Rừng cộng đồng là một kháiniệm cần làm rõ những nội dung: - Về quyền sở hữu: Theo Luật Bảo về và phát triển rừng thì các tổ chức cánhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘIKHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
-
-KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Quản lý rừng cộng đồng trong phát triển bền vững nông nghiệp
và phát triển nông thôn ở huyện Bá Thước – tỉnh Thanh Hóa
Tên sinh viên : Trương Thị Tuyết
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế nông nghiệp
Giảng viên hướng dẫn : Ths Đỗ Trường Lâm
HÀ NỘI - 2010
Trang 2MỤC LỤC Trang
Lời cảm ơn………i
Tóm tắt……….ii
Mục lục………vi
Danh mục bảng……….viii
Danh mục sơ đồ……… … ix
Danh mục các từ viết tắt……….x
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Khái niệm và những lý luận về cộng đồng, rừng cộng đồng, quản lý, quản lý rừng cộng đồng 4
2.1.2 Rừng và tác dụng của rừng đối với đời sống xã hội 10
2.1.3 Hệ thống và phát triển bền vững 12
2.1.4 Tiêu chí nhận biết quản lý rừng cộng đồng 14
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rừng cộng đồng 15
2.1.6 Các hình thức quản lý rừng cộng đồng 17
2.2 Cơ sở thực tiễn 19
2.2.1 Thực trạng quản lý rừng cộng đồng trên thế giới 19
2.2.2 Thực tiễn quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam 22
Trang 3PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
33
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 33
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 35
3.2 Phương pháp nghiên cứu 36
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 36
3.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 36
3.2.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin 37
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 41
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Thực trạng quản lý rừng cộng đồng trong phát triển bền vững nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Bá Thước 42
4.1.1 Cộng đồng tham gia quản lý rừng cộng đồng 42
4.1.2 Hiện trạng rừng của Bá Thước 67
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rừng cộng đồng 70
4.3.1 Đặc trưng của cộng đồng, tài nguyên rừng, rừng cộng đồng 70
4.3.2 Tác động của các yếu tố đến khả năng hưởng lợi từ rừng 73
4.3.3 Tác động của các yếu tố khách quan đến quản lý rừng 74
4.3.3 Tác động của các yếu tố nội tại bên trong cộng đồng 75
4.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng cộng đồng trong phát triển bền vững nông thôn 78
4.4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rừng trong phát triển bền vững nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Bá Thước 78
4.4.3 Một số giải pháp khác 85
PHẦN V KẾT LUẬN 88
5.1 Kết luận 88
5.2 Kiến nghị 90
5.2.1 Về mặt quản lý 90
5.2.2 Nhóm giải pháp về kinh tế 90
5.2.3 Nhóm giải pháp về kỹ thuật 90
Trang 45.2.3 Các giải pháp khác 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO
……… …92
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Tran
g
Bảng 2.1 Khái quát khái niệm quản lý rừng cộng đồng 10
Bảng 3.1: Cơ cấu sử dụng đất của huyện Bá Thước 35
Bảng 4.1 : Đặc trưng của cộng đồng tại Bá Thước 44
Bảng 4.2 : Trình độ văn hoá của chủ hộ thuộc các hộ điều tra 46
Bảng 4.3 : Đặc trưng của quản lý rừng cộng đồng tại ở Bá Thước 48
Bảng 4.4 : Tình hình thu nhập của các hộ nông dân điều tra 50
Bảng 4.5: Thông tin rừng cộng đồng tại một số khu vực của Bá Thước 59
Bảng 4.6: Khái quát mô hình quản lý bảo vệ rừng của cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng ở Bá Thước 61
Bảng 4.7: Hình thức tổ chức - Cơ cấu kiểm tra rừng cộng đồng ở Bá Thước .64
Bảng 4.8: Phương thức bảo vệ, chăm sóc và quyền sử dụng rừng trong rừng cộng đồng 66
Bảng 4.9 Hiện trạng chung về tài nguyên rừng ở Bá Thước 68
Bảng 4.10: Phân tích SWOT về tính khả thi các quy ước của cộng đồng quản lý rừng 80
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1: Mô hình phân tích quản lý tài nguyên rừng cộng đồng (Thomson J.T., Freudenberger K.S, 1997) 39
Sơ đồ 2: Sơ đồ đánh giá rừng cộng đồng RECOFTC(1998) 40
Sơ đồ 3: Mối qua hệ tương tác giữa các hợp phần chủ yếu của mô hình nông lâm kết hợp của huyện Bá Thước 53
Sơ đồ 4: Sơ đồ 3 phương diện quản lý rừng (Messerschmidt và nnk, 1996)
Trang 7Tổ chức lương thực của Liên Hiệp QuốcQuản lý rừng dựa vào cộng đồng
Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giớiGiao đất giao rừng
Phát triển nông thônTrung tâm vì con người và rừngĐiểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thứcVườn - ao - chuồng - rừng
Quản lý bảo vệ rừngChủ tịch
Trang 8PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, Việt Nam có 3 hình thức quản lý rừng đó là quản lý theo nhànước, quản lý rừng cộng đồng và quản lý tư nhân, thực tiễn phát triển lâmnghiệp trên thế giới đã diễn ra quá trình thay thế đan xen 3 loại hình quản lýrừng, mỗi loại có những đặc trưng riêng Cùng với quản lý rừng nhà nước,chính sách giao đất giao rừng đã tạo môi trường cho sự phát triển của quản lý
tư nhân Sự phát triển của hai hình thức đó càng thúc đẩy sự suy vong củaquản lý rừng cộng đồng Nhưng rừng cộng đồng vẫn còn tồn tại và phát triển,chính sự tồn tại của một số khu rừng cộng đồng đó đã cho thấy hình thứcquản lý rừng cộng đồng có những ưu điểm nhất định
Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33,12 triệu ha, trong đó có tới2/3 diện tích đất lâm nghiệp Trong thế kỷ qua Việt Nam đã mất đi một lượnglớn tài nguyên rừng, diện tích còn lại cũng liên tục giảm mạnh Cho đến naydiện tích rừng bị chặt phá, bị cháy và suy thoái vẫn chưa được ngăn chặn.Người Việt Nam từ xưa đến nay vẫn thường hay nói: “Rừng vàng biển bạc”nhưng thực tế bao đời nay người dân sống gần vàng lại là người nghèo khổ
Sự suy thoái tài nguyên rừng, đặc biệt là chất lượng rừng đang đẩy xa nhữngngười dân nghèo ra khỏi tầm thụ hưởng các nguồn tài nguyên Chính điều đó
đã tạo cho sự phân cực giàu nghèo ngày càng sâu sắc và tiềm ẩn yếu tố không
ổn định trong nông thôn miền núi Việt Nam Từ thực tế này đòi hỏi chính phủViệt Nam phải có những phương thức quản lý rừng, những chính sách giaođất, giao rừng nhằm giúp người dân có cuộc sống ổn định, gắn bó với rừng để
Trang 9Thực tế Việt Nam đã chỉ ra rằng quản lý rừng cộng đồng có vị trí và vaitrò trong phát triển lâm nghiệp, tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển của hìnhthức quản lý này Ở huyện Bá Thước - tỉnh Thanh Hóa nói riêng thì hình thức quản
lý này vẫn là hình thức chủ yếu của các hộ nông dân sống gần vùng miền núi
Tuy hình thức quản lý rừng cộng đồng có vai trò nhất định nhưng hệthống quản lý này đã và đang bị lãng quên nên đã bộc lộ một số vấn đề cầngiải quyết như:
- Sự quản lý của các chủ thể tham gia như thế nào?
- Các cơ chế chính sách của việc quản lý rừng cộng đồng ở huyện?
- Hiệu quả đem lại từ hình thức quản lý này?
- Sự hưởng lợi của người dân như thế nào?
