Trong quá trình phát triển một số làng nghề bị mai một đi do gặp phải những khó khăn về thị trường đầu ra, vốn, yêu cầu kỹ thuật...bên cạnh đó lại có một số ngành mới được hình thành và
Trang 1KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
-
-KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Vai trò của nghề làm tương đối với kinh tế nông nghiệp của
huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An.
Tên sinh viên : Bành Thị Hà
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế nông nghiệp
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Phạm Thanh Lan
HÀ NỘI - 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề sử dụng để bảo vệ một học hàm, học vị nào
Tôi cam đoan rằng: Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà nội, ngày 25 tháng 05 năm 2010
Người cam đoan
Bành Thị Hà
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đã được
sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Nhân đây tôi xin bày
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Nam Đàn, Phòng NN&PTNT huyện Nam Đàn, Phòng Công Thương huyện Nam Đàn, Trạm KN – KN huyện Nam Đàn đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu tại cơ
sở, bà con trong hai xã Vân Diên, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn đã giúp
đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin để nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã chia sẻ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình.
Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân đã dành cho tôi.
Tác giả luận văn
Bành Thị Hà
Trang 4PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của vấn đề
Phát triển nông thôn là chiến lược phát triển kinh tế xã hội quan trọng của nước ta Trong kinh tế nông thôn việc phát triển các ngành nghề, các loại hình dịch vụ, thương mại và đặc biệt là tiểu thủ công nghiệp được mọi người quan tâm chú trọng Ngành nghề nông thôn những năm qua đã và đang là vai trò động lực chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; tăng đáng kể thu nhập và đời sống cho nông thôn; góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng CNH – HĐH, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng “li nông bất li hương”
Việt Nam là đất nước có bề dày lịch sử lâu đời, mang đậm nét văn hoá Phương Đông Lịch sử phát triển của đất nước gắn liền với nhiều nét văn hoá truyền thống trong đó phải kể đến làng nghề truyền thống Các làng nghề truyền thống sản xuất ra các sản phẩm truyền thống mà mỗi sản phẩm gắn liền với một mốc lịch
sử phát triển; gắn liền với những giá trị văn hoá tinh thần của nhân dân mỗi vùng quê
Những năm qua với đường lối đổi mới của Đảng nền kinh tế nước ta đã có nhiều chuyển biến mới, đặc biệt là sự khôi phục và phát triển các làng nghề, ngành nghề truyền thống và sự hình thành các làng nghề mới Sản phẩm ngành nghề là một nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hoá ở nông thôn Trong quá trình phát triển một số làng nghề bị mai một đi do gặp phải những khó khăn về thị trường đầu ra, vốn, yêu cầu kỹ thuật bên cạnh đó lại có một số ngành mới được hình thành và hoà nhập vào nền kinh tế thị trường với cơ chế quản lý mới, sản xuất ra nhiều sản phẩm đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước
Trang 5Nam Đàn không chỉ là mảnh đất địa linh nhân kiệt nổi tiếng với các danh nhân lịch sử mà Nam Đàn còn được biết đến với nghề làm tương truyền thốn Là người Việt Nam hẳn ai cũng biết đến tương Vùng đồng bằng có lẽ vẫn là nơi dùng nhiều tương hơn cả Những lúc chao đảo thị trường nước chấm công nghiệp do nhiễm hóa chất độc, người ta lại lặng lẽ nhớ đến tương, lại về quê với
nó Ngẫm nghĩ tương thì giống những người tần tảo, luôn mở lòng làm chỗ dựa cho những đứa con thất thế, che chở cho món ăn Việt vững bền Chưa là cao lương mỹ vị nhưng tương Nam Đàn trở nên thân thuộc không chỉ riêng cho người xứ Nghệ mà cho cả những ai đã từng nếm thử chúng hoặc có dịp ghé qua vùng đất này Bao đời nay Nam Đàn vẫn tồn tại nghề làm tương truyền thống Trước đây, Nam Đàn có 25 xã nhưng nay các xã đã sát nhập lại chỉ còn 24 xã Nam Đàn là một trong 3 vùng làm tương ngon nổi tiếng cùng với tương Bần (Hưng Yên) và tương Cự Đà (Hà Tây) Trong những năm qua, nghề làm tương phát triển với tốc độ khá cao, nó mang lại cho cư dân địa phương một nguồn thu nhập tương đối lớn, ổn định công việc, đảm bảo việc làm, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân Sản phẩm làng nghề được người trong và ngoài tỉnh tiêu dùng Ban lãnh đạo tỉnh Nghệ An và huyện Nam Đàn đã có rất nhiều đề án chính sách khuyến khích và hỗ trợ cho việc chế biến nông sản thực phẩm và phát triển làng nghề truyền thống đặc biệt là sản xuất tương.Làm tương sử dụng sản phẩm của trồng trọt và phụ phẩm từ làm tương phục vụ cho chăn nuôi Vấn đề đặt ra là phải thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả từ đó góp phần nâng cao vai trò của nghề làm tương đối với kinh tế nông nghiệp của huyện Đứng
trước vấn đề này tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vai trò của nghề làm tương
dối với kinh tế nông nghiệp của huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An”.
Trang 61.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung:
Tìm hiểu vai trò của nghề làm tương truyền thống đối với kinh tế nông nghiệp của huyện, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nghề làm tương đối với kinh tế nông nghiệp của huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Hoạt động sản xuất tương, các hoạt động kinh tế nông nghiệp là đầu vào và đầu
ra của nghề làm tương
- Các hộ làm tương trên địa bàn huyện Nam Đàn
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng nghề làm tương từ năm 2007 đến năm 2009
Thời gian thực tập: từ 12/1/2010 đến 25/5/2010
- Về nội dung: Tình hình sản xuất tương của huyện và mối quan hệ của nghề làm tương với sản xuất đậu tương, nghề làm tương với sản xuất lúa nếp, nghề làm tương đối với chăn nuôi
Trang 7PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
“sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghề tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính
mỹ nghệ đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường
là vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị, thủ đô và tiến tới ra cả nước, rồi
có thể xuất khẩu ra nước ngoài” “Những làng nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu (có một năm quá khứ trăm ngàn năm), “dân biết mặt, nước biết tên”, tên làng đã đi vào lịch sử, vào ca dao tục ngữ…trở thành di sản văn hóa dân gian
- Làng nghề truyền thống: Làng nghề truyền thống là những nghề xuất hiện lâu đời trong lịch sử và tồn tại cho đến nay với những sản phẩm danh tiếng được giữ gìn và truyền lại qua nhiều thế hệ (làng gốm sứ Bát Tràng hình thành từ
500 năm, nghề đúc đồng Đại Bái có từ năm 1039) (Dương Bá Phượng và Phạm Văn Mai, 1998)
Trang 8Làng nghề truyền thống thường trường tồn, đứng vững qua các bước thăng trầm của đời sống KTXH Nhiều thế hệ nối tiếp nhau đã sản sinh ra các thế hệ tài
ba, say sưa làm sản phẩm truyền thống bằng chính long yêu nghề Các sản phẩm của làng nghề thể hiện tính gia truyền, danh tiếng của gia đình, dòng họ, quê hương mình Có thể nói làng nghề truyền thống là nơi hội tụ của nghệ nhân, đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa
họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của làng nghề
- Ngành nghề: Ngoài nông nghiệp, trong quá trình phát triển kinh tế nhiều ngành nghề TTCN đã xuất hiện Trong đó mỗi ngành, mỗi nghề lại tạo ra những sản phẩm nhất định trên cơ sở những điều kiện nhất định về hệ thống công cụ lao động, kỹ năng lao động, công nghệ…Ngành nghề thủ công đầu tiên xuất hiện trong các hộ nông dân nhằm tận dụng lao động dư thừa, tranh thủ thời gian nông nhàn để sản xuất ra các công cụ sản xuất hoặc vật phẩm tiêu dùng cho đời sống (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 1998)
- Ngành nghề nông thôn: Theo khái niệm của các chuyên gia Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn thì ngành nghề nông thôn là những hoạt động kinh tế phi nông nghiệp bao gồm công nghiệp, tiểu công nghiệp và các hoạt động dịch vụ phục
vụ cho sản xuất và đời sống, có trình độ và quy mô khác nhau, với mọi thành phần kinh tế như hộ gia đình, hộ sản xuất…và các tổ chức kinh tế khác nhau như HTX, DNTN, công ty TNHH, xí nghiệp quốc doanh chủ yếu của địa phương…và có ảnh hưởng nhiều tới quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương
- Ngành nghề truyền thống: Là những ngành nghề được xuất hiện từ xa xưa, tạo nên các sản phẩm độc đáo, được giữ gìn và kế truyền qua các thế hệ, thường là quan hệ gia đình hoặc huyết thống Những sản phẩm truyền thống in đậm dấu ấn và đặc điểm văn hóa dân tộc
Trang 9Thực chất của ngành nghề truyền thống là những nghề TTCN được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, được sản xuất tập trung tại một vùng nào đó Đặc trưng cơ bản của ngành nghề truyền thống là phải có kỹ thuật và công nghệ truyền thống, có nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề Sản phẩm của ngành nghề mang tính chất truyền thống vừa mang tính chất hàng hóa, vừa có tính nghệ thuật và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.
