.4 Tiêu chuẩn ăn của gà sinh sản hướng trứng từ 24 – 44 tuần tuổi (TCVN-2005) 39
Bảng 4.1 Tỷ lệ ñẻ của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 45
Bảng 4.2 Năng suất trứng của gà thí nghiệm 48
Bảng 4.3 Lượng thức ăn thu nhận của gà thí nghiệm 50
Bảng 4.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn của gà thí nghiệm 53
Bảng 4.5 Khối lượng trứng của gà thí nghiệm 56
Bảng 4.6a: Một số chỉ tiêu chất lượng trứng gà thí nghiệm 60
Bảng 4.6b ðơn vị Haugh của trứng gà thí nghiệm 65
Bảng 4.7 Tỷ lệ nuôi sống và loại thải của ñàn gà thí nghiệm 66
Bảng 4.8 Tỷ lệ trứng dập vỡ và dị hình của gà thí nghiệm 68
Bảng 4.9 Khối lượng gà trong thời gian thí nghiệm 69
Bảng 4.10 Hiệu quả của việc sử dụng bột lá Moringa oleifera 71
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Tên hình Trang
Hình 4.1 Tỷ lệ ñẻ của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 47
Hình 4.2 Năng suất trứng của gà thí nghiệm 49
Hình 4.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn của gà thí nghiệm 54
Trang 10Nắm bắt ñược xu thế ñó, trong vài năm trở lại ñây, các trung tâm nghiên cứu giống gia cầm, các công ty thức ăn chăn nuôi ñã nhập và lai tạo rất nhiều giống gà chuyên trứng có năng suất trứng cao ñồng thời ñưa ra nhiều loại thức ăn có chất lượng tốt làm tăng sản lượng và chất lượng trứng
Trong những năm gần ñây, việc ñưa vào khẩu phần của gia cầm bột xanh (bột
cỏ linh lăng - cỏ alfafa, bột lá sắn, bèo dâu, chè ñại…) ñã trở nên tương ñối phổ biến trên thế giới cũng như ở nước ta Một mặt, bột xanh cung cấp các chất tạo màu, làm tăng tính hấp dẫn cho sản phầm chăn nuôi như da, chân của thân thịt, màu của lòng ñỏ trứng… ñồng thời làm giảm giá trị năng lượng của khẩu phần, tránh cho chúng quá béo nhất là khi nuôi gà ñẻ và gà thịt Khi sử dụng bột xanh từ cây học ñậu, người ta còn cung cấp cho gia cầm một lượng ñáng kể protein Vấn ñề càng trở nên có ý nghĩa khi mà an toàn thực phẩm ở nước ta ñang ñược dư luận xã hội hết sức quan tâm Khi bổ xung bột xanh tự sản xuất trong nước vào thức ăn chăn nuôi, chúng ta sẽ giảm sử dụng các chế phẩm thức ăn bổ sung hóa học nhập khẩu, vừa ñáp ứng ñược nhu cầu chất xanh trong nước và thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi gia cầm ở nước ta, tiết kiệm ngoại tệ và chủ ñộng nguồn nguyên liệu thức ăn bổ sung trong sản xuất do giảm nhập khẩu bột xanh Bên cạnh ñó, cây họ ñậu còn cải tạo ñược ñất trồng, chống sói mòn, ngăn chặn hiện tượng sa mạc hóa- một hiện tượng
Trang 11khá phổ biến ở các vùng trung du và miền núi nước ta Do vậy, lựa chọn và phát triển các loại cây thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao, ñặc biệt là hàm lượng protein thực vật, phù hợp với ñiều kiện sinh thái tại ñịa phương giúp chúng ta chủ ñộng ñược nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi ñang là vấn ñề ñược quan tâm
Cây Moringa oleifera là loại cây thức ăn thuộc họ ñậu Moringaceae
ñược tìm thấy ở phía Bắc Kenya, Sudan, Ai Cập… Hiện nay, cây Moringa ñược phân bố rộng rãi ở các nước nhiệt ñới và cận nhiệt ñới Nó có khả năng chống chịu hạn tốt, sinh trưởng, phát triển nhanh, có hàm lượng dinh dưỡng
cao ñặc biệt là protein, các axit amin, vitamin… Ở Việt Nam, Moringa
oleifera ñược trồng nhiều ở miền Nam và một số tỉnh miền Trung ðối với
cây Moringa oleifera có nguồn gốc từ Châu Phi, cây ñang ñược trồng tại khoa
Chăn nuôi và Nuôi trồng Thủy sản, trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội Tuy nhiên, việc nghiên cứu và sử dụng loại cây này làm thức ăn cho vật nuôi ở Việt Nam ñặc biệt là cho gia cầm không nhiều Xuất phát từ các yêu cầu trên
chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài: “Sử dụng bột lá Moringa oleifera cho
Trang 12PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Dinh dưỡng protein ở gia cầm
2.1.1 ðặc ñiểm của protein
Protein là thành phần cấu trúc quan trọng nhất của cơ thể vật nuôi Protein có những ñặc tính mà bất kỳ hợp chất hữu cơ khác không có ñược Protein là một nhóm chất hữu cơ có chứa C, H, O2 và N Một số protein còn
có chứa S, P, hoặc Fe; trong ñó sự có mặt của N là quan trọng nhất Do vậy, protein nói chung hay protein thô, ñược xác ñịnh trong thức ăn là lượng N x 6,25 Sự xác ñịnh này dựa trên sự thừa nhận trong thức ăn tỷ lệ trung bình của N
là 16g/100g protein Protein trong thức ăn gia cầm là protein thô, nó bao gồm tất
cả các vật chất chứa azol hay còn gọi là nitơ (viết tắt là N), công thức tính:
2.1.2 Vai trò của protein và axit amin ñối với gia cầm
Trong cơ thể ñộng vật protein ñóng vai trò rất quan trọng, nó tham gia vào hầu hết các thành phần cấu tạo của các cơ quan, tổ chức cũng như các quá trình trao ñổi chất như:
- Protein là cấu trúc cơ bản hình thành nên mô mềm của các tổ chức trong ñộng vật như: cơ, mô liên kết, da, móng; ở gia cầm protein còn có trong lông, mỏ
Trang 13- Tham gia vận chuyển các chất dinh dưỡng Các chất dinh dưỡng ñược vận chuyển qua thành ruột vào máu và từ máu ñến các mô của cơ thể và qua màng tế bào Nó có vai trò như chất mang, cùng với các chất dinh dưỡng tạo thành các phức dễ hấp thu
- Protein có vai trò quan trọng trong quá trình duy trì, phát triển mô và hình thành những chất cơ bản trong hoạt ñộng sống
- Protein tham gia vào ñiều hoà trao ñổi nước: ñiều chỉnh protein thẩm thấu và cân bằng axit - bazơ trong cơ thể; nó có vai trò như là chất ñệm giữ cho pH máu luôn ổn ñịnh thậm chí cả khi có sự chênh lệch của ion+ và ion-
- Vai trò bảo vệ và giải ñộc của protein: tham gia vào tổng hợp kháng thể và chống nhiễm trùng Hệ thống miễn dịch của cơ thể hoạt ñộng tốt khi cơ thể ñược cung cấp ñầy ñủ các axit amin cần thiết ñể tổng hợp các kháng thể
- Protein tham gia vào cân bằng năng lượng của cơ thể: trong ñiều kiện cơ thể tiêu hao năng lượng nhiều, nhưng lượng lipit và carbohydrate trong khẩu phần không cung cấp ñủ thì protein sẽ tham gia vào cân bằng năng lượng
