BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI ------ NGUYỄN MINH ðỨC ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ðẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG HOA CÚC ðỘT
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
NGUYỄN MINH ðỨC
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ðẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG HOA CÚC
ðỘT BIẾN VCM-1 TẠI HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI – 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
NGUYỄN MINH ðỨC
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ðẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG HOA CÚC
ðỘT BIẾN VCM-1 TẠI HÀ NỘILUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ KIM THANH
HÀ NỘI - 2011
Trang 3Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… i
LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng ñược ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam ñoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà nội, ngày 15 tháng 8 năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh ðức
Trang 4Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ẦẦẦ ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện ựề tài nghiên cứu, tôi luôn nhận ựược sự quan tâm của cơ quan, nhà trường, sự giúp ựỡ tận tình của các thày cô, các ựồng nghiệp, bạn bè và gia ựình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ựến
TS Nguyễn Thị Kinh Thanh, người ựã tận tình giúp ựỡ, hướng dẫn tôi thực hiện ựề tài và hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn ThS đào Thị Thanh Bằng và toàn thể cán bộ trong Bộ môn Kỹ thuật di truyền Ờ Viện Di truyền nông nghiệp, các thầy cô giáo trong Bộ môn Sinh lý thực vật - Khoa Nông học Ờ Trường đH Nông Nghiệp Hà Nội , gia ựình ông Hồi và ông Thức Ờ xã Tây Tựu Ờ huyện Từ Liêm Ờ Hà Nội, nơi tôi thực hiện ựề tài ựã tạo ựiều kiện, hướng dẫn, giúp ựỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu ựể có thể hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể gia ựình, bạn bè ựã tạo ựiều kiện và giúp ựỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà nội, ngày 15 tháng 8 năm 2011
Nguyễn Minh đức
Trang 5Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… iii
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của ñề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của ñề tài 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của ñề tài 3
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Giới thiệu chung về cây hoa cúc 4
2.2 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của hoa cúc 5
2.3 Tóm tắt một số ñặc ñiểm thực vật học của cây hoa cúc 6
2.4 Giới thiệu về chất ñiều tiết sinh trưởng Gibberellin 8
2.4.1 Giới thiệu chung về Gibberellin 8
2.4.2 Vai trò sinh lý của Gibberellin 9
2.4.3 Cơ chế tác dụng của Gibberellin 10
Trang 6Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… iv
2.4.4 Acid Gibberellic (GA3) 10
2.5 Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón lá 11
2.6 Tình hình sản xuất và phát triển hoa cúc trên thế giới và Việt
2.6.1 Tình hình sản xuất và phát triển hoa cúc trên thế giới 13
2.6.2 Tình hình sản xuất và phát triển hoa cúc tại Việt Nam 14
2.7 Phương pháp gây ñột biến nhân tạo và một số kết quả chọn tạo
giống ñột biến trên cây trồng nói chung và cây hoa cúc nói riêng 16
2.7.1 Phương pháp gây ñột biến nhân tạo 16
2.7.2 Một số kết quả chọn tạo giống ñột biến trên cây trồng nói chung
và cây hoa cúc nói riêng 18
2.8 Tình hình nghiên cứu hoa cúc trên thế giới và Việt Nam liên
quan ñến nội dung nghiên cứu 21
2.8.1 Tình hình nghiên cứu hoa cúc trên thế giới 21
2.8.2 Tình hình nghiên cứu hoa cúc tại Việt Nam 26
CHƯƠNG 3: ðỐI TƯỢNG, ðỊA ðIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
3.1 ðối tượng, ñịa ñiểm và thời gian nghiên cứu 32
3.1.1 ðối tượng nghiên cứu 32
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 33
3.1.2 ðịa ñiểm nghiên cứu 34
3.1.3 Thời gian nghiên cứu 34
3.2 Nội dung nghiên cứu 34
3.3 Phương pháp nghiên cứu 35
3.3.1 Bố trí thí nghiệm 35
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 37
3.4 Kỹ thuật chăm sóc 38
Trang 7Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… v
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 40
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
4.1 Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến sinh trưởng phát triển và chất
lượng hoa của giống cúc VCM – 1 41
4.1.1 Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến sinh trưởng phát triển của hoa cúc 41
4.1.2 Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến tỷ lệ nở hoa và chất lượng hoa cúc 44
4.2 Ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến sinh trưởng, phát triển, năng
suất và chất lượng hoa 46
4.2.1 Ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến ñộng thái sinh trưởng của cây 47
4.2.2 Ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến thời gian sinh trưởng của cây 52
4.2.3 Ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến chất lượng hoa 53
4.2.4 Ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến tỷ lệ hoa thương phẩm và hiệu
quả kinh tế thu ñược 56
4.3 Ảnh hưởng của GA3 ñến sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa 58
4.3.1 Ảnh hưởng của GA3 ñến sinh trưởng phát triển của cây 58
4.3.2 Ảnh hưởng của GA3 ñến thời gian sinh trưởng của cây 62
4.3.3 Ảnh hưởng của GA3 ñến tỷ lệ nở và chất lượng hoa 64
4.4 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến sinh trưởng, phát
triển năng suất và chất lượng hoa 67
4.4.1 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến sinh trưởng phát triển của cây 68
4.4.2 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến thời gian sinh trưởng của cây 69
4.4.3 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến chất lượng hoa 71
4.4.4 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến tỷ lệ hoa thương phẩm và hiệu
quả kinh tế thu ñược 73
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 75
Trang 8Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… vi
PHỤ LỤC 1: HẠCH TOÁN THU CHI CỦA CÁC CÔNG THỨC THÍ
NGHỆM 2 VÀ THÍ NGHIỆM 4 84
PHỤ LỤC 2: MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CÁC THÍ NGHIỆM 86
PHỤ LỤC 3: SỐ LIỆU KHÍ TƯỢNG 90
Trang 9Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Công thức của GA3 11
Hình 3.1: Giống hoa cúc VCM – 1 33
Hình 4.1: Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến tỷ lệ hoa nở 45
Hình 4.2: Ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến ñộng thái tăng trưởng chiều
cao cây của giống cúc VCM – 1 48
Hình 4.3: Ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến ñộng thái tăng trưởng ñường
kính thân của giống cúc VCM – 1 50
Hình 4.4: Ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến chiều dài cành hoa, ñường
kính cuống hoa và ñường kính bông hoa 55
Hình 4.5: Ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến tỷ lệ thương phẩm 57
Hình 4.6: Ảnh hưởng của nồng ñộ GA3 ñến sinh trưởng của hoa cúc giai
Trang 10Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: ðặc tính nông học chính của giống cúc VCM-1 và giống gốc
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến sinh trưởng của hoa cúc 41
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến tỷ lệ nở hoa và chất lượng
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến chất lượng hoa cúc VCM – 1 54
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến tỷ lệ thương phẩm 56
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến hiệu quả kinh tế (tính cho
Bảng 4.10: Ảnh hưởng của nồng ñộ GA3 ñến sinh trưởng thân lá 59
Bảng 4.11: Ảnh hưởng của GA3 ñến thời gian sinh trưởng của cúc VCM
Bảng 4.12: Ảnh hưởng của GA3 ñến tỷ lệ nở hoa và chất lượng hoa 65
Bảng 4.13: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến sinh trưởng thân
Bảng 4.14: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến thời gian sinh
trưởng của giống cúc VCM – 1 (ngày) 70
Trang 11Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… ix
Bảng 4.15: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến tỷ lệ nở và chất
lượng hoa của giống cúc VCM – 1 71
Bảng 4.16: Ảnh hưởng của phân bón lá ñến tỷ lệ thương phẩm 73
Bảng 4.17: Ảnh hưởng của phân bón lá ñến hiệu quả kinh tế thu ñược
Trang 12Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 1
CHƯƠNG 1: MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Hoa là một sản phẩm ñặc biệt ñóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của con người ðời sống càng phát triển thì nhu cầu về hoa ngày càng tăng, ngành sản xuất và kinh doanh hoa ngày càng ñược coi trọng Theo báo cáo MNS (Market New Sevice) của Trung tâm thương mại quốc tế (ITC) tính ñến tháng 9 năm 2008 tổng kim ngạch xuất khẩu hoa cây cảnh trên thế giới ñạt 411,5 triệu EUR, tăng so với năm trước là 5% [55] Việt Nam là một nước nông nghiệp có nghề trồng hoa lâu ñời Ngày nay khi xã hội phát triển, nhu cầu ñời sống ñược nâng cao thì ngành sản xuất và kinh doanh hoa, cây cảnh ngày càng ñược quan tâm và ñã khẳng ñịnh ñược vị trí của mình trong nền kinh tế thị trường
Hoa cúc là loại hoa cắt phổ biến, ñược trồng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới Hoa cúc không chỉ hấp dẫn người tiêu dùng về màu sắc, hình dáng
mà còn bởi ñặc trưng về tuổi thọ rất lâu của hoa và nó là một trong 3 loại hoa cắt bán chạy nhất tại các nước xuất khẩu hoa chính
Trong các loại hoa của Việt Nam, hoa cúc giữ vai trò quan trọng Diện tích hoa cúc luôn chiếm tỷ trọng từ 15- 20 % trong cơ cấu chủng loại hoa Hoa cúc có ưu ñiểm là dễ trồng, dễ nhân giống, hoa bền, màu sắc ña dạng, có thể trồng nhiều thời vụ trong năm rất thuận tiện cho việc ñầu tư chăm sóc, có thể trồng với quy mô lớn phục vụ thị trường nội ñịa và xuất khẩu [10] Từ vài năm trở lại ñây, sản xuất hoa cúc ở Việt Nam ñã phát triển hơn trước về cả số lượng lẫn chất lượng song do chưa ñược quan tâm nghiên cứu một cách ñúng mức
Trong những năm gần ñây nhiều giống hoa cúc từ nước ngoài ñã ñược nhập vào Việt Nam ñem lại nhiều lợi nhuận cho người trồng hoa Tuy nhiên,
Trang 13Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 2
việc sản xuất hoa cúc còn gặp rất nhiều hạn chế về diện tích canh tác cũng như năng suất và chất lượng hoa Các giống hoa cúc có giá trị thương mại ở Việt Nam chủ yếu là các giống ñược nhập nội, rất ña dạng phong phú về chủng loại và màu sắc Bên cạnh ñó các giống hoa do ñược trồng tràn lan, theo kinh nghiệm của nông dân mà không có tác ñộng của chọn lọc và phục hồi giống dẫn ñến năng suất chất lượng hoa chưa cao ðặc biệt là việc nhân giống và chọn tạo giống do nông dân tự làm là chủ yếu nên dẫn ñến các giống hoa dần bị thoái hoá, chất lượng cây giống thấp và dễ bị sâu bệnh Hơn nữa việc ña dạng hoá màu sắc và kiểu dáng hoa luôn là nhu cầu của các nhà chọn giống
Ngày nay, chọn giống ñột biến bằng phương pháp chiếu xạ là một ứng dụng của kỹ thuật hạt nhân trong nông nghiệp ñã ñược sử dụng rộng rãi trong việc cải tạo nâng cao chất lượng các giống cây trồng và cũng phát triển các giống cây mới với các ñặc ñiểm sinh học ñược cải tiến Bằng phương pháp chiếu xạ bởi các tia ion hoá như tia gamma, ion beam kết hợp với kỹ thuật
nhân giống in vitro ñã tạo ra các giống cây trồng mới trong một thời gian
ngắn và hiệu quả hơn so với các phương pháp chọn tạo giống truyền thống Chọn giống ñột biến ñóng vai trò quan trọng trong việc cải tiến các giống hoa cây cảnh nói chung và cây hoa cúc nói riêng Gần ñây, các nhà khoa học thuộc Viện Di truyền nông nghiệp ñã tạo ra ñược một số dòng hoa cúc ñột biến bằng phương pháp chiếu xạ in vitro với nguồn chiếu xạ là 60Co Thông qua quá trình chọn tạo ñã cho ra ñời hoa cúc ñột biếnVCM – 1 Hiện VCM -1
ñã ñược công nhận là giống tạm thời
ðể góp phần xây dựng quy trình sản xuất giống hoa cúc ñột biết tạm
thời, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài “Ảnh hưởng của một số biện pháp
kỹ thuật ñến sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng hoa cúc ñột biến VCM -1 tại Hà Nội.”