2.1.1.2 Phân loại làng nghề
Làng nghề ở Việt Nam phát triển khá đa dạng và phong phú, nó được xuất phát từ lợi thế so sánh của vùng địa phương mà hình thành nên Tùy theo mục đích nghiên cứu khác nhau mà có những cách phân loại khác nhau:
a, Phân loại theo số lượng:
- Làng 1 nghề: Là những làng ngoài nghề nông ra có thêm 1 nghề thủ công duy nhất
- Làng nhiều nghề: Là những làng ngoài nghề nông ra còn có thêm nhiều nghề thủ công khác
b, Phân loại theo tính chất nghề:
- Làng nghề truyền thống: Là những làng nghề xuất hiện từ lâu trong lâu lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay
- Làng nghề mới: Là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của các làng nghề truyền thống hoặc được du nhập từ các địa phương khác Một
số làng nghề mới được hình thành do chủ trương của một số địa phương nhằm tạo công ăn việc làm cho người dân, cho thợ đi học nghề ở các nơi khác rồi về dạy lại cho người dân địa phương mình
2.1.1.3 Một số đặc điểm cơ bản của làng nghề
* Các làng nghề được sinh ra từ nông thôn
Trang 10Người làm làng nghề đa số xuất phát là nông dân, sản phẩm của ngành nghề ban đầu cũng được sản xuất để phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống của nông dân, vì vậy làng nghề thường tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp.
Ban đầu làng nghề ra đời để giải quyết việc làm cho lao động phụ, lao động chính lúc nhàn rỗi, người thợ thủ công đồng thời là người nông dân Các gia đình nông dân vừa làm ruộng vừa làm nghề Về sau ở các làng nghề xuất hiện các hộ làm nghề phi nông nghiệp Các hộ chuyên làm nghề tiểu thủ công nghiệp chỉ tham gia sản xuất nông nghiệp ở mức độ nhất định, hộ vẫn giữ đất nông nghiệp để tự mình trồng hoặc thuê mướn người làm nông nghiệp Vì vậy ở các làng nghề vẫn còn một bộ phận ruộng đất sản xuất nông nghiệp và tồn tại kinh tế nông nghiệp
* Lao động ở các làng nghề chủ yếu là lao động thủ công đơn giản
Đại đa số lao động làng nghề là lao động thủ công đơn giản Ngày nay một số nghề, một số công đoạn đã được cơ giới hóa nhưng đa số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải nhờ đến bàn tay khéo léo và sự tinh xảo của người thợ thủ công Chính vì vậy mà khi nói đến làng nghề thường gắn với hình ảnh nghệ nhân
Nguồn lao động tại các làng nghề bao gồm: lao động tại chỗ (lao động trong gia đình, lao động của địa phương) và lao động thuê mướn Các làng nghề
sử dụng nhiều lao động ngoài độ tuổi lao động là người già và trẻ em Những nghề có một số công đoạn đơn giản thu hút lao động trẻ em tham gia (ví dụ: nghề mây tre đan…) Một số nghề đòi hỏi kinh nghiệm lại thu hút một lực lượng không nhỏ lao động ngoài độ tuổi (ví dụ: nghề chế biến dược liệu…)
* Công nghệ sử dụng trong các làng nghề đơn giản, trình độ thấp
Trang 11Công nghệ, thiết bị máy móc sử dụng trong các làng nghề là những công nghệ trình độ thấp, chủ yếu sử dụng kỹ thuật thủ công Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu, cải tiến quy trình công nghệ tại các làng được quan tâm, ứng dụng nhiều Nhiều doanh nghiệp, các hợp tác xã, hộ sản xuất đã chủ động đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh Nhưng nhìn chung các làng nghề dựa trên cơ sở lao động thủ công là chính, máy móc cơ khí chỉ sử dụng ở một số khâu, một số công đoạn nhất định.
* Các làng nghề xuất phát từ nguồn nguyên liệu tại chỗ
Phần lớn các làng nghề được hình thành do có nguồn nguyên liệu tại chỗ Ngày nay do sản xuất mở rộng, một số nghề phải mua nguyên liệu từ bên ngoài như nghề mộc, nghề chạm khắc gỗ, đúc đồng…Một số nghề tận dụng cả những phế phẩm, phế liệu, phế thải công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt để làm nguyên liệu sản xuất như nghề chế biến lông gà vịt, thú nhồi bông…Một số nghề còn phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài như chỉ thêu, thuốc nhuộm, thuốc nam, thuốc bắc…
* Hình thức tổ chức chủ yếu là hình thức hộ gia đình
Với quy mô hộ gia đình, các thành viên đều tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhưng ở các công việc khác nhau Một số hộ phải thuê thêm lao động bên ngoài theo hình thức thường xuyên hoặc thời vụ ở tất cả các công đoạn hoặc chỉ ở một số công đoạn nhất định
Hiện nay ngoài quy mô hộ gia đình còn xuất hiện nhiều hình thức tổ chức sản xuất khác như: HTX, Công ty TNHH, Công ty cổ phần, liên doanh Các cơ
sở này có thể vừa sản xuất vừa làm đầu mối thu gom tiêu thụ sản phẩm Ở nhiều làng nghề loại hình này đóng vai trò liên kết các hộ gia đình, thực hiện hợp đồng đặt hàng với hộ gia đình, giải quyết đầu ra, đầu vào với các thị trường khác nhau
2.1.1.4 Vai trò của các làng nghề
Trang 12* Góp phần thu hút lao động nhàn rỗi ở nông thôn, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động.
Phát triển TTCN, TM-DV ở nông thôn có nguồn gốc và có liên quan đến nông nghiệp sẽ tạo ra việc làm cho lao động nông thôn theo hướng “li nông bất li hương” Do lao động nông nghiệp mang tính thời vụ, thời gian nông nhàn nhiều, hơn nữa ruộng lại ít nên lao động ở nông thôn dư thừa nhiều Việc phát triển ngành nghề đã tạo ra nhiều công việc mới cho người lao động Các ngành nghề nông thôn phát triển đã kéo mở các ngành nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan tạo thêm việc làm mới tránh được tình trạng di dân ra thành phố, giảm bớt những khó khăn về an ninh trật tự xã hội cho thành phố và tránh được tình trạng “nhàn cư vi bất thiện” đảm bảo phát huy môi trường sống lành mạnh trong nông thôn
* Góp phần tăng thu nhập cho người dân, cải thiện đời sống của dân cư nông thôn
Ở phạm vi địa phương, các làng nghề được hình thành và phát triển khác nhau nhưng có điểm chung là đã góp phần đáng kể vào việc tăng thu nhập cho người lao động Trong những năm qua, hầu hết các làng nghề đã có sự năng động trong sản xuất, tìm tòi đổi mới sản phẩm nhằm đáp ứng không chỉ nhu cầu của thị trường trong nước mà còn có sự quan tâm đáp ứng nhu cầu của thị trường nước ngoài
Nhờ có sự phát triển của các làng nghề mà thu nhập của người dân được tăng lên, bình quân thu nhập của người dân làng nghề thường gấp 2-4 lần so với người dân ở vùng thuần nông Do vậy họ có điều kiện để cải thiện cuộc sống gia đình mình như: xây nhà kiên cố, mua sắm những trang thiết bị đắt tiền (xe máy,
ô tô, vô tuyến, điện thoại ) rút dần khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn
* Góp phần đẩy mạnh sự phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH
Trang 13Hiện nay ở một số làng nghề đã có sự phân công chuyên môn hóa rõ nét, nhất là các làng nghề dệt may, chế biến nông sản Các hộ đã tự hình thành nên những tổ sản xuất hoặc HTX và có sự phân công chuyên môn hóa ở từng khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm tăng năng lực sản xuất, tăng vốn, tăng cường máy móc thiết bị, đảm bảo cho sản xuất phát triển.