Tóm lại, các quá trình sinh trưởng, phát triển, sinh sản, các hoạt ñộng tâm sinh lý,… ñều liên quan tới chức phận của protein Cơ thể ñộng vật nói chung và gia cầm nói riêng không thể tổng hợp protein từ carbohydrate và lipit mà bắt buộc phải lấy protein từ thức ăn ñưa vào hàng ngày một cách ñều ñặn với một số lượng ñầy ñủ và theo một tỷ lệ thích hợp so với các chất dinh dưỡng khác (Donald, 1988; Singh, 1988; Robert, 1994; Vũ Duy Giảng và
cs, 1995)
2.1.3 Những yếu tố làm tăng giá trị sử dụng protein của thức ăn
Sự tổng hợp protein trong cơ thể gia cầm chỉ có thể tiến hành sau khi
ñã thu nhận ñược những thành phần cấu trúc cơ bản của protein là các axit amin từ thức ăn, ñặc biệt là những axit amin không thay thế với một tỷ lệ
Trang 14thích hợp Do cấu trúc và thành phần protein của mỗi loại ñộng vật là ñặc thù nên hiệu quả sử dụng protein thức ăn phụ thuộc rõ rệt vào tỷ lệ hợp lý của các thành phần protein có trong khẩu phần; vì vậy, cần phải biết nhu cầu protein của từng loại gia cầm
Gia cầm có hướng sản xuất khác nhau thì nhu cầu protein cũng khác nhau Các axit amin thừa không ñược tích lũy trong cơ thể mà bị phân giải và ñốt cháy, ñiều này dẫn ñến mất mát protein một cách vô ích và sinh ra các sản phẩm ñộc có hại cho cơ thể Do ñó, việc xác ñịnh ñúng nhu cầu protein của từng loại gia cầm là rất quan trọng
Những yếu tố làm tăng giá trị sử dụng protein của thức ăn:
+ ðủ 22 axit amin, trong ñó có ñủ 10 axit amin không thay thế ñặc biệt
là 2 axit amin quan trọng nhất và thường thiếu khi cho khẩu phần ăn có nguyên liệu thực vật của gà là lysine và methionine
+ Giải quyết tốt về vấn ñề protein giới hạn
+ Tỷ lệ ME/Pr và ME/lysine cân ñối, phù hợp với từng lứa tuổi gà + Gà khỏe ñể tiêu hóa tốt, không bị bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng, ñường tiêu hóa
+ Tiểu khí hậu chuồng nuôi: nhiệt ñộ, ẩm ñộ, không khí, ánh sáng, ñộn chuồng
+ Các nguyên liệu thức ăn sạch, không mốc, không ẩm, không bị nhiễm khuẩn
+ NaCl từ 0,3 - 0,5% (Bùi Hữu ðoàn, 2009)
2.1.4 Phương pháp tính nhu cầu protein
2.1.4.1 Nhu cầu protein cho gà ñang sinh trưởng
Nhu cầu protein cho gà ñang sinh trưởng bao gồm nhu cầu protein cho duy trì, nhu cầu protein cho tăng khối lượng cơ thể và nhu cầu protein cho phát triển lông
Trang 15Có thể dựa vào công thức sau ñể tính toán:
0,0016 x W + 0,18 x ∆W + 0,04 x (0,07) x ∆W x 0,82 Protein (g) =
0,55
Trong ñó: W là khối lượng cơ thể (g)
∆W là tăng khối lượng cơ thể hàng ngày (g)
Ghi chú: dưới 3 tuần tuổi bộ lông chiếm khoảng 4% khối lượng cơ thể
Sau 3 tuần tuổi, bộ lông chiếm khoảng 7% so với khối lượng cơ thể
2.1.4.2 Phương pháp tính nhu cầu protein thịt thương phẩm (broiler)
Công thức tính tương tự như ñối với gà ñang sinh trưởng, chỉ khác phần hiệu suất sử dụng protein là 64% (0,64) Tính theo công thức sau:
0,0016 x W + 0,18 x ∆W + 0,04 x (0,07) x ∆W x 0,82 Protein (g) =
0,64
Trong ñó: W : khối lượng cơ thể (g)
∆W : tăng khối lượng cơ thể hàng ngày (g)
2.1.4.3 Phương pháp tính nhu cầu protein cho gà ñẻ trứng
Nhu cầu protein cho gà ñẻ trứng bao gồm nhu cầu protein cho duy trì, nhu cầu protein cho sinh trưởng, nhu cầu protein cho phát triển lông và nhu cầu protein cho ñẻ trứng Công thức tính như sau:
0,0016 x W + 0,18 x ∆W + 0,04 x (0,07) x ∆W x 0,82 + 0,12 x ∆E Protein (g) =
0,55
Trong ñó: W : khối lượng cơ thể (g)
∆W : tăng khối lượng cơ thể hàng ngày (g)
∆E : sản lượng trứng hàng ngày (g)
Trang 162.1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng ñến nhu cầu protein của gia cầm
- Loài, giống, dòng gia cầm: mỗi loài, giống hay dòng gia cầm có một
kiểu di truyền khác nhau Do ñó, chúng có ngoại hình, tầm vóc, sức sản xuất
và kiểu trao ñổi chất khác nhau Những giống gia cầm nặng cân thì lượng thức ăn tiêu thụ sẽ cao hơn, nhu cầu về protein cũng lớn hơn vì gia cầm có khối lượng lớn thì nhu cầu protein cho duy trì cũng cao hơn
- Sức sản xuất: gia cầm có khả năng sinh trưởng càng nhanh, khả năng
ñẻ trứng càng cao, khối lượng trứng càng lớn thì nhu cầu protein càng cao
- Nhiệt ñộ môi trường: nhiệt ñộ môi trường ảnh hưởng trực tiếp ñến
lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của gia cầm Nhiệt ñộ càng cao, lượng thức
ăn thu nhận càng thấp và ngược lại khi nhiệt ñộ môi trường thấp, lượng thức
ăn thu nhận sẽ cao hơn
- Mức năng lượng của khẩu phần: mức năng lượng của khẩu phần là
một yếu tố rất quan trọng ñể ñảm bảo gia cầm thu nhận ñủ nhu cầu protein cũng như các chất dinh dưỡng khác Gia cầm thu nhận thức ăn trước hết là
ñể thoả mãn nhu cầu về năng lượng, khi ñã thu nhận ñủ nhu cầu về năng lượng thì chúng không ăn thêm nữa mặc dù các chất dinh dưỡng khác vẫn còn thiếu
- Lượng thức ăn thu nhận: nhu cầu protein thô của gia cầm ñược tính
bằng số gam protein thô cho mỗi con gia cầm trong một ngày ñêm Tuy nhiên, gia cầm không thể thu nhận riêng rẽ hay nuốt trực tiếp số lượng protein theo nhu cầu tính ñược, mà bắt buộc phải ñược thu nhận cùng thức ăn theo một tỷ lệ nhất ñịnh Vì vậy, trong khẩu phần ăn của gia cầm, nhu cầu protein thường ñược biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm (%) protein thô Do ñó, lượng thức
ăn thu nhận có ảnh hưởng rất lớn ñến nhu cầu protein trong khẩu phần ăn của gia cầm
Trang 172.1.6 Nhu cầu axit amin của gia cầm
Dựa vào nhu cầu dinh dưỡng của ñộng vật, người ta chia ra thành 2 loại axit amin thay thế ñược và không thay thế ñược ðối với gia cầm có 10 axit amin không thay thế ñược là valine, leucine, isoleucine, lysine, histidine, threonine, methionine, phenylalanine, tryptophan và arginine ðối với gia cầm non còn cần thêm glycine và proline, gia cầm sinh sản còn cần thêm axit glutamic
* Phương pháp biểu thị nhu cầu axit amin trong khẩu phần
Trong dinh dưỡng gia cầm, nhu cầu axit amin chủ yếu là nhu cầu về các axit amin không thay thế Khi thiếu bất kỳ một axit amin không thay thế nào trong khẩu phần thì quá trình tổng hợp protein của gia cầm sẽ bị rối loạn, thậm chí còn làm phá hủy trao chất của cơ thể, do ñó làm giảm khả năng sinh trưởng cũng như sức sản xuất của gia cầm Vì vậy, cần cung cấp ñầy ñủ các axit amin không thay thế theo ñúng nhu cầu của mỗi loại gia cầm Có 4 cách