Trang 14Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 3
• Xác ñịnh thời vụ trồng hợp lý nhất của hoa cúc VCM -1
• Xác ñịnh mật ñộ trồng thích hợp cho giống hoa cúc VCM -1
• Xác ñịnh nồng ñộ GA3 phù hợp ñể ñạt chất lượng cành hoa cao
• Nghiên cứu tác dụng của một số loại phân bón lá ñến hiệu quả sản xuất hoa cắt
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của ñề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của ñề tài
Kết quả nghiên cứu của ñề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học có giá trị về ảnh hưởng của thời vụ, mật ñộ trồng và tác ñộng của chất kích thích sinh trưởng GA3 cũng như các loại phân bón lá ñến cây hoa cúc ñột biến VCM -1 trồng tại Từ Liêm - Hà Nội
Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
và giảng dạy về cây hoa cúc
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của ñề tài
Các kết quả nghiên cứu của ñề tài ñã góp phần xây dựng quy trình trồng cây hoa cúc ñột biến VCM -1 tại Hà Nội
Từ các kết quả nghiên cứu của ñề tài, có thể khuyến cáo cho người trồng hoa cúc ở Hà Nội và các vùng phụ cận
Trang 15Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ẦẦẦ 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu chung về cây hoa cúc
Trong hệ thống phân loại thực vật [3], cây hoa cúc ựược xếp vào lớp 2
lá mầm (Dicotyledone), phân lớp Cúc (Asterydae), bộ Cúc (Asterales), họ Cúc (Asteraceae), phân họ giống hoa Cúc (Asteroidae), chi Chrysanthemum (Vừ
Văn Chi, Dương đức Tiến, 1988)
Theo nghiên cứu của Langton (1987) cho biết trên thế giới có hơn 7000 giống cúc ựã ựược ựưa vào sử dụng với chủng loại và màu sắc ựa dạng
Qua hai cuộc hội thảo quốc tế về họ Asteraceae năm 1994 ựã có sự
thống nhất tương ựối về hệ thống học của họ này Họ cúc trên thế giới ựược xếp trong 2 phân họ, 13 tông (K Bremer., 1994) Ở Việt Nam có 2 phân họ
và 12 tông nhưng hiện tại chia làm 17 tông Họ cúc có khoảng 1550 chi với 23.000 loài (Takhtajan., 1997)
Soreng và cs (1991) cho rằng hoa cúc có rất nhiều giống nhưng cho ựến nay việc phân loại vẫn chưa ựược thống nhất, còn Nguyễn Quang Thạch
và đặng Văn đông (2002) [16] ựã dựa vào các cách sau ựể phân loại hoa cúc
ở Việt Nam:
Dựa vào hình dạng hoa ựể phân biệt cúc ựơn hay cúc kép Cúc ựơn: Thường là dạng hoa nhỏ ựường kắnh hoa từ 2-5 cm, chỉ có 1-3 hàng cánh ở vòng ngoài cùng còn vòng trong là cánh hoa rất nhỏ thường ựược gọi là cồi hoa Cúc kép: Hoa có ựường kắnh từ 5-15 cm, có nhiều cánh xếp từng vòng sắt nhau, có loại cánh dài cong, có loại cánh ngắn
Dựa vào hình thức nhân giống: Dựa vào hình thức nhân giống vô tắnh như giâm cành, tỉa chồi hoặc nhân giống bằng phương pháp hữu tắnh như gieo hạt
Dựa vào thời vụ trồng: dựa vào ựặc tắnh chịu nhiệt của hoa cúc ựể phân loại và thường phân ra làm hai loại ựó là cúc ựông và cúc hè Cúc ựông là là
Trang 16Trường ðại học Nơng Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nơng nghiệp ……… 5
cây cĩ nguồn gốc ơn đới, cĩ tính chịu lạnh và trồng chủ yếu vào mùa đơng Cúc hè là một số giống chịu nhiệt độ cao trồng được vào mùa hè
ðể dễ dàng với người sản xuất và tiêu dùng các giống cúc ở Việt Nam chủ yếu phân thành hai loại cúc đơn (1 bơng/ cành) và cúc chùm (nhiều bơng/ cành)
2.2 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của hoa cúc
Cây hoa cúc cĩ nguồn gốc Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước Châu Âu Hoa cúc được trồng ở trung Quốc từ thời Khổng Tử nghĩa là khoảng năm thứ 500 trước Cơng nguyên Vào khoảng giữa năm 725 và năm
750 sau Cơng nguyên, một vài giống hoa được đưa vào Nhật Bản nơi mà về sau nĩ được tơn sùng là “Hồng thất quốc hoa” Năm 1939 Edsmit người Nhật đã bắt đầu lai tạo thành cơng nhiều giống Cúc và ơng đã đặt tên cho hơn
100 giống của các thế hệ sau đĩ; một số giống này vẫn cịn duy trì và được trồng đến ngày nay [24]
Vào cuối thế kỷ XVIII và trong suốt thế kỷ XXI, một và giống hoa cúc
đã được mang và Pháp và Anh Năm 1843 một nhà thực vật học R Fortune (người Anh) đến Trung Quốc khảo sát và mang về giống hoa cúc Chusan Daisy, giống này chính là giống bố mẹ của giống hoa cúc hình cầu và hình tán
xạ ngày nay Năm 1889 nước Pháp nhập từ Trung Quốc 3 giống hoa cúc đại đố về trồng và đến năm 1827 Bernet (người Pháp) đã thành cơng trong việc lai tạo ra một số giống cúc mới, từ đĩ dẫn đến một sự cải tiến rất mạnh mẽ về giống cúc ở Châu Âu [31]
Từ đầu thế kỷ XVIII hoa cúc đã được trồng ở Mỹ, nhưng phải đến
1860 hoa cúc mới trở thành hàng hố và được trồng trong nhà lưới Hiện nay, hoa cúc là loại hoa rất quan trọng, chủ yếu là để cắt cành, một phần trồng trong chậu tại đất nước này
Trang 17Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 6
Ở Châu Úc, hoa cúc ñược trồng tại Tasmania vào năm 1836, tại New Sounth Wales năm 1843, tại Victoria năm 1855 và ở New Zealand năm 1860 [27]
Ở Việt Nam, hoa cúc có xuất xứ từ Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước Châu Âu Hoa cúc bắt ñầu du nhập vào nước ta từ thế kỷ XV ðến nay
ñã có khoảng trên 70 giống cúc ñang ñược trồng ở Việt Nam
2.3 Tóm tắt một số ñặc ñiểm thực vật học của cây hoa cúc
2.3.1 Rễ
Rễ cây hoa cúc thuộc loại rễ chùm, chỉ khi cây thực sinh còn nhỏ mới
có rễ chính thức rõ ràng ðầu chóp rễ có sức phân nhánh mạnh, trong ñiều kiện ñất thích hợp thì rất nhanh hình thành bộ rễ có nhiều nhánh, ñiều ñó có lợi cho sự hút nước và dinh dưỡng Rễ phần lớn phát triển theo chiều ngang, phân bố ở tầng ñất mặt 5 – 20 cm Rễ của các cây nhân từ phương pháp vô tính ñều phát sinh từ thân và ñều là rễ bất ñịnh Thân cúc bất kể ở ñốt hay giữa lóng ñều rất dễ hình thành rễ bất ñịnh, vì vậy cây hoa cúc là một loại cây rất dễ nhân giống từ thể dinh dưỡng
2.3.2 Thân
Cây hoa cúc thuộc loại thân thảo có nhiều ñốt giòn, dễ gãy, khả năng phân cành mạnh Thường là những giống cúc ñơn thân mập thẳng, giống cúc chùm thân nhỏ và cong Vanderkamp (2000)[50] cho rằng thân ñứng hay bò, cao hay thấp, ñốt dài hay ngắn, sự phân cành mạnh hay yếu còn tuỳ thuộc vào từng giống Cây có thể cao từ 30 – 80 cm, thậm chí có khi ñến 1,5 – 2m Những giống cúc nhập nội thân thường to, mập, thẳng và giòn Những giống
cổ truyền Việt Nam hoặc cúc dại thường có thân nhỏ, mảnh và cong Thân cây có ống tiết nhựa mủ trắng, mạch có bản ngăn ñơn [6]
2.3.3 Lá
Lá cúc xẻ thuỳ có răng cưa, lá ñơn mọc so le nhau, mặt dưới bao phủ
Trang 18Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 7
một lớp lông tơ, mặt trên nhẵn, gân hình mạng lưới Từ mỗi nách lá thường phát sinh ra một mầm nhánh Phiến lá to nhỏ, dày mỏng, xanh ñậm nhạt hay xanh vàng còn tuỳ theo giống Bởi vậy, trong sản xuất ñể ñạt hiệu quả kinh tế cao thường tỉa bỏ các cành nhánh phụ ñối giống cúc ñơn và ñể cây sinh trưởng phát triển tự nhiên ñối với các giống cúc chùm Từ những ñặc ñiểm về thân lá cho thấy, những giống cúc có năng suất cao thường có bộ lá gọn, thân cứng mập và thẳng, khả năng chống ñổ tốt