Sự phát triển của ngành nghề nông thôn có vai trò quan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH Việc phát triển làng nghề ngoài thu hút một bộ phận lao động nông nghiệp sang TTCN, đồng thời yêu cầu một bộ phận khác làm dịch vụ, cung cấp nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, làm chuyển dịch và tạo ra sự phân công lao động mới ở nông thôn Đồng thời phát triển các ngành nghề và các làng nghề cũng làm cho phi nông nghiệp nói chung và ngành nghề tăng lên Thu nhập của người dân không chỉ đơn thuần từ nông nghiệp mà còn thu từ ngành nghề, dịch vụ, từ đó làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
* Tăng cường đóng góp cho ngân sách địa phương, góp phần nâng cấp kết cấu hạ tầng cơ sở ở nông thôn
Ngân sách địa phương sẽ có những nguồn thu mới từ sản xuất ngành nghề nông thôn và các hoạt động dịch vụ thông qua thuế, các dự án đầu tư…Đây sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng như hệ thống đường giao thông nông thôn được nâng cấp và hoàn thiện, tại các làng nghề hệ thống đường giao thông hầu như được bê tông hóa hay nhựa hóa, điều này đã đảm bảo cho các phương tiện giao thông hoạt động ổn định, giwos cho việc sản xuất và lưu thông hàng hóa thuận lợi; hệ thống đường điện đã tới hầu hết các làng nghề; hệ thống thông tin liên lạc đã được phủ kín Khi cơ sở hạ tầng nông thôn phát triển sẽ tạo điều kiện để sản xuất ngành nghề nông thôn ứng dụng tiến bộ KHKT mới, mở rộng sản xuất và giao lưu kinh tế
Trang 14* Đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các công cụ sản xuất và giải quyết đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, vừa tạo ra những sản phẩm cần thiết cho sản xuất và đời sống.
Các ngành nghề TTCN chế tạo ra những sản phẩm cần thiết phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như: cuốc, xẻng, bình phun thuốc sâu…từ đơn giản đến phức tạp Nền nông nghiệp nước ta hiện nay còn lạc hậu, đòi hỏi CN – TTCN nông thôn phải thúc đẩy quá trình cơ giới hóa trong nông nghiệp, nhanh chóng đưa công nghệ máy móc hiện đại vào sản xuất Bên cạnh đó, ngành nghề chế biến nông sản cũng có vai trò quan trọng đối với nông nghiệp nông thôn: Vừa sử dụng sản phẩm của nông nghiệp làm nguyên liệu đầu vào để chế biến, nâng cao giá trị các sản phẩm nông nghiệp, vừa cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, từ đó làm cho giá trị của ngành nông nghiệp ngày càng tăng
Mặt khác ngành nghề TTCN còn tạo ra nhiều sản phẩm cần thiết phục vụ sản xuất và đời sống như: lụa, vải, đồ gỗ dân dụng, dao, kéo, xoong, chậu…Đó
là những sản phẩm không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày của người dân Do vậy việc phát triển ngành nghề trong nông thôn là rất cần thiết
2.1.2 Kinh tế nông nghiệp
2.1.2.1 Khái niệm
Kinh tế nông nghiệp là tập hợp của hai phạm trù nông nghiệp và kinh tế Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phâm cho con người và nguyên liệu cho công nghiệp, lực lượng lao động cho các ngành kinh tế khác và là thị trường tiêu thụ của các sản phẩm được sản xuất ra ở các ngành phi nông nghiệp Nông nghiệp bao gồm sản xuất, chế biến, marketinh
và tiêu thụ sản phẩm Nông nghiệp liên quan đến nhiều ngành khoa học kỹ thuật sinh học như: sinh học, công nghệ sinh học, đất, nông hóa thổ nhưỡng, giống, sinh lý và di truyền, chế biến nông sản
Trang 15Kinh tế là khoa học về phân tích việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm để đạt được những mục tiêu trông đợi Thông thường khoa học kinh tế liên quan đến: a) việc ra quyết định các phương thức để sử dụng các nguồn lực có hạn; b) thỏa mãn nhu cầu đa dạng con người; và c) tính đến hành vi và việc ra quyết định của con người để sử dụng các nguồn lực đã có Khoa học kinh tế bao gồm Kinh tế vi mô, Kinh tế vĩ mô và Kinh tế tài nguyên và môi trường Những khoa học kinh tế này đề cập đến các nguyên lý kinh tế nêu trên vận dụng trong nền kinh tế quốc dân cả ở tầm vi mô và vĩ mô.
Kinh tế nông nghiệp là một khoa học trong đó các nguyên lý kinh tế được
áp dụng trong những điều kiện đặc biệt của nông nghiệp Nó là khoa học ứng dụng liên quan đến việc xác định, mô tả, phân loại các vấn đề kinh tế nảy sinh trong nông nghiệp và các giải pháp giải quyết vấn đề đó Các vấn đề kinh tế thường nảy sinh trong việc sử dụng các nguồn lực, lựa chọn các quyết định sản xuất và thị trường, marketinh và trao đổi thương mại cũng như những giải pháp phát triển bền vững nền nông nghiệp (Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung)
2.1.2.2 Vai trò của sản xuất nông nghiệp
Thứ 1: nông nghiệp cung cấp những nông sản, lương thực, thực phẩm cơ bản và thiết yếu của con người mà nếu thiếu nó sẽ có ảnh hưởng không chỉ về mặt phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng về cả mặt xã hội và chính trị
Thứ 2: nông nghiệp sản xuất ra nguyên liệu cho hàng loạt ngành công nghiệp phát triển, như công nghiệp chế biến thực phẩm, công nghiệp dệt, may, công nghiệp giấy đồ gỗ, mà nếu không phát triển tốt sẽ ảnh hưởng nhiều đến xuất khẩu và hàng tiêu dùng
Thứ 3: nông nghiệp góp phần vào việc tăng thu nhập và tích lũy của nền kinh tế quốc dân, thông qua cung cấp nông sản, thuế, xuất khẩu nông sản phẩm Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển, đi lên từ nông nghiệp
Trang 16Thứ 4: nông nghiệp và nông thôn là nơi có nguồn lao động dồi dào, mà qua tăng năng suất lao động có thể giải phóng được lao động phục vụ cho các ngành kinh tế khác Đồng thời đó là thị trường rộng lớn để tiêu thụ sản phẩm công nghiệp, dịch vụ, tạo cho nền kinh tế chung phát triển.
Thứ 5: nông nghiệp và nông thôn trải ra trên địa bàn rộng lớn ở các vùng trên đất nước, nếu phát tốt sẽ góp phần quan trọng để bảo vệ môi trường sinh thái Ngược lại nếu phát triển không tốt sẽ ảnh hưởng lớn làm ô nhiễm môi trường
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Phát triển làng nghề trên thế giới
Thực hiện CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn là một tất yếu khách quan đối với các nước nông nghiệp lạc hậu kém phát triển Trong quá trình lựa chọn hướng phát triển cho kinh tế nông thôn, quá trình CNH nông nghiệp thành công
ở một số nước quanh khu vực Châu Á có điều kiện kinh tế tương tự như Việt Nam sẽ giúp chúng ta tìm được những kinh nghiệm quý báu trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn, từ đó tìm ra hướng giải quyết đúng đắn vấn đề
* Trung Quốc: là nước có nền văn minh cổ đại với những sản phẩm mỹ
nghệ độc đáo với nhiều mẫu mã khác nhau Quá trình CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn ở Trung Quốc phát triển nhanh chóng trong những năm cải cách và
mở cửa Từ năm 1978 đến năm 1992 Trung Quốc đã thực hiện phương châm “li nông bất li hương” để phát triển công nghiệp Hương Trấn Xí nghiệp Hương Trấn là hình thức mới cao hơn CNH – HĐH Trung Quốc khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế nông thôn, tăng thu nhập cho dân cư, làm giảm chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa công nhân với nông dân Nhờ vậy cơ cấu kinh
tế nông thôn Trung Quốc đã có sự chuyển dịch: Tỷ trọng giá trị sản lượng nông nghiệp giảm từ 68,2% (1978) xuống còn 40,8% (1991), tỷ trọng giá trị sản lượng công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn tăng từ 31,8% (1978) lên 59,2% (1991) Cơ
Trang 17cấu thu nhập của cư dân Trung Quốc cũng được cải thiện, năm 1978 thu nhập ngoài nông nghiệp của nông dân chỉ chiếm 7% thì đến năm 1988 đã tăng lên 27,3%, nhiều thôn xã đã trở nên giàu có nhờ công nghiệp Hương Trấn, thôn Đại Khâu Trang với thu nhập 10000 NDT/người.
