Đặt vấn đề Bắt đầu từ những năm 2002- 2003 cả nớc thực hiện chơng trình thay sách giáo khoa, ở chơng trình THCS học sinh đợc học rất nhiều môn trong đó Ngữ Văn chiếm một vị trí vô cùng q
Trang 1I Đặt vấn đề
Bắt đầu từ những năm 2002- 2003 cả nớc thực hiện chơng trình thay sách giáo khoa, ở chơng trình THCS học sinh đợc học rất nhiều môn trong đó Ngữ Văn chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, vừa góp phần tác động vun xới và bồi đắp tâm hồn cao đẹp, góp phần hình thành nhân cách cao đẹp cho ngời học sinh, vừa rèn luyện kỹ năng quan sát, phân tích, so sánh, phán đoán, suy nghĩ, xử lý ngôn từ vừa hình thành kỹ năng tạo lập văn bản một cách năng động theo những yêu cầu và tình huống khác nhau
Trong đó Tập làm văn là một bộ phận thực hành mang tính tổng hợp sáng tạo đợc cấu trúc theo trình tự: cung cấp lý thuyết Tập làm văn nói Tập làm văn viết trả bài Vì vậy kết quả học làm văn của học sinh là thớc đo chính xác nhất về kết quả giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh mà “trả bài” là một tiết học vô cùng quan trọng có tác dụng nhiều mặt là cơ hội để học sinh tự đánh giá quá trình tiếp nhận tri thức môn Ngữ Văn Thông qua tiết học trả bài mà hình thành kỹ năng tạo lập văn bản cho các em ở những bài tiếp theo
Để đạt đợc điều đó ngoài việc nắm vững chơng trình, kiến thức ngời giáo viên cần có những năng lực s phạm nhất định Một trong những năng lực đó là năng lực tổ chức điều khiển quá trình học tập cho học sinh đa các em vào học tập thật sự nhằm mục đích phát triển t duy, giúp học sinh tự học tự sáng tạo
Vì vậy công việc thiết kế bài dạy vô cùng quan trọng nó giúp ngời giáo viên
định hớng trớc hoạt động dạy học của thầy và trò nhằm đạt đợc mục tiêu yêu cầu của tiết học
Theo phân phối chơng trình của Bộ giáo dục cho chơng trình Ngữ Văn đang hiện hành, ta thấy các tiết trả bài đợc phân lợng nhiều hơn so với chơng trình cũ(tiết trả bài đợc dành cho cả kiểm tra Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn, còn chơng trình cũ chỉ dành cho Tập làm văn) chứng tỏ ý đồ của các nhà biên soạn chơng trình rất coi trọng tiết học này
Song trong thực tế nhiều giáo viên không coi tiết trả bài là tiết học thực sự thậm chí còn bỏ qua giờ trả bài có khi đợc thu gọn vào việc làm một bài văn mẫu hoặc đợc tiến hành theo một mô hình đơn điệu tẻ nhạt sáo mòn Giáo viên nhận xét qua u nhợc điểm của học sinh rồi phát bài Ngời giáo viên cha hình thành đợc cho các em kỹ năng tạo lập văn bản thông qua tiết trả bài Đó là lý do mà tôi chọn đề tài
“Hình thành kỹ năng tạo lập văn bản thông qua tiết trả bài”
Trang 2II Nội dung của đề tài
1 Nhận thức cũ tình trạng cũ
Lâu nay giáo viên môn Ngữ Văn vẫn quan niệm tiết trả bài là nhận xét về u nhợc điểm trong bài làm của học sinh, là dịp để giáo viên trút những bực dọc trớc những kết quả bài làm thấp của các em, là những lời khen sáo rỗng trớc những bài làm tơng đối hòn chỉnh của một số em trong lớp cứ lặp đi lặp lại Điều này hình thành cho các em tâm lý lắng nghe giáo viên nhận xét về u nhợc điểm về bài làm
mà ngơ ngác không biết có phải bài làm của mình không xen lẫn tâm lý sợ sệt Sau