Xuất phát từ tầm quan trọng, tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn đối với
xu hướng phát triển bền vững hiện nay, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Quản lý rừng cộng đồng trong phát triển bền vững nông nghiệp và phát triển nông thôn ở huyện Bá Thước - tỉnh Thanh Hóa"
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng quản lý rừng cộng đồng trong pháttriển bền vững nông nghiệp và phát triển nông thôn, đề xuất các giải phápnâng cao hiệu quả quản lý rừng của huyện Bá Thước - tỉnh Thanh Hóa
Trang 10phát triển bền vững nông nghiệp và phát triển nông thôn.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề quản lý rừng cộng đồng với chủ thể làcộng đồng dân cư, cơ quan quản lý rừng của huyện Bá Thước - tỉnh Thanh Hóa
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Một số khu vực của huyện Bá Thước - tỉnh Thanh Hóa
- Thời gian: Thông tin thứ cấp được thu thập từ năm 2007 đến năm
2009, số liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2009
- Về nội dung: Nghiên cứu phân tích thực trạng và giải pháp quản lýrừng cộng đồng trong phát triển bền vững nông nghiệp và phát triển nôngthôn tại huyện Bá Thước
Trang 11PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Do đó, cộng đồng có thể là một làng, một xã, hay một huyện…
Ở Việt Nam khái niệm cộng đồng được dùng nhiều trong lĩnh vực quản
lý tài nguyên rừng có thể khái quát thành hai quan điểm sau:
Thứ nhất, cộng đồng là một tập hợp những người sống gắn bó với nhauthành một xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về mặt văn hoá, kinh tế, xãhội, truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đờisống gắn bó với nhau và thường có ranh giới không gian trong một thôn bản.Theo quan điểm này, cộng đồng chính là “cộng đồng dân cư thôn bản”
Thứ hai, cộng đồng được dùng trong quản lý tài nguyên rừng chính lànói đến các nhóm người có các mối quan hệ sản xuất và đời sống gắn bó vớinhau Theo quan niệm này, “cộng đồng” có thể là cộng đồng toàn làng bản;cộng đồng sắc tộc trong thôn; cộng đồng các dòng họ hoặc các nhóm hộ.Thậm chí có ý kiến còn cho rằng các hợp tác xã, các tổ chức chính trị - xã hội,các tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở cấp làng bản cũng được coi là một loạihình của cộng đồng
Cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân, sống trong
Trang 12cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu “cộng đồng” theo thực tế xã hội nước ta
có thể được hiểu chung nhất là bao gồm toàn thể những người sống thành một
xã hội có những điểm giống nhau và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mặc
dù có những quan niệm khác nhau về cộng đồng, nhưng phần lớn các ý kiếnđều cho rằng thuật ngữ “cộng đồng” được dùng trong trong quản lý tàinguyên rừng chính là nói đến cộng đồng dân cư làng bản Trong khuôn khổnghiên cứu của đề tài cộng đồng được hiểu theo quan điểm thứ hai
2.1.1.2 Rừng cộng đồng
Rừng cộng đồng đã có và tồn tại từ bao đời nay, nhưng về phương diệnkhoa học thì chỉ mới được các nhà khoa học nhận diện đầu tiên vào nhữngnăm đầu thập kỷ 70, từ đó khái niệm rừng cộng đồng (CommunityForest_CF) cũng xuất hiện Rừng cộng đồng là rừng của thôn đã được quản lýtheo truyền thống trước đây, rừng của các hợp tác xã, rừng tự nhiên đã đượcgiao khoán cho các hợp tác xã trước đây mà sau khi chuyển đổi hoặc giải thể,hợp tác xã đã giao lại cho các xã hoặc các thôn quản lý Những diện tích này
có thể nhà nước chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cộng đồng,song trên thực tế, mặc nhiên cộng đồng đang tự tổ chức quản lý, sử dụng vàhưởng lợi từ những khu rừng đó Để nhận biết được đâu là rừng cộng đồng, ởnơi nào có rừng cộng đồng và xây dựng các khái niệm, phương thức liên quanđến quản lý rừng cộng đồng (Community Forest Management_CFM ) cầnphải có khái niệm rõ ràng về rừng cộng đồng Rừng cộng đồng là một kháiniệm cần làm rõ những nội dung:
- Về quyền sở hữu: Theo Luật Bảo về và phát triển rừng thì các tổ chức cánhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để pháttriển rừng Nhà nước thống nhất quản lý và định đoạt đối với rừng tự nhiên vàrừng được phát triển bằng vốn Nhà nước, rừng do Nhà nước nhận chuyển quyền
sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng từ các chủ rừng; động vật rừng sống, hoang
Trang 13dã; vi sinh vật rừng; cảnh quan, môi trường rừng Rừng trồng thuộc sở hữu củangười đã đầu tư công sức để trồng nên khu rừng đó.
- Về quyền Sử dụng rừng và đất lâm nghiệp: Chủ rừng được đăng kýquyền sử dụng rừng là rừng trồng Chủ rừng được thực hiện những hành vinhất định để quản lý, sử dụng, khai thác những lợi ích của rừng và đất lâmnghiệp đựơc giao hay được khoán bảo vệ
- Về quyền định đoạt: Về đất lâm nghiệp tất nhiên thuộc về nhà nước,
vì đất thuộc sở hữu của Nhà nước, nhưng quyền định đoạt rừng cây tuỳ thuộcvào quyền sở hữu rừng cây của cộng đồng
- Về quyền hưởng lợi: Cộng đồng được hưởng lợi từ rừng và đất lâmnghiệp đúng như quy định của Nhà nước Đối với rừng do cộng đồng nhậnkhoán bảo vệ từ các tổ chức thì quyền hưởng lợi của cộng đồng được hưởngtheo quy định của hợp đồng khoán
Tóm lại, rừng cộng đồng là những khu rừng mà những chủ thể quản lýrừng là cộng đồng có nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng như một chủrừng thực sự
2.1.1.3 Quản lý
Quản lý được xem là quá trình “tổ chức và điều khiển các hoạt độngtheo những yêu cầu nhất định”, đó là sự kết hợp giữa tri thức và lao động trênphương diện điều hành Dưới góc độ chính trị: Quản lý được hiểu là hàngchính, là cai trị; nhưng dưới góc độ xã hội: quản lý là điều hành, điều khiển,chỉ huy Dù dưới góc độ nào đi chăng nữa, quản lý vẫn phải dựa những cơ sở,nguyên tắc đã được định sẵn và nhằm đạt được hiệu quả của việc quản lý, tức
là mục đích của quản lý
Quản lý là sự tác động có mục đích đã được đề ra theo đúng ý chí củachủ thể quản lý đối với các đối tượng chịu sự quản lý Theo quan niệm này thìquản lý phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và
ít nhất một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể
Trang 14quản lý tạo ra và các khách thể khác chịu sự tác động gián tiếp từ chủ thểquản lý.
Tóm lại, quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quátrình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng cho hệthống hay quá trình ấy vận động theo đúng ý muốn của người quản lý nhàmđạt được mục đích đã đặt ra từ trước Là yếu tố thiết yếu quan trọng, quản lýkhông thể thiếu được trong đời sống xã hội Xã hội càng phát triển thì vai tròcủa quản lý càng lớn và nội dung càng phức tạp
Muốn quản lý thành công trước tiên phải xác định rõ chủ thể, đối tượng
và khách thể quản lý Phải có định hướng đúng để xác định đúng mục tiêu,đây là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động Chủ thể phải biết tác động, phảihiểu đối tượng và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả
2.1.1.4 Quản lý rừng cộng đồng
Khái niệm quản lý rừng cộng đồng đã được đề cập hàng thập kỷ naynhưng thực tế vẫn chưa có một định nghĩa trọn vẹn về vấn đề này Nhìn nhậnmột cách tổng quát và chung nhất thì quản lý rừng cộng đồng đề cập đếnnhững hoạt động của cộng đồng nhằm hướng tới việc quản lý và sử dụng bềnvững nguồn tài nguyên rừng
Trên thế giới khái niệm quản lý rừng cộng đồng lần đầu tiên được tổchức FAO (Food and Agriculture Ograzination: Tổ chức lương thực thế giới)đưa ra vào năm 1978 đó là “tất cả các hoạt động lâm nghịêp mà cộng đồngngười dân tham gia, bao gồm những hoạt động nhỏ lẻ ở các khu vườn, đến thuhái các sản phẩm lâm nghiệp cho nhu cầu cuộc sống của người dân và đếnviệc trồng cây ở các trang trại cây hàng hoá, sản xuất chế biến các sản phẩmlâm nghiệp ở quy mô hộ gia đình, hợp tác xã để tăng thu nhập cho nhữngcộng đồng sống trong rừng” Tổ chức Fern (2005) đã đưa ra một khái niệm côđọng và đơn giản hơn đó là “quản lý rừng cộng đồng là tiến trình quản lý, bảo
vệ và phát triển rừng dựa vào những kiến thức bản địa, cấu trúc truyền thống,
Trang 15những lễ hội và luật tục của cộng đồng” Các hoạt động quản lý rừng cộngđồng bao gồm cả các hoạt động của cá nhân và của cả cộng đồng liên quanđến rừng, quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Ở Việt Nam hiện nay cũng có những quan điểm khác nhau về quản lýrừng cộng đồng và chưa có một định nghĩa chính thức nào được công nhận.Tuy nhiên, qua các cuộc hội thảo dường như mọi người đều thống nhất ở ViệtNam có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa củaFAO như sau:
- Thứ nhất, quản lý rừng cộng đồng là hình thức mà mọi thành viên củacộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ nhữngkhu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc thuộcquyền sử dụng chung của cộng đồng
Như vậy, thực chất “quản lý rừng cộng đồng” là cộng đồng dân cư thônquản lý rừng thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộngđồng, được hình thành chủ yếu thông qua chính sách giao đất giao rừng chocộng đồng dân cư thôn
Tóm lại, hình thức quản lý này bao gồm các đối tượng chính sau:
+ Cộng đồng trực tiếp quản lý những diện tích rừng hoặc những đámcây gỗ lâu đời
+ Cộng đồng trực tiếp quản lý những khu rừng được nhà nước giao + Các hoạt động mang tính chất lâm nghiệp khác do cộng đồng tổ chứcphục vụ lợi ích trực tiếp cho cộng đồng
-Thứ hai là quản lý rừng dựa vào cộng đồng (Community Based forestMângêmnt –CBFM)
Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng khôngthuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý,
sử dụng, sở hữu của các thành phần kinh tế khác nhưng có quan hệ trực tiếpđến đời sống, việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi ích khác của
Trang 16cộng đồng (thuỷ lợi nhỏ, nước sinh hoạt…).