Đến nay xí nghiệp Hương Trấn rất đa dạng về quy mô, phương thức sản xuất đã tạo việc làm cho 120 triệu lao động nông thôn, góp phần tích cực vào việc xây dựng nông thôn mới và hàng hóa tiêu dùng tại chỗ Tuy nhiên sự phát triển ồ ạt đã nhanh chóng dẫn đến tình trạng cung hàng hóa vượt quá cầu gây ứ đọng sản phẩm, nhiều xí nghiệp phải đóng cửa Đây cũng là bài học kinh nghiệm cho nước ta khi mở rộng quy mô làng nghề cũ, hình thành những làng nghề mới
* Đài Loan: CNH ở Đài Loan chú trọng cả công nghiệp và nông nghiệp,
cả thành thị và nông thôn Công nghiệp nông thôn bao gồm các ngành nghề TTCN, các làng nghề cổ truyền, các xí nghiệp gia đình sản xuất, chế biến lương thực, thực phẩm theo công nghệ cổ truyền và các mặt hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch và xuất khẩu, các xí nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn sản xuất hàng tiêu dùng, vật tư kỹ thuật và tư liệu sản xuất cho nông nghiệp, sản xuất kinh doanh độc lập Với cơ chế thoáng trong chính sách tự do kinh doanh, tự do thành lập doanh nghiệp của Đài Loan đã tạo cơ hội thuận lợi cho những người sản xuất
có tài quản lý tập hợp những người thợ làng nghề phát triển sản xuất, đa dạng hóa thu nhập của ngành, đưa thu nhập phi nông nghiệp lên tới 90% còn nông nghiệp chỉ chiếm 10% Như vậy việc chúng ta cần nghiên cứu và học tập đó là phải có một chính sách tự do sản xuất kinh doanh, phù hợp trong khuôn khổ cho phép để thực hiện phương châm “ai giỏi nghề gì làm nghề ấy”, thực hiện chuyên môn hóa sản xuất trong cả nông nghiệp lẫn CN – TTCN trong nông thôn
Trang 18* Nhật Bản: Trong quá trình CNH, ngành nghề TTCN không bị mai một
đi mà trái lại nó vẫn được duy trì và phát triển ở nông thôn, trong các hộ nông dân trong các làng nghề và thị trấn có nghề truyền thống
Theo kết quả điều tra thống kê hiện nay Nhật Bản có 867 nghề thủ công khác nhau như chế biến lương thực, thực phẩm bằng nông sản, thủy sản, đan lát, gốm sứ, sơn mài, rèn…Vào thập kỷ 70 đã có phong trào “mỗi làng một sản phẩm” nhằm khôi phục phát triển ngành nghề truyền thống nông thôn, đã tạo ra
270 sản phẩm TTCN tại các cơ sở sản xuất gia đình, thu nhập 1,2 tỷ USD (1992) Trong quá trình CNH – HĐH, Nhật Bản phát triển CN – TTCN nông thôn, đồng thời đầu tư về phát triển nông nghiệp về mọi mặt như thủy lợi hóa, hóa học hóa, điện khí hóa sản xuất, dịch vụ kinh tế kỹ thuật ở nông thôn hỗ trợ về: tín dụng, mua bán, giao thông liên lạc, bảo quản…kết quả là số hộ kinh tế vừa làm nông nghiệp vừa làm công nghiệp tăng lên từ 45,6% (1945) lên tới 88% (1990) Như vậy Nhật Bản phát triển ngành nghề nông thôn có tác động tích cực đên nông nghiệp, làm thay đổi cơ cấu lao động theo chiều hướng tăng số hộ kiêm, đồng thời làm thay đổi cơ cấu thu nhập theo hướng tăng thu nhập phi nông nghiệp, giải quyết việc làm cho cư dân nông thôn Đây là vấn đề cần tìm hiểu và học tập đối với các nước nông nghiệp nói chung và Việt Nam nói riêng
* Thái Lan: Trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn, Chính
Phủ Thái Lan quan tâm đến phát triển ngành phi nông nghiệp, thực hiện hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Các ngành nghề truyền thống được khôi phục và phát triển, phát triển CN – TTCN nhằm kích thích phát triển nông nghiệp, nông thôn Sản xuất nông nghiệp được đầu tư lớn và Thái Lan đã nhanh chóng trở thành cường quốc đứng đầu về nông nghiệp Phát triển ngành nghề nông thôn ở Thái Lan đã kéo theo nông nghiệp phát triển, tạo việc làm tăng thu
Trang 19nhập cho cư dân nông thôn, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thái Lan, nông nghiệp giảm từ 29,9% xuống còn 14,7% GDP năm 1991.
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực, CN – TTCN phát triển đã kéo theo những hạn chế to lơn mà Chính phủ các nước cần lưu ý đó là vấn đề ô nhiễm môi trường Vì vậy, Chính phủ và cư dân các nước cần phải có biện pháp giải quyết kịp thời để ngăn chặn tình trạng này
2.2.2 Thực tiễn ở Việt Nam
* Thời kỳ trước đổi mới (trước năm 1986)
Thời kỳ này hoạt động ngành nghề, làng nghề ở Việt Nam được hợp tác hóa, hình thành các HTX và các tổ làm nghề truyền thống Lao động phục vụ ngành nghề TTCN thời kỳ này gần 2 triệu người và tăng lên liên tục, lao động gia đình xã viên tăng lên, tỷ trọng lao động trong tư nhân, cá thể rất thấp và không được chú trọng Bên cạnh việc thành lập các HTX và các tổ chuyên ngành nghề, đặc biệt là những năm đầu của thập kỷ 70, nhằm tăng nhanh xuất khẩu hoặc gia công hàng xuất khẩu đáp ứng nhu cầu thị trường
Biểu 2.1 Một số kết quả sản xuất TTCN trước năm 1986 của Việt Nam
Trang 20(Nguồn: Ngành nghề nông thôn Việt Nam, NXB Chính Trị Quốc gia Hà Nội)
Thời kỳ này giá trị tổng sản lượng tăng lên tương đối từ 27713,68 triệu đồng (năm 1981) lên 48539, 24 triệu đồng (năm 1986) tăng 28025,56 triệu đồng Chứng tỏ
mô hình HTX – TTCN, tổ đội ngành nghề tác động lớn đến phát triển ngành nghề, làng nghề nông thôn Có thể nói đây là thời kỳ phát triển thịnh vượng của ngành TTCN ở Việt Nam Song thời thịnh vượng này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn
* Thời kỳ sau năm 1986 đến nay
Đại hội lần thứ 6 của Đảng cộng sản Việt Nam (1986) thực hiện cơ chế quản lý mới, xóa bỏ chế độ tập trung quan liêu bao cấp, đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển theo hướng một nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước Nhờ đó nhiều làng nghề đã được đẩy mạnh sản xuất, tăng nhanh sản phẩm hàng hóa, tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao mức sống của người dân địa phương
Với cơ chế này đã thực sự giải phóng sức sản xuất, phát huy mọi tiềm năng về kỹ thuật, tay nghề của người thợ Ngoài ra trong các làng nghề cũng có
sự kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và ngành nghề nhằm phát triển vượt bậc về
cả số lượng cũng như chất lượng sản phẩm, tạo việc làm ổn định cho người lao động ở địa phương và lao dộng dư thừa ở các vùng lân cận, giảm tỷ lệ hộ đói nghèo, tăng tỷ lệ hộ giàu, khá Song do sự biến động về thị trường (1990-1991) nên sản xuất trong làng nghề gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là khó khăn về việc làm
Trang 21Từ năm 1992 đến nay, sau một thời gian giảm sút đáng kể sản xuất và kinh doanh sản phẩm, các sản phẩm của làng nghề đã dần tìm được chỗ đứng và
mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần từng bước phục hồi và phát triển sản xuất Một số làng nghề đã trở nên năng động, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tích lũy nhanh và mạnh dạn đầu tư vào sản xuất Điều này đã có tác động không nhỏ đến nông nghiệp nông thôn, làm thay đổi cơ cấu lao động nông thôn, tỷ lệ hộ chuyên, hộ kiêm ngày càng gia tăng, tỷ lệ hộ thuần nông ngày càng giảm, cơ cấu kinh tế nông thôn đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực Đây là vấn đề xuyên suốt trong quá trình CNH – HĐH nông thôn Việt Nam