2.3.4 Hoa
Hoa cúc là hoa lưỡng tính hoặc ñơn tính với nhiều màu sắc khác nhau, ñường kính hoa từ 1,5 -12cm, có thể là ñơn hay kép và thường mọc nhiều hoa trên 1 cành, phát sinh từ các nách lá Hoa cúc chính là gồm nhiều hoa nhỏ hợp lại trên một cuống hoa, hình thành hoa tự ñầu trạng mà mỗi cánh thực chất là một bông hoa Tràng hoa dính vào bầu như hình cái ống, trên ống ñó phát sinh cánh hoa Những cánh nằm phía ngoài thường có màu sắc ñậm hơn
và xếp thành nhiều tầng, việc xếp chặt hay lỏng còn tuỳ giống Cánh có nhiều hình dạng khác nhau, cong hoặc thẳng, có loại cánh ngắn ñều, có loại dài, xoè ra ngoài hay cuốn vào trong
Hoa cúc có từ 4 – 5 nhị ñực dính vào nhau, bao xung quanh vòi nhuỵ Vòi nhuỵ mảnh, hình chẻ ñôi Khi phấn chín, bao phấn nở tung phấn ra ngoài, nhưng lúc này vòi nhuỵ còn non chưa có khả năng tiếp nhận hạt phấn Bởi vậy, hoa cúc tuy lưỡng tính nhưng thường biệt giao, nghĩa là không thể thụ phấn trên cùng hoa, nếu muốn lấy hạt phấn phải thụ phấn nhân tạo Nên trong sản xuất, việc cung cấp cây con chủ yếu thực hiện bằng phương pháp nhân giống vô tính
2.3.5 Quả và hạt
Quả cúc thuộc loại quả bế khô, hình trụ hơi dẹt, trong quả chứa rất nhiều hạt Hạt có phôi thẳng và không có nội nhũ
Trang 19Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 8
2.4 Giới thiệu về chất ñiều tiết sinh trưởng Gibberellin
2.4.1 Giới thiệu chung về Gibberellin
Gibberellin là nhóm phytohormone thứ hai ñược phát hiện sau auxin
Từ những nghiên cứu bệnh lý “bệnh lúa von” do loài nấm ký sinh ở cây lúa Gibberella fujikuroi (nấm Fusarium moniliforme ở giai ñoạn dinh dưỡng) gây nên
Năm 1926, nhà nghiên cứu bệnh lý thực vật Kurosawa (Nhật Bản) ñã thành công trong thí nghiệm gây “bệnh von” nhân tạo cho lúa và ngô Yabuta (1934-1938) ñã tách ñược hai chất dưới dạng tinh thể từ nấm lúa von gọi là gibberellin A và B nhưng chưa xác ñịnh ñược bản chất hóa học của chúng
Năm 1955, hai nhóm nghiên cứu của Anh và Mỹ ñã phát hiện ra axit gibberellic ở cây lúa bị bệnh lúa von và xác ñịnh ñược công thức hóa học của
nó là C19H22O6
Năm 1956, West, Phiney và Radley ñã tách ñược gibberellin từ các thực vật bậc cao và xác ñịnh rằng ñây là phytohormone tồn tại trong các bộ phận của cây
Vào thời ñiểm năm 2003, ñã có 126 chất gibberellin ñược biết ñến từ thực vật, nấm và vi khuẩn, trong ñó acid gibberellic hay còn gọi là gibberellin A3 hay Giberelin X, GA3 là chất có tác dụng sinh học lớn nhất
Những gibberellin A2, A10 ñến A15, A24 và A25 chỉ tách ñược từ nấm
Fusarium moniliforme; các gibberellin A5, A6, A8, A16 ñến A23, A26 ñến
A32 chỉ thấy ở thực vật bậc cao, còn gibberellin A1, A3, A4, A7 và A9 thấy
có cả ở nấm Fusarium moniliforme và thực vật bậc cao
Gibberellin ñược tổng hợp trong phôi ñang sinh trưởng, trong các cơ quan ñang sinh trưởng khác như lá non, rễ non, quả non và trong tế bào thì ñược tổng hợp mạnh ở trong lục lạp Gibberellin vận chuyển không phân cực,
có thể hướng ngọn và hướng gốc tùy nơi sử dụng Gibberellin ñược vận
Trang 20Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 9
chuyển trong hệ thống mạch dẫn với vận tốc từ 5- 25 mm trong 12 giờ Gibberellin ở trong cây cũng tồn tại ở dạng tự do và dạng liên kết như auxin, chúng có thể liên kết với glucose và protein
2.4.2 Vai trò sinh lý của Gibberellin
Hiệu quả sinh lý rõ rệt nhất của gibberellin là kích thích mạnh mẽ sự sinh trưởng kéo dài của thân, sự vươn dài của lóng Hiệu quả này có ñược là
do của gibberellin kích thích mạnh lên pha giãn của tế bào theo chiều dọc Vì vậy khi xử lý của gibberellin cho cây ñã làm tăng nhanh sự sinh trưởng dinh dưỡng nên làm tăng sinh khối của cây Dưới tác ñộng của gibberellin làm cho thân cây tăng chiều cao rất mạnh (ñậu xanh, ñậu tương thành dây leo, cây ñay cao gấp 2-3 lần) Nó không những kích thích sự sinh trưởng mà còn thúc ñẩy
sự phân chia tế bào
Gibberellin kích thích sự nảy mầm, nảy chồi của các mầm ngủ, của hạt
và củ, do ñó nó có tác dụng trong việc phá bỏ trạng thái ngủ nghỉ của chúng Hàm lượng gibberellin thường tăng lên lúc chồi cây, củ, căn hành hết thời kỳ nghỉ, lúc hạt nảy mầm.Trong trường hợp này của gibberellin kích thích sự tổng hợp của các enzyme amilaza và các enzyme thuỷ phân khác như protease, photphatase và làm tăng hoạt tính của các enzyme này, vì vậy mà xúc tiến quá trình phân hủy tinh bột thành ñường cũng như phân hủy các polime thành monome khác, tạo ñiều kiện về nguyên liệu và năng lượng cho quá trình nảy mầm Trên cơ sở ñó, nếu xử lý gibberellin ngoại sinh thì có thể phá bỏ trạng thái ngủ nghỉ của hạt, củ, căn hành kể cả trạng thái nghỉ sâu
Trong nhiều trường hợp của gibberellin kích thích sự ra hoa rõ rệt Ảnh hưởng ñặc trưng của sự ra hoa của gibberellin là kích thích sự sinh trưởng kéo dài và nhanh chóng của cụm hoa Gibberellin kích thích cây ngày dài ra hoa trong ñiều kiện ngày ngắn (Lang,1956)
Trang 21Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 10
Gibberellin ảnh hưởng ñến sự phân hóa giới tính của hoa, ức chế sự phát triển hoa cái và kích thích sự phát triển hoa ñực
Gibberellin có tác dụng giống auxin là làm tăng kích thước của quả và tạo quả không hạt Hiệu quả này càng rõ rệt khi phối hợp tác dụng với auxin
2.4.3 Cơ chế tác dụng của Gibberellin
Gibberellin với hoạt ñộng thủy phân khi nảy mầm: Gibberellin gây nên
sự giải ức chế gen chịu trách nhiệm tổng hợp các enzyme này mà trong hạt ñang ngủ nghỉ chúng hoàn toàn bị trấn áp bằng các protein histon Gibberellin ñóng vai trò như là chất cảm ứng mở gen ñể hệ thống tổng hợp protêin enzyme thủy phân hoạt ñộng Ngoài vai trò cảm ứng hình thành enzyme thì gibberellin còn có vai trò kích thích sự giải phóng các enzyme thủy phân vào nội nhũ xúc tiến quá trình thủy phân các polime thành các monome kích thích sự nảy mầm của các loại hạt
Gibberellin hoạt hóa bơm proton: Cơ chế kích thích giãn của tế bào bởi gibberellin cũng liên quan ñến hoạt hóa bơm proton như auxin Tuy nhiên các
tế bào nhạy cảm với auxin và gibberellin khác nhau có những ñặc trưng khác nhau Ðiều ñó liên quan ñến sự có mặt các nhân tố tiếp nhận hormone khác nhau trong các kiểu tế bào khác nhau
Gibberellin hoạt hóa gen: nó ñóng vai trò là một nhân tố cảm ứng cho
sự mở gen vốn bị ức chế ñể thúc ñẩy sự phân hóa hoa và giới tính
2.4.4 Acid Gibberellic (GA 3 )
Acid gibberellic (còn gọi là Gibberellin A3, GA, GA3) là một acid cacboxylic ñồng thời là hormone tìm thấy trong thực vật Công thức hóa học tổng quát của nó là C19H22O6 Khi làm tinh khiết, nó là chất bột kết tinh màu trắng hay vàng nhạt, hòa tan trong etanol và ít tan trong nước
Acid gibberellic là một gibberellin ñơn, ñẩy mạnh sự phát triển và kéo dài các tế bào ra Nó tác ñộng tới sự phân hủy của thực vật và hỗ trợ thực vật