ñể biểu thị nhu cầu axit amin của gia cầm là: số gam axit amin cho một gà một ngày, số gam axit amin cho 1000 kcal năng lượng trao ñổi của khẩu phần,
tỷ lệ phần trăm axit amin tính theo khẩu phần và tỷ lệ phần trăm axit amin tính theo protein Hiện nay, cách biểu thị nhu cầu axit amin phổ biến nhất là
tỷ lệ % axit amin tính theo khẩu phần
* Xác ñịnh nhu cầu axit amin
Khi xác ñịnh nhu cầu axit amin cho gia cầm cần chú ý ñến các nhu cầu cho: tăng khối lượng tối ña, hiệu quả chuyển hóa thức ăn tối ưu, tỷ lệ thịt xẻ tối ña, thành phần hóa học thân thịt tối ưu và tỷ lệ thịt lườn (cơ ngực) cao nhất
Khi tính toán nhu cầu các axit amin không thay thế, người ta thường chọn lysine làm axit amin so sánh và ñưa ra cân bằng lý tưởng axit amin cho
Trang 18gia cầm Cần chú ý là cân bằng axit amin lý tưởng trong khẩu phần ăn cho gia cầm khác nhau tùy theo hướng sản xuất
Bảng 2.1 Cân bằng lý tưởng axit amin cho gà theo lysine (Rose, 1997)
Nhu cầu về axit amin của gia cầm phụ thuộc vào nhiều yếu tố nên việc xác ñịnh chính xác nhu cầu axit amin cho gia cầm là rất khó khăn ðể xác ñịnh nhu cầu axit amin của gia cầm người ta dựa vào hàm lượng axit amin khi
Trang 19phân tích cơ thể cũng như trong các sản phẩm của chúng, khả năng sản xuất
và qua các thực nghiệm Vì thế, các khuyến cáo về nhu cầu axit amin cũng rất khác nhau
* Một số yếu tố ảnh hưởng ñến nhu cầu axit amin
- Giống, giới tính và lứa tuổi: Mỗi dòng gia cầm có một kiểu di truyền riêng, quyết ñịnh tầm vóc cơ thể, tốc ñộ sinh trưởng và sức sản xuất khác nhau Vì vậy, nhu cầu về axit amin cũng khác nhau giữa các dòng, giống và giữa các cá thể Giới tính cũng ảnh hưởng ñến nhu cầu axit amin của gia cầm Nhu cầu của gà trống thường cao hơn gà mái.Tuổi khác nhau thì nhu cầu axit amin cũng khác nhau Tuổi càng tăng lên thì nhu cầu lysine tính theo % trong khẩu phần càng giảm thấp
- Mức năng lượng trong khẩu phần: Khi cho ăn tự do thì mức năng lượng trong khẩu phần là yếu tố chính quy ñịnh lượng thức ăn thu nhận của gia cầm Khẩu phần có mức năng lượng thấp thì gia cầm sẽ thu nhận nhiều thức ăn hơn và ngược lại Nếu hàm lượng axit amin trong khẩu phần là như nhau thì với khẩu phần có mức năng lượng thấp gia cầm sẽ thu nhận ñược nhiều axit amin hơn Chính vì vậy, khi mức năng lượng trong khẩu phần tăng lên thì nhu cầu về axit amin tính theo % trong khẩu phần cũng tăng lên
- Nhiệt ñộ môi trường: Khi nhiệt ñộ môi trường cao sẽ làm giảm lượng thức ăn thu nhận nhưng gia cầm uống nước nhiều hơn Stress nhiệt ñã làm thay ñổi cả sức chứa lẫn khả năng tiêu hoá các chất dinh dưỡng của gia cầm nói chung và các axit amin nói riêng
- Ảnh hưởng của vitamin:
Một số vitamin có quan hệ mật thiết với nhau, ví dụ: thiếu vitamin B12 thì nhu cầu về methionine tăng lên, thiếu axit nicotinic thì nhu cầu
Trang 20tryptophan tăng lên, hoặc methionine là nguồn cung cấp nhóm methyl cho việc tổng hợp choline
2.1.7 Mối quan hệ giữa năng lượng – protein – axit amin
* Cân bằng năng lượng và protein trong khẩu phần
ME/%CP = Kcal ME/1% CP
Trong ñó: ME/%CP: Tỷ lệ giữa năng lượng trao ñổi và protein trong thức ăn
ME: Năng lượng trao ñổi (Kcal)
CP: Protein thô trong thức ăn (%)
* Mối quan hệ giữa mức năng lượng với nhu cầu protein
Sự cân bằng các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn là vấn ñề hết sức quan trọng trong dinh dưỡng gia cầm Khẩu phần ăn cân bằng các chất dinh dưỡng giúp gia cầm có thể ñạt năng suất tối ña, hiệu quả sử dụng thức ăn tốt nhất Mối quan hệ giữa năng lượng và protein trong khẩu phần là mối quan hệ luôn ñược chú ý bởi vì nó ảnh hưởng rất lớn ñến sức sản xuất của gia cầm
Bảng 2.2 Nhu cầu năng lượng và protein cho gà (NRC, 1994)
Trang 21* Mối quan hệ giữa nhu cầu năng lượng và protein của gia cầm với nhiệt ñộ chuồng nuôi
Trong thực tế gia cầm không thể nuốt trực tiếp protein riêng rẽ mà nó phải lấy vào cùng thức ăn hàng ngày Do ñó, lượng thức ăn thu nhận ñóng vai trò quan trọng tới nhu cầu protein của gia cầm Tuy nhiên lượng thức ăn thu nhận của gia cầm lại chịu sự chi phối của nhiệt ñộ chuồng nuôi và mức năng lượng khẩu phần Vì vậy, khi nhiệt ñộ môi trường thay ñổi sẽ làm thay ñổi cả nhu cầu về năng lượng và protein
* Mối quan hệ giữa năng lượng và protein với hiệu quả sử dụng thức ăn
Mức năng lượng và hàm lượng protein trong khẩu phần có thể ảnh hưởng ñến các chỉ tiêu năng suất của gia cầm ở mức ñộ khác nhau và theo chiều hướng khác nhau Khẩu phần có năng lượng và protein cao thì hiệu quả
sử dụng thức ăn sẽ tốt hơn
Bảng 2.3 Ảnh hưởng của năng lượng và protein ñến lượng thức ăn
thu nhận và hiệu quả sử dụng thức ăn (Summer, 1974)
Kcal ME/kg
thức ăn
Protein thô (%)
Khối lượng gà (g)
Lượng TĂTN (g)
HQSDTĂ (kg)
Trang 22dụng thức ăn hay nói cách khác là làm giảm tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng cơ thể
2.2 Khả năng sinh sản ở gia cầm
Khả năng sinh sản của gia cầm ñược thể hiện bởi các chỉ tiêu về sản lượng, khối lượng, hình dạng, chất lượng trứng, khả năng thụ tinh và ấp nở ðối với các giống gia cầm khác nhau, khả năng sinh sản cũng rất khác nhau
- Sản lượng trứng: Sản lượng trứng là lượng trứng mà gia cầm mái ñẻ
ra trong một vòng ñời, phụ thuộc vào tuổi thành thục, cường ñộ ñẻ trứng, tần số thể hiện bản năng ñòi ấp, thời gian nghỉ ñẻ và thời gian ñẻ kéo dài Hutt (1978) ñ ề nghị tính sản lượng trứng từ khi gia cầm ñẻ quả trứng ñầu tiên, còn theo Brandsch và Buelchel (1978) cho rằng sản lượng trứng ñược tính ñ ến 500 ngày tuổi Theo các tác giả trên thì sản lượng trứng còn ñược tính theo năm sinh học 365 ngày, kể từ khi ñẻ quả trứng ñầu tiên Gầnñây, sản lượng trứng ñược tính theo tuần tuổi Các hãng gia cầm nổi tiếng trên thế giới như Shaver (Canada), Lohmann (ðức) , sản lượng trứng ñược tính phổ biến nhất ñến 70 và 80 tuần tuổi