Chủ trương khôi phục, phát triển làng nghề và chính sách cụ thể về đầu tư, vốn, ngân hàng trong những năm qua của nhà nước đã mang đến cho làng nghề luồng gió mới Các sản phẩm gia tăng về số lượng, mẫu mã, chất lượng Nhiều sản phẩm không chỉ đáp ứng tiêu dùng trong nước mà còn được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới trong đó có Nhật, Mỹ, EU góp phần làm tăng giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong địa phương và cả nước Việc phát triển làng nghề đã giảm sức ép về dư thừa lao động, làm cho đời sống của người dân làng nghề nâng cao, mức thu nhập của người lao động tăng từ vài trăm ngàn lên hàng triệu đồng/tháng Nhiều làng nghề nhà tầng mọc lên san sát như một dãy phố, đời sống vật chất của người lao động tăng, đời sống văn hóa tinh thần cũng có nhiều thay đổi, nhiều làng nghề được công nhận là làng văn hóa Ngoài những thế mạnh phát triển du lịch của Việt Nam như cảnh quan thiên nhiên, những nét văn hóa đặc sắc dân tốc…làng nghề truyền thống phát triển cũng là hình thức góp phần vào việc quảng bá du lịch, khêu gợi trí tò mò của du khách đến với những làng nghề Thời gian gần đây, số lượng khách du lịch mua những sản phẩm thủ công truyền thống của Việt Nam ngày một tăng
Trang 22Theo kết quả điều tra do cục chế biến, Thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) với Cơ quan hợp tác quốc
tế Nhật Bản (JICA), Việt Nam hiện có khoảng 2017 làng nghề truyền thống có lịch sử trên 100 năm Các làng nghề thường được phân loại theo nhóm sản phẩm như chế biến lương thực, thực phẩm và dược liệu; chế biến đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ; dệt nhuộm, da dày; vật liệu xây dựng; tái chế chất thải Ở đồng bằng sông Hồng có 700 làng nghề cổ truyền và làng nghề mới, trong đó nhiều nhất là ở Thái Bình, Hà Tây, Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh Ở thành phố Hồ Chí Minh có
60 làng nghề Nhiều làng nghề cổ truyền đã nổi tiếng từ hàng trăm năm nay như lụa Vạn Phúc, gạch gốm Bát Tràng, chế biến hạt sen ở Ninh Hiệp, tranh Đông Hồ
Tuy nhiên làng nghề ở Việt Nam phần lớn tổ chức theo hộ gia đình; truyền nghề theo kiểu kèm cặp, lao động thủ công là chính, không được trang bị kiến thức môi trường và an toàn lao động; chỗ sản xuất, chế biến thường cùng với nơi sinh hoạt của gia đình Để giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở các làng nghề, nhiều nơi đã từng bước hình thành các khu công nghiệp vừa và nhỏ, đưa các hộ sản xuất, kinh doanh ra khỏi khu vực dân cư Tỉnh Bắc Ninh đã xây dựng khu quy hoạch cho làng giấy Phong Khế, làng đúc đồng Đại Bái, làng đồ gỗ Đông Kỵ, rộng hàng chục ha
2.2.3 Một số tình hình chung về phát triển làng nghề của tỉnh Nghệ An
Trong những năm vừa qua tỉnh đã triển khai các đề án dự án khôi phục phát triển làng nghề và làng có nghề, đặc biệt thực hiện tốt nghị quyết 05/NQ của tỉnh ủy về khôi phục và phát triển làng nghề thời kỳ 2001- 2010 Bên cạnh đó hội đồng liên minh cùng các sở ban ngành các huyện thành thị tiến hành điều tra khảo sát đánh giá thực trạng ngành nghề Theo số liệu báo cáo của 19 huyện, thành thì tổng số làng nghề và làng có nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An tính đến ngày 1/10/2004 là 110 làng, chỉ có 9 làng đủ tiêu chuẩn làng nghề (8,2%) Trong
9 làng đó tổng số lao động làm nghề là 2685 người chiếm tỷ lệ 75,9% tổng số lao
Trang 23động của làng Giá trị sản xuất năm 2003 đạt 81894 triệu đồng chiếm 86,85% tổng giá trị Thu nhập đạt 173902 triệu đồng chiếm 68,8% thu nhập của làng Giá trị sản xuất 9 tháng đầu năm 2004 đạt 35586 triệu đồng chiếm 78,1% tổng giá trị Thu nhập đạt 11562 triệu đồng chiếm 64,39% tổng thu nhập của làng.
Qua số liệu thì tỷ lệ làng nghề đủ tiêu chuẩn làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An còn thấp Đến hết năm 2004 toàn tỉnh có 26 làng nghề được UBND tỉnh cấp bằng công nhận làng nghề 26 làng nghề này có tổng số lao động làm nghề 8443 người chiếm 57,5% tổng số lao động của làng, giá trị sản xuất hàng năm đạt trên 133 tỉ đồng chiếm 65% tổng số thu nhập của làng Thu nhập bình quân của người lao động đạt 6,1 – 6,5 triệu đồng/năm Các địa phương có phong trào xây dựng và phát triển làng nghề và làng có nghề khá cao và có số lượng làng được UBND tỉnh công nhận nhiều là: huyện Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành, thành phố Vinh
2.3 Các công trình nghiên cứu liên quan
Có thể nói vị trí và vai trò của ngành nghề trong nông thôn là rất quan trọng trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn Vì vậy việc đầu tư nghiên cứu các xu hướng vận động và phát triển của ngành nghề là một vấn đề được đặc biệt quan tâm và tập trung nghiên cứu của Chính phủ, các tổ chức liên quan và các nhà nghiên cứu khoa học
Hiện nay đã có rất nhiều tài liệu, báo cáo, luận văn tiến sỹ, thạc sỹ và tốt nghiệp đại học về vấn đề này Dưới đây là một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề ngành nghề, làng nghề, tác động và vai trò của nó
Phạm Thị Thanh Lê với đề tài nghiên cứu tác động của việc phát triển
làng nghề truyền thống đến kinh tế hộ nông dân huyện Việt Yên tỉnh Nam Định khẳng định: NNNT là một bộ phận quan trọng của kinh tế nông thôn, góp
phần tích cực trong việc xây dựng và phát triển kinh tế của huyện, thúc đẩy quá
Trang 24trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn của huyện theo hướng CNH – HĐH NNNT phát triển kéo theo các hoạt động dịch vụ xã hội khác phát triển theo, các hộ nông dân không làm nghề cũng có thêm điều kiện tăng thu nhập thông qua các phát triển các hoạt động dịch vụ thương mại Trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn thì ngành nghề nông thôn được coi là khâu mũi nhọn, đột phá còn nông nghiệp được coi là nền tảng vững chắc quyết định
sự thành công Tuy nhiên nó cũng có những tác động tiêu cực như các hộ chỉ tập trung đầu tư vào ngành nghề mà không chú trọng sản xuất nông nghiệp
Trần Thị Ngoan, 2005, với đề tài Tác động của ngành nghề đến nông
nghiệp, nông thôn ở thôn Vân Chàng xã Nam Giang huyện Nam Trực tỉnh Nam Định khẳng định: Ngành nghề phát triển có tác động lớn đến sản xuất nông
nghiệp: Các hộ kiêm ngành nghề chỉ sản xuất 2 vụ lúa chính Diện tích đất chăn nuôi ngày càng giảm do diện tích đất ngành nghề ngày càng tăng Chi phí sản xuất trên một đơn vị diện tích trồng trọt của hộ có ngành nghề lớn hơn hộ không
có ngành nghề Ngành nghề phát triển đã giải quyết được việc làm cho cư dân tại địa bàn nông thôn, ngoài ra còn thu hút được 1500 lao động từ các vùng lân cận Mặt khác nó còn làm chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng ngành nghề và dịch vụ và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Ngành nghề phát triển đã mang lại thu nhập cao cho người dân
P.T.S Nguyễn Quỳnh Anh, 1997, Kết quả bước đầu nghiên cứu khôi
phục và phát triển nghề làm tương truyền thống ở Nam Đàn – Nghệ An qua
điều tra cho các nhận xét sau: 100% dân ăn tương và sử dụng tương trong các bữa ăn Giống đậu tương để làm tương là giống đậu tương xuân Nam Đàn, mốc tương có thể từ nếp hoặc ngô, nước làm tương là nước giếng, nước sông nhưng phải là nước được dung để nấu chè xanh hoặc là pha trà thơm ngon không mất mùi Ông đã tổng kết được 20 quy trình dân gian chủ yếu làm tương Xây dựng
Trang 25được tiếu chuẩn cho ra đời tiêu chuẩn 33 TCV 1- 1996 về tương Nam Đàn Nghiên cứu đã khẳng định tương là loại thực phẩm rất có giá trị về dinh dưỡng Các nguyên liệu làm tương đều là những nguyên liệu có rất lớn cho sức khỏe con người, không hề sử dụng một loại hóa chất nào Ông đã nghiên cứu và xây dựng phương pháp tiếp thị nhằm khôi phục và phát triển một làng nghề truyền thống vừa giải quyết việc làm tăng thu nhập vừa có thêm một loại thực phẩm có chất lượng có lợi cho sức khỏe con người.