Trang 22Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 11
lớn nhanh nếu sử dụng với liều lượng nhỏ, nhưng cuối cùng thì thực vật ngày càng bộc lộ rõ sự phải chịu ñựng nó Acid gibberellic kích thích các tế bào của các hạt ñang nảy mầm ñể sinh ra các phân tử mRNA ñem theo mã hóa cho các enzym thủy phân Acid gibberellic là một hoóc môn rất hiệu lực mà
sự tồn tại tự nhiên của nó trong thực vật kiểm soát sự phát triển của chúng
Do các GA ñiều chỉnh sự phát triển của thực vật, nên các ứng dụng với nồng
ñộ rất thấp có thể có hiệu quả sâu rộng trong khi quá nhiều thì lại có tác ñộng ngược lại Nó thông thường ñược dùng ở nồng ñộ khoảng 0,01-10 mg/L
Acid gibberellic là chất ổn ñịnh, dễ bắt cháy và không tương thích với các acid và các chất oxy hóa mạnh Nó có thể có tác ñộng như là một chất gây kích thích dị ứng ñối với mắt (R36) Liều gây tử vong ñối với 50% mẫu chuột cống thử nghiệm bằng ñường miệng là LD50 = 6.300 mg/kg Các chỉ dẫn về
an toàn sức khỏe là S26: Nếu tiếp xúc với mắt, cần rửa mắt ngay lập tức bằng nhiều nước và tìm kiếm hỗ trợ y tế, S36: Sử dụng quần áo bảo hộ lao ñộng thích hợp
Hình 2.1: Công thức của GA3
2.5 Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón lá
Bón phân qua lá là biện pháp phun một hay nhiều chất dinh dưỡng cho cây trồng lên các phần ở phía trên mặt ñất của cây (lá, cuống, hoa, quả) với mục ñích nâng cao sự hấp thu dinh dưỡng qua các phần trên mặt ñất của cây trồng
Trang 23Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 12
Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón lá chính là cơ chế hấp thu
và vận chuyển chất dinh dưỡng của bộ lá Sự hấp thu chất dinh dưỡng từ phân bón lá qua lá qua các bước sau:
• Dung dịch phân bón lá làm ướt bề mặt lá : trên bề mặt lá thường có lớp cutin và lớp sáp có tính chống thấm rất mạnh Nước và các chất phụ gia trong phân bón lá tạo thuận lợi cho chất dinh dưỡng ñược hấp thu dễ dàng, giảm sức căng bề mặt
• Chất dinh dưỡng xâm nhập qua lớp biểu bì thông qua các lỗ nhỏ li ti trên bề mặt lớp ngoại bì hoặc qua các lỗ khí khổng
• Các chất dinh dưỡng xâm nhập và tế bào ñi ñến mạch dẫn qua con ñường apoplast và symplast
Nguyên nhân áp dụng biện pháp bón phân qua lá:
• Rễ bị tổn thương (do sâu bệnh hoặc tổn thương cơ học)
• ðiều kiện của ñất không thuận lợi cho bộ rễ hấp thu dinh dưỡng: Chất dinh dưỡng bị bất ñộng hóa do vi sinh vật, ñộ pH ñất không hợp lý, ñất nhiễm mặn, ñất yếm khí, thiếu nước…
• Nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng ñang ở ñỉnh cao, vượt quá khả năng cung cấp của ñất ñặc biệt là nhu cầu về các chất vi lượng
• Khi cần tập trung dinh dưỡng vào một số bộ phận nào ñó trên cây Những lợi ích của việc áp dụng bón phân qua lá:
• Hiệu chỉnh nhanh chóng hiện tượng thiếu dinh dưỡng vì phân bón thường ñược phun ngay vào chỗ ñang thiếu
• Ngăn ngừa hiện tượng thiếu dinh dưỡng trong trường hợp phân bón vào ñất không phát huy tác dụng
• Thay thế một phần hoặc bổ sung cho phương pháp bón phân vào ñất
do khả năng tác ñộng nhanh chóng
• Tăng khả năng chống chịu sâu bệnh và các ñiều kiện ngoại cảnh bất
Trang 24Trường ðại học Nơng Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nơng nghiệp ……… 13
lợi của cây trồng
2.6 Tình hình sản xuất và phát triển hoa cúc trên thế giới và Việt Nam
2.6.1 Tình hình sản xuất và phát triển hoa cúc trên thế giới
Hoa cúc hiện là một trong những loại hoa thời vụ phổ biến nhất trên thế giới Nĩ được ưa chuộng bởi sự đa dạng, phong phú về màu sắc, kích cỡ, hình dáng hoa Hơn thế, hiện con người cĩ thể chủ động điều khiển sự ra hoa của cây để tạo nguồn sản phẩm hàng hố liên tục và ổn định quanh năm
Hà Lan đứng đầu thế giới cả về sản lượng cũng như xuất khẩu hoa, phục vụ cho thị trường tiêu thụ rộng lớn gồm 80 nước trên thế giới Diện tích trồng cúc ở Hà Lan chiếm 30% diện tích trồng hoa tươi Hàng năm Hà Lan
đã xuất khẩu hoa cúc cắt và chậu phục vụ 80 nước trên thế giới thu về hàng trăm triệu USD
Ở Nhật Bản cúc được coi là Quốc hoa Nhật Bản sản xuất khoảng 200 triệu cành hoa phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu Mặc dù hoa cúc chiếm 2/3 tổng diện tích trồng hoa nhưng hàng năm Nhật Bản vẫn phải nhập một lượng lớn hoa cúc từ các nước khác trên thế giới [6]
Tại Trung Quốc, cúc là một trong mười lồi hoa cắt quan trọng, chỉ đứng sau hoa hồng và cẩm chướng, chiếm khoảng 20% tổng số hoa cắt trên thị trường bán buơn ở Cơn Minh và Bắc Kinh [55] ðây là quốc gia cĩ tập đồn hoa cúc phong phú và cĩ kỹ thuật cao trong việc sản xuất hoa cúc khơ với đặc điểm giữ được màu tươi lâu, bền, đẹp về hình thức
Ở Thái Lan, cúc là một lồi hoa phổ biến và được trồng quanh năm với lượng hoa cắt cành hàng năm khoảng trên 50 triệu cành Cịn tại Malaysia, theo báo cáo của Limhengjong (1997) , cúc chiếm 23% tổng số hoa cắt với các giống mới nhập từ Hà Lan
Ngồi ra hoa cúc cịn được trồng niều ở các quốc gia khác như Israel, ðức, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Bỉ, Italia, Mỹ, Ecuador… Sản xuất hoa trên
Trang 25Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ẦẦẦ 14
thế giới sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, nhất là ở các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ La Tinh Mục tiêu mà sản xuất hoa cần hướng tới là giống hoa ựẹp, chất lượng cao và giá thành thấp
2.6.2 Tình hình sản xuất và phát triển hoa cúc tại Việt Nam
Hoa cúc du nhập vào nước ta từ thế kỷ XV Theo số liệu của Quả Việt Nam (trang web của bộ thương mại chuyên về lĩnh vực rau-hoa-quả của Việt Nam)[54], tắnh ựến năm 2007, nước ta có gần 4000 ha trồng hoa trong ựó diện tắch trồng hoa cúc chiếm khoảng 30% Cúc ựược trồng phổ biến
Rau-Hoa-ở nước ta nhưng chủ yếu tập trung Rau-Hoa-ở một số vùng trồng hoa chắnh như Hà Nội, Hải Phòng, Lào Cai, Thành Phố Hồ Chắ Minh và đà Lạt
Vùng hoa công nghệ cao đà Lạt, thiên ựường của hoa Việt Nam với hai loại hoa chủ ựạo là hoa hồng và hoa cúc đây là nơi có khắ hậu mát mẻ, thuận lợi ựể các loài hoa sinh trưởng phát triển Hoa cúc có tới 40 loại khác nhau, chia làm 3 nhóm là cúc ựại ựoá màu vàng anh, tắm, trắng; các giống cúc nhỏ
và nhóm tia có muỗng Hoa cúc chủ yếu ựược trồng trong các nhà che plastic
và sản xuất quanh năm Hằng năm, đà lạt cung cấp cho thị trường tiêu dùng 10-15 triệu cành cúc các loại [56]
Thành phố Hồ Chắ Minh là thị trường tiêu thụ hoa lớn nhất Việt Nam Nhu cầu hoa cắt hàng ngày từ 40-50 nghìn cành Trong ựó quận Gò Vấp và
Sa đéc, hai vùng chuyên canh lớn của thành phố chỉ cung cấp ựược 10-15 nghìn cành/ngày Hiện nay thành phố vẫn phải nhập hoa từ Hà Lan, đài Loan,
đà Lạt và Hà Nội [55]
Ở phắa bắc, Hà Nội cũng là một vùng sản xuất và tiêu thụ hoa lớn của nước ta Hoa cúc ựứng hàng thứ hai sau hoa hồng về diện tắch và sản lượng với chu kỳ thu hoạch 3 tháng/lần Hoa của Hà Nội không chỉ ựáp ứng nhu cầu tại ựịa phương và một số vùng lân cận mà còn ựược vận chuyển vào phắa Nam cũng như xuất khẩu ra nước ngoài Vùng hoa lớn nhất là Từ Liêm với