Hình thức này có thể chia thành hai đối tượng:
+ Rừng của hộ gia đình, cá nhân là thành viên trong cộng đồng cộngđồng tham gia quản lý với tính chất hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, chia sẻ lợi íchcùng nhau trên cơ sở tự nguyện (tạo thêm sức mạnh để bảo vệ rừng, hỗ trợhoặc đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp…)
+ Rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu, các tổ chức nhà nước(các ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, các lâm trường, công ty lâmnghiệp Nhà nước, các trạm trại …) và các tổ chức tư nhân khác Cộng đồngtham gia các hoạt động lâm nghiệp như bảo vệ, khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh,phục hồi rừng, trồng rừng với tư cách là người làm thuê thông qua các hợpđồng khoán và hưởng lợi theo các cam kết trong hợp đồng
Như vậy, quản lý rừng cộng đồng là việc đưa cộng đồng vào quản lý,bảo vệ, sử dụng rừng vào đất lâm nghiệp Quản lý rừng cộng đồng một cáchtiếp cận để đạt được mục tiêu bảo vệ nguồn tài nguyên rừng hiện có và chophép người dân địa phương có quyền quản lý sử dụng lâu dài các nguồn tàinguyên rừng, lợi ích thu được thuộc về người dân và sử dụng cho phát triểncủa cộng đồng
Tóm lại, từ những khái niệm trên ta thấy CFM bao hàm các nội dungđược khái quát:
Trang 17Bảng 2.1 Khái quát khái niệm quản lý rừng cộng đồng
- Kỹ thuật mới được phổ cập
- Pháp luật mới được phổ cập
- Pháp luật và chính sách của nhà nước
4 - Phân chia lợi ích - Hưởng lợi theo các quy ước cộng đồng thống nhất
- Tuỳ theo sự đóng góp công sức của mọi người
2.1.2 Rừng và tác dụng của rừng đối với đời sống xã hội
2.1.2.1 Một số vấn đề cơ bản về rừng
Rừng là một hệ thống phức tạp được nhiều môn khoa học nghiên cứu
và đưa ra những khái niệm khác nhau, có thể tìm hiểu một số khái niệm sau:
Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản củasinh quyển địa cầu
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vậtrừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây
gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ củatán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừngsản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
2.1.2.2 Tác dụng của rừng đối với đời sống xã hội
Rừng được ví như lá phổi xanh của trái đất, rừng có vai trò quan trọngđối với xã hội về mặt kinh tế cũng như về môi trường Rừng cung cấp các sảnphẩm gỗ, củi và các loại lâm sản đặc sản quý hiếm Rừng có tác dụng to lớnđối với môi trường sống của con người Cụ thể:
Trang 18- Rừng có vai trò quan trọng đối với khí hậu, thời tiết, có chức năngđiều hoà khí hậu, làm sạch không khí, phòng chống ô nhiễm.
và xã hội vì rừng là một phần của xã hội và là hoàn cảnh của đời sống xã hội.Trong thực tế mọi thứ cần thiết cho sự tồn tại của con người như thức ăn,dược liệu, quần áo, các nguyên liệu xây dựng nhà cửa, đồ dùng hàng ngày…đều phải lấy từ rừng Tất cả những vật chất, vật liệu đó đều là kết quả tươngtác giữa 2 nhân tố chủ yếu là lao động của con người và vật chất từ rừng Laođộng của con người là điều kiện tiền đề cơ bản của đời sống xã hội, nó khôngthể tách rời với tài nguyên rừng
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, khối lượng sản xuất vậtchất cũng được tăng lên qua các chu kỳ kinh doanh Do vậy mà tác động củacon người và xã hội đến rừng ngày càng tăng
Rừng là một bộ phận tài nguyên mà đặc điểm của chúng quyết định đếnđặc điểm của nhiều bộ phận tài nguyên khác, chúng có ý nghĩa nhất định đối
Trang 19với sự tồn tại của thiên nhiên nói chung và con người nói riêng, chúng cũng
dễ bị biến đổi nhất dưới những tác động của con người và có nhu cầu khẩnthiết nhất về quản lý hiệu quả
Xã hội ngày càng phát triển, vai trò của rừng ngày càng trở nên vô giá.Rừng còn có giá trị cảnh quan, làm tăng thêm vẻ đẹp cho non sông, đất nước.Rừng là nơi thăm quan, nghỉ mát, du lịch, rừng và cảnh quan của rừng có thểlàm tăng sức khoẻ con người
2.1.3 Hệ thống và phát triển bền vững
2.1.3.1 Hệ thống
Hệ thống là gì? Hệ thống là cái gì đó nhiều bộ phận liên hệ với nhau
“Hệ thống là một tập hợp những quan hệ tồn tại dai dẳng với thời gian” (Nei
L Jamíeon) Đây là một cách định nghĩa hữu ích về hệ thống Thuật ngữ hệthống được sử dụng để nói đến bất cứ một tập hợp yếu tố nào có liên quan vớinhau Tuy nhiên, bản thân hệ thống không phải là con số cộng các bộ phận của
nó, mà là các bộ phận cùng hoạt động, những bộ phận có thể cùng hoạt độngtheo nhiều cách khác nhau để sản sinh ra những kết quả nhất định Những kếtquả này là sản phẩm của những liên hệ giữa những bộ phận của hệ thống màkhông phải là kết quả trực tiếp của một bộ phận nào đó trong hệ thống
Có rất nhiều loại hệ thống, có những hệ thống tự nhiên và hệ thốngnhân tạo, có những hệ thống kín và hệ thống mở, đặc biệt có rất nhiều hệthống phức tạp, những hệ thống phức hợp có những xu hướng được tổ chức
có thứ bậc trên dưới, chúng ta cần biết rõ chúng ta đang nghiên cứu ở cấp bậcnào của hệ thống Điều này rất quan trọng trong việc nghiên cứu những hệthống sinh vật học và những hệ thống xã hội
2.1.3.2 Hệ thống phát triển
Chính vì vậy khi chúng ta nghiên cứu về tài nguyên, đặc biệt là tàinguyên rừng chúng ta phải nhớ rằng một bộ phận quan trọng của một vấn đềtrong một hệ thống sinh vật có thể chuyển hoá vào hệ thống xã hội và có khi
Trang 20những vấn đề xã hội lại được bắt nguồn từ hệ thống sinh học Những vòngnhân quả có thể vận động từ cấp cao xuống cấp thấp hoặc ngược lại trong trật
tự trên dưới của cùng một hệ thống Do đó buộc ta phải tập trung cao độ ởmột số điểm chính xong đồng thời tư duy phải uyển chuyển
2.1.3.3 Phát triển bền vững
Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồnThiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơngiản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh
tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đếnmôi trường sinh thái học”
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáoBrundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Futur) của Ủy ban Môi trường
và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Uỷ ban Brundtland) Báo cáo này ghi
rõ: Phát triển bền vững là: “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai ” Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm
có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo
vệ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầmquyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dunghòa 3 lĩnh vực chính: Kinh tế - Xã hội - Môi trường
Việc thoả mãn các nhu cầu và các khát vọng của con người là mục tiêuchủ yếu của sự phát triển Các nhu cầu chính yếu (ăn, mặc, ở, việc làm) của đa
số dân ở các nước đang phát triển đều chưa được thoả mãn và ngoài các nhu cầu
cơ bản, những người dân đó còn có khát vọng chính đáng đối với chất lượngcuộc sống Một thế giới trong đó nghèo và bất công là cố hữu thì sẽ luôn gánhchịu khủng hoảng về sinh thái và các khủng hoảng khác, phát triển bền vững đòihỏi sự thoả mãn các nhu cầu cơ bản của mọi người và mở rộng cho mọi người
Trang 21có cơ hội được thoả mãn các khát vọng về cuộc sống tốt đẹp hơn.