Lê Thị Nguyệt, 2008, với đề tài Đánh giá tình hình sản xuất tương và
những biện pháp nhằm định hướng phát triển thành lập làng nghề truyền thống ở huyện Nam Đàn đã khẳng định: Tương là sản phẩm truyền thống của
người dân huyện Nam Đàn Có đến 95% dân sử dụng tương trong các bữa ăn Năm 1995 tương bắt đầu được đưa vào sản xuất hàng hóa và đang tồn tại đến ngày hôm nay với quy mô và số lượng lớn hơn trước Tương hàng hóa được sản xuất quanh năm có đến 76.7% số hộ sản xuất tương quanh năm Tuy nhiên các
hộ sản xuất tương hàng hóa vẫn còn manh mún nhỏ lẻ Vì vậy cần có những chính sách để hỗ trợ phát triển hơn nữa sản xuất tương
Trang 26PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Nam Đàn là huyện nửa đồng bằng nửa đồi núi, có diện tích tự nhiên gần
30000 ha, có chiều rộng 10Km từ Tây sang Đông, chiều dài 30Km từ Bắc xuống Nam Trung tâm huyện cách thành phố Vinh 20Km Tọa độ địa lý: từ 18030’ đến
18047’ vĩ độ Bắc Và từ 105025’ đến 105025’ kinh độ Đông
Ranh giới hành chính của huyện như sau:
Phía Bắc giáp huyện Nghi Lộc
Phía Nam giáp huyện Đức Thọ và huyện Hương Sơn của tỉnh Hà TĩnhPhía Tây giáp huyện Thanh Chương
Phía Đông giáp huyện Hưng Nguyên
3.1.1.2 Địa hình
Nam Đàn có địa hình đa dạng, nằm kẹp giữa 2 dãy núi Thiên Nhẫn ở phía Tây và dãy núi Đại Huệ ở phía Bắc tạo ra thung lũng, đồng bằng tam giác; có con sông Lam chảy dọc theo hướng từ Tây sang Đông chia huyện thành 2 vùng
tả ngạn và hữu ngạn sông Lam
Trang 27Địa hình đồng bằng: bị chia cắt bởi sông Lam, sông Đào và có những quả đồi bát úp thấp và độc lập tạo nên những long chảo cục bộ nhỏ hẹp.
Địa hình đồi núi: Gồm khu vực sườn núi nam dãy núi Đại Huệ và khu vực sườn núi Đông – Bắc dãy núi Thiên Nhẫn Địa hình bị chia cắt mạnh, có độ dốc lớn Khu vực sườn nam dãy núi Đại Huệ có độ cao từ 200m – 455m, độ dốc trên 180 thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp lâu năm
3.1.1.3 Khí hậu và thời tiết
a, Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình hàng năm 23,90C Tháng nóng nhất từ tháng 5 đến tháng 7 với nhiệt độ trung bình 28-290C, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 40,90C Mùa lạnh được bắt đầu cùng với hoạt động của gió mùa Đông Bắc, thường có nhiệt độ trung bình dưới 200C Lạnh nhất từ tháng 1 đến tháng 3 Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối 5,40C
Biến trình nhiệt độ tăng đều từ tháng 1 đến tháng 7, sau đó giảm dần đến tháng 12 Từ tháng 4 trở đi, nhiệt độ tăng dần và đạt cực đại vào tháng 7, sau đó giảm dần đến tháng 12 Tổng tích ôn cả năm 87290C
b, Bức xạ
Trong 1 năm, Nam Đàn có khoảng 1680-1700 giờ nắng, hầu như quanh năm tháng nào cũng có trên 50 giờ nắng Tháng 5 đến tháng 7 có giờ nắng cao nhất và thường đạt 190-200 giờ Tháng 2 trời âm u, nhiều mây, số giờ nắng chỉ khoảng 50-60 giờ Từ tháng 5 trở đi có số lượng bức xạ trên 10Kclo/cm2/tháng Thông thường đạt trị số cao nhất là 35,1Kclo/cm2 Tháng 2 âm u, nhiều mây nên bức xạ tổng cộng thấp nhất trong năm và chỉ đạt 3,7Kclo/cm2 Bức xạ tổng cộng trong năm trung bình hàng năm khoảng 106 - 110Kclo/cm2
c, Độ ẩm
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm phổ biến từ 84 - 86% Ngay trong những tháng mùa hè khô nóng, độ ẩm không khí trung bình cũng lớn hơn 74%
Trang 28Trong thời kỳ mưa phùn, gió Bấc tháng 2, tháng 3 độ ẩm không khí trung bình 86
- 92% Độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối 15%, thường xảy ra vào thàng 10
d, Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm là 1944,3 mm, lớn nhất khoảng 2600 mm và nhỏ nhất 1100 mm Lượng mưa phân bổ không đều mà tập trung chủ yếu vào nửa cuối tháng 8 đến tháng 10, lượng mưa thấp nhất từ tháng 1 đến tháng 4
e, Chế độ gió: Nam Đàn chịu ảnh hưởng lớn của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam Gió mùa Đông Bắc thường gắn với không khí lạnh, bắt đầu từ cuối tháng 10 đến tháng 3 năm sau, trung bình mỗi năm có khoảng 28 đến 30 đợt
và ở vào khoảng cấp 3 đến cấp 5 Tháng có nhiều nhất là tháng 1, trung bình 3,9 đợt Gió mùa Đông Bắc làm hạ thấp nhiệt độ trung bình xuống 4 - 60C, có khi từ
8 đến 100C Vào thời điểm tháng 1 đến tháng 3 có lúc nhiệt độ không khí xuống dưới 160C và dẫn đến xuất hiện rét đậm, rét hại ảnh hưởng có hại đến sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi
Gió mùa Tây Nam thường gây ra khô nóng, bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8
và thịnh hành trong các tháng 5, 6, 7 Trung bình hàng năm có 30 - 40 ngày có gió khô nóng, tháng 7 nhiều và có khoảng 5 - 10 ngày Do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam nên lượng bốc hơi tăng, nên thường xảy ra hạn hán ảnh hưởng tới quá trình tổ chức sản xuất nông nghiệp
Bão ở Nam Đàn bắt đầu xuất hiện vào tháng 8 đến tháng 10, bình quân hang năm có từ 2 - 4 cơn, thường ở mức cấp 8 - cấp 10, có năm xuất hiện bão cấp 14 (năm 1982) Bão vào thường kéo theo mưa to gây lũ lụt, ngập úng nhiều nơi trong huyện, ảnh hưởng lớn tới sản xuất nông nghiệp
3.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên
a, Tài nguyên đất: đất đai huyện Nam Đàn có thể chia thành các nhóm
chính sau:
Trang 29+ Đất cát ven sông, cồn cát giữa sông: Diện tích 459,9 ha chiếm 1,69% phân bố thuộc các xã vùng bãi ven sông Lam.