Cường ñộ ñẻ trứng là sức ñẻ trứng trong một thời gian ngắn, có liên quan chặt với sức ñẻ trứng trong cả năm của gia cầm Sự xuất hiện bản năng ñòi ấp phụ thuộc vào yếu tố di truyền, thể hiện ở các giống khác nhau với những mức ñộ khác nhau Sự khác nhau ñó thể hiện ở thời ñiểm ấp và thời gian ấp kéo dài Phần lớn các dòng gà ham ấp ñều có sức ñẻ trứng kém
Thời gian nghỉ ñẻ của gia cầm giữa các chu kỳ ñẻ trứng ảnh hưởng trực tiếp tới sản lượng trứng Yếu tố này bị ảnh hưởng bởi tính mùa vụ, thay ñổi thức ăn, di chuyển, Thời gian ñẻ kéo dài ñược tính theo thời gian ñẻ trứng năm ñầu, bắt ñầu từ khi ñẻ quả trứng ñầu tiên tới khi thay lông hoàn toàn Giữa thời gian ñẻ trứng kéo dài với sự thành thục có tương quan nghịch rõ rệt,
Trang 23và với sức ựẻ trứng có tương quan dương rất cao (Brandsch và Buelchel,
1978) Tương quan giữa sản lượng trứng 3 tháng ựẻ ựầu với sản lượng trứng
cả năm rất chặt, r = 0,7 - 0,9 (Hutt, 1946)
- Năng suất trứng: Năng suất trứng là số trứng một gia cầm mái sinh ra
trong một ựơn vị thời gian đối với gia cầm ựẻ trứng, ựây là chỉ tiêu năng suất quan trọng nhất, phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt ựộng của hệ sinh dục Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào giống, ựặc ựiểm của cá thể, hướng sản xuất, mùa vụ và dinh dưỡng Năng suất trứng là một tắnh trạng số lượng có mối tương quan nghịch chặt chẽ với tốc ựộ sinh trưởng sớm Do ựó, trong chăn nuôi
gà sinh sản người ta thường quan tâm ựến việc cho gà ăn hạn chế trong các giai ựoạn cuối gà con, giai ựoạn gà dò - hậu bị ựể ựảm bảo cho năng suất trứng cao trong giai ựoạn ựẻ trứng Theo Bùi Thị Oanh (1996) thì năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng của thức ăn, ựặc biệt là mức năng lượng trao ựổi, hàm lượng protein và các axit amin thiết yếu
Năng suất trứng của gà đông Tảo ở 36 tuần ựẻ ựạt 67,71 quả/mái (Nguyễn đăng Vang và cs, 1999) Gà Tam Hoàng dòng 882 có năng suất trứng 130,62 - 146,4 quả/mái/năm (Trần Công Xuân và cs, 1999) Phùng đức Tiến và cs (2001) nghiên cứu trên gà Ai Cập, cho biết năng suất trứng từ 22 -
64 tuần ựạt 158,4 quả/mái Các giống gà chuyên trứng có năng suất trứng cao hơn các giống gà khác như gà Moravia và gà Goldline-54 thương phẩm cho năng suất trứng quả/mái/năm ựạt tương ứng 242 và 259 - 265 quả (Nguyễn Huy đạt và cs, 1996); gà Lohmann Brown thương phẩm có năng suất trứng là 285 - 295 quả/mái/năm (Nguyễn Thị Mai và cs, 2009) Giữa các dòng trong một giống, dòng trống có năng suất trứng cao hơn dòng mái Bùi Quang Tiến và cs (1999), nghiên cứu trên gà Ross - 208 cho biết năng suất trứng/9 tháng ựẻ của dòng trống ựạt 106,39 quả và dòng mái ựạt 151,08 quả
Trang 24* Chất lượng trứng gia cầm
- Khối lượng trứng: Khối lượng trứng là một chỉ tiêu liên quan mật
thiết tới chất lượng trứng giống, kết quả ấp nở, chất lượng và sức sống của gà con Khối lượng trứng gia cầm phụ thuộc vào giống, tuổi ñẻ, chế
ñộ chăm sóc, nuôi dưỡng, .Khối lượng trứng tăng theo tuổi ñẻ của gia cầm và sự thay ñổi khối lượng trứng ứng với sự thay ñổi khối lượng cơ thể Bùi Quang Tiến và cs (1995) cho biết gà Ross - 208 có khối lượng trứng ở các tuần tuổi 27; 32; 38 và 42 lần lượt là: 53,96; 54,85; 56,76; 57,10 g/quả ñối với dòng trống và 52,41; 54,20; 56,38; 56,89 g/quả ñối với dòng mái
- Hình dạng trứng: Trứng gia cầm thường có hình ô van và ñược thể
hiện qua tỷ số giữa chiều dài và chiều rộng của trứng hay ngược lại Chỉ số
này không biến ñổi theo mùa (Brandsch và Buelchel, 1978)
Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, chỉ số hình dạng trứng là một chỉ tiêu ñể xem xét chất lượng của trứng ấp Những quả trứng dài hoặc quá tròn ñều có tỷ lệ nở thấp Nguyễn Quý Khiêm (1996) cho biết, trứng gà Tam Hoàng chỉ số hình dạng trung bình 1,24 - 1,39 cho tỷ lệ nở cao hơn so với nhóm trứng có chỉ số hình dạng nằm ngoài biên ñộ này
- Chất lượng trứng: Trứng gà gồm 3 phần cơ bản là vỏ, lòng ñỏ và lòng
trắng Theo Vương ðống (1968) khi so với tổng khối lượng trứng thì vỏ chiếm 10 - 11,6%, lòng trắng chiếm 57 - 60% và lòng ñỏ chiếm 30 - 32% Chất lượng trứng ñược thể hiện ở các chỉ tiêu sau:
+ Màu sắc vỏ trứng: không có ý nghĩa lớn trong việc ñánh giá chất lượng trứng, nhưng có giá trị trong chọn giống và thị hiếu tiêu dùng Màu sắc trứng là tính trạng ña gien, có hệ số di truyền biến ñộng h2 = 0,55 - 0,75 Brandsch và Buelchel (1978), khi cho lai dòng gà trứng vỏ trắng với dòng gà trứng vỏ màu, vỏ trứng gà lai sẽ có màu trung gian
Trang 25+ ðộ dày và ñộ bền của vỏ trứng: ðộ dày, ñộ bền hay ñộ chịu lực của
vỏ trứng là những chỉ tiêu quan trọng ñối với trứng gia cầm, có ảnh hưởng ñến kết quả ấp nở và vận chuyển Chúng phụ thuộc vào giống, tuổi, ñiều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng nhiệt ñộ chuồng nuôi cao, tuổi già hay stress ñều làm giảm ñộ dày và sức bền của vỏ trứng
+ Chỉ số lòng ñỏ, chỉ số lòng trắng và ñơn vị Haugh: Khi xem xét chất lượng của trứng thương phẩm cũng như trứng giống, người ta ñặc biệt quan tâm tới các chỉ tiêu này Các chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng trứng càng tốt và tỷ lệ nở càng cao
Chỉ số lòng ñỏ: Chỉ số lòng ñỏ bằng tỷ số giữa chiều cao và ñường kính của nó Theo Card và Nesheim (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994), chỉ số lòng
ñỏ của trứng gà khoảng 0,40 - 0,42
Chỉ số lòng trắng: là chỉ tiêu ñánh giá chất lượng lòng trắng, ñược tính bằng tỷ số giữa chiều cao lòng trắng ñặc và trung bình cộng ñường kính lớn và ñường kính nhỏ của nó Chỉ số này càng lớn thì chất lượng lòng trắng càng cao Chỉ số lòng trắng bị ảnh hưởng bởi giống, tuổi và chế
ñộ nuôi dưỡng
ðơn vị Haugh (Hu): ðơn vị Haugh ñược Haugh R (1930) xây dựng,
sử dụng ñể ñánh giá chất lượng trứng ðơn vị Hu phụ thuộc vào khối lượng