Trang 26Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ẦẦẦ 15
diện tắch 500 ha chủ yếu trồng hoa cúc, hoa hồng, hoa ựồng tiền, hoa loa kènẦ[55]
Tây Tựu thuộc huyện Từ Liêm Thành phố Hà Nội, bắt ựầu biết ựến nghề trồng Cúc từ năm 1993 do một vài người dân học tập từ Quảng An, Nhật Tân, nhưng diện tắch hoa ở ựây ựã phát triển một cách nhanh chóng Hiện tại chỉ riêng xã Tây Tựu ựã có 280 ha ựất chuyên trồng hoa, trong ựó 65% trong
số này là trồng Cúc Nếu tắnh cả các xã lân cận thì diện tắch hoa Cúc vùng này ước chừng khoảng 290 ha Các giống Cúc ở Tây Tựu cũng khá phong phú và
ựa dạng, ựược chia làm hai nhóm chắnh là nhóm Cúc hè (trồng tháng 3 -4 thu hoạch tháng 8 - 9) và nhóm Cúc thu ựông (trồng tháng 8 - 10 thu hoạch từ tháng 11 ựến tháng 2 năm sau) Nếu như mùa hè các chủng loại Cúc trồng ở
Hà Nội ựơn ựiệu, chất lượng thấp, không ựáp ứng ựủ nhu cầu thị trường, phải nhập từ đà Lạt thì vụ Thu - đông vùng hoa Tây Tựu không những thoả mãn cho nhu cầu người dân thủ ựô mà còn cung cấp cho hầu khắp các tỉnh thành miền Trung và miền Nam thậm chắ còn xuất khẩu ra nước ngoài
Tại Lào Cai, hoa cúc ựược trồng với diện tắch 5,1 ha, sản lượng 1,53 triệu cành, tập trung ở thị xã Lào Cai và huyện Bảo Thắng Hoa chủ yếu trồng trên ựất ựồi hoặc ựất vườn [55]
Hiện nay sản xuất hoa ở nước ta ựược thực hiện bởi hai ựối tượng chắnh: nông dân sản xuất theo xu hướng nhu cầu thị trường trong nước và bởi các doanh nghiệp tư nhân trong nước, liên doanh với nước ngoài hoặc 100% vốn nước ngoài sản xuất hoa cho xuất khẩu
Tuy nhiên nghề trồng cúc nước ta vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn do:
Ớ Khắ hậu không thắch hợp: ở phắa Bắc, hầu hết các loại hoa chất lượng cao chỉ có thể sản xuất ựược trong vụ đông và vụ Xuân, các tỉnh phắa Nam khắ hậu càng ắt thuận lợi hơn (trừ một số vùng ựặc biệt)
Trang 27Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 16
• Quy mô sản xuất nhỏ, tổ chức sản xuất ñơn lẻ nên khó áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới trên thế giới Hầu hết những cơ sở sản xuất hoa cắt cành ở nước ta còn ở quy mô nông hộ nhỏ, tổ chức sản xuất ñơn
lẻ, với diện tích trung bình từ 2.000 ñến 3.000 m2 /hộ Hộ sản xuất hoa lớn cũng chỉ từ 1 ñến 2 ha Ở quy mô sản xuất này không thể áp dụng những kỹ thuật tiến bộ như nhà kính, nhà lưới, sân bãi, mặt bằng, dây chuyền chế biến, bảo quản vận chuyển lạnh,…ñể ñưa ngành sản xuất hoa trở thành sản xuất công nghiệp Từng hộ nông dân sản xuất cá lẻ, thiếu hợp tác là trở ngại lớn cho việc tạo nguồn hàng hóa lớn và ña dạng với chất lượng cao, ñồng nhất Trên thực
tế, ñã có nhiều hợp ñồng xuất khẩu không thể thực hiện ñược do không thể tổ chức cung cấp sản phẩm theo yêu cầu, trong khi tiềm năng sản xuất là rất lớn
• Kỹ thuật trồng hoa chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và phương pháp
2.7 Phương pháp gây ñột biến nhân tạo và một số kết quả chọn tạo giống ñột biến trên cây trồng nói chung và cây hoa cúc nói riêng
2.7.1 Phương pháp gây ñột biến nhân tạo
Có hai phương pháp gây ñột biến nhân tạo ñó là phương pháp vật lý và phương pháp hóa học
Trang 28Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 17
Phương pháp vật lý: Là phương pháp sử dụng các tác nhân vật lý ñể
gây ñột biến Các tác nhân này bao gồm sốc nhiệt, tia tử ngoại và tia phóng xạ
o Sốc nhiệt: Là sự tăng hoặc giảm nhiệt ñộ một cách ñột ngột Sự tăng hoặc giảm nhiệt ñộ ñột ngột này làm cho cơ chế nội cân bằng của cơ thể ñể tự bảo vệ không kịp khởi ñộng, gây chấn thương trong bộ máy di truyền
o Tia tử ngoại: Là bức xạ có bước sóng ngắn từ 1000 Ao ñến 4000
Ao Tia tử ngoại có tác dụng kích thích nhưng không gây ion hóa, ñặc biệt là bước sóng 2570 Ao ñược AND hấp thụ nhiều nhất Chọn giống bằng tia tử ngoại không có khả năng xuyên thấu nên người ta chỉ sử dụng nó ñể xử lý vi sinh vật, bào tử, hạt phấn ñể gây ñột biến gen, ñột biến nhiễm sắc thể
o Các loại tia phóng xạ: Tia X, tia Gamma, Tia Beta, chùm tia nơ ron Các tia phóng xạ kích thích và gây ion hóa các nguyên tử khi chúng ñi xuyên qua các mô sống, do vậy tác ñộng trực tiếp hoặc gián tiếp lên ADN, ARN thông qua các phân tử nước gây ñột biến gen và nhiễm sắc thể
Phần lớn các giống cây trồng ñược tạo ra thông qua chiếu xạ chỉ một vài trường hợp là ñược xử lý bằng hoá chất và kết hợp giữa chiếu xạ và xử lý hoá chất Theo các kết quả công bố của FAO/IAEA Mutant Varieties Database, 2003 thì các tác nhân gây ñột biến ñược dùng chủ yếu là chiếu xạ
và hoá chất, trong ñó chiếu xạ chiếm ñến 88,8%, còn các tác nhân hoá chất chỉ chiếm 9,5%; ngoài ra các tác nhân khác chiếm 1,7% tổng số các giống ñột biến [55]
Phương pháp hóa học: là phương pháp gây ñột biến bằng sử dụng hóa
chất Nhóm hợp chất ankin hoá, nhóm hợp chất oxy hoá, các chất ñồng
Trang 29Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 18
ñẳng bazơ, các thuốc nhuộm kiềm tính Trong thực nghiệm gây ñột biến ở thực vật bậc cao thường sử dụng rộng rãi các chất ankin Các chất siêu ñột biến có nồng ñộ sử dụng thấp hơn các chất ñột biến thường So với phóng xạ, các hoá chất thuờng gây ra nhiều ñột biến gen với tần số cao hơn và phổ rộng hơn, còn ñối với các ñột biến lớn về cấu trúc nhiễm sắc thể lại thu ñược ít hơn Các chất hoá học thường có tác ñộng nhẹ hơn, ít gây mất sức sống của tế bào hơn so với xử lý phóng
1936, giống thuốc lá ñược tạo ra từ gây ñột biến ñã ñược xuất hiện ðến năm
1964, Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) ñã phối hợp tài trợ mở rộng hướng nghiên cứu gây ñột biến cải tạo những giống cây nông nghiệp và cây công nghiệp ở nhiều nước trên thế giới nhằm tạo ra hàng loạt giống mới như: lúa, lúa mỳ, lúa mạch, táo, chanh, mía, chuối và những loại cây trồng khác Theo IAEA, tính ñến nay, trên thế giới ñã có 3212 giống cây trồng ñược tạo ra bằng phương pháp gây ñột biến, trong ñó hoa và cây cảnh chiếm 709 giống, hoa cúc là 277 giống [56]
ðối với ngành công nghiệp hoa cây cảnh luôn luôn có những nhu cầu
về nguồn giống mới Chọn giống ñột biến là một phương pháp ñể cải tiến giống cây trồng và ñã tạo ra ñược rất nhiều giống cây hoa mới lạ, ñặc biệt là ñối với hoa cúc ñã tạo ñược nhiều giống mới thông qua tạo ñột biến bằng
phương pháp chiếu xạ kết hợp với nuôi cấy mô tế bào Nuôi cấy in vitro cây
Trang 30Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 19
hoa cúc ñã ñược thực hiện trong rất nhiều năm qua, các bộ phận khác nhau của cây hoa cúc như thân, ñỉnh chồi, nụ, hoa ñã ñược tái sinh thành các cây hoàn chỉnh (M.Z Karim & cs, 2002 , J.A Teixeira da Silva., 2003) Sự kết hợp giữa chiếu xạ gây ñột biến và nuôi cấy in vitro cũng ñã ñược nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới thực hiện và ñã có những thành tựu ñáng kể