đó là giây phút căng thẳng chờ đợi kết quả bài làm của mình Tiếp đó là công việc chữa bài trong một không khí ồn ào phân tán Kết quả là học sinh không thu đ ợc
điều gì bổ ích thiết thực cho bài làm của mình Thậm chí sau khi nhận bài kiểm tra học sinh chỉ cần liếc qua con điểm rồi bỏ ngay vào cặp, dẫn đến hậu quả khiến biết bao nhiêu giáo viên phải băn khoăn: “Học sinh bây giờ thật chậm hiểu, thầy bày mãi không chịu sửa, viết văn chẳng thấy tiến bộ chút nào và những lỗi viết ở bài
tr-ớc lại lặp lại ở bài sau” Giáo viên biết rồi cứ đến em ấy lại cứ thế mà nhận xét cứ thế mà cho điểm
Trong những năm học vừa qua cũng nh trong năm học 2007-2008 tôi đợc phân công giảng dạy Ngữ Văn ở lớp 6 và lớp 9 đặc biệt ở học kỳ I môn Ngữ Văn sau khi học sinh làm bài viết số 3 của Tập làm văn tiết 49-50 (Kể chuyện đời th-ờng) Với đề ra: Em hãy kết lại hình ảnh ngời thân mà em quý mến
Tôi đã chấm và tổng hợp kết quả nh sau:
Tên
lớp
Số
HSKS
Chất lợng
Kết quả cho thấy: Bài viết đạt điểm giỏi không có số học sinh đạt điểm yếu vẫn còn nhiều Đặc biệt qua chấm bài cụ thể tôi thấy khả năng khái quát sáng tạo và dùng từ đặt câu, diễn đạt của học sinh rất kém, năng lực tự tạo lập văn bản không tiến bộ, nhất là các lỗi trên thờng lặp lại ở bài viết số 2 Khả năng khắc phục lỗi của các em rất hạn chế Trong lúc đó ở các tiết đọc hiểu văn bản, Tiếng Việt, lý thuyết Tập làm văn học sinh vẫn nắm đợc kiến thức cơ bản
Nguyên nhân do học sinh cha tự nhận đợc u điểm, nhợc điểm của mình trong bài viết, cha biết và nhớ những lỗi mà mình thờng gặp để khắc phục, có nghĩa là học sinh cha biết các thẩm định những “Sáng tác nhỏ của mình” Vậy cơ hội để học sinh
Trang 3làm đợc điều đó là ở đâu? Vào thời gian nào? Tôi thiết nghĩ, đó chính là 45 phút quý báu của tiết trả bài mà chơng trình đã quy định rõ sau mỗi bài viết
Với giáo viên ở những tiết dạy này là do cha xác định đợc mục tiêu cần đạt của bài dạy, quy trình tiết dạy cha hợp lý Giáo viên cha chủ động linh hoạt mạnh dạn đa ra một cách tổ chức, hớng dẫn để đa học sinh vào hoạt động học tập thật sự, cha tạo cơ hội để các em đợc tự đánh giá kết quả bài của mình Vì thế làm cho học sinh cứ tởng rằng giờ trả bài là việc của thầy vì tiết trớc thầy “thu” thì tiết này thầy phải “trả” Mặt khác SGV và các tài liệu khác không có một bài thiết kế cụ thể cho tiết trả bài Hầu hết các tài liệu chỉ đa ra một gợi ý: “Giáo viên cần chủ động linh hoạt giúp học sinh nhận ra u khuyết điểm của bài viết và khắc phục” mà giáo viên cha chủ động linh hoạt vẫn tiếp tục tiến hành theo một lối mòn có sẵn Vì thế tiết trả bài cha đợc thực hiện theo đúng ý nghĩa vốn có và cần có của nó
2 Nhận thức mới và những việc làm mới
Từ thực tế nêu trên, là một giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ Văn ở một trờng tả ngạn sông Lam Tôi nghĩ rằng để tiến hành đợc một tiết trả bài sinh