và chiều cao lòng trắng ñặc ðơn vị Hu càng cao thì chất lượng trứng càng tốt ðơn vị Hu bị ảnh hưởng bởi thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm mái (gà càng già, trứng có ñơn vị Haugh càng thấp), bệnh tật, nhiệt ñộ, thay lông (sau khi thay lông ñơn vị Hu cao hơn trước thay lông) và giống (Uyterwal, 2000) Theo Trịnh Xuân Cư và cs (2001) trứng gà Mía lúc 38 tuần tuổi có chỉ số Haugh là 87,4 Nguyễn Huy ðạt và cs (2001) nghiên cứu trên trứng gà Lương Phượng hoa ở 38 tuần tuổi chỉ số Haugh ñạt 94,4
và 60 tuần tuổi ñạt 91,1
Trang 262.3 Một số yếu tố ảnh hưởng ñến sức ñẻ trứng của gia cầm
Sức ñẻ trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, mỗi yếu tố ảnh hưởng ñến sức ñẻ trứng ở mức ñộ nhất ñịnh Một số yếu tố chính ảnh hưởng ñến sức ñẻ trứng của gia cầm như: di truyền cá thể, giống, dòng, tuổi, chế ñộ dinh dưỡng, ñiều kiện ngoại cảnh (Nguyễn Thị Mai và cs, 2009)
- Yếu tố di truyền cá thể
Sức ñẻ trứng: là một tính trạng số lượng có lợi ích kinh tế quan trọng của gia cầm ñối với các nhà chăn nuôi Hays (1944) và Albuda (1955) cho rằng việc sản xuất trứng do 5 yếu tố quy ñịnh: tuổi ñẻ quả trứng ñầu tiên, cường ñộ ñẻ trứng, thời gian nghỉ ñẻ, thời gian kéo dài chu kỳ ñẻ trứng sinh học và mức ñộ biểu hiện của bản năng ñòi ấp
Tuổi thành thục sinh dục là một yếu tố ảnh hưởng tới năng suất trứng
và có liên quan ñến sức ñẻ trứng của gia cầm Thành thục sớm cũng là một tính trạng mong muốn, tuy nhiên cần phải chú ý ñến khối lượng cơ thể Tuổi bắt ñầu ñẻ và kích thước cơ thể có tương quan nghịch Do ñó, chọn lọc theo hướng tăng khối lượng trứng sẽ làm tăng khối lượng cơ thể và tuổi thành thục sinh dục của gà Tuổi thành thục sinh dục của cá thể ñược xác ñịnh thông qua tuổi ñẻ quả trứng ñầu tiên Tuổi thành thục của một nhóm hay một ñàn gia cầm ñược xác ñịnh theo tuổi ñạt tỷ lệ ñẻ 5% (Pingel và Jeroch, 1980) Thể trạng và ñộ dài ngày chiếu sáng ảnh hưởng ñến khả năng thành thục sinh dục Những gà thuộc giống có tầm vóc nhỏ thường bắt ñầu ñẻ trứng sớm hơn những giống gà có tầm vóc lớn Ngoài ra, tuổi thành thục sinh dục sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, loài, giới tính, thời gian nở ra trong năm,… Gà hướng trứng tuổi thành thục sớm hơn gà hướng thịt Thời gian chiếu sáng trong ngày ảnh hưởng ñến tuổi thành thục sinh dục
Trang 27(Khavecman, 1972) và hệ số di truyền của tính trạng này là h² = 0,14 – 0,15 (Brandsch và Buelchel, 1978)
Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn Cường độ
đẻ trứng thường được xác định theo khoảng thời gian 30 - 60 ngày và 100 ngày ðối với các giống gà chuyên trứng cao sản thường cĩ cường độ đẻ trứng lớn nhất vào tháng thứ hai và ba, sau đĩ giảm dần đến hết năm đẻ Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) cho biết cĩ sự tương quan rất chặt chẽ giữa cường độ đẻ trứng của 3 - 4 tháng đầu tiên với sức đẻ trứng cả năm Vì vậy, người ta thường dùng cường độ đẻ trứng ở 3 - 4 tháng tuổi đầu tiên để dự đốn sức đẻ trứng của gia cầm mà ghép đơi và chọn lọc giống Ngồi ra, cường độ đẻ trứng cịn liên quan mật thiết với thời gian hình thành trứng và chu kỳ đẻ trứng
Thời gian nghỉ đẻ ở gà cĩ thể kéo dài trong năm đầu đẻ trứng, từ vài ngày tới vài tuần, thậm chí kéo dài 1 - 2 tháng Thời gian nghỉ đẻ thường vào mùa đơng và nĩ cĩ ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng trứng cả năm Gia cầm thường thay lơng vào mùa đơng nên thời gian này gà nghỉ đẻ Trong điều kiện bình thường, lúc thay lơng đầu tiên là thời điểm quan trọng để đánh giá gà đẻ tốt hay xấu Những đàn gà thay lơng sớm, thời gian bắt đầu thay lơng từ tháng
6 - 7 và quá trình thay lơng diễn ra chậm, kéo dài 3 - 4 tháng là những đàn gà
đẻ kém Ngược lại, những đàn gà thay lơng muộn, thời gian thay lơng bắt đầu
từ tháng 10 - 11, quá trình thay lơng diễn ra nhanh là đàn gà đẻ tốt ðặc biệt ở một số đàn gà cao sản, thời gian nghỉ đẻ chỉ 4 - 5 tuần là lại đẻ ngay khi chưa hình thành xong bộ lơng mới nhưng cũng cĩ con gà đẻ ngay trong thời kỳ thay lơng
Chu kỳ đẻ trứng sinh học liên quan đến thời vụ nở của gia cầm non Tùy thuộc vào thời gian nở mà bắt đầu và kết thúc của chu kỳ đẻ trứng sinh
Trang 28học có thể xảy ra trong thời gian khác nhau trong năm Ở gà, chu kỳ ñẻ trứng thường kéo dài 1 năm; ở gà tây, vịt và ngỗng chu kỳ này ngắn hơn và theo mùa Chu kỳ ñẻ trứng sinh học có mối tương quan thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp ñộ ñẻ trứng, sức bền ñẻ trứng và chu kỳ ñẻ trứng Giữa tuổi thành thục và thời gian kéo dài chu kỳ ñẻ trứng sinh học có mối tương quan nghịch rõ rệt
Tính ấp bóng hay bản năng ñòi ấp trứng là phản xạ không ñiều kiện
có liên quan ñến sức ñẻ trứng của gia cầm Trong tự nhiên, tính ấp bóng giúp gia cầm duy trì nòi giống Bản năng ñòi ấp rất khác nhau giữa các giống và các dòng Các dòng nhẹ cân có tần số thể hiện bản năng ñòi ấp thấp hơn các dòng nặng cân, ñặc biệt gà Leghorn và gà Goldline hầu như không còn bản năng ñòi ấp Bản năng ñòi ấp là một ñặc ñiểm di truyền của gia cầm, nó là một phản xạ nhằm hoàn thiện quá trình sinh sản Trong lĩnh vực ấp trứng nhân tạo ñể nâng cao sản lượng trứng của gia cầm cần rút ngắn và làm mất hoàn toàn bản năng ấp trứng bởi vì bản năng ấp trứng
là một yếu tố ảnh hưởng ñến sức bền ñẻ trứng và sức ñẻ trứng
Các yếu tố di truyền cá thể phụ thuộc vào các gen khác nhau và ảnh hưởng ở mức ñộ khác nhau ñến sức ñẻ trứng Muốn nâng cao sức ñẻ trứng qua một số thế hệ phải bắt ñầu chọn lọc trên cả 5 yếu tố nói trên
- Giống, dòng gia cầm
Giống, dòng gia cầm có ảnh hưởng rất lớn ñến sức sản xuất trứng của gia cầm Các giống khác nhau có khả năng ñẻ trứng khác nhau, ví dụ giống gà Kabir sản lượng trứng trung bình là 195 quả/mái/năm, gà Brown Nick sản lượng trứng trung bình là 300 quả/mái/năm Các giống gà ñược chọn lọc theo hướng chuyên trứng thường có sản lượng trứng cao hơn các giống gà kiêm
Trang 29dụng và các giống gà chuyên thịt Các giống gà nội thường có sản lượng trứng thấp hơn so với các giống gà nhập ngoại
- Tuổi gia cầm
Tuổi gia cầm cũng liên quan ñến năng suất trứng Sản lượng trứng của