Năm 1981 các nhà khoa học Nhật Bản là Yoshiro Onogawa ñã tiến hành gây ñột biến giống hoa cúc Delaware bằng phương pháp chiếu xạ sử dụng tia gamma với nguồn xạ là 137Ge và 60Co và liều chiếu xạ từ 1- 3,5 Krad trên các vật liệu ñột biến là callus Kết quả là ñã thu ñược các cây cúc ñột biến
có các màu sắc biến ñổi từ màu ñỏ gốc chuyển dần sang màu vàng Và cũng
từ ñó ñến nay các nghiên cứu tạo giống hoa cúc ñột biến bằng phương pháp chiếu xạ ñã ñược các nhà chọn giống Nhật Bản áp dụng Năm 2000, Nagatomi ñã công bố kết quả chiếu xạ giống cúc Taihei bằng tia gamma ñã tạo ra nhiều ñột biến màu hoa trắng, hồng, cam, và hoa có sọc ở cánh Các nguồn chiếu xạ mới cũng ñược các nhà nghiên cứu ứng dụng như H Yamaguchi và các cộng sự (2008) ñã sử dụng nguồn phóng xạ là ion beam ñể gây ñột biến giống cúc Taihei và cũng ñã thu ñược các dòng cúc có những ñột biến khác với dòng ban ñầu và khác với các dòng cúc ñột biến sử dụng tia gamma
Năm 2000 các nhà khoa học ở Thái Lan là S Lamseejan và cộng sự ñã tạo ñược một số dòng cúc ñột biến từ giống cúc Chrysanthemum moriforium Ramat bằng cách chiếu tia gamma với liều chiếu từ 10- 110 Gy lên các chồi
tái sinh từ cánh hoa trong nuôi cấy in vitro Các cây ñột biến có màu sắc biến
ñổi từ màu tím ñậm sang màu tím nhạt và màu vàng nhạt, hình dạng và số lượng cánh hoa cũng có sự thay ñổi Cũng trong năm này A.K.A Madal và các cộng sự ở Ấn ðộ cũng ñã ứng dụng chiếu xạ với nguồn 60Co và liều chiếu
từ 1,5- 2,5 Krad lên các ñoạn thân ñược nuôi cấy mô của cây hoa cúc
Trang 31Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ẦẦẦ 20
Chrysanthemum moriforium cv Maghi và cũng ựã thu ựược các dòng cúc ựột biến có màu hoa cà, màu trắng, màu vàng nhạt, màu vàng ựậm Tiếp theo ựó
năm 2005 S.K Datta và các ựồng nghiệp của ông ựã cho rằng ựột biến in vitro là một phương pháp nhanh chóng có thể tạo ra các ựột biến ựơn ở cây
hoa cúc Bằng cách chiếu tia gamma lên callus ựược tạo từ hoa của giống cúc
Chrysanthemum morifolium Ramat cvs ở liều chiếu từ 0,5- 1 Krad ựã thu
ựược các ựột biến khác nhau về hình dạng cũng như màu sắc
Năm 2001, M.Zalewska và các cộng sự người Phần Lan chiếu tia
gamma lên chồi tái sinh từ lá của hoa cúc Dendranthema grandiflora Tzvelev
kết quả ựã thu ựược tần số ựột biến khá cao
Ở Trung Quốc, M.Sun và các cộng sự (2007) ựã sử dụng nguồn phóng
xạ là electron beam kết hợp với nuôi cấy mô tê bào ựể tạo ra các dòng ựột biến từ giống hoa Cheng Yun và ựã cho thấy ở liều chiếu từ 40- 60 Gy ựã tạo ựược các ựột biến về màu sắc từ màu vàng dần chuyển sang màu tắm ựỏ
Ở Việt Nam những nghiên cứu về chọn giống ựột biến ựược giáo sư Lương đình Của khởi xướng từ những năm 1960 nhưng mãi ựến năm 1980 hướng nghiên cứu này mới ựược phát triển một cách tương ựối có hệ thống và ựịnh hướng Việt Nam cũng ựã chọn tạo ựược một sô giống cây ựột biến như lúa, ngô,ựậu tương, táoẦvà ựã tạo ựược 43 giống cây trồng mới bằng phương pháp gây ựột biến thực nghiệm Tuy nhiên ựến năm 2000 nghiên cứu trong chọn giống ựột biến cây hoa cúc mới ựược thực hiện bởi Nguyễn Tiến Thịnh
và các ựồng sự Cho ựến nay các nghiên cứu về chọn giống ựột biến hoa cúc kết hợp với nuôi cấy mô tế bào ựang ựược tiến hành ở Viện di truyền Nông nghiệp
Trang 32Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 21
2.8 Tình hình nghiên cứu hoa cúc trên thế giới và Việt Nam liên quan ñến nội dung nghiên cứu
2.8.1 Tình hình nghiên cứu hoa cúc trên thế giới
a Nghiên cứu về tác ñộng của ñiều kiện ngoại cảnh ñối với cây hoa cúc
Nhiệt ñộ ảnh hưởng ñến cây cúc trên hai mặt: một là tác ñộng tới sự sinh trưởng, phát triển của cây Hai là tác ñộng ñến sự hình thành chồi, sự phát dục của hoa và ảnh hưởng tới chất lượng hoa
Deong (1984) , Hoogeweg (1999) và Karlson (1989) cho rằng, nhiệt
ñộ tối thích cho sự ra rễ của cúc là 160C
Theo Strelitus và Zhuravie ,1986 thì tổng tích ôn của hoa cúc là 17000C
và nhiệt ñộ thích hợp là 20 – 250C, nhiệt ñộ thấp hơn 100C kìm hãm sự phát triển của hoa, nhiệt ñộ cao hơn 300C ảnh hưởng xấu ñến màu sắc hoa, ñộ bền hoa
Các tác giả Van Ruiten [51], Okada [41] cũng cho rằng: sự ra hoa của cây cúc ngoài ảnh hưởng của quang chu kỳ, còn chịu ảnh hưởng của nhiệt ñộ Nhiệt ñộ không chỉ ảnh hưởng ñến tốc ñộ phát triển của nụ mà còn ảnh hưởng ñến sự phân hoá và phát dục của hoa cúc Nụ ñã ñược phân hoá nếu gặp nhiệt
ñộ thấp, quá trình phát dục sẽ bị chậm nên hoa cũng nở muộn Thời gian nở hoa sớm hay muộn tuỳ thuộc vào chế ñộ nhiệt và ñặc tính di truyền của giống
Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt ñộ tới sự ra hoa của các giống cúc tại Châu Âu, Karlsson chia cúc ra làm 3 nhóm:
Nhóm không bị ảnh hưởng bởi nhiệt ñộ: trong phạm vi từ 10 – 270C, nhiệt ñộ không ảnh hưởng gì ñến sự phân hoá và phát dục của hoa Nhưng nhiệt ñộ cao hơn hoặc thấp hơn nhiệt ñộ trên sẽ ức chế sự ra hoa
Nhóm giống bị nhiệt ñộ thấp ức chế ra hoa: bình thường chúng bắt ñầu phân hoá mầm hoa từ 160C trở lên, nhiệt ñộ thấp hơn 160C sẽ ức chế
Trang 33Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 22
sự phân hoá hoa
Nhóm giống bị nhiệt ñộ cao ức chế ra hoa: thời ñiểm bắt ñầu phân hoá của nhóm này ở nhiệt ñộ cao trên 200C, nhưng nếu nhiệt ñộ quá cao trên 350C kéo dài thì sự phát dục của nụ bị ngừng trệ
Ánh sáng có ảnh hưởng rất lớn ñến sinh trưởng phát triển ñặc biệt là sự
ra hoa của cây hoa cúc Yulian, Fujime (1995) ñã kết luận, cúc là cây ngày ngắn, ưa sáng và ñêm lạnh Thời kỳ ñầu mầm non mới ra rễ cây cần ít ánh sáng, nhưng trong quá trình sinh trưởng, ánh sáng quá mạnh cũng làm cho cây chậm lớn Jong (1989) và Strojuy (1985) ñã khẳng ñịnh, thời gian chiếu sáng rất quan trọng cho cây hay nói cách khác ngày ñêm dài hay ngắn có tác dụng khác nhau ñối với loại hoa này Hầu hết, các giống cúc trong thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng cần ánh sáng ngày ngắn, ñêm dài trên 13 giờ, còn trong giai ñoạn trổ hoa cây chỉ cần ánh sáng ngày ngắn từ 10 – 11h và nhiệt
ñộ không khí dưới 200C
Nhiệt ñộ, ánh sáng không tác ñộng một cách riêng rẽ mà phối hợp nhau, kìm hãm hay thúc ñẩy sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa cúc Okada (1999) [39] ñã cho rằng: ñối với nhóm cúc ra hoa mùa thu, sự hình thành và phát triển chồi là trong ñiều kiện ngày ngắn, chồi hoa hình thành ở nhiệt ñộ >150C Còm nhóm ra hoa mùa ñông dù trong ñiều kiện ngày ngắn, nhưng nếu nhiệt ñộ cao sẽ ức chế sự phát triển của chồi hoa Riêng nhóm ra hoa mùa hè, chồi thường hình thành ở nhiệt ñộ 100C trong ñiều kiện ngày trung tính
Thời gian chiếu sáng 11 giờ cho chất lượng hoa cúc tốt nhất, nhưng nếu