+ Đất phù sa được bồi đắp của hệ thống sông Lam: diện tích 2448,9 ha chiếm 9,02% được phân bố dọc 2 bờ sông Lam
+ Đất phù sa không được bồi đắp hàng năm: diện tích 10238,4 ha chiếm 37,69% tổng diện tích các loại đất, tập trung chủ yếu vào các xã chuyên canh cây lúa như: Hùng Tiến, Kim Liên, Nam Cát, Xuân Lâm, Hồng Long, Xuân Hòa…
+ Đất phù sa xen đồi núi: diện tích 421,8 ha chiếm 1,55% diện tích các loại đất Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ hoặc cát pha, đất chua, độ phì kém (nghèo NPK).+ Đất bạc màu trên phù sa cũ có sản phẩm feralit: diện tích 1847,7 ha chiếm 6,8% diện tích các loại đất Phân bố tập trung ở các xã nằm ven dãy núi Đại Huệ như Nam Lĩnh, Nam Anh, Nam Nghĩa, Nam Thái và một phần ở Nam Giang Đất thường có địa hình cao, chua, thành phần cơ giới lớp đất mặt là cát pha, khả năng giữ nước kém, nghèo dinh dưỡng
+ Đất dốc tụ: diện tích 241,2 ha chiếm 0,89% tổng diện tích các loại đất, phân bố chủ yếu ở xã Nam Thanh và một phần nhỏ thuộc xã Khánh Sơn Đất có thành phần cơ giới nhẹ (chủ yếu là cát pha) có sản phẩm feralit ở lớp đất sa
+ Đất feralit biến đổi do trồng lúa nước: diện tích 1235,9 ha chiếm 4,88% diện tích các loại đất, phân bố tập trung tại các chân núi đồi thoải
+ Đất feralit xói mòn trơ sỏi đá: diện tích 10179,9 ha chiếm 37,47% tổng diện tích các loại đất phân bố dọc theo 2 dãy núi Đại Huệ và Thiên Nhẫn, đất có tầng dày <
30 cm, lẫn nhiều đá sỏi (20 - 50g) tỷ lệ mùn thấp, độ dốc lớn (chủ yếu > 25%)
b, Tài nguyên rừng: Nam Đàn hiện có khoảng 7531,77 ha rừng trồng
chiếm 25,02% tổng diện tích tự nhiên Rừng trồng chủ yếu bởi 3 loại cây: Thông, Bạch Đàn, Tràm lá keo
Rừng trồng được chia thành 3 loại sau:
Trang 30+ Rừng phòng hộ: có diện tích 3654,54 ha chủ yếu là thông, độ che phủ > 30%, tập trung ở khu vực đầu nguồn, địa hình dốc thuộc dãy núi Đại Huệ, Thiên Nhẫn.+ Rừng sản xuất: có diện tích 300,2 ha được trồng chủ yếu là Bạch Đàn.
+ Rừng đặc dụng: có diện tích là 501,3 ha ở 2 khu vực là khu lăng mộ Thân Mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh và khu di tích núi chung được nhà nước đầu tư, tôn tạo và bảo vệ với nhiều chủng loại cây phong phú
3.1.1.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên
* Thuận lợi: với đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tài nguyên
thiên nhiên như trên huyện Nam Đàn có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội
- Là huyện chỉ cách thành phố Vinh 20 km có đường quốc lộ 46 và đường 15A đi qua đã tạo cho Nam Đàn nhiều điều kiện thuận lợi trong giao lưu kinh tế, trao đổi hàng hóa với nước ngoài Có điều kiện để tiếp thu những thành tựu tiến
bộ khoa học kỹ thuật để phát triển kinh tế đa dạng và phong phú
- Một số điều kiện tự nhiên như số giờ nắng, nguồn nước dồi dào, chất lượng tốt là điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng phát triển
- Lượng đất phù sa ở vùng đồng bằng do con sông Lam quanh bồi đắp hàng năm là tiềm năng cho sản xuất nông nghiệp của huyện
* Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi cũng có những khó khăn, hạn chế
mà huyện phải gánh chịu
- Chế độ khí hậu khắc nghiệt và phức tạp, đất đai có địa hình dốc (20,8%
có độ dốc > 250) là nguyên nhân gây nên thiên tai như: lụt, bão, hạn hán, ngập úng…
- Với 37,47% diện tích đất trơ sỏi đá, độ phì thấp, độ dốc lớn là trở ngại lớn cho việc phát triển trồng rừng Ngoài ra vẫn còn 15,82% loại đất khác: đất cát ven sông, đất phù sa xen đồi núi…địa hình mấp mô không thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp
Trang 31- Lượng mưa phân bố không đều trong năm, thường tập trung vào những tháng mùa mưa, gây ngập úng Mùa khô thì gây ra hạn hán lại kèm theo gió lào Tây nam khô nóng ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.1.2.1 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai
Nam Đàn là một huyện có diện tích khá rộng trong tỉnh với tổng diện tích đất tự nhiên năm 2009 là 29399,38 ha Trong đó diện tích đất nông lâm nghiệp năm 2008 tăng so với năm 2007 là do tổng diện tích đất tự nhiên tăng lên, còn năm 2009 có xu hướng giảm cả về số lượng và cơ cấu Trong khi đó diện tích đất phi nông nghiệp lại có xu hướng tăng cả về số lượng lẫn cơ cấu Có sự chuyển biến này là do huyện Nam Đàn cũng như các địa phương khác trong cả nước đang dần chuyển mình trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa của đất nước cũng như chịu sự tác động của áp lực tăng dân số ngày càng cao Diện tích đất ở và đất chuyên dùng luôn có xu hướng tăng theo thời gian với tốc độ tăng bình quân trong
3 năm qua là một con số khá lớn (đất ở tăng 5.44%, đất chuyên dùng tăng 4.83%)
Trang 32Biểu 3.1 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai
Trang 33Trong cơ cấu đất nông nghiệp của huyện thì đất sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất nhưng liên tục giảm qua 3 năm Sự giảm xuống của đất sản xuất nông nghiệp chủ yếu là do sự giảm xuống của diện tích đất trồng cây hàng năm (từ 1921,9ha năm 2007 xuống còn 1911,12ha năm 2009) Trong khi đó đất lâm nghiệp thì hầu như không thay đổi qua 3 năm Đó là do công tác giao đất, giao rừng được thực hiện tốt Ban quản lý đã thực hiện tốt công tác trồng, chăm sóc, khoanh nuôi và bảo vệ rừng, công tác phòng chống cháy rừng, kiểm kê quy hoạch 3 loại rừng và đã xây dựng quy hoạch tái tạo rừng Còn đất nuôi trồng thủy sản thì liên tục tăng lên Tốc độ tăng bình quân 3 năm là 39,93% Diện tích đất nuôi trồng thủy sản của huyện tăng lên là do ngày càng có nhiều trang trại được thành lập Các hộ đã chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ phân tán sang nuôi tập trung có quy mô lớn hơn, hình thành các trang trại, gia trại Nuôi cá được phát triển khá đa dạng trong những năm gần đây Các chính sách hỗ trợ phát triển của tỉnh, huyện như hỗ trợ chuyển đổi ruộng đất sang NTTS, hỗ trợ giá tôm giống, cá
rô phi đơn tính đã tạo điều kiện và khuyến khích phát triển nuôi cá tập trung thâm canh Ngoài ra việc đầu tư xây dựng hạ tầng nuôi cá ao hồ đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nuôi trồng
Như vậy về tình hình sử dụng đất đai của huyện đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp với quá trình CNH – HĐH của đất nước Sự chuyển dịch này theo xu hướng không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất của người dân
3.1.2.2 Tình hình dân số và lao động
Dân số và lao động là một trong những yếu tố quyết định quan trọng đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương Huyện Nam Đàn là một huyện nông nghiệp nên có nguồn lao động dồi dào
Trang 34Biểu 3.2 Tình hình dân số và lao động
III Tổng số lao động Người 98988 100 99426 100 100116 100 100,44 100,79 107,42
Trang 35Qua bảng 3.2 ta thấy tốc độ tăng bình quân của nhân khẩu qua 3 năm là 0,22% Điều này chứng tỏ huyện Nam Đàn đã và đang thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn hợp với đô thị hóa nông thôn theo hướng tiến bộ tích cực Trong 3 năm tốc độ tăng dân số bình quân của huyện khá thấp
so với những năm trước, điều đó cho thấy người dân trong huyện đã ý thức được vấn đề kế hoạch hóa gia đình Chất lượng dân số ngày càng được nâng lên, tuổi thọ bình quân được tăng dần Nhưng do ảnh hưởng của nhiều năm trước nên tốc