gà giảm dần theo tuổi Sản lượng năm thứ 2 thường giảm 15 - 20% so với năm thứ nhất (Nguyễn Thị Mai và cs, 2009) Một số loại gia cầm như vịt và ngỗng thì sản lượng trứng năm thứ 2 cao hơn năm thứ nhất
- Chế ñộ dinh dưỡng
Thức ăn và dinh dưỡng có quan hệ chặt chẽ với khả năng ñẻ trứng Muốn gia cầm có sản lượng trứng cao, chất lượng trứng tốt thì phải ñảm bảo một khẩu phần ăn ñầy ñủ và cân bằng các chất dinh dưỡng theo nhu cầu, ñặc biệt ñảm bảo cân bằng giữa năng lượng và protein, cân bằng giữa các axit amin, cân bằng các chất khoáng và vitamin Thức ăn có chất lượng kém sẽ không thể cho năng suất cao và còn gây bệnh cho gia cầm Các loại thức ăn bảo quản không tốt bị nhiễm nấm mốc, các loại thức ăn bị nhiễm ñộc kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật, thậm chí các loại thức ăn bảo ñảm ñầy ñủ và cân bằng các chất dinh dưỡng nhưng bảo quản không tốt cũng sẽ không phát huy ñược tác dụng trong chăn nuôi gia cầm (Nguyễn Thị Mai và cs, 2009)
- ðiều kiện ngoài cảnh
Các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt ñộ, ñộ ẩm, ánh sáng, mùa vụ, ảnh hưởng rất lớn tới sức ñẻ trứng của gia cầm Mùa vụ có ảnh hưởng rõ rệt ñến sức ñẻ trứng của gia cầm Ở nước ta, vào mùa hè sức ñẻ trứng của gà giảm so với mùa xuân, mùa thu thì sức ñẻ trứng lại tăng lên
Nhiệt ñộ môi trường xung quanh có liên quan mật thiết tới sản lượng trứng của gia cầm Nhiệt ñộ thích hợp cho gà ñẻ trứng là 18 – 240C Nếu nhiệt
Trang 30ñộ dưới giới hạn thì gia cầm phải huy ñộng năng lượng ñể chống rét và nhiệt
ñộ cao trên nhiệt ñộ giới hạn thì cơ thể gia cầm phải thải nhiệt Ngoài ra, nhiệt
ñộ môi trường cao làm giảm lượng thức ăn thu nhận, hiệu quả sử dụng thức
ăn từ ñó làm giảm năng suất và chất lượng trứng (Nguyễn Thị Mai và cs, 2009) Vỏ trứng mỏng hơn bình thường nếu kết hợp với dinh dưỡng không hợp lý thì gia cầm ñẻ trứng không có vỏ
Liên quan chặt chẽ với nhiệt ñộ là ñộ ẩm không khí của chuồng nuôi ðộ
ẩm thích hợp từ 65 - 70% ðộ ẩm thấp sẽ làm lượng bụi trong chuồng nuôi tăng lên và ñây là một tác nhân gây bệnh ñường hô hấp Ngược lại, ñộ ẩm cao là ñiều kiện thuận lợi cho các loại vi sinh vật gây bệnh phát triển nhất là các bệnh ñường tiêu hoá ðộ ẩm cao kết hợp với nhiệt ñộ cao sẽ gây stress nóng ẩm rất bất lợi với gia cầm, làm giảm khả năng ñẻ trứng, chất lượng trứng và hiệu quả chăn nuôi Ngoài nhiệt ñộ và ñộ ẩm, chế ñộ chiếu sáng cũng là yếu tố quan trọng trong chăn nuôi gia cầm nói chung và gà ñẻ trứng nói riêng Gia cầm không chỉ cần ánh sáng ñể nhìn và tìm thức ăn, nước uống, nơi ở, mà nó còn khởi ñộng
cơ quan sinh dục Theo Nguyễn Thị Mai và cs (2009), võng mạc và não bộ của gia cầm rất nhạy cảm với kích thích của ánh sáng Cơ chế dẫn truyền kích thích của ánh sáng là cơ chế thần kinh - thể dịch mà tuyến yên là trung tâm truyền dẫn, chỉ những ánh sáng có bước sóng dài mới ñi qua ñược Vì vậy, muốn kích thích
cơ quan sinh dục cần sử dụng ánh sáng ấm với nhiều màu ñỏ và cam Ánh sáng tác ñộng ñến sức ñẻ trứng từ hai khía cạnh là thời gian chiếu sáng và bản chất của ánh sáng Khi sử dụng chế ñộ chiếu sáng trong chuồng nuôi gà không chỉ ñảm bảo thời gian và cường ñộ chiếu sáng mà còn phải chú ý ñến màu sắc của ánh sáng Nếu muốn kích thích gà ăn nhiều, hoạt ñộng tìm ổ ñẻ hiệu quả, tránh
ñẻ rơi trứng trên sàn thì nên sử dụng ánh sáng trắng lạnh với nhiều màu xanh Cần tăng cường ánh sáng ñỏ ñối với gà mái ñẻ nhất là giai ñoạn chuẩn bị vào ñẻ (giai ñoạn tiền ñẻ trứng) Thời gian chiếu sáng của gà ñẻ là từ 12 - 16 giờ/ngày
Trang 31và cường ñộ chiếu sáng 10,8lux ñủ cho năng suất trứng cao nhất Trong chăn nuôi gà ñẻ có thể sử dụng ánh sáng tự nhiên hoặc nhân tạo ñể chiếu sáng cho gà với cường ñộ từ 3 - 3,5 W/m2
2.4 Một số ñặc ñiểm của giống gà Ai Cập
Trong chuyến viếng thăm và làm việc tại Ai Cập tháng 4 năm 1997, chính phủ Ai Cập ñã tặng nguyên Bộ trưởng Nguyễn Công Tạn trứng giống
gà thả vườn (Fayoumi) nuôi ở vùng nông thôn Số trứng này ñã giao cho Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương - Viện Chăn nuôi ấp nở, nuôi dưỡng và nhân ñàn
Fayoumi có nguồn gốc từ thành phố Fayoumi - Ai Cập Chúng có khả năng thích nghi rộng và khả năng sản xuất ổn ñịnh trong khí hậu nhiệt ñới và nuôi thả ở các nước ñang phát triển (Negussi, 1999; Yasmin và cs, 2002) (trích theo Nguyễn Thị Mười, 2006)
Báo cáo của Phùng ðức Tiến và cs (2001) (trích theo Nguyễn Thị Mười, 2006) cho biết, gà Ai Cập ổn ñịnh về ñặc ñiểm ngoại hình, màu sắc lông, gà có sức sống tốt và tỷ lệ nuôi sống cao Theo tác giả tỷ lệ nuôi sống giai ñoạn gà con (0 - 9 tuần tuổi) trung bình là 98,06%; giai ñoạn dò, hậu bị ñạt 97,03%; giai ñoạn sinh sản (40 tuần ñẻ) ñạt 90 - 91% Quá trình thích nghi, chọn lọc ñã nâng cao năng suất trứng 149,9 quả/40 tuần ñẻ ở thế hệ xuất phát lên 176,63 quả/40 tuần ñẻ ở thế hệ thứ V; tiêu tốn thức ăn/10 trứng qua
ñó cũng giảm từ 2,27kg xuống còn 1,92kg
2.5 Giới thiệu về cây Moringa oleifera
2.5.1 Nguồn gốc, phân bố của cây Moringa oleifera
Moringa oleifera là cây ñậu thuộc họ Moringaceae Nó ñược chia làm 4 giống:
- Moringa – Stenopetala là cây vùng Ethiopia ở Bắc Kenia
- Moringa – peregrina ñược tìm thấy ở Sudan, Ai Cập, bán ñảo Ả Rập
và phía bắc bờ biển chết
Trang 32- Moringa Ờ ovalifelia có ở Angola và Namibia
- Moringa oleifera ựược biết nhiều ựến nhất Chúng là giống ựược trồng
nhiều ở phắa dưới Hymalaya, Bắc Ấn độ Hiện nay chúng ựược trồng rộng rãi
ở các vùng nhiệt ựới và cận nhiệt ựới từ đông Bắc Ờ Bắc Phi Ở Việt Nam,
Moringa oleifera ựược trồng chủ yếu ở miền Nam và miền Trung Ở miền
Bắc cây ựược trồng thử nghiệm tại khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng Thuỷ sản Ờ Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội và một vài nông hộ ở Bắc Giang và Vĩnh Phúc
2.5.2 đặc ựiểm sinh học của cây Moringa oleifera
Moringa oleifera là cây thân gỗ lâu năm, lớn rất nhanh, có biên ựộ thắch