ở nhiệt ñộ cao vẫn ức chế sự ra hoa nên vào những năm nóng ẩm sự ra hoa của cúc sẽ gặp khó khăn hơn mặc ñù ñiều kiện ánh sáng có thể ñã phù hợp(Hoogeweg ,1999) Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy ñộ dài ngày có ảnh hưởng tới sự ra hoa của cúc, vào thời kỳ ra hoa, cây yêu cầu thời gian
Trang 34Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 23
chiếu sáng là 10 giờ, nhiệt ñộ thích hợp là 180C, nếu thời gian chiếu sáng dài
sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng của cây, cây cao, lá to và ra hoa muộn
b Nghiên cứu về ảnh hưởng của mật ñộ ñến cây hoa cúc
Mật ñộ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng không chỉ ñến sinh trưởng phát triển của cây trồng mà còn ảnh hưởng ñến năng suất cây trồng cũng như thu nhập của người sản xuất
Lee JH và cộng sự, 2002 ñã nghiên cứu về ảnh hưởng của một số mật
ñộ (32, 48 và 64 cây/m2) ñến hoa cúc cắt trồng trong nhà kính và báo cáo rằng khối lượng tươi, khối lượng chất khô cuối cùng và số hoa trên cây giảm khi tăng mật ñộ Sự giảm này xảy ra mạnh hơn ở mùa hè so với mùa ñông Chiều dài thân hầu như không ảnh hưởng bởi mật ñộ trồng còn tổng lượng chất khô tính trên mét vuông tăng tuyến tính với mật ñộ trồng Trọng lượng khô của cây không ảnh hưởng bởi mật ñộ Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng ảnh hưởng của mật ñộ ñến sinh trưởng của hoa cúc chủ yếu là thông qua sự cạnh tranh về ánh sáng
S.Ab Kahar và T.M.M.Mahmud, 2005 cũng báo cáo rằng mật ñộ trồng
có ảnh hưởng ñến sinh trưởng, sự ra hoa và chất lượng hoa của cây hoa cúc
Các tác giả ñã làm thí nghiệm trên giống cúc V720 (Chrysanthemum morifolium Ramat) ở các mật ñộ 44, 56, 70, 83 và 104 cây/m2 và thấy rằng ñường kính thân, số lá, diện tích lá và trọng lượng tươi của cây giảm 16, 7, 36
và 25% tương ứng nhưng diện tích lá ở mật ñộ cao nhất (104 cây/m2) tăng tới 50% so với mật ñộ thấp nhất (44 cây/m2) Ở mật ñộ cao, cây chậm ra hoa và chậm thu hoạch hơn Chiều dài cuống hoa và ñộ bền cắm lọ không bị ảnh hưởng bởi mật ñộ trồng Có sự giảm rõ rệt số nhánh cây và số bông/cây ở các mật ñộ cao (88 và 104 cây/m2) Giống cúc V720 trong nghiên cứu này có thể chịu ñược mật ñộ cao (83 cây/m2) ở ñất thấp và có khả năng cho chất lượng hoa tốt
Trang 35Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 24
Ngày trồng và mật ñộ là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng ñến ra hoa
và chất lượng hoa cúc Các nghiên cứu của Li Xiang Mao và cộng sự, 2007 ñối với hoa cúc ñơn trồng trong nhà kính tại Thượng Hải chỉ ra rằng sự tương tác mật ñộ cao và thời vụ muộn khiến chiều cao cây và chiều dài cổ bông tăng lên trong khi số lá/ cây, ñường kính thân, khối lượng tươi và ñường kính hoa giảm Mật ñộ không ảnh hưởng ñến chiều cao của cây Mật ñộ và thời vụ tối thích ñể cho chất lượng hoa loại A là trồng giữa tháng 8 với mật ñộ 64 cây/m2; hoa loại B là cuối tháng 8, ñầu tháng 9 với mật ñộ 72 – 80 cây/m2
c Nghiên cứu về ảnh hưởng của GA 3 ñến sinh trưởng phát triển và chất lượng hoa cúc
GA3 là chất kích thích sinh trưởng ñược sử dụng khá phổ biến trong nông nghiệp ñặc biệt là trong ngành hoa cây cảnh Tác dụng chủ yếu của GA3
là thúc ñẩy sự nảy mầm của hạt, tăng chiều dài của lóng, thân cây, thúc ñẩy sự
ra hoa của một số loài
Shanmugan và cộng sự, 1973 báo cáo rằng phun GA3 ở các nồng ñộ
100 – 400 ppm trong 3 lần (30, 45 và 60 ngày sau trồng) có tác dụng tăng chiều dài thân, chiều dài lóng và chiều dài cuống hoa cũng như thúc ñẩy sự ra hoa sớm của hoa cúc
Abou – Dahab và cộng sự, 1987 cũng tiến hành thí nghiệm phun GA3 ở nồng ñộ 250, 500 và 1000 ppm ba lần trong giai ñoạn ñầu sinh trưởng của hoa cúc Chrysanthemum frutescens Kết quả cho thấy ở các công thức 500 và
1000 ppm, chiều cao, ñường kính thân, số chồi trên cây và chiều dài của chồi tăng lên rõ rệt GA3 cũng thúc ñẩy sự ra hoa song lại làm giảm số hoa/ cây Catro và cộng sự, 1979 báo cáo rằng chiều cao của giống cúc Chrysanthemum leucanthemum tăng mạnh nhất khi ñược xử lý ở nồng ñộ GA3 50 hoặc 100ppm
Nghiên cứu của El – Keltawi và cộng sự (1996) cho thấy trong ñiều
Trang 36Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……… 25
kiện ñất nhiễm mặn, việc phun GA3 (ở nồng ñộ 50, 100 ppm) cho hoa cúc có tác dụng thúc ñẩy sinh trưởng phát triển và ra hoa của hoa cúc
Chrysanthemum moxifolium Ramat Ở nồng ñộ 100 ppm làm chiều cao cây
tăng 9,8%, trọng lượng tươi tăng 16%, trọng lượng khô của rễ tăng 8,6%, số bông trên cây tăng 7,5% và chiều dài cuống tăng 10% so với ñối chứng
Dehale và cộng sự, 1993 cho rằng bên cạnh việc tăng ñường kính thân, cụm hoa và ñĩa hoa, việc ứng dụng GA3 với liều lượng 100 mg/l cũng làm tăng tuổi thọ của 12 giống cúc ñược trồng trong nhà kính Hiệu ứng này cũng quan sát thấy ở ở giống cúc Gompier – cha trong ñó việc phun GA3 ở nồng ñộ 100mg/l kéo dài tuổi thọ trung bình của cây thêm 16 ngày so với ñối chứng không phun (Freitas,2001) Trong ñiều kiện nhiệt ñộ cao, việc xử lý GA3 với nồng ñộ thấp (10 – 20 mg/l) cũng có tác dụng tương tự ở một số loài cúc (Laschi,1999) Tuy nhiên ảnh hưởng của các chất ñiều tiết sinh trưởng ñến hoa cúc vẫn chưa ñược biết ñến nhiều và còn nhiều mâu thuẫn Brackmann và cộng sự (2005) ñã ñánh giá ảnh hưởng của GA3 trên ba giống cúc và nhận thấy việc phun GA3 ngoài ñồng ruộng không làm nhanh hay chậm quá trình lão hóa ở cả thân lá và hoa của giống cúc Faroe Tác giả này cũng nghiên cứu
về sự thay ñổi sinh hóa sau thu hoạch của hoa cúc Faroe và thấy rằng nồng
ñộ GA3 khác nhau làm tăng mức ñộ polyamines trong cây
Nghiên cứu của Kim JH và cộng sự, 2007 ñối với hoa cúc Dendranthema grandiflorum trái vụ cho thấy chiều cao thân và chiều dài cuống hoa tăng tương ứng với việc tăng nồng ñộ GA3 (100, 200, 400 mg/l) Ở nồng ñộ GA3 cao có xảy ra một số rối loạn sinh lý ở cây hoa cúc như việc nụ hoa bị méo và bị hở tâm Tuy nhiên chất lượng hoa thương phẩm và năng suất hoa cao hơn rõ rệt so với ñối chứng không phun
Thí nghiệm trong ñiều kiện nhà lưới của S.R Dalal và cộng sự thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 7/2008 ñến tháng 2/2009 ñã cho thấy
Trang 37Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ẦẦẦ 26
việc phun GA3 với nồng ựộ 200 ppm tăng chiều dài thân, chiều cao cuống hoa cũng như thúc ựẩy sự ra hoa , tăng ựường kắnh hoa, chiều dài cuống và cho năng suất hoa cao
d Nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón ựến cây hoa cúc
Năm 1993, Nakamura và Kageyama khi nghiên cứu lượng phân ựạm bón cho giống cúc Fukusuke ựã kết luận rằng: hàm lượng ựạm tốt nhất ựể cung cấp cho mỗi cây/vụ là 800mg, kết quả này ựã ựược áp dụng rộng rãi trong sản xuất và thu ựược chất lượng hoa cúc trồng chậu rất cao
Năm 1995, Danai và Tongmai khi ựánh giá về ảnh hưởng của phân bón lá ựã cho thấy việc sử dụng phân bón qua lá ựã làm tăng số lượng lá trên cây Với mức phân bón 150N-K (ựạm - Kali) ựã làm tăng số lá/cây từ 2 Ờ 3 lá ựồng thời tăng ựược ựộ bền hoa cắt từ 3 Ờ 5 ngày so với không bón