Xét về tổng thể trong quy luật phát triển tự nhiên của trái đất thì đất rừng
và độ phì nhiêu của nó hàng ngày được cung cấp một lượng sinh khối hữu cơ từxác thực vật rừng Nếu như không bị tàn phá thì đất rừng sẽ ngày càng tốt lên.Điều đó cũng có nghĩa cây rừng cũng càng ngày càng tốt lên, lâm sản được tíchluỹ, nguồn nước được duy trì và môi trường sinh thái được bảo vệ
Như vậy, nếu như không có sự tác động của các hoạt động của conngười thì rừng không thể không tồn tại mà ngày càng phát triển Điều đó cónghĩa rằng yếu tố con người chính là mấu chốt quyết định sự phát triển bềnvững hay suy thoái tài nguyên rừng
Ở mức tối thiểu, phát triển bền vững phải tránh nguy hại cho các hệthống thiên nhiên phục vụ sự sống trên trái đất, khí quyển, đất, nứơc và cácsinh vật…
Xét về bản chất, phát triển bền vững là một quá trình của sự thay đổi,trong đó việc khai thác các tài nguyên, quản lý đầu tư vốn, hướng phát triểncông nghệ và sự thay đổi thể chế đều có sự hài hoà toàn bộ và nâng cao cảtiềm năng hiện tại và tương lai nhằm thoả mãn các nhu cầu và khát vọng củacon người
2.1.3.4 Phát triển nông thôn
Dưới góc độ quản lý: Phát triển nông thôn là quá trình cải thiện có chủ
ý các hoạt động kinh tế xã hội môi trường cho người dân nông thôn Quá trìnhnày trước hết là cho người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhànước và các tổ chức khác
2.1.4 Tiêu chí nhận biết quản lý rừng cộng đồng
Tiêu chí về CFM được xây dựng dựa trên cơ sở khái niệm CFM Do cónhững quan niệm khác nhau về CFM nên có những ý kiến khác nhau về tiêuchí nhận biết CFM, tuy nhiên có thể khái quát một số tiêu chí chính như sau:
Quyền sử dụng đất và quyền sử dụng rừng thuộc về cộng đồng: Đây là
Trang 22một trong những tiêu chí quan trọng nhất để xác lập rừng cộng đồng.
Rừng cộng đồng chủ yếu đáp ứng các yêu cầu của cộng đồng cả về sảnphẩm, môi trường sinh thái và xã hội: Nhu cầu gỗ gia dụng của cộng đồngdân cư thôn, đặc biệt là những thôn, bản ở vùng sâu vùng xa, nơi kinh tế chưaphát triển Đó là nhu cầu thiết yếu như gỗ và lâm sản để làm nhà mới, sửachữa lớn nhà cửa, củi, măng, chăn thả gia súc Cộng đồng dân cư thôn có nhucầu sử dụng một số khu rừng vì lợi ích chung của cộng đồng như bảo vệnguồn nước, rừng gỗ quý, rừng thiêng, rừng ma gắn liền với phong tục tậpquán, tín ngưỡng của các đồng bào dân tộc
CFM được thực hiện chủ yếu thông qua sử dụng các nguồn lực sẵn cócủa cộng đồng kết hợp với sự hỗ trợ của nhà nước: Đây là tiêu chí quan trọng
để phân biệt rừng của cộng đồng với rừng của các tổ chức kinh tế khác Phầnlớn các cộng đồng sử dụng nguồn lao động của chính cộng đồng để bảo vệ vàphát trỉên rừng
CFM bằng những quy ước, hương ước được xây dựng với sự tham giacủa toàn thể cộng đồng và được cơ quan thẩm quyền chấp nhận Thôn, bảnmuốn quản lý được rừng của mình phải dựa vào pháp luật của nhà nước, nhucầu của cộng đồng, trình độ dân trí để soạn thảo và ban hành quy ước, hươngước quản lý và bảo vệ rừng thôn Nội dung quy ước, hương ước quy địnhquyền lợi và nghĩa vụ của mọi thành viên cộng đồng trong việc bảo vệ và pháttriển rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển gỗ và lâm sản trong quá trình bảo
vệ và phát triển rừng cộng đồng
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rừng cộng đồng
2.1.5.1 Các yếu tố bên ngoài tác động đến quản lý rừng cộng đồng
Nhóm yếu tố tự nhiên bao gồm các yếu tố: đất đai, khí hậu, địa hình,các nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào sẵn có tác động tích cực đến việchuy động người dân tham gia vào các hoạt động lâm nghiệp; điều kiện sảnxuất khó khăn, môi trường suy thoái…cản trở sự tham gia của người dân
Trang 23Nhóm yếu tố kinh tế thị trường bao gồm các yếu tố: Cơ cấu ngànhnghề, mức sống của người dân, nhu cầu lâm sản, cơ sở hạ tầng, hệ thống sảnxuất, giao lưu kinh tế, thị trường sản phẩm…Nhóm yếu tố này tạo ra các điềukiện và sự hỗ trợ cho người dân tham gia vào các hoạt động của cộng đồng cóthể thực hiện thông qua các hình thức sau:
- Can thiệp thông qua hệ thống pháp luật và chính sách
- Can thiệp thông qua hệ thống hỗ trợ, khuyến khích và dịch vụ
- Can thiệp thông qua việc nâng cao dân trí và nhận thức cho người dân.Nhóm yếu tố văn hoá – xã hội bao gồm các yếu tố: Tập quán sản xuấttruyền thống lâu đời như du canh, du cư, luật lệ cổ truyền, phương thức sửdụng sản phẩm rừng, cấu trúc và chức năng của gia đình, trình độ văn hoá, sựnghèo khổ, thiếu việc làm; thể chế chính trị, quyền tự do dân chủ, bình đẳngnam nữ, dân tộc…tác động đến ý thức và sự tự giác của người dân vào cáchoạt động lâm nghiệp
2.1.5.2 Các yếu tố bên trong cộng đồng
Tập quán quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên của dân tộc nhưcác tập tục canh tác truyền thống lâu đời, các kỹ thuật canh tác truyền thống,những luật lệ cổ truyền, phương thức sử dụng sản phẩm rừng
Lịch sử và hoàn cảnh hình thành nơi cư trú của cộng đồng: Nhiều cộngđồng sống trong và gần rừng đã có truyền thống quản lý rừng cộng đồng từlâu đời, cuộc sống của họ dựa vào rừng là chủ yếu, nguồn thu từ rừng khôngthể thiếu được đối với họ hàng ngày Vấn đề này đã tác động không nhỏ tớiviệc bảo vệ và phát triển rừng Người dân và cộng đồng địa phương đó có thểtrở thành nhân tố tích cực trong việc quản lý rừng cộng đồng nếu có các chínhsách hợp long dân ngược lại họ có thể là nhân tố tác động xấu tới rừng
Nhu cầu của cộng đồng về phòng hộ môi trường và lâm sản: bản thânmỗi cộng đồng cũng có những sức ép nội tại như nhu cầu phát triển cộngđồng, đời sống kinh tế xã hội, nguồn nước, việc làm, công nghệ, nhu cầu gỗ
Trang 24và lâm sản phục vụ cho việc xây dựng nhà ở, chuồng trại chăn nuôi, xây dựngcác công trình phục vụ cho nội bộ cộng đồng.