động, có hiệu quả, đa học sinh vào hoạt động thật sự giáo viên phải đầu t thật công phu vào việc thiết kế bài dạy từ khâu chuẩn bị đến tiến hành các hoạt động lên lớp Tôi thiết nghĩ để tiến hành tiết trả bài sinh động theo hớng tích hợp tích cực nhằm mục đích phát triển t duy học sinh, giúp học sinh tự học, tự sáng tạo Trớc hết giáo viên phải hiểu đợc bản chất của phơng pháp dạy học tích hợp, tích cực là gì? Bồi dỡng chuyên đề đổi mới SGK và phơng pháp dạy học đã nêu rõ những điều cần quán triệt nhất đều hàm chứa hai chữ : Chữ thứ nhất “Tích hợp” chữ thứ 2 là “Tích cực” (SGK Ngữ Văn 6 Tập 1)
Tất cả các môn học của chơng trình giáo dục THCS đều có những cải tiến khá mạnh mẽ theo hớng tích hợp, giảm tải lý thuyết tăng thực hành, gắn liền với đời sống trong đó môn Ngữ Văn là môn thể hiện rõ nhất sự cải tiến đó, là theo hớng tổng hợp
Vậy tích hợp là gì? Theo từ điển Tiếng Việt của ngôn ngữ học xuất bản năm
2000 “Tích hợp là sự lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống theo quan
điểm tạo nên hệ thống toàn bộ”
ở đây cũng có thể hiểu: Tích hợp là sự phối kết các tri thức thuộc một số môn học có những nét tơng đồng và một lĩnh vực chung Ví dụ: Các môn học thuộc nhóm khoa học tự nhiên: Toán, Lý, Hoá Khoa học xã hội: Ngữ Văn, Sử, Địa, Nhạc
Trang 4Trong chơng trình Ngữ Văn sự cải tiến theo hớng tích hợp đợc thể hiện rõ ở tên gọi, ở tổ chức và chức năng của văn bản đợc chọn vào SGK ở mục tiêu giáo dục của môn học Tất cả 3 phân môn đều nhằm vào việc hình thành 4 kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết cho học sinh (những lý thuyết này đã đợc nhiều tài liệu nói đến giáo viên cũmg đợc đọc và học ở chuyên đề)
Dạy theo hớng tích hợp có nghĩa là nh thế nào?
Trớc hết giáo viên phải biết phối kết các tri thức để giúp học sinh biết vận dụng bài học này vào bài học khác, lớp học này với lớp học khác và môn học này với môn học khác có liên quan Coi trọng dạy 3 phân môn: Văn bản, Tiếng Việt, Tập Làm Văn
Dạy 3 phân môn nh thể thống nhất “Tam vị nhất thể” rõ ràng 3 phân môn cùng xử lý một văn bản, giáo viên phải biết phối hợp sao cho hợp lý, nhịp nhàng và giữ đợc bản sắc riêng, vừa học nhập với nhau để cùng hình thành kiến thức, và hình thành kỹ năng ở học sinh Đây là việc vừa làm mới lại vừa khó vì vậy giáo viên phải linh hoạt sáng tạo một trong những mẫu chốt để đạt đợc hiệu quả đó là giáo viên phải hớng dẫn học sinh, tích cực tham gia vào hoạt động học, thứ hai là: phát huy vai trò của ngời học, đó cũng là yêu cầu của quá trình đổi mới phơng pháp dạy học tích cực
Tích cực trong phơng pháp dạy học đợc dùng với nghĩa là hoạt động chủ
động dạy học thông qua viẹc tổ chức các hoạt động của học sinh gắn liền với rèn luyện cho học sinh phơng pháp tự học, chú trọng hoạt động cá nhân, kết hợp hoạt
động nhóm, tổ học tập, tích hợp nhiều hình thức, phơng pháp trong một tiết học kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Tóm lại: phơng pháp dạy học “tích hợp”, “tích cực” nhằm mục đích phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, chú ý đến quyền lợi học tập của ngời học để học sinh tự tìm ra con đờng mà khám phá cái hay, cái đẹp của vật chất bằng chính tâm hồn trong trẻo của mình