nghi rộng, có khả năng chịu hạn tốt và có thể phát triển trên ựất bạc màu, ô nhiễm Cây phát triển trên ựất mùn nhưng không chịu ựược ngập úng kéo dài, thắch hợp với ựất trung tắnh hay ựất có ựộ kiềm nhẹ Cây phát triển tốt ở nhiệt ựộ từ 26 Ờ 400C và có thể chịu ựược nhiệt ựộ là 480C
2.5.3 Giới thiệu vài nét về kỹ thuật gieo trồng
Có nhiều phương pháp trồng cây Moringa oleifera như gieo bằng hạt hoặc trồng bằng cành Hạt Moringa oleifera có thể ựược trồng trực tiếp vào ựất hoặc ươm hạt trong bầu rồi ựem trồng vào ựất Cây Moringa oleifera có
thể trồng bằng cành theo cách trồng trực tiếp hoặc ươm Trong hai cách trên thì trồng bằng cành sẽ phát triển nhanh, ra quả sớm và nhiều nhưng chất lượng quả kém, rễ phát triển nông nên cây trồng chịu hạn kém
2.5.4 Tình hình nghiên cứu về cây Moringa oleifera trên thế giới
Moringa oleifera là một loại cây họ ựậu ựược trồng ở nhiều nước trên
thế giới Lá, hoa và quả của Moringa oleifera không những có hàm lượng các
chất dinh dưỡng cao mà còn có tắnh ngon miệng Do ựó, người ta sử dụng làm thức ăn, thuốc chữa bệnh và nhiều công dụng khác cho người và ựộng vật
Trang 33Moringa oleifera còn ñược gọi là cây ðộ Sinh (Tree of Life ), cây Thần
Diệu (Miracle Tree), ở Việt Nam thường gọi là cây Chùm Ngây
Do nhiều công dụng hữu ích của loại cây này, trong những năm gần ñây nó ñược nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm, nghiên cứu về thành phần hoá học và ứng dụng vào ñời sống, cụ thể như: trong nhân y, thức ăn chăn nuôi, thực phẩm, xử lý ô nhiễm nguồn nước
2.5.4.1 Những nghiên cứu về thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của cây Moringa oleifera
Theo CWS/AGADA (1997) thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng
của cây Moringa oleifera như sau:
Bảng 2.4 Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của lá, quả của cây
Moringa oleifera (AGADA, 1997)
(100g)
Lá tươi (100g)
Bột lá khô (100g)
Hàm lượng vật chất khô của lá cây Moringa oleifera tương ñối cao
(25%) gấp 1,5 – 2,0 lần vật chất khô có trong cỏ voi (18%) Hàm lượng protein thô trong lá cây cao gấp 2 lần protein có trong sữa bò (3,3%)
Trang 34Bảng 2.5 Hàm lượng khoáng chứa trong lá, quả của cây Moringa oleifera
(AGADA, 1997) Chỉ tiêu Quả tươi (100g) Lá tươi (100g) Bột lá khô (100g)
Theo Church World Service (2000) lá cây Moringa oleifera có hàm
lượng các nguyên tố khoáng ña lượng và vi lượng là tương ñối cao Lượng
Ca tìm thấy trong lá tươi (440 mg/100g) cao gấp 4 lần trong sữa bò (120 mg/100g) Hàm lượng P trong lá tươi (100 mg/100g) cao gấp 3 lần P trong chuối (32mg/100g) Các nguyên tố khoáng ña lượng như: K, S… và các nguyên tố khoáng vi lượng Cu, Fe,… chỉ cần một lượng nhỏ ñể hoàn thiện các chức năng của cơ thể, nhưng nếu thiếu thì sẽ dẫn ñến rối loạn các chức năng của cơ quan, bộ phận trong cơ thể Khi cơ thể ñộng vật không ñược cung cấp ñủ Fe thì sẽ gây thiếu máu Khẩu phần ăn thiếu khoáng sẽ làm con vật giảm sinh trưởng, ñặc biệt ñối với bò ñẻ sẽ làm cơ yếu hoặc bại liệt Do ñó, hàm lượng các nguyên tố khoáng ña lượng và vi lượng có trong
cây Moringa oleifera là rất quan trọng ñặc biệt là ñối với gia súc non, gia
súc mang thai và tiết sữa
Trang 35Các loại vitamin hòa tan trong nước và dầu, mỡ cũng thấy trong lá và
quả cây Moringa oleifera
Bảng 2.6 Hàm lượng các vitamin chứa trong lá, quả của cây
Moringa oleifera
(100g)
Lá tươi (100g)
Bột lá khô (100g)
Người ta thấy rằng khi phơi lá Moringa oleifera trực tiếp dưới ánh sáng mặt
trời thì có thể làm giảm lượng β – carotene tới 40% Ngoài các chất khoáng,
vitamin thì trong lá và quả Moringa oleifera còn chứa hầu hết các axit amin
cần thiết
Trang 36Bảng 2.7 Hàm lượng các axit amin trong lá, quả của cây
Moringa oleifera (AGADA, 1997)
Axit amin
(g/16g N)
Quả tươi (100g)
Lá tươi (100g)
Bột lá khô (100g)
Như vậy cây Moringa oleifera có hàm lượng các chất dinh dưỡng như
protein, khoáng, vitamin khá cao ñặc biệt là chứa ñầy ñủ các axit amin cần
thiết cho cơ thể ñộng vật
2.5.4.2 Moringa oleifera ứng dụng làm thức ăn cho người
Lá, hoa, quả, hạt hoặc rễ ñã ñược sử dụng ñể làm thức ăn cho người Lá
cây Moringa oleifera tươi dùng nấu cháo với một số thực phẩm khác như gạo,
lạc, ñỗ, thịt bò… sẽ làm tăng lượng sữa ở phụ nữ thời kỳ nuôi con Lá
Moringa oleifera sau khi thu hoạch ñược rửa sạch, phơi khô nghiền thành bột
ñể sử dụng dần như một chất phụ gia dinh dưỡng và làm thức ăn bổ sung ðối
Trang 37với phụ nữ thời kỳ mang thai, nuôi con dùng bột lá Moringa oleifera 6
thìa/ngày sẽ cung cấp ñầy ñủ Ca và Fe trong thời kỳ này Ở một số nơi người
ta sử dụng bột lá hoặc bột hạt của cây cùng với các gia vị ñể nấu cháo hoặc làm súp hay trộn với trứng rồi tráng lên tạo nên món ăn rất ngon miệng
Quả Moringa oleifera khi còn non có thể loại bỏ vỏ ngoài sau ñó thái
mỏng và xào ăn giống như măng tây hoặc nấu súp ðây là món ăn rất ñược ưa thích ở Ấn ðộ ðối với quả gần chín, hạt vẫn còn màu trắng xanh có thể lấy nấu ăn như ñậu Hà Lan
Ngoài ra, lá và rễ của cây ñược sử dụng ñể làm một loại nước chấm cay Khi cây cao 60cm thì thu hoạch lấy rễ ñể làm gia vị, hoa của cây
Moringa oleifera có thể cung cấp Ca và K nhưng trước khi ăn phải rửa sạch,
vò nát, chiên sào hay làm món salát trộn
2.5.4.3 Ứng dụng trong y học
Moringa oleifera là loại thuốc quý ở vùng nhiệt ñới và cận nhiệt ñới
Thân, lá hoặc rễ ñược chế biến thành rất nhiều loại thuốc chữa bệnh theo thói quen của người dân ñịa phương Trong những năm gần ñây, tại các phòng nghiên cứu thử nghiệm thuốc ở một số nước Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ
ñã nghiên cứu sử dụng cây này ñể tạo một số loại thuốc trị bệnh có hiệu quả
Ở Ấn ðộ, lá Moringa oleifera ñược ép lấy nước ñể trị bệnh cao huyết
áp Ở Senegal, người ta sử dụng nước ép từ lá uống ñể hạn chế ñường huyết hoặc nước ép từ lá pha với mật ong và một số phụ gia khác sử dụng làm thuốc chữa tiêu chảy, viêm kết mạc và viêm kết ruột Ngoài ra, nước ép từ lá pha với nước ép từ cà rốt uống có tác dụng lợi tiểu Ở Ấn ðộ và Philippin, người