2.1.6 Các hình thức quản lý rừng cộng đồng
Trên thực tế để có một định nghĩa chính xác có thể phản ánh đầy đủ vềthực tế của việc quản lý rừng cộng đồng là không có bởi vì mỗi một địaphương khác nhau thì điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội ở mỗi nơi mộtkhác nhau vì vậy mà các hình thức quản lý rừng cộng đồng là khác nhau.Ngoài ra, trong quá trình tham gia quản lý rừng cộng đồng nó liên quan đếnrất nhiều các bên tham gia như các nhà lập định chính sách, các tổ chức chínhphủ, phi chính phủ, các cơ quan tài trợ và các nhà khoa học Sự tham gia củacác tác nhân này ít nhiều cũng ảnh hưởng đến tiến trình quản lý, bảo vệ rừng.Tuy nhiên có thể khái quát trong các hình thức chủ yếu sau:
Hình thức tổ quản lý rừng theo dòng tộc (dòng họ), theo dân tộc
Cộng đồng tham gia quản lý rừng và đất rừng theo dòng tộc, theo dântộc nơi có diện tích rừng và đất rừng nhỏ, gần nơi cư trú của các cộng đồng(rừng ma, rừng thiêng, rừng mó nước…)do họ tự thừa nhận hay đã mặc nhiêncông nhận từ các thế hệ trước Công tác tổ chức quản lý và bảo vệ luôn gắn
bó chặt chẽ với những tập quán truyền thống và hệ tư tưởng của cộng đồng,vai trò của người trưởng họ hoặc già làng rất quan trọng Hầu hết các côngviệc quản lý của họ đều có sự phân công rõ ràng, các thành viên thực hiện tựgiác và nghiêm túc
Hình thức tổ chức quản lý rừng theo thôn, bản, làng, buôn, ấp
Hiện nay, hình thức quản lý rừng theo hình thức này là khá phổ biếncủa các vùng Hình thức này dựa trên cơ sở vị trí địa lý và khu vực của ngườidân sinh sống Phần lớn các thôn đều xây dựng các quy ước, hương ước quản
lý và bảo vệ rừng theo các hình thức riêng của cộng đồng Theo hình thức nàythì trưởng thôn có trách nhiệm điều hành các công việc chung liên quan đếnbảo vệ rừng cộng đồng
Trang 25Đi sâu nghiên cứu cho thấy, mức độ tham gia của cộng đồng vào việcbảo vệ và phát triển rừng có thể chia thành 3 mức:
Thứ nhất, cộng đồng dân cư tham gia tích cực và có tiếng nói quyết
định trong việc lập kế hoạch sử dụng đất, quản lý rừng thôn, xây dựng quyước quản lý, bảo vệ và sử dụng rừng Cộng đồng có thu nhập từ rừng để lậpquỹ bảo vệ rừng, không nhận tiền hỗ trợ của Nhà nước
Thứ hai, cộng đồng xây dựng kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất, quy
ước quản lý bảo vệ rừng nhưng mức độ tham gia của các thành viên trongcộng đồng chưa đồng đều, vẫn nhận sự hỗ trợ của Nhà nước
Thứ ba, cộng đồng chưa có quy ước bảo vệ rừng, chưa có kế hoạch sử
dụng đất và quản lý rừng hoặc đã có những còn sơ sài, việc xây dựng quy ướcchỉ là hình thức, chiếu lệ, không được triển khai trong thực tế Cộng đồngquản lý rừng một cách đơn giản, hầu như không có tác động bằng các giảipháp lâm sinh vào rừng, chủ yếu là tuần tra bảo vệ rừng Rừng cộng đồng vẫn
bị xâm lấn hoặc khai thác trái phép
Hình thức quản lý rừng theo nhóm hộ, nhóm sở thích
Đây là hình hình thức hiện nay đang có xu hướng phát triển Trước đây
ở miền bắc hầu như không có Hiện nay do chính sách giao rừng và đất rừng,một số khu rừng mà những mảnh rừng liền nhau rất khó giao, đã được giaocho nhóm hộ Nhóm hộ có thể hình thành từ một số hộ gia đình cư trú liềnnhau trong phạm vi một thôn, một xóm hoặc gồm một số hộ gia đình có quan
hệ huyết thống hoặc họ hàng; cũng có trường hợp là những cá nhân cùng lứatuổi, cùng có mong ước được tham gia quản lý rừng Nhóm hộ này tự phâncông để bảo vệ rừng, có thể cả nhóm cùng tham gia tuần tra rừng hàng ngày,hàng tuần hoặc luân phiên nhau; một số nhóm hộ có rừng gần nhau liên kếtbảo vệ rừng
2.2 Cơ sở thực tiễn
Trang 262.2.1 Thực trạng quản lý rừng cộng đồng trên thế giới
Trên thế giới các dự án phát triển rừng cộng đồng được mở rộng vàonhững thập kỷ 80 với các vùng như Ấn Độ, Nêpanl Tên gọi về rừng cộngđồng cũng có những thay đổi khác nhau như cùng quản lý rừng, lâm nghiệp
xã hội, quản lý rừng dựa vào cộng đồng…Tuy nhiên về bản chất của các hoạtđộng quản lý cộng đồng vẫn không thay đổi, đó là quá trình lấy người dânlàm trung tâm quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Cuối những năm 80 và thập
kỷ 90 các nhà khoa học tập trung nhiều hơn về nghiên cứu thể chế trong quản
lý rừng cộng đồng, kể cả những thể chế truyền thống và thể chế của nhà nước,nhằm tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển rừng cộng đồng Trong giaiđoạn này các khái niệm về quyền sở hữu được đưa ra để thảo luận một cáchrộng rãi, bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân, sở hữu cộng đồng và sửdụng tự do Đã có lúc khái niệm rừng cộng đồng bị phê phán một cách kịchliệt theo cách nhìn nhận của Hardin (1968) trong “bi kịch của sở hữu chung”rằng phương thức sở hữu cộng đồng về rừng là đồng nghĩa với sử dụng tự do
Đó là hình thức sử dụng mà mọi thành viên đều muốn lợi dụng của chung đểtối đa hoá lợi ích cho mình, vì thế rừng bị khai thác một cách kiệt quệ Mặc
dù vậy, cho đến nay quản lý rừng cộng đồng đã được chấp nhận rộng rãi và
nó được xem như là một chiến lược quan trọng trong quản lý, bảo vệ và pháttriển tài nguyên rừng
Về vai trò của rừng cộng đồng Arnold (1978) đã nhấn mạnh rằng rừngcộng đồng phải là một hợp phần không thể thiếu trong phát triển nông thôn,
mà mục tiêu chủ yếu là giúp đỡ những cộng đồng nghèo tự duy trì và pháttriển cuộc sống của họ…vì thế, rừng cho phát triển cộng đồng phải là rừngcủa người dân, cho người dân và phải có sự tham gia của người dân trongquản lý và phát triển
Herb(1991) đã lập luận ủng hộ quản lý rừng cộng đồng là: “ quản lý rừng bởicộng đồng tạo ra những cớ hội để tìm kiếm các giải pháp mà ở hệ thống tập
Trang 27trung quyền lực không có được Cộng đồng là nơi mà các hoạt động đượcthực tế diễn ra và kế hoạch được xác lập hàng ngày Quá trìng lập kế hoạch vàhành động được lồng ghép một cách có trách nhiệm bởi vì chúng được thựchiện ở tại một nơi và bởi cùng một cộng đồng”.
Nhìn nhận về hiệu quả của quản lý rừng cộng đồng của Burda (1997):
“Những người dân sống lâu đời ở trong rừng có những kiến thức đặc biệt vềsinh thái bản địa và những ảnh hưởng dài hạn về mặt xã hội, môi trường củarừng đến cuộc sống của họ Sự tập trung quyền lực trong hệ thống quản lýquan liêu thiếu đi sự linh động và khả năng thích ứng với điều kiện địaphương Trong khi đó quản lý rừng dựa vào cộng đồng giúp cho con ngườisống gần gũi hơn với thiên nhiên và từ đó lập ra những thiết chế, kế hoạchnhằm quản lý và sử dụng rừng một cách hiệu quả hơn Quản lý rừng dựa vàocộng đồng đã tạo ra một hệ thống nhạy bén để nhanh chóng đưa ra nhữngquyết định và hành động nhằm thích ứng với những thay đổi của điều kiện cụthể Các quyết định này nhằm đáp ứng lợi ích của toàn thể cộng đồng, nhữngngười chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc đưa ra những quyết định đó
Trong giai đoạn hiện nay quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng đang đượcxem như là một giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên,
hỗ trợ giải quyết tình trạng suy thoái tài nguyên Đã có không ít những môhình quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng thành công ở Thái lan,Malaysia, Nepanl…Đây sẽ là những bài học quý báu cho quá trình xây dựngnhững giải pháp quản lý bền vững tài nguyên rừng trên cơ sở cộng đồng ởViệt Nam
Quản lý rừng cộng đồng có những phương thức rất công phu cần phải
có sự kết hợp hài hoà giữa vấn đề kỹ thuật với vấn đề xã hội, trong đó đặc biệtchú ý phát huy kiến thức bản địa và các tổ chức quần chúng của địa phương.Những người dân bản xứ cùng cộng đồng của họ và những cộng đồng địaphương có một vai trò quan trọng trong quản lý rừng và bảo vệ môi trường,
Trang 28bởi lẽ họ đã được tích luỹ vốn kiến thức truyền thống cùng với những kinhnghiệm thực tế qua nhiều năm chính phủ các nước cần nhận ra và khuyếnkhích sự tham gia của họ trong chiến lược quản lý tài nguyên và phát triểnbền vững Vì vậy, con đường tốt nhất hiện nay để giảm tình trạng suy thoái tàinguyên rừng là phải dựa vào những người dân sống trong rừng, gần rừng vàgắn bó với rừng Do vậy, cần thực hiện chính sách phân quyền và cho quyềncho họ trong việc quản lý phục hồi các nguồn tài nguyên quý báu ấy Nhiềucuộc hội thảo quốc tế về CF ( quản lý cộng đồng) chung về yếu tố cơ bản đảmbảo cho sự thành công của CF, một trong những yếu tố đó là:
- Chính phủ các nước phải đưa ra những cam kết về mặt pháp lý ổnđịnh, lâu dài như quyền sử dụng đất và các chủ trương phát triển nông thôn,miền núi dưới dạng các luật và các văn bản dưới luật để mọi người yên tâmđầu tư và sử dụng mảnh đất của mình một cách lâu dài Các chính sách vềquản lý rừng mọi khi ban hành phải thu hút sự tham gia đông đảo của ngườidân địa phương, đặc biệt là các gia đình nghèo lâu nay sống bằng nghề rừng
- Việc hoạch định chính sách quản lý rừng phải thông qua đàm thoại vàkhảo sát thực tế tại các cộng đồng địa phương để tìm rõ nhu cầu và khả năngcủa người dân, tránh các chủ trương gò ép, duy ý chí được đưa từ trên xuống
- Các cấp quản lý trực tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó liên quantrực tiếp đến việc động viên và huy động các nguồn lực của người dân, đếnviệc quản lý và sử dụng đất rừng, đến việc giải quyết chanh chấp hay xungđột trong nội bộ cộng đồng Cho tới nay, cấp thôn bản ở một số nước trong đó
có Việt Nam vẫn chưa chính thức được công nhận nằm trong bộ máy hànhchính nhà nước, tuy nhiên nó là một tổ chức tự quản của người dân, do dânbầu ra cùng nhau bàn bạc và ra quyết định Chính vì vậy nhà nước làm saophát huy hết vai trò to lớn nội tại của tổ chức này
2.2.2 Thực tiễn quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam
Trang 292.2.2.1 Khái quát chung
Ở Việt Nam các hoạt động quản lý rừng cộng đồng đã và đang đượccông nhận ở rất nhiều nơi cả về phương diện lý thuyết và thực tế Diện tíchrừng của Việt Nam tập trung chủ yếu ở các vùng cao đặc biệt là các vùng dântộc thiểu số vì vậy mà rừng cộng đồng cũng được quản lý thông qua các khu
“rừng thiêng”, “rừng ma”, “rừng nhóm hộ”…Ở các khu rừng này được ngườidân quản lý, bảo vệ một cách khá chặt chẽ và có hiệu quả đảm bảo cho pháttriển bền vững nông nghiệp và phát triển nông thôn Luật Quản lý và pháttriển rừng ra đời vào năm 1991 đã nêu cao vai trò của các cá nhân , hộ giađình và các tổ chức trong quản lý bảo vệ rừng Tuy nhiên, từ khi Luật bảo vệ
và phát triển rừng được sử đổi, bổ sung năm 2004 thì khái niệm rừng cộngđồng mới được nhận dạng trong quản lý và phát triển rừng Tuy còn nhiềutranh cãi xung quanh thuật ngữ này, nhưng đây đã được coi là một thành cônglớn về xác nhận vai trò của cộng đồng trong quản lý và bảo vệ rừng
Ngày nay Việt Nam chúng ta hình thức quản lý rừng theo hình thứccộng đồng đã được coi là một trong những biện pháp hiệu quả giúp cho tất cảngười dân trong cộng đồng đều được tham gia vào quá trình phân tích đánhgiá thực trạng, xác định nguyên nhân và hình thành giải pháp để phát huy mọinguồn lực của địa phương cho phát triển và sử dụng tối ưu các nguồn tàinguyên thiên nhiên vì sự phồn thịnh của mỗi gia đình và cộng đồng
Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào khoảngcuối thập niên 80 đầu thập niên 90 Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộnnhưng nó lại sớm được thể hiện ở nhiều cấp độ
Về mặt học thuật, thuật ngữ này được giới khoa học nước ta tiếp thunhanh Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan mà đầu tiên phải kểđến là công trình do giới nghiên cứu môi trường tiến hành như “Tiến tới môitrường bền vững” (1995) của Trung tâm tài nguyên và môi trường, Đại họcTổng hợp Hà Nội Công trình này đã tiếp thu và thao tác hoá khái niệm phát
Trang 30triển bền vững theo báo cáo Brundtland như một tiến trình đòi hỏi đồng thờitrên bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn, bềnvững về mặt môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật “Nghiên cứu xây dựngtiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I” (2003) doViện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹthuật Việt Nam tiến hành Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí phát triển bềnvững của Brundtland và kinh nghiệm các nước: Trung Quốc, Anh, Mỹ, cáctác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về phát triển bền vững đối với một quốcgia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường Đồng thờicũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí phát triển bền vững choViệt Nam “Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững” (2000) do LưuĐức Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết vàhành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững Công trình này đã xácđịnh phát triển bền vững qua các tiêu chí: bền vững kinh tế, bền vững môitrường, bền vững văn hóa, đã tổng quan nhiều mô hình phát triển bền vữngnhư mô hình 3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs vàSadler (1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính,công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội của WCED (1987), mô hình liên hệ thốngkinh tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990), mô hình 3 nhóm mục tiêu kinh tế,
xã hội, môi trường của Worl Bank
Các hệ thống tổ chức và quản lý lâm nghiệp ở Việt Nam được chia làm
3 giai đoạn sau:
Trang 31nông, lâm nghiệp, nhất là vào giao đoạn cuối của thời kỳ này, chủ trươngchính sách GĐGR đến hộ gia đình đã được cụ thể và đẩy mạnh hơn.
- Thời kỳ 1993 đến nay:
Ngành lâm nghịêp chuyển từ khai thác lợi dụng rừng là chính sang lâmnghiệp xây dựng phát triển rừng, nông lâm kết hợp, từ lâm nghiệp lấy quốcdoanh làm chính sang lâm nghiệp xã hội gắn liền với phát triển kinh tế nhiềuthành phần đi lên sản xuất hàng hoá Trong báo cáo chiến lược phát triển lâmnghiệp đã khẳng định quan điểm: Phát triển lâm nghiệp xã hội, khuyến khíchmọi thành phần kinh tế tham gia kinh doanh rừng, tổ chức cho đồng bào dân tộcsống ở trong và gần rừng có đời sống ổn định, chuyển họ từ người phá rừng cóđời sống ổn định, chuyển họ từ người phá rừng thành người bảo vệ rừng
Quá trình giao đất giao rừng của nước ta đã tạo cơ sở cho rừng có chủthực sự, tạo ra nhiều hình thức sở hữu rừng, tạo điều kiện khai thác tiềm năng,đất đai, lao động, tiền vốn tại chỗ Công tác trồng rừng được đảm bảo với tỷ lệthành rừng cao, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sốngcủa nhân dân, một bộ phận dân cư đã giàu lên từ nghề rừng, mở ra hướng sảnxuất hàng hoá gắn với thị trường tiêu thụ ở nhiều nơi, góp phần xoá đói giảmnghèo, từng bước góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi
2.2.2.2 Một số chính sách chủ yếu liên quan đến quản lý rừng cộng đồng
Nhà nước giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức, cá nhân,
hộ gia đình Hạn mức đất lâm nghiệp dùng vào mục đích sản xuất giao chocác hộ gia đình không quá 30 ha với thời hạn là 50 năm Hạn mức đất lâm
Trang 32nghiệp giao cho các tổ chức theo dự án được cơ quan Nhà nước có thẩmquyền phê duyệt, thời hạn cho thuê đất lâm nghiệp không quá 50 năm (trừtrường hợp đặc biệt).
Như vậy theo các văn bản trên, nhà nước thực hiện giao, cho thuê đấtlâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Khái niệm “tổ chức” đượcquy định bởi Luật Dân sự (1995) Theo đó cộng đồng thôn bản chưa đượcthừa nhận là một tổ chức có tư cách pháp nhân, nên không được coi là đốitượng giao đất giao rừng
Theo quyết định 245/TTg (1998) của Thủ tướng Chính Phủ về phâncấp quản lý rừng và đất lâm nghiệp: những diện tích rừng phân bố xa khu vựcdân cư, điều kiện địa hình phức tạp mà các tổ chức hay hộ gia đình không cókhả năng quản lý sẽ do uỷ ban nhân dân xã quản lý, nhưng Ủy ban nhân dân(UBND) xã không có lực lượng để quản lý và bảo vệ Xuất phát từ bối cảnh
đó, một số địa phương đã mạnh dạn giao rừng và đất lâm nghiệp cho các cộngđồng thôn bản Ngoài diện tích rừng được chính quyền địa phương giao quản
lý với tư cách như một chủ nhận, ở một số địa phương miền núi, cộng đồngthôn bản hiện đang quản lý những diện tích rừng thuộc các loại rừng sau:
- Rừng làng bản tồn tại cùng với sự sinh tồn của cộng đồng dân tộcmiền núi Hiện nay vẫn được các cộng đồng quản lý, đó là những laọi rừngcấm, rừng đầu nguồn, rừng thiêng, nghĩa địa…trong phạm vi ranh giới củathôn bản
- Rừng trước đây thuộc tài sản hợp tác xã, nay các hợp tác xã đã giảithể nên cộng đồng dân cư của thôn bản đó đã tự tổ chức quản lý bảo vệ sửdụng vào mục đích chung
Từ những dẫn chứng trên cho thấy, xét về khía cạnh thực tiễn hiệnđang tồn tại 3 loại hình sở hữu rừng:
- Rừng thuộc sở hữu Nhà nước và được quản lý thông qua các tổ chức
Trang 33của Nhà nước.
- Rừng của hộ gia đình, cá nhân
- Rừng cộng đồng (trong đó bao gồm rừng cộng đồng thôn bản, nhóm
hộ, rừng hợp tác xã, rừng của các tổ chức chính trị - xã hội…) thuộc quyền sửdụng chung của cộng đồng thôn bản đang quản lý
Như vậy, việc quy định cộng đồng thôn bản không phải là đối tượngGĐGR đã không phản ánh đúng thực trạng và yêu cầu đòi hỏi của thực tiễnquản lý rừng hiện nay của nước ta
Trước thực tế đó và đòi hỏi của công tác quản lý bảo vệ rừng Đảng vàNhà nước đã có nhiều chính sách để nâng cao vai trò của cộng đồng thôn bản.Đặc biệt là Luật Đất đai sửa đổi năm 2003 quy định: người sử dụng đất đaibao gồm: tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư trong nước…đượcnhà nước giao đất, cho thuê đất…Điều 121 luật này cũng quy định quyền vànghĩa vụ của cộng đồng thôn bản khi sử dụng đất: cộng đồng dân cư sử dụngđất nông nghiệp phù hợp với phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu
số hoặc sử dụng đất phi nông nghiêp có các công trình như đình, đền, miếu,nhà thờ họ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đại diệntheo uỷ quyền của cộng đồng dân cư đó không được chuyển đổi, chuyểnnhượng, cho thuê, tặng quyền sử dụng đất, không được thế chấp, bảo lãnh,góp vốn bằng quỳên sử dụng đất
Cộng đồng thôn bản được thừa nhận là đối tượng GĐGR đồng nghĩavới việc hình thức quản lý rừng cộng đồng chính thức tồn tại song song vớihình thức quản lý rừng do các cơ quan Nhà nước quản lý và hình thức quản lýcủa tư nhân Tuy nhiên, về mặt quyền lợi của cộng đồng thôn bản vẫn còn hạnchế Do đó, các cơ quan chức năng và các địa phương cần có những hướngdẫn thực hiện cụ thể để hình thức quản lý này tồn tại phù hợp với pháp luật,đáp ứng nhu cầu của người dân, rừng và đất rừng được quản lý, góp phầnnâng cao đời sống của cộng đồng thôn bản
Trang 34* Chính sách tín dụng và đầu tư liên quan đến lâm nghiệp
Quyết định số 67/TTg ngày 30/03/1999 của Thủ tướng Chính phủ vềmột số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ nông nghiệp nông thôn vàQuyết định số 148/TTg ngày 07/07/1999 về sử đổi, bổ sung quyết định trên
đã quy định việc áp dụng cho vay với lãi suất thương mại đối với các hoạtđộng: tiêu thụ chế biến và xuất khẩu lâm sản và tiểu thủ công nghiệp, ngànhnghề và dịch vụ nông thôn Đối với hộ gia đình sản xuất nông lâm nghiệp,ngân hàng cho vay đến 10 triệu đồng theo lãi suất thông thường, người vaykhông phải thế chấp tài sản chỉ nộp theo đơn xin vay có xác nhận của UBND
xã, phường, thị trấn về diện tích đất đang sử dụng, không có tranh chấp Đốivới hộ gia đình làm kinh tế trang trại, kinh tế hàng hoá, ngân hàng cho vayđến trên 10 trệu đồng, người vay phải thực hiện các quy định đảm bảo tiềnvay của ngân hàng
Thực tiễn cho thấy, nhiều cộng đồng dân cư thôn bản hiện đang trựctiếp quản lý các khu rừng làng, rừng bảo tuy không có đầu tư hỗ trợ của Nhànước nhưng rừng vẫn được bảo vệ và phát triển tốt
Quyết định 661/TTg ngày 29/07/1998 của Thủ tướng Chính Phủ vềmục tiêu nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu
ha rừng Quy định rõ về chính sách đầu tư của nhà nước cho công tác bảo vệ
và phát triển rừng của nước ta hiện nay như sau:
Vốn đầu tư của Nhà nước tiếp tục dành cho hoạt động khoán bảo vệrừng đặc dụng, rừng đặc dụng rất xung yếu và xung yếu Người nhận khoánđược nhận tiền công bảo vệ là 100.000đ/ha/năm, với thời hạn khoán khôngquá 5 năm Tiền công nhận khoán khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng rừng bổsung không quá 1 triệu đ/ha với thời hạn khoán không qúa 6 năm Nhà nước
hỗ trợ bình quân 2 triệu đồng /ha cho các tổ chức, hộ gia đình tự bỏ vốn trồngrừng sản xuất các loại cây gỗ nhỏ Xuất đầu tư hỗ trợ trồng rừng phòng hộxung yếu và rất xung yếu là 3- 4 triệu đồng/ha
Trang 35Luật khuyến khích đầu tư trong nước sửa đổi ngày 20/05/1998 và cácvăn ban dưới luật quy định rõ: các hoạt động đầu tư vào các lĩnh vực sau đâyđược xếp vào danh mục A (danh mục được hưởng ưu đãi đầu tư) gồm: trồngrừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, trồng cây lâu năm trên đất hoang hoá, đồi núitrọc, hoạt động chế biến lâm sản, dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ lâmnghiệp, các ngành nghề truyền thống (mây, tre, trúc, mỹ nghệ) Hoạt độngtrồng rừng khoanh nuôi tái sinh được thực hiện tại các địa bàn miền núi, hảiđảo, vùng khó khăn thuộc các danh mục B (vùng kinh tế xã hội khó khăn) vàdanh mục C (vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn) cũng được hưởng chế độ
ưu đãi về ngành nghề Như vây, xét cả 2 tiêu chí thì hầu hết các hoạt động đầu
tư vào lĩnh vực trồng rừng, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng đều được hưởngchế độ ưu đãi về địa bàn gồm:
- Được giảm 50% tiền sử dụng đất trong trường hợp giao đất phải trảtiền sử dụng đất hoặc được miễn từ 3 đến 6 năm tiền thuê đất
- Các dự án trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, trồng cây lâu nămtrên đất trống đồi núi trọc được miễn thuế sử dụng đất trong suốt thời gianthực hiện dự án
Như vậy, ta thấy rõ được văn bản này quy định rộng rãi đối tượng đượchưởng ưu đãi: hợp tác xã, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị - xã hội, hộinghề nghiệp, nhóm kinh doanh…Tuy nhiên, cộng đồng thôn bản lại khôngthuộc đối tượng điều chỉnh của văn bản này Chính do sự quy định này mànhiều diện tích rừng tự nhiên, trong đó có rừng làng bản tồn tại lâu đời, rừngđược hình thành từ chính sách giao đất giao rừng trong những năm gần đâyhầu như không có sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước Các cộng đồng thôn bảnphải tự tổ chức quản lý rừng đó Như vậy, thực tế mà nói đã xuất hiện sựkhông công bằng trong quản lý tài nguyên rừng, vì những tổ chức Nhà nước ,nhất là trong giai đoạn hiện nay khi cộng đồng thôn bản đã được luật đất đaicoi là một đối tượng được giao quyền sử dụng rừng và đất rừng
Trang 36* Chính sách khai thác sử dụng và hưởng lợi từ rừng
Quyền hưởng lợi của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhậnkhoán rừng và đất lâm nghiệp nhằm tạo động lực kinh tế thu hút và khuyếnkhích nhân dân tích cực tham gia vào sản xuất lâm nghiệp làm cho thu nhập
từ rừng trở thành nguồn thu đáng kể của người dân làm nghề rừng, giảm bớtchi phí từ ngân sách Nhà nước cho việc bảo vệ và phát triển rừng, đồng thờilàm rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan Nhà nứơc, các lâm trường, các Banquản lý khu rừng phòng hộ, khu rừng đặc dụng trong việc thực hiện chínhsách hưởng lợi đối với hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê nhận khoánrừng và đất lâm nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số178/2003/QĐ-TTg ngày 12/11/2003 Sau Quyết định này Bộ Nông nghiệp vàphát triển nông thôn đã phối hợp với Bộ Tài Chính ban hành thông tư liên tịch
số 80/2003/TTLT/BNN-BTC, ngày 03/09/2003 hướng dẫn thực hiện Quyếtđịnh số 178/QĐ-TTg
Theo quy định tại Quyết định số 178/QĐ-TTg, tuỳ theo hộ gia đình, cánhân được giao rừng, được thuê rừng hay nhận khoán rừng và tuỳ theo loạirừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất) và trạng thái rừng (rừngnghèo, rừng giàu, rừng trung bình…) khi được giao, được thuê hoặc nhậnkhoán mà hộ gia đình, cá nhân được nhận tiền công khoán bảo vệ rừng,khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng; được khai thác củi, lâm sinh ngoài
gỗ, sản phẩm tỉa thưa, sản phẩm là cây phù trợ, sản phẩm trồng xen, sản phẩmnông nghiệp, ngư nghiệp kết hợp và sản phẩm là gốc khi khai thác chính…
Tuỳ theo đặc điểm về tài nguyên rừng và tình hình thực tế của từng địaphương mà người dân được hưởng lợi các sản phẩm rừng ở các mức độ khácnhau
Về tiền công khoán bảo vệ rừng: quy định trong Dự án 661 người dânđược hưởng 100.000đ/ha/năm, nhưng tuỳ điều kiện cụ thể từng địa phương
mà mức tiền công có thể khác nhau
Trang 37- Về sản xuất nông, ngư nghiệp kết hợp: người dân đều được thực hiệnphương thức sản xuất nông, lâm, ngư kết hợp theo phương châm lấy ngắnnuôi dài như chăn thả gia súc, trồng cây dược liệu, cây nông nghiệp ngắnngày dưới tán rừng chưa khép tán, trồng cây ăn quả, nuôi thuỷ sản…đã gópphần nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình.
2.2.2.3 Nhận định khái quát về hiệu quả quản lý rừng cộng đồng
Sự đánh giá hiệu quả quản lý rừng cộng đồng trên phạm vi toàn quốchiện nay vẫn chưa có đánh giá nào hiệu quả về quản lý rừng cộng đồng, căn
cứ vào 3 kết quả hội thảo Quốc gia về CFM ở Việt Nam được tổ chức tại HàNội có thể đưa ra một số nhận định sau:
- Nhiều nơi rừng cộng đồng được bảo vệ và phát triển tốt, những nơirừng do cộng đồng quản lý hầu như không bị chặt phá, do không có xâm hạinên rừng ngày càng tăng trưởng mạnh
- Các khu rừng quản lý theo truyền thống thì hầu như cộng đồng cótoàn quyền quyết định việc sử dụng tài nguyên rừng, trong đó đáp ứng nhucầu lâm sản cho các công trình chung của cộng đồng, giải quyết nhu cầu gỗlàm nhà cho các hộ gia đình
- Cộng đồng tham gia quản lý rừng vẫn được canh tác kết hợp cây nôngnghiệp trên những vùng đất trống đồi núi trọc hay những khu rừng chưa khéptán, được hỗ trợ vốn để sản xuất, được hưởng lợi sản phẩm rừng
- Rừng cộng đồng góp phần nâng cao thu nhập của người dân, xoá đóigiảm nghèo, đáp ứng nhu cầu lâm sản cho các công trình chung của cộng đồng
- Đối với diện tích rừng do cộng đồng nhận khoán bảo vệ hàng nămNhà nước hay chủ rừng trả tiền công khoán, đã góp phần giải quyết một phầnkhó khăn cho một bộ phận dân cư trong trong cộng đồng
- Quản lý rừng theo hình thức cộng đồng sẽ tiết kiệm chi phí cho nhànước: hiện nay có rất nhiều cộng đồng đang quản lý rừng hầu như không có
sự hỗ trợ của Nhà nước về kinh phí, nhưng rừng thì vẫn được bảo vệ một cách
Trang 382.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan
Quản lý rừng theo hình thức cộng đồng đã được đề cập trở lại ViệtNam vào năm 1997, từ đó đến nay thì hình thức quản lý theo hình thức cộngđồng trong phát triển bền vững đã được đề cập đến khá nhiều tuy nhiên mỗicông trình đều có cách tiếp cận riêng và có những nhận định
- Dự án Phát triển Lâm nghiệp xã hội sông đà bắt đầu vào năm 1993
Dự án này đã chú ý làm việc với “nhóm sử dụng rừng” hơn là với các đơn vịquản lý hành chính lâm nghiệp Dự án đã tiến hành thu xếp về tổ chức khithực hiện quy hoạch sử dụng đất và giao đất có người dân tham gia, sau đótiến hành lập những “nhóm bảo vệ rừng” và hỗ trợ dân bản xây dựng nhữngquy chế bảo vệ rừng
- Phát triển lâm nghiệp cộng đồng ở miền núi phía Bắc Việt Nam.Nguyễn duy Chuyên và cộng sự 2002
- Quản lý rừng cộng đồng trong phát triển bền vững nông thôn thuộckhu vực miền núi phía Bắc Việt Nam Đinh Ngọc Lan và cộng sự 2002
- Hiện trạng quản lý rừng cộng đồng tại một số tỉnh vùng núi Bắc Bộ.Phạm Xuân Phương Vụ chính sách, Bộ Nông Nghiệp và PTNT.2001
- Quản lý rừng cộng đồng ở huyện Hương Sơn - tỉnh Hà Tĩnh PhạmTrương Hương Giang Luận văn thạc sĩ 2007
Nhìn chung, quản lý rừng và đất rừng trên cơ sở cộng đồng là một vấn
đề tổng hợp và phụ thuộc nhiều vào khuôn khổ thể chế, chính sách của từngquốc gia, từng địa phương Do vậy, không thể sao chép nguyên vẹn một mô
Trang 39hình nào từ nơi này đến nơi khác Tuy nhiên, việc chia sẻ kinh nghiệm, chia
sẻ những bài học thành công hay thất bại trong cả nước và khu vực là rất cầnthiết trong bối cảnh chính sách lâm nghiệp đang cải cách và hoàn thiện nhưhiện nay Điều đáng chú ý là phải có những nghiên cứu tổng hợp đánh giá vàđúc kết kinh ngiệm, bổ sung và xây dựng những chính sách mới phù hợp chomỗi vùng
Trang 40PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Phía bắc giáp tỉnh Hoà Bình
Phía tây giáp huyện Quan Hoá và Quan Sơn
Phía Nam giáp huyện Lang Chánh và Ngọc lặc
Phía Đông giáp huyện Cẩm Thuỷ và Thạch Thành
Vị trí này giúp Bá thước có các mối liên hệ kinh tế - xã hội với các lãnhthổ khác thông qua quốc lộ 217, 15A; sông Mã chảy qua từ đầu đến cuốihuyện dài trên 40 km giúp cho Bá Thước thuận lợi cho cả giao thông đường
bộ lẫn đường thuỷ
3.1.1.2 Địa hình
Bá thước có địa hình đồi núi cao so với các huyện miền núi của tỉnhThanh Hoá, với độ cao trung bình 450 – 600m, trong đó có tới 19 xã thuộcvùng núi cao
Ngọn núi Pù Luông với độ cao 1700m so với mực nước biển, là mộttrong những dãy núi cao nhất của tỉnh Thanh Hoá đã tạo cho Bá Thước có địahình khá phức tạp, phát triển nghề rừng khá phổ biến của đồng bào nơi đây
Địa hình thung lũng chiếm diện tích nhỏ, độ cao từ 300m trở xuống Đó
là thung lũng sông Mã nằm theo hướng gần song song với các dãy núi và cấutạo chủ yếu bởi những trầm tích vụn bở, dễ bị xâm thực Chiều ngang thunglũng tương đối rộng, trong đó phổ biến là các dạng địa hình đồi bằng thoải,