Từ những suy nghĩ đó, tôi đã tiến hành tiết trả bài cách khác Sau nhiều lần suy nghĩ trăn trở vì sao các em vẫn mắc nhiều lỗi tơng tự ở bài sau nh bài trớc nh vậy Mà trong phần cung cấp lý thuyết về tạo lập văn bản các em tỏ ra rất am hiểu Vậy nguyên nhân có lẽ ở tiết trả bài cần phải đổi mơi phơng pháp trong tiết trả bài, cần phải đổi mới phơng pháp trong tiết học này để học sinh đạt đợc kết quả theo mong muốn Điều này tôi đã áp dụng vào dạy tiết trả bài ở lớp 6B tiết 64 nh sau: B
ớc 1: Xác định mục tiêu cần đạt của tiết dạy
Trang 5Giúp học sinh nhận ra những u điểm, nhợc điểm trong bài viết của mình về nội dung và hình thức trình bày, thấy đợc phơng hớng khắc phục, sửa chữa các lỗi
Rèn kỹ năng tạo lập văn bản sau tiết trả bài
Luyện kỹ năng tự nhận xét, sửa lỗi bài của mình, của bạn đồng thời rèn luyện thêm khả năng trình bày một vấn đề trớc tập thể
Tích hợp kiến thức văn ở văn bản “Mẹ hiền dạy con” và “Thầy thuốc gỏi cốt nhất ở tấm lòng”
B
ớc 2: Công việc chuẩn bị của thầy và trò
1)Giáo viên:
*Chấm bài:
Đây là công việc thầm lặng song đòi hỏi hoạt động giáo viên rất cao, yêu cầu giáo viên phải chấm chính xác công bằng, chu đáo sẽ có tác dụng lớn trong việc bồi dỡng t tởng, kiến thức cũng nh rèn luyện kỹ năng cho học sinh vì thế : “Chấm bài cũng là một nghệ thuật” Lúc này giáo viên trực tiếp với tâm hồn ngây thơ của các
em đến với từng em một trực tiếp uốn nắn sửa chữa từng “Sáng tác nhỏ” Giáo viên cần có một thái độ sáng suốt, công minh và tình yêu thơng săn sóc đến từng bài viết, phát hiện đợc những tiến bộ dù rất nhỏ của học sinh qua hai mặt nội dung t t-ởng và hình thức thể hiện
- Khi chấm bài đa ra những ký hiệu quy ớc từ đầu năm để học sinh biết đợc
đã lu ý điều gì Ví dụ một số quy ớc:
+ dđ: Tức là diễn đạt trong câu văn, đoạn văn còn lủng củng, vụng về
+ dt : cách dùng từ còn thiếu chính xác cha chọn lọc, không phù hợp với ngữ cảnh
+ ct : Sai lỗi chính tả
+ c: Sử dụng câu cha đúng (cha đúng về nội dung ý nghĩa, cấu tạo ngữ pháp mục đích)
+ dc : Dấu câu sử dụng cha đúng chỗ
+ Ch/y : Chuyển ý cha linh hoạt cha phù hợp
+ d/ch : Dẫn chứng cha chọn lọc cha tiêu biểu
+ lđ : Lạc đề
- Chấm xong mỗi bài, giáo viên có những lời nhận xét cụ thể vừa biểu dơng những mặt làm đợc vừa chỉ ra thiếu sót trong bài làm của học sinh, tránh những lời phê quá nặng nề Giáo viên cần nhớ rằng: Mỗi kém cỏi và sai sót của trò có một phần trách nhiệm của chính mình
Trang 6* Sau khi chấm bài:
Giáo viên cần tiến hành phân nhóm các bài làm đợc và cha làm đợc cũng nh các loại lỗi học sinh thờng gặp
- Lỗi về mặt hình thức: có các loại lỗi cơ bản sau:
+ Lỗi về đặc trng thể loại tức là phơng pháp làm bài văn đúng theo kiểu văn bản đã học(văn tự sự)
+ Lỗi về bố cục trình bày, thông thờng bài viết bố cục phải có 3 phần : Mở bài – Thân bài – Kết bài, mỗi phần triển khai một nhiệm vụ theo một trình tự, chữ viết, cách phân dòng
+ Lỗi về ngôn ngữ : Đây là yếu tố quan trọng nhất bởi ngôn ngữ là chất liệu làm nên văn bản, ngôn ngữ các em thờng mắc lỗi sau:
- Dùng từ ngữ cha chính xác, cha phù hợp
- Cách đặt câu cha đúng ngữ cảnh, cha đúng mục đích nói
- Ngôn ngữ viết cha hấp dẫn(cha có chất văn, thậm chí có em còn “viết” nh
“nói”
- Diễn đạt còn lủng củng, vụng, hành văn cha mạch lạc trong sáng
- Viết sai chính tả