ta sử dụng lá non hoặc búp của cây giã nhỏ ñắp lên chỗ ñau nhức, da viêm sẽ
làm giảm sưng, diệt khuẩn Ngoài ra, lá của cây Moringa oleifera còn ñược sử dụng như thuốc tẩy giun cho trẻ nhỏ Hoa của cây Moringa oleifera ñược sử
dụng như một loại thuốc bổ, lợi tiểu ở Puertro Rico Thuốc pha chế từ hoa
Trang 38dùng ñể rửa mắt chống viêm hoặc dùng hoa sắc thuốc uống chống các bệnh rối loạn thần kinh Ở Ấn ðộ, nước ép từ hoa sử dụng giảm ñau bụng, chữa viêm cata ruột Quả ñược sử dụng làm thuốc tẩy giun sán, chống ñầy hơi, chướng hơi và chữa các bệnh ñau khớp Rễ ñược coi là vị thuốc rất hiệu quả chống lại các bệnh sốt liên miên Nước ép từ rễ sử dụng bôi lên chỗ sung huyết ở da hoặc chỗ sưng tấy Ở Ấn ðộ và Senegal, rễ cây ñược giã nhỏ trộn với muối ñắp lên vùng ñau hoặc trộn với rượu mang bóp lên trong các trường hợp bị ñau khớp, viêm khớp và thấp khớp Nước ép từ rễ ñem trộn với sữa ñược coi là một vị thuốc rất hữu ích ñể chống lại các bệnh hen suyễn Ngoài
ra, người ta kết hợp các thành phần của cây như: rễ, vỏ, lá tươi có tác dụng ñánh thức bệnh nhân hôn mê hoặc ở trạng thái tâm thần
Qua nghiên cứu và sử dụng cho thấy tất cả các bộ phận của cây ñều ñược sử dụng làm thức ăn và làm thuốc rất hữu dụng cho con người
2.5.4.4 Ứng dụng của cây Moringa oleifera làm thức ăn cho ñộng vật
Cây Moringa oleifera chứa hàm lượng dinh dưỡng rất cao ñược nhiều
nhà chăn nuôi sử dụng làm thức ăn cho trâu, bò, dê, cừu… và một số loại cá
Lá cây Moringa oleifera có thể sử dụng làm thức ăn cho loài nhai lại ñặc biệt
là trong chăn nuôi bò sữa Bên cạnh ñó, một số nghiên cứu cho thấy rằng khi
sử dụng lá Moringa oleifera làm thức ăn bổ sung cho gia súc nhai lại sẽ làm
tăng tỷ lệ tiêu hoá, khắc phục tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng và gia súc tăng
trọng 440 g/ngày ðồng thời sử dụng cây Moringa oleifera có tác dụng làm
giảm nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh thông thường
Nếu sử dụng lá cây Moringa oleifera làm thức ăn bổ sung cho ñộng vật
trong giai ñoạn tiết sữa sẽ làm tăng lượng sữa tiết ra Kết quả nghiên cứu của trường ðại học Sokoine – Tazania (2004) cho thấy khi bổ sung 10 – 20% bột
lá Moringa oleifera vào trong khẩu phần sẽ làm sản lượng sữa tăng lên từ 15
– 20%, hàm lượng mỡ, protein trong sữa ñều tăng lên ñáng kể Người ta thấy
Trang 39rằng có thể sử dụng vỗ béo cho lợn thay thế 50 Ờ 100% ựậu tương bằng bột lá
Moringa oleifera trong khẩu phần thì cho kết quả khá cao (Makkar và Becker,
1996) ựặc biệt làm giảm giá thành thức ăn
Các nghiên cứu của Sarwatt và cs (2002) bổ sung Moringa oleifera cho dê con ở đông Phi (SEAG) với 25 và 50% lá Moringa oleifera
(MOLM) kết quả cho thấy dê có tốc ựộ tăng trưởng tốt hơn so với ăn các cây họ ựậu khác
Olugbemi và cs (2010) ựã sử dụng bột lá Moringa oleifera cho gà ựẻ
trứng thương phẩm với tỷ lệ lên ựến 10% mà không có ảnh hưởng tiêu cực nào ựến năng suất và chất lượng trứng
2.5.5 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam do cây Moringa oleifera có nhiều công dụng hữu ắch trong
nhân y nên ựược gọi là cây độ sinh Rễ cây ựược cho là có tắnh kắch thắch, giúp lưu thông máu huyết, làm dễ tiêu hóa, tác dụng trên hệ thần kinh, làm dịu ựau Hoa có tắnh kắch dục, hạt làm giảm ựau, nhựa từ thân có tác dụng làm dịu ựau Chùm ngây còn ựược dùng ựể chữa các bệnh như: trị u xơ tiền liệt tuyến, trị suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, giúp ổn ựịnh huyết áp, ổn ựịnh ựường huyết, bảo vệ gan; trị tăng cholesterol, lipắt máu, triglycerid, hoặc làm giảm axắt uric, ngăn ngừa sỏi oxalate Ngoài ra, cây Chùm ngây còn có công dụng ngừa thai; vì vậy, loại cây ựược ựồng bào người Raglay dùng làm thuốc ngừa thai Chùm ngây còn ựược dùng ựể lọc nước bằng cách lấy 2 trái chùm ngây tươi ựã có hạt già, lấy hạt giã nát, trộn ựều với 3 lắt nước ựục, khuấy ựều trong 5 phút, ựể lắng 2 giờ thì có nước trong dùng ựược
Trong vài năm gần ựây, một số nghiên cứu ựã sử dụng một số bộ phận của cây như: lá, hoa, quảẦ làm thức ăn cho người và ựộng vật Ở Việt Nam
ựã có sản phẩm trà Moringa túi lọc (chế biến từ 100% lá của cây Moringa) với tên thương hiệu là Loyal Ờ thực phẩm chức năng Về mặt sản phẩm, trà
Trang 40Moringa túi lọc gần gũi với người tiêu dùng Việt Nam với nhiều chủng loại như trà Moringa nguyên chất hoặc trà Moringa kết hợp với các thảo dược khác (tỷ lệ 5%) như hoa lài, trà xanh, nhân sâm, gừng, ac-ti-sô, linh chi, sen nhằm ñáp ứng theo từng sở thích của người tiêu dùng Theo Nguyễn Hữu
Thành (2004) hạt của cây Moring oleifera nghiền nhỏ còn ñược dùng như một
loại phèn hoá học có tác dụng lọc nước rất tốt
Theo báo cáo của ðặng Thúy Nhung (2008), cây Moringa oleifera gieo
trồng tại Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội có thành phần dinh dưỡng như sau: hàm lượng vật chất khô trung bình là 19,46%; hàm lượng protein thô, xơ thô, NDF và ADF tính theo vật chất khô tương ứng là 21,42; 15,27; 39,35; và 22,81% Khi so sánh với thân lá một số cây họ ñậu ñã ñược gieo trồng tại Việt
Nam, lá cây Moringa oleifera có thành phần dinh dưỡng khá cao Hàm lượng
protein cao hơn cỏ Stylo khô và thân lá ñậu tương So với cọng lá keo dậu,
tuy hàm lượng protein của lá cây Moringa oleifera thấp hơn, nhưng lại có
hàm lượng Ca/P cân ñối hơn và rất phù hợp cho ñộng vật nhai lại ñặc biệt trong giai ñoạn tiết sữa
2.5.6 Những hạn chế của cây Moringa oleifera trong nuôi dưỡng gia súc
Tuy nhiên, người ta tìm thấy trong hạt và lá của cây Moringa oleifera
có chứa một số chất kháng dinh dưỡng và ñộc tố:
- Chất cyanogen: trong cây Moringa oleifera hàm lượng cyanogen tìm
thấy trong hạt là 0,5mg/100g, bột lá là 1,3mg/100g và chất chiết từ rễ là 1,5 mg/100g Vì vậy, hàm lượng cyanogen cao rất dễ gây ngộ ñộc cho gia súc Trong thức ăn hỗn hợp, hàm lượng cyanogen không ñược vượt quá 50mg/kg thức ăn ñối với gia súc nhai lại và không quá 10mg/kg thức ăn ñối với thức ăn của gà (FAO và WHO, 1991)