độ tăng lên của lao động trong huyện vẫn cao Tốc độ tăng bình quân của lao động qua 3 năm là 0,62% Đây là lực lượng lao động chính của huyện
Cơ cấu lao động trong thôn cũng có sự chuyển dịch theo hướng: Số lao động thuần nông ngày càng giảm Bình quân 3 năm lao động nông nghiệp giảm
là 0,9%, lao động kiêm tăng 2,32%, lao động phi nông nghiệp tăng 3,31% Nguyên nhân một phẩn là do ngành nghề, dịch vụ phát triển mạnh trong đó có nghề làm tương mang lại thu nhập cao nên các hộ có xu hướng chuyển sang ngành nghề, dịch vụ là chính Tuy đã có sự chuyển biến tích cực nhưng lao động chủ yếu của huyện vẫn là lao động thuần nông, trình độ tay nghề còn thấp
Ngoài việc hàng năm được bổ sung thêm lao động thì một thế mạnh của huyện Nam Đàn là tận dụng được nhiều lao động dư thừa ở các vùng lân cận, đặc biệt là lứa tuổi thanh niên Như vậy tình hình dân số và lao động của huyện biến động theo hướng; Số hộ tham gia sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm, số
hộ tham gia ngành nghề, dịch vụ ngày càng tăng Vì vậy, số lao động của huyện
đã chuyển dịch từ nông nghiệp sang hoạt động phi nông nghiệp
3.1.2.3 Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật
a, Giao thông
Hệ thống giao thông phân bố rải đều khắp lãnh thổ huyện, gồm có đường
bộ và đường thủy:
Trang 36+ Đường bộ
Việc quy hoạch và triển khai thực hiện mạng lưới giao thông đường bộ (bao gồm các tuyến tỉnh lộ, đường liên huyện, liên xã và các tuyến giao thông liên xóm) đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội của huyện Diện tích đường giao thông của huyện hiện nay là 1552,56ha
Các tuyến đường ô tô trên địa bàn huyện là 301,4km gồm:
- Quốc lộ 46 từ TP Vinh qua huyện dài 20km đã nâng cấp rải nhựa
- Quốc lộ 15A từ phía Nam (xã Kim Liên) lên phía Tây Bắc huyện (xã Nam Hưng) dài 36.6km, mặt đường đã được nâng cấp rải nhựa
- Tỉnh lộ 549 và 540 qua các xã Kim Liên và Nam Giang dài 8.7km đã được nâng cấp rải nhựa phục vụ du khách đến thăm quê Bác
- Các tuyến đường huyện tổng chiều dài 123 km đã được nâng cấp rải nhựa
- Đường giao thông nông thôn 1107km (đường xã, đường làng, đường ra đồng) hầu hết các tuyến đường đều được rải nhựa, bê tông, đá cấp phối đáp ứng khá tốt nhu cầu đi lại của nhân dân
c, Điện năng
Hệ thống phân phối điện được quan tâm đầu tư Đến nay có 1 trạm điện trung gian 35KVA, 153 trạm biến áp hạ thế, 153 km đường cao thế và 296 km
Trang 37đường hạ thế 0.4KV Mạng lưới điện quốc gia phủ kín 24/24 xã, thị trấn 100%
hộ gia đình có điện sinh hoạt
d, Giáo dục đào tạo
Mạng lưới trường lớp cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân Đến nay toàn huyện có 84 trường học, gồm 27 trường mầm non, 28 trường tiểu học,
21 trường THCS, 6 trường THPT, 1 trung tâm GDTX, 1 trung tâm bồi dưỡng chính trị, 1 trung tâm hướng nghiệp dạy nghề Ngoài ra còn có 24 trung tâm học tập cộng đồng Huyện đã được Bộ giao dục kiểm tra công nhận phổ cập giao dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS từ năm 2003, thực hiện tốt chương trình xóa mù chữ Tỷ lệ học sinh 6 tuổi đi học lớp 1 ổn định từ 99 – 100% Tỷ lệ huy động các cháu vào nhà trẻ năm 2009 đạt 63%, vào mẫu giáo đạt 95%, Năm học
2008 – 2009 học sinh tiểu học được công nhận hoàn thành chương trình: 98,1% trong đó giỏi 32%, khá 50% Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS năm 2008 – 2009
là 98,6%, tốt nghiệp THPT 91% Học sinh đậu vào các trường đại học cao đẳng hàng năm 1200 – 1300 em
e, Y tế
Mạng lưới y tế từ huyện đến cơ sở được cũng cố Các cơ sở y tế được xây dựng mới và nâng cấp Đến nay 24/24 xã thị trấn đã có trạm y tế kiên cố và bán kiên cố, 19/24 trạm y tế xã, thị trấn có bác sỹ, có 18/24 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế Tính đến năm 2009, số giường bệnh/vạn dân đạt 21,5 giường,
số bác sỹ/1 vạn dân đạt 3,1 bác sỹ Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm tương ứng từ 27% năm 2000 xuống 19% năm 2009
f, Thể dục thể thao
Hoạt động thể dục thể thao phát triển tốt Phong trào “thể dục, thể thao rèn luyện than thể” ngày càng thu hút nhiều người tham gia và trở thành nhu cầu không thể thiếu trong một bộ phận dân cư Đến nay có 5090 gia đình thể thao chiếm 13,1%
Trang 38tổng số hộ gia đình Quỹ đất dành cho lĩnh vực thể dục thể thao là 86,5ha, hầu hết các
xã đều có đất dành cho thể dục thể thao, các sân vận động và sân bóng chuyền
g, Văn hóa
Đến năm 2009 có 85% gia đình đạt GĐVH, 51,2% xóm và 4/24 xã = 16,7% xã đạt tiêu chí đơn vị văn hóa; có 290/330 xóm có nhà văn hóa và sân chơi thể thao, 20,24 xã có nhà văn hóa, 24/24 xã có sân vận động Huyện có nhà văn hóa, có 1 nhà thư viện và 1 sân vận động phục vụ tốt cho các hoạt động chung trên địa bàn
3.1.2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện.
Với mục tiêu khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực sẵn có (đất đai, lao động, tài nguyên, vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật) để đẩy nhanh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp - nông thôn, chuyển mạnh hướng sản xuất hàng hóa trong các thành phần kinh tế Trong những năm qua nền kinh tế Nam Đàn đã có những bước phát triển tương đối toàn diện Sản xuất hàng hóa đang có
xu hướng chuyển theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Dời sống nhân dân và cơ sở hạ tầng nông thôn đang từng bước hoàn thiện
Trang 39Biểu 3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện qua 3 năm
Trang 40Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện bao gồm các ngành: sản xuất nông nghiệp, CN - TTCN, TM – DV Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện qua 3 năm được thể hiện qua biểu 3.4: Nhìn chung tổng GTSX của huyện qua 3 năm tăng lên Sự tăng lên của tổng GTSX là do sự tăng lên của các ngành Nông – Lâm – Ngư, CN – TTCN và TM – DV.
Ngành Nông – Lâm – Ngư: Giá trị sản xuất ngành Nông – Lâm – Ngư ngày càng tăng qua các năm, tuy nhiên so với tổng GTSX chung thì nó lại chiếm ngày càng ít hơn TTCN và DV Trong cơ cấu ngành Nông – Lâm – Ngư thì ngành nông nghiệp trong cả 3 năm đều chiếm tỷ lệ cao hơn lâm nghiệp Cả nông nghiệp và lâm nghiệp đều tăng nhưng lâm nghiệp tăng mạnh hơn nông nghiệp Đặc biệt năm 2009 tỷ trọng nông nghiệp giảm còn tỷ trọng ngành lâm nghiệp thì tăng lên Đó là do người dân ngày càng có ý thức trồng rừng và bảo vệ rừng Hiện nay đã có 7211ha rừng, sản lượng nhựa thông khai thác năm 2009 đạt 421 tấn Trong cơ cấu ngành nông nghiệp thì ngành trồng trọt chiếm tỷ lệ thấp hơn Trong những năm qua ngành trồng trọt có xu hướng giảm Qua 3 năm cả trồng trọt, chăn nuôi và NTTS đều tăng nhưng với số lượng không đáng kể
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Nam Đàn là một huyện bán sơn địa của tỉnh Nghệ An, huyện có 24 xã và
1 thị trấn với vị trí địa lý và địa hình tương đối giống nhau Nam Đàn hầu như xã nào cũng có hộ làm tương, dựa vào số lượng, quy mô của các hộ làm tương trong các xã tôi tiến hành nghiên cứu đề tài trên 2 xã là thị trấn và xã Vân Diên Đây là 2
xã điển hình sản xuất tương, thị trấn có tới 60% sản xuất tương và Vân Diên có tới 50% sản xuất tương, vì vậy tôi muốn nghiên cứu thực trạng phát triển nông nghiệp cũng như nghề làm tương, vai trò của nghề làm tương đối với kinh tế nông nghiệp