+ Lỗi về nội dung có các lỗi cơ bản
Triển khai nội dung đề (Tức chủ đề của bài viết) mức độ triển khai các ý chính lệch lạc sai đề hay còn nông cạn
+ ý kiến vận dụng : Tức mức độ vận dụng các kiến thức đã học từ phần đọc hiểu văn bản, phần học Tiếng Việt và Tập làm văn
+ Mức độ thể hiện các kiến thức trong bài viết (Kiến thức trong sách vở, kiến thức trong thực tế)
Lu ý: Có thể từ bài viết giáo viên thấy những “lỗ hổng” về kiến thức của học sinh để bồi dỡng bổ cứu kịp thời trong việc dạy học- hiểu văn bản và Tiếng việt
+ T tởng thái độ tình cảm thể hiện trong bài làm tức mức độ thể hiện tình cảm t tởng hớng tới ý nghĩa sâu xa qua bài viết
Đối với mỗi loại lỗi chúng ta cần xem xét cẩn thận ghi tên cụ thể từng em,
đặc biệt chú trọng (gạch chân) tên những em thờng lặp lại một loại lỗi theo dõi uốn nắn, giúp các em khắc phục Điều này giáo viên nên làm từ đầu năm bằng cách kẻ bảng và phôtô ra nhiều tờ để lu lại
chú
Trang 7d/đ dt ct dc ch/y c d/ch lđ
Văn A
Kếp hợp bảng này trong quá trình chấm bằng cách đánh dấu “Kiểu bóng chuyền” Ví dụ Nguyễn Văn A nh trên
Công việc chấm bài có kỹ thuật nghiệp vụ, kết quả chấm bài chính xác sẽ là một thuận lợi lớn đối với giáo viên trong quá trình tổ chức các hoạt động lên lớp
* Giao bài cho học sinh:
- Giáo viên giao bài trớc cho học sinh ít nhất 1-2 buổi (có thể tranh thủ 5 phút cuối giờ cho lớp trởng phát bài cho các bạn)
- Yêu cầu học sinh về nhà đọc lại “ Sáng tác nhỏ” của mình tự nhận xét,
đánh giá, tự chữa các lỗi trong bài: Yêu cầu các em thống kê các lỗi của mình và h -ớng khắc phục ngay phần sau bài làm
2) Học sinh:
- Đợc nhận bài trớc 1- 2 buổi
- Đọc lại bài văn của mình trên cơ sở những nhận xét đánh gia schung của giáo viên Tự đánh giá những u khuyết điểm trong bài viết của mình, hớng khắc phục chữa lỗi, có những ý kiến đề xuất sẽ trình bày trong tiết trả bài lên lớp
B ớc 3: Tiến hành các hoạt động lên lớp
Hoạt động của thầy và trò Kết quả đạt đợc
Hoạt động 1: ổn định tổ chức, chuẩn bị tiết học 2-3 phút
Giáo viên yêu cầu học sinh đa vở TLV
đặt lên bàn học sinh đa vở chuẩn bị tâm
thế
Hoạt động 2: Hớng dẫn chữa đề bài ( Tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn bài)
( 15-18 phút)
G iáo viên gọi học sinh đọc lại đề
Học sinh đọc to đề bài trớc lớp
Thao tác đầu tiên khi tìm hiểu đề là gì
Học sinh đọc to đề bài, xác định kiểu
loại
Đề bài: Em hãy kể lại hình ảnh ngời thân mà em quý mến
Bớc 1: Tìm hiểu đề, tìm ý
?Kiểu loại đề bài là gì? - Kiểu loại : Kể chuyện đời thờng
Trang 8? Em hiểu hình ảnh là nh thế nào?
HS : Hình ảnh là dáng vẻ bề ngoài
? Vậy trọng tâm của đề bài là nh thế
nào ?
HS: Kể vẻ bề ngoài là chủ yếungoài ra
còn thể hiện bản chất bên trong
? Em hiểu ngời thân là nh thế nào:
HS: Ngời thân là ngời trong gia đình (Bố,
mẹ, anh, chị, em )
? Từ đó cho biết phạm vi đề bài nh thế
nào?
? Đề bài cần có từ ngữ nào cần lu ý?
HS: Từ “Quý mến”
? Từ ngữ đó cho em biết ngoài kỹ năng
tự sự cần dùng kỹ năng nào nữa?
? Em chọn hình ảnh ngời thân là ai?
HS: Tự nêu ngời thân của mình
? Với ngời thân em chọn kể những ý nào?
? Trong những ý đó em chọn ý nào để
biểu cảm?