2.8.2 Tình hình nghiên cứu hoa cúc tại Việt Nam
a Nghiên cứu về bố trắ thời vụ hợp lý cho cây hoa cúc
Nguyễn Xuân Linh và cộng sự qua nghiên cứu và ựánh giá một số giống ựịa phương và nhập nội cho thấy các loại Cúc này ựều có thể trồng ựược vào các thời vụ khác nhau như vụ Hè Thu, Thu đông và đông Xuân, vì vậy cho phép chúng ta có thể sản xuất hoa Cúc quanh năm Tuy nhiên cần xác ựịnh ựúng thời ựiểm trồng cho phù hợp với ựặc ựiểm của các giống hoa:
- để có hoa Cúc vào dịp 20/11 có thể sử dụng một số giống như Họa mi, đồng tiền trắng, Cao bồi tắm, Nhài hồng (các giống Cúc này trồng vào thời ựiểm (5/7) hàng năm sẽ cho hiệu quả kinh tế cao gấp 5,68 lần so với ựối chứng (trồng 5/6)
- để Cúc ra hoa vào dịp 8/3, có thể sử dụng một số giống như Cao bồi,
Tổ ong, Nhài hồng, Tua vàng Nhưng cho năng suất chất lượng cao nhất là giống Tắm xoáy, trồng vào (9/12) hàng năm (hiệu quả kinh tế gấp 2,3 lần so với ựối chứng trồng vào (9/11)
Trang 38Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ẦẦẦ 27
- để Cúc ra hoa vào dịp tết nguyên ựán có thể trồng CN97, Vàng đài Loan, đỏ Ấn ựộ, Cúc gấm Trong ựó hiệu quả kinh tế cao nhất là Vàng đài Loan trồng vào (10/10), gấp 3,17 lần so với ựối chứng trồng vào (20/9)
- Thông thường các dịp lễ hội hàng năm thường tập trung vào thời ựiểm sau tết nguyên ựán, khiến cho việc tiêu thụ hoa và giá hoa cũng cao hơn, nên nhìn chung các thời vụ Cúc trồng từ tháng 11 trở ựi ( trồng giống cúc chùm
Hà Lan), vẫn ựược áp dụng nhiều nhất (giá hoa ở thời ựiểm này thường cao hơn so với các thời ựiểm khác từ 200 - 300ựồng/bông)
Không phải chỉ riêng Việt Nam mà tình trạng chung ở các nước sản xuất hoa vào các thời ựiểm thu hoạch rộ (chắnh vụ), giá hoa thường rất rẻ để sản xuất hoa trái vụ, đặng Thị Tố Nga (1999) khi nghiên cứu thời vụ trồng Cúc Singapo tại thành phố Thái Nguyên ựã kết luận giống Cúc chi nhị tắm thắch hợp với vụ đông, thời vụ tốt nhất là từ tháng 7 và ựể thu hoạch vào 20 /11 thì nên trồng vào 15/7 đặng Văn đông (2000) cho rằng thời vụ cho trồng Cúc Singapo ựầu ựỏ là từ 15/7 Ờ 15/11, tốt nhất là trong tháng 9, nếu trồng sớm hay muộn hơn thì năng suất chất lượng hoa sẽ bị giảm
Theo nghiên cứu mới ựây của viện nghiên cứu Rau quả năm 2010, giống cúc CN07 Ờ 6 nếu trồng trong tháng 8 trong ựiều kiện tự nhiên thì thời gian sinh trưởng là 100 ngày, thời vụ trồng tháng 10 có chiếu sáng bổ sung là
97 ngày trong khi giống ựối chứng vàng ựông dài hơn 28 ngày và giống tắm sen sinh trưởng dài hơn 13 ngày Riêng giống vàng ựông nếu trồng vào tháng
8 thì thời gian sinh trưởng kéo dài ựến 150 ngày và không ra hoa hoặc ra hoa rất ắt, do vậy mà giống vàng ựông chỉ trồng ựược ở thời vụ muộn từ tháng 9-
11 trong năm
b Nghiên cứu về mật ựộ trồng hoa cúc
Tùy thuộc vào ựặc ựiểm của giống, mục ựắch sử dụng, loại ựất, mức ựộ phân bón, kỹ thuật thâm canh và chăm sóc mà quyết ựịnh trồng ở mật ựộ nào
Trang 39Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ẦẦẦ 28
cho phù hợp
đặng Văn đông và đinh Thế Lộc, 2003 cho rằng ựối với các giống cúc hoa to, thân to, cứng, ựể 1 bông/cây và không cần làm cọc giàn (như Vàng đài Loan, Vàng Tàu, CN93, Cn98, Cn97) thì mật ựộ phù hợp là 480.000 cây/ha tương ựương với khoảng cách trồng là 12 ừ 15 cm đối với các giống hoa trung bình, thân bụi, cành cong, ựể hoa chùm (cúc chi trắng, tắm nồi, vàng nhị nâuẦ) mật ựộ thường ựạt 300.000 cây/ha ( trồng với khoảng cách 15 ừ 20 cm) đối với giống hoa nhỏ, cần bấm ngọn nhiều lần ựể cả cây hay trồng chậu (như cúc mâm xôi, ựỏ Ấn độ) thì mật ựộ khoảng 80.000 cây/ha (khoảng cách
là 30 ừ 40 cm)
Theo kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu rau quả, 2003 thì mật ựộ trồng cúc ảnh hưởng ựến tốc ựộ sinh trưởng phát triển của cây Mật ựộ càng cao thì chiều cao cây giảm, số lá/ cây ở các mật ựộ khác nhau hầu như không
có sự sai khác, chất lượng hoa ở mật ựộ thấp tốt hơn mật ựộ cao còn năng suất hoa và hiệu quả kinh tế thu ựược chịu ảnh hưởng bởi mật ựộ trồng Mật ựộ thắch hợp nhất cho cúc chùm là 500.000 cây/ha (khoảng cách 15 ừ 15 cm), cúc ựơn là 300.000 cây/ ha (khoảng cách 12 ừ 12 cm)
c Nghiên cứu ảnh hưởng của GA 3 ựến sinh trưởng phát triển và chất lượng của hoa cúc
Hoàng Minh Tấn và Nguyễn Quang Thạch (1993), ựã nghiên cứu ựể cây cúc hè có thể ra hoa vào mùa ựông bằng xử lý GA3 nồng ựộ 20 Ờ 25 ppm phun vào ựỉnh sinh trưởng và GA3 ở nồng ựộ 10 Ờ 50 ppm có thể làm tăng chiều cao cây hoa cúc Ngoài ra ựể loại bỏ tác ựộng xấu của Etylen tác nhân gây già hoá ở hoa có thể dùng AgNO3, muối Clo của các kim loại nặng như Titan, Niken và một số chất có tác dụng ựối kháng với Etylen như Auxin,
GA3 và Xytokinin có thể ngăn cản quá trình này
Theo Nguyễn Mạnh Khải, Nguyễn Quang Thạch (1999) và thông tin
Trang 40Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ẦẦẦ 29
KHKT rau hoa quả (1997), việc sử dụng các chế phẩm và chất kắch thắch sinh trưởng như Spray N Ờ grow (SNG) 1%, Antonik 0,5%, GA3 (Gibberllin) 50ppm ựều có tác dụng rõ rệt ựến sự sinh trưởng, phát triển của cúc Vàng đài Loan Trong ựó, GA3 tác ựộng mạnh ở giai ựoạn sinh trưởng sinh dưỡng, làm tăng chiều cao cây và rút ngắn thời gian nở hoa, còn SNG và Antonik tác ựộng mạnh ở giai ựoạn sinh trưởng sinh thực nâng cao tỷ lệ nở hoa và kéo dài
ựộ bền hoa cắt Hai loại thuốc SNG 1% và GA3 100 ppm cũng có ảnh hưởng tốt ựến sinh trưởng phát triển của cúc CN93 trong vụ đông, làm tăng tỷ lệ nở hoa, ựặc biệt là chiều cao cây, mang lại hiệu quả kinh tế cao
Nguyễn Xuân Linh và cộng sự, 2006 ựã tiến hành thắ nghiệm về xử lý một số chế phẩm cho hoa cúc CN97 Kết quả cho thấy nếu chỉ xử lý GA3
(nồng ựộ 10 g/l) thì cây cao, thẳng nhưng yếu, cuống hoa dài, cánh hoa thưa, nhỏ, không cân ựối với thân cành Nếu kết hợp xử lý GA3 và phân bón lá thì cây cao, thẳng, cứng, mập, hoa to, cánh ựều, cân ựối với thân cành
d Nghiên cứu về phân bón cho cây hoa cúc
Trung tâm Hoa cây cảnh- Viện Di truyền Nông nghiệp ựã sử dụng kắch phát tố của Công ty Thiên Nông với liều lượng 1g thuốc pha trong 1 lắt dung dịch sạch rồi nhúng phần gốc của cành vào khoảng 30 phút, sau ựó ựem phần dung dịch thuốc còn lại pha thêm 5g phân bón lá và phun lại trên cành giâm, cứ 3 Ờ 5 ngày phun dung dịch này 1 lần, có thể ựảm bảo từ 80 Ờ 90% số cây ra rễ với thời gian rút ngắn hơn so với ựối chứng từ 2 Ờ 4 ngày, phương pháp này ựược áp dụng cho việc nhân giống cúc vào mùa hè ựể ựạt hiệu quả cao
Phạm Thị Thu Trang (2003) ựã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của chế ựộ phun phân bón lá phức hữu cơ Pomior ựến sinh trưởng phát triển của giống cúc vàng đà Lạt và ựưa ra kết luận: phân Pomior có thể sử dụng ựể bón thúc cho cây hoa cúc mà không cần phải bón thêm phân khoáng, với nồng ựộ