HS: bộc lộ suy nghĩ cá nhân
? Em hãy nhắc lại dàn bài của văn kể
chuyện đời thờng
- Mở bài: Giới thiệu ngời đợc kể
- Kể chi tiết ngoại hình, cử chỉ, hành
động, lời nói
- Kết bài: Nhận xét, nêu cảm nghĩ
?Trên cơ sở dàn bài của em nh thế nào?
GV: Ghi tóm tắt phần mở bài lên bảng
HS: Đọc phần mở bài của mình
Học sinh khác nhận xét, góp ý
GV chốt phần mở bài: Có nhiều cách mở
bài :
+ Mở bài bằng gợi mở một thời gian xa
- Nội dung: Kể lại hình ảnh ngời thân
- Phạm vi : Rộng
- Kỹ năng : Tự sự +Miêu tả
*Tìm ý:
- Giới thiệu về ngời thân
- Kể vẻ bề ngoài
- Kể về tính cách
- Nêu kỷ niệm sở thích
Bớc 2: Lập dàn bài
- Mở bài : Giới thiệu (Bố, mẹ, anh chị)
Trang 9“Ngày xửa ngày xa ”
+ Giới thiệu một hành động
“Ông em ra chơi ngoài sân, thấy một ngời
đàn bà đang khóc ”
+ Bằng cách tả quang cảnh
“Đêm nay trăng sáng quá em đang ngồi
học bỗng thấy hình bóng ”
- Bằng một ý nghĩ: “Từ nay mình sẽ sống
ra sao khi thiếu vắng hình bóng ”
- Bằng âm thanh của chính nhân vật: “ Và
vào rồi đó là tiếng hô vang mà thờng
ngày ông em vẫn ”
? Phần thân bài em sắp xếp trình tự các ý
nh thế nào?
? Em thử trình bày một trong các ý đó
HS: Trình bày ý của mình
? Từ ý đó em chuyển sang các ý khác nh
thế nào?
HS: Đọc cách chuyển ý
GV: chốt lại cách chuyển ý cho học sinh
-Chuyển ý bằng liên kết từ ngữ:
ví dụ: Ông em không những đẹp về ngoại
hình mà tâm hồn còn trong sáng nh pha
lê
- Chuyển ý bằng cách xây dựng cuộc trò
chuỵện:
Em bảo: Ông chỉ yêu mến loài hoa cây
cảnh thôi!
Ông trả lởi: Cháu nói sai rồi ông yêu cả
gia đình, yêu các cháu
? Trong các ý đó, cách đó, cách nào để
chuyển ý Trong các ý em triển khai ý
nào em biểu cảm rõ nhất
Trang 10Học sinh suy nghĩ trả lời
? Phần kết bài em trình bày nh thế nào?
HS đọc kết bài
Hoạt động 3:Dành cho học sinh nhận xét (16-17 phút)
Chỉ định lần lợt học sinh theo các đối
t-ợng giỏi, khá, trung bình, yếu
- Chỉ định đối tợng giỏi (1-2 em) u tiên
thời gian để học sinh nhận xét nêu bật
những ý triển khai tốt
Học sinh trình bày ý của mình học sinh
khác nhận xét vắn tắt
Chỉ định đối tợng khá (4-5 em)
u tiên cho nhiều em trình bày
- Học sinh khác nhận xét đối chiếu với
bài giỏi
Đối tợng TB(2-3em)
- Học sinh trình bày giáo viên cùng học
sinh giỏi khá nhận xét góp ý cho đối tợng
này
Đối tợng yéu kém(5-6 em)
Giáo viên cần dành nhiều thời gian để
giúp đối tợng này, động viên các em dám
nói những tồn tại băn khoăn trong quá
trình làm bài (cha hiểu đề hay vớng mắc
trong quá trình triển khai)
Giáo viên khuyến khích học sinh nêu
những điều còn băn khoăn trong bài làm
của mình cũng nh lời phê của giáo viên
GV: yêu cầu học sinh về nhà viết lại bài
viết của mình trên cơ sở tiết trả bài
- Học sinh nhận biết đợc những u
điểm nhợc điểm trong bài viết
Học sinh nhận biết những hạn chế và hớng khắc phục trong bài sau
Học sinh viết lại bài, đối chiếu với bài làm trớc
III Kết luận: