Nhưng ở các doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp do chỉ là doanh nghiệp tư nhân, việc kiểm tra nhắc nhở của cơ quan quản lý môi trường nhà nước chưa thật sát sao nên nhiều doanh nghiệp còn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CẨM
GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
Tên sinh viên: Nguyễn Thị Thanh ThuỷChuyên ngành đào tạo: Kinh tế nông nghiệpLớp: KT 51D
Niên khóa: 2006 - 2010Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Song
KS Nguyễn Thị Ngọc Thương
HÀ NỘI - 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Khoá luận tốt nghiệp "Đánh giá thực trạng công tác quản lý nước thải
công nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương" là công trình
nghiên cứu khoa học của riêng tôi Khoá luận có sử dụng một số thông tin từ nhiều nguồn số liệu khác nhau, các thông tin này đều đã chỉ rõ nguồn gốc trích dẫn
Tôi xin cam đoan: các số liệu, kết quả trong khoá luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác; mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khoá luận này đều đã được cảm ơn
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: "Đánh giá thực trạng công tác quản lý
nước thải công nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương" tôi đã
nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ động viên của nhiều cá nhân, tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Khoa KT & PTNT trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, xin cảm ơn các thầy cô trong bộ môn Kinh
tế Tài nguyên & Môi trường đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành Khoá luận này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Văn Song
và KS Nguyễn Thị Ngọc Thương, những người thầy đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành Khoá luận này
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình của phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, phòng Công thương huyện Cẩm Giàng và các ban ngành khác trong huyện cùng các cán bộ, người dân 3 xã: TT Lai Cách, xã Cẩm Văn và
xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương trong quá trình thực hiện đề tài này
Tôi xin cảm ơn sự động viên giúp đỡ của gia đình và bạn bè trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài này
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2010
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
Trang 4TÓM TẮT KHOÁ LUẬN
Ngành công nghiệp của huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương hiện nay đang rất phát triển, đi kèm theo đó là vấn đề ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước Gần đây, các cơ quan chức năng đã phát hiện nhiều doanh nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Giàng thải nước thải không đúng quy định gây ô nhiễm nguồn nước Nghiêm trọng nhất phải kể đến nước thải của công ty Tung Kuang
Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề và với mục tiêu đánh giá thực trạng trong công tác quản lý nước thải công nghiệp từ đó đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nước thải công nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Bằng các phương pháp khoa học hợp lý tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Đánh giá thực trạng công tác quản lý nước thải công nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương"
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nước thải công nghiệp là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm nguồn nước đặc biệt là ô nhiễm ở các dòng sông Việc khắc phục hậu quả này là rất khó khăn và tốn kém Cả nước ta hiện có khoảng 200 khu chế xuất, khu công nghiệp, xả hơn 220 nghìn m3 nước thải/ngày đêm nhưng chỉ có 30% được xử lý Công tác quản lý nước thải công nghiệp của Việt Nam đã được triển khai nhưng chưa đi vào thực tế cuộc sống và chưa được đầu tư đúng mức
Cũng như tình trạng của Việt Nam, công tác quản lý nước thải công nghiệp của huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương đến nay vẫn chưa được chú trọng
Hiện nay, toàn huyện có 5 khu công nghiệp đang hoạt động và cả 5 khu công nghiệp này đều đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải công nghiệp chung
Trang 5cho cả khu công nghiệp Một số doanh nghiệp trong khu công nghiệp có nước thải công nghiệp có độ độc hại cao cũng đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải riêng như công ty TNHH Fuji Seike Việt Nam, công ty TNHH Công nghiệp Brother Việt Nam, công ty TNHH Công nghệ Vĩnh Hàn ở khu công nghiệp Phúc Điền
Ở các khu công nghiệp do có ban quản lý khu công nghiệp nên việc thực hiện xử lý nước thải công nghiệp trước khi thải ra môi trường đã được thực hiện tương đối tốt Nhưng ở các doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp do chỉ là doanh nghiệp tư nhân, việc kiểm tra nhắc nhở của cơ quan quản lý môi trường nhà nước chưa thật sát sao nên nhiều doanh nghiệp còn xả nước thải công nghiệp chưa qua xử lý ra môi trường gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng
Cơ quan quản lý môi trường huyện đã có nhiều cố gắng trong công tác quản lý nguồn nước thải công nghiệp trên địa bàn huyện tuy nhiên vẫn còn nhiều những tồn tại: Việc nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật cho lĩnh vực BVMT, xử lý nước thải công nghiệp chưa thực sự phát huy hiệu quả, nhiều
dự án xử lý nước thải công nghiệp đã bị bỏ dở gây lãng phí tiền của nhà nước; Công tác truyền thông về môi trường còn ít về số lượng, đơn điệu về nội dung bởi vậy chưa thu hút được sự quan tâm của người dân; Công tác kiểm tra của phòng Tài nguyên và Môi trường còn chưa triệt để; Cơ sở vật chất trang thiết bị còn thiếu, sự phối hợp và trao đổi thông tin không kịp thời Công tác quản lý nước thải công nghiệp của huyện Cẩm Giàng chưa đạt hiệu quả bởi còn gặp nhiều khó khăn như: Nguồn nhân lực phục vụ công tác quản lý môi trường huyện còn thiếu về số lượng và yếu về trình độ chuyên môn so với yêu cầu của
sự nghiệp bảo vệ môi trường; Thiếu nguồn lực về tài chính đầu tư cho công tác quản lý, xử lý nước thải công nghiệp; Nhận thức của người dân về bảo vệ nguồn nước còn yếu, chưa ý thức được tác hại của nước thải công nghiệp đến nguồn
Trang 6nước; chủ các cơ sở sản xuất kinh doanh chưa quan tâm đến môi trường và thiếu trách nhiệm trong việc xử lý nước thải công nghiệp trước khi thải ra nguồn nước
Đề tài cũng chỉ ra rằng hệ thống pháp luật, nguồn tài chính, nhận thức của chủ doanh nghiệp và nhận thức của cộng đồng là những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả công tác quản lý nước thải công nghiệp của huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
Nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nước thải công nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, đề tài đề xuất một số biện pháp chủ yếu: (1) Tăng cường khả năng và hiệu lực của cơ quan quản lý môi trường của các cấp chính quyền huyện, xã; (2) Tăng cường năng lực quản lý các cán bộ môi trường các cấp; (3) Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhân dân, đặc biệt là chủ các doanh nghiệp về sự cần thiết của hoạt động BVMT, BVNN; (4) Quy hoạch các KCN, CCN một cách hợp lí; (5) Sử dụng các công cụ kinh tế để chống ô nhiễm môi trường công nghiệp; (6) Hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật để bảo vệ môi trường công nghiệp
Trang 7MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt khoá luận iii
Mục lục vi
Danh mục bảng ix
Danh mục hình x
Danh mục đồ thị x
Danh mục từ viết tắt xi
TRƯỜNG ĐẠI H C NÔNG NGHI P HÀ N IỌ Ệ Ộ 1
KHOA KINH T VÀ PHÁT TRI N NÔNG THÔNẾ Ể 1
PH N 1: M Ầ Ở ĐẦ 13U 1.1 Tính c p thi t c aấ ế ủ đề à 13 t i 1.2.2 M c tiêu c thụ ụ ể 16
1.3 Đố ượi t ng & ph m vi nghiên c u ạ ứ 16
1.3.1 Đố ượi t ng nghiên c uứ 16
PH N II T NG QUAN TÀI LI U NGHIÊN C UẦ Ổ Ệ Ứ 17
2.1 C sơ ở khoa h c, lý lu n c a ọ ậ ủ đề à 17 t i 2.1.1 M t s khái ni m ộ ố ệ 17
2.1.2 T i nguyên nà ước v s d ng t i nguyên nà ử ụ à ước trong công nghi pệ .23
2.1.3 V n ấ đề môi trường trên th gi i ế ớ 24
2.1.4 Th c tr ng v nh ng thách th c ự ạ à ữ ứ đặt ra đố ới v i công tác b o vả ệ môi trường Vi t Nam.ở ệ 27 2.2 C sơ ở th c ti n c a ự ễ ủ đề à 37 t i
v
Trang 82.2.1 Tình hình qu n lý nả ước th i công nghi p Vi t Namả ệ ở ệ 37
2.2.2 Qu n lý nả ước th i công nghi p trên a b n t nh H i Dả ệ đị à ỉ ả ươ 41ng PH N III: Ầ ĐẶ Đ Ể A BÀN NGHIÊN C U VÀ PHC I M ĐỊ Ứ ƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU 42
3.1 Đặ đ ểc i m c aủ a b n nghiên c uđị à ứ 42
3.1.1 V tríị a lýđị 42
3.1.2 a hình, thĐị ổ nhưỡ 43ng 3.1.3 i u ki n kinh t - xã h iĐ ề ệ ế ộ 43
3.2 Phương pháp nghiên c uứ 55
3.2.1 Ch n i m nghiên c uọ đ ể ứ 55
3.2.2 Phương pháp thu th p s li uậ ố ệ 55
3.2.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên kh oả 56
3.2.6 H th ng ch tiêu phân tích v x lý s li uệ ố ỉ à ử ố ệ 56
PH N IV: K T QUẦ Ế Ả NGHIÊN C U VÀ TH O LU NỨ Ả Ậ 57
4.1 Th c tr ng tình hình nự ạ ước th i công nghi p th i ra ngu n nả ệ ả ồ ướ ạ c t i huy n C m Gi ngệ ẩ à 57
4.1.1 Tình hình phát tri n công nghi p huy n C m Gi ngể ệ ở ệ ẩ à 57
4.2 Th c tr ng công tác qu n lý nự ạ ả ước th i công nghi p trên a b nả ệ đị à huy n C m Gi ng, t nh H i Dệ ẩ à ỉ ả ươ 62ng 4.2.1 Tình hình qu n lý nả ước th i công nghi p trên a b n huy nả ệ đị à ệ 62
4.2.2 Nh ng y u t nh hữ ế ố ả ưởng đến công tác qu n lý nả ước th i côngả nghi p c a c quan qu n lý môi trệ ủ ơ ả ường huy n C m Gi ngệ ẩ à 71
4.2.3 ánh giá k t qu công tác qu n lý nĐ ế ả ả ước th i công nghi p c aả ệ ủ huy n ệ 75
4.3 Th c tr ng công tác qu n lý nự ạ ả ước th i công nghi p t i m t sả ệ ạ ộ ố doanh nghi p trên a b n huy nệ đị à ệ 77
4.3.1 Tình hình qu n lý nả ước th i t i m t s doanh nghi pả ạ ộ ố ệ 77
Trang 94.3.2 Nh ng y u t nh hữ ế ố ả ưởng đến công tác qu n lý nả ước th i c aả ủ
doanh nghi pệ 85
4.4 Nh ng h n ch , khó kh n trong công tác qu n lý nữ ạ ế ă ả ước th i côngả nghi p trên a b n huy n C m Gi ngệ đị à ệ ẩ à 87
4.4.1 i u ki n v ngu n l c ph c v công tác qu n lý nĐ ề ệ ề ồ ự ụ ụ ả ước th i côngả nghi pệ 87
4.4.2 Nh n th c c a các ch c s s n xu t v công tác qu n lý nậ ứ ủ ủ ơ ở ả ấ ề ả ướ c th i công nghi pả ệ 89
4.4.3 Nh n th c c a c ng ậ ứ ủ ộ đồng v qu n lý nề ả ước th i công nghi pả ệ 90
4.5 M t s gi i pháp ộ ố ả đề xu tấ 90
4.5.1 Các gi i pháp qu n lý t i doanh nghi pả ả ạ ệ 90
4.5.2 Các gi i pháp qu n lý t i c quan qu n lý nh nả ả ạ ơ ả à ước huy nệ 92
PH N V: K T LU N VÀ KI N NGHẦ Ế Ậ Ế Ị 95
5.1 K t lu nế ậ 95
5.2 Ki n nghế ị 97
5.2.1 Đố ới v i doanh nghi pệ 97
5.2.2 Đố ới v i chính quy n a phề đị ươ 98ng TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 99
PHỤ LỤC 1 87
PHỤ LỤC 2 94
DANH MỤC BẢNG
viii
Trang 102.1 Thống kê lượng nước dùng trong công nghiệp 112.2 Các khí nhà kính trong khí quyển năm 2006 13
3.1 Tình hình đất đai của huyện Cẩm Giàng năm 2007 - 2009 323.2 Tình hình lao động huyện Cẩm Giàng qua 3 năm 2007 - 2009 343.3 Vốn và tình hình sử dụng vốn của huyện Cẩm Giàng 373.4 Tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế của huyện qua 3 năm
2007-2009
39
4.1 Tình hình phát triển công nghiệp huyện Cẩm Giàng (2007 - 2009) 434.2 Giá trị sản xuất công nghiệp huyện Cẩm Giàng 3 năm 2007-2009 454.3 Tình hình xả thải NTCN vào nguồn nước tại huyện Cẩm
Giàng, tỉnh Hải Dương
48
4.3 Thanh tra về môi trường các đơn vị sản xuất trên địa bàn
huyện Cẩm Giàng
56
4.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của Xí nghiệp phân
bón và hóa chất Hải Dương năm 2009
64
4.5 Sử dụng và thải nước thải của một số doanh nghiệp trong
KCN Phúc Điền trong tháng 12 năm 2009
Trang 114.2 Tóm tắt sơ đồ công nghệ khâu chế biến các loại sản phẩm 664.3 Sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý nước thải của KCN Đại An 70
DANH MỤC ĐỒ THỊ
3.3 Tình hình chi ngân sách của huyện Cẩm Giàng 363.4 Cơ cấu các ngành kinh tế huyện Cẩm Giàng 384.1 Số lần thanh tra, kiểm tra đối với Xí nghiệp (2007- 2009) 66
x
Trang 12DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BVMT Bảo vệ môi trường
CN&XDCB Công nghiệp và xây dựng cơ bản
DT Diện tích
ĐVT Đơn vị tính
GTSX Giá trị sản xuất
KHHGĐ Kế hoạch hoá gia đình
KT – XH Kinh tế xã hội
NĐ-CP Nghị định – Chính phủ
NN Nông nghiệp
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 13PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp là ngành kinh tế đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ nào Nó là động lực cho sự phát triển của các ngành kinh tế, là cơ
sở của các ngành dịch vụ, thương mại, là yếu tố trung tâm của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Công nghiệp góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo cho các quốc gia, nâng cao vị thế, hình ảnh của các quốc gia Tuy nhiên bên cạnh những vai trò to lớn đó, công nghiệp cũng gây ra không ít những hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt như tác động đến đời sống, sức khoẻ của người dân, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến phát triển bền vững Hậu quả nghiêm trọng nhất chính là nó gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến đời sống, sức khoẻ của người dân Việc khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường rất phức tạp, khó khăn và tốn kém trong thời gian dài Thậm chí có những tác động không thể và không bao giờ khắc phục được [17]
Trong đó nguy hiểm nhất chính là việc nước thải công nghiệp gây ô nhiễm nguồn nước Nước thải công nghiệp chứa rất nhiều những hoá chất và vi sinh vật độc hại gây nguy hiểm cho sức khoẻ con người Nước thải công nghiệp không chỉ có tác động trong phạm vi nhỏ mà nó lan rộng theo nguồn nước và rất khó khăn để khắc phục hậu quả
Kết quả khảo sát cho thấy, ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng nề, có khu công nghiệp thải ra tới 500.000 m3 nước bẩn mỗi ngày, nước
Trang 14thải của một số ngành công nghiệp như hoá chất, phân bón, khai thác chế biến khoáng sản có lượng nước thải lớn, hàm lượng có chứa xyama vượt tới 84 lần…
Do vậy, việc quản lý nước thải công nghiệp là rất cần thiết [17]
Hải Dương là một tỉnh được đánh giá rất cao trong việc phát triển công nghiệp Có điều kiện tự nhiên thuận lợi, cơ sở hạ tầng phát triển cộng với nhiều chính sách ưu đãi nên Hải Dương đã thu hút được rất nhiều vốn đầu tư trong phát triển công nghiệp Cẩm Giàng là một huyện điểm trong phát triển công nghiệp của tỉnh Hải Dương Các khu, cụm công nghiệp và nhiều doanh nghiệp mọc lên đã góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế của huyện cũng như của tỉnh Tuy nhiên đi kèm theo đó là vấn đề quản lý nước thải công nghiệp thế nào để bảo vệ nguồn nước và phát triển bền vững
Trong thời gian gần đây, trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, các cơ quan chức năng nhà nước đã phát hiện ra một doanh nghiệp xả thẳng nước thải công nghiệp rất độc hại ra môi trường mà không qua xử lý gây ô nhiễm nghiêm trọng cho dòng sông Giẽ mặc dù công ty này có hệ thống xử lý nước thải tiên tiến nhất miền Bắc Việt Nam Đó là Công ty Cổ phần Công Nghiệp Tung Kuang tại Việt Nam _ công
ty có 100% vốn của Ðài Loan, chuyên sản xuất nhôm thanh định hình
Theo những điều tra ban đầu, bể chứa thu gom nước thải của Công ty này
có khối lượng khoảng 500m3, được bơm thường xuyên qua hệ thống đường ống ngầm nằm sâu dưới lòng đất, thải ra môi trường nhiều hóa chất độc hại như Chrome 6 (cao gấp 10 lần tiêu chuẩn cho phép), Mangan, sắt đều có nồng độ vượt quy định [16]
Công ty Tung Kuang mới bắt đầu xây dựng từ năm 2002 mà đến nay dòng sông Giẽ, nơi công ty này xả nước thải công nghiệp vào đã bị ô nhiễm nghiêm trọng Người dân sống gần sông Giẽ bức xúc nói: “Tôi thường xuyên thấy hiện
Trang 15tượng nước thải đục như nước vo gạo chảy ra ở đoạn sông này Thỉnh thoảng, có hôm nước còn sủi bọt trắng xóa Nước ở đây ô nhiễm, mà không khí cũng kinh khủng Khi nhà máy hoạt động, khói đen xả ra đen xì Chúng tôi có lần tự lấy nước ở đây đi xét nghiệm, nhưng chưa có kết quả Cua hến ở quanh đây chết hết, không sống nổi.”[22]
Điều đặc biệt nguy hiểm là chỉ cách miệng cống ngầm này khoảng 200m
là xí nghiệp kinh doanh nước sạch số 1 Xí nghiệp này trực tiếp lấy nguồn nước mặt của sông Giẽ, sau đó đưa lên xử lý bằng công nghệ đơn giản là các bể lắng lọc Mỗi ngày, nhà máy cung cấp khoảng gần 3000m3 nước cho hơn 3000 hộ dân và các cơ quan đóng trên địa bàn huyện Cẩm Giàng [22]
Vậy những nguyên nhân nào ảnh hưởng đến công tác quản lý nước thải công nghiệp? Các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Giàng đã quản lý nước thải của mình thế nào? Lãnh đạo huyện đã thực hiện công tác quản lý nước thải công nghiệp ra sao và đã thực sự đạt hiệu quả?
Để trả lời các câu hỏi trên cũng như góp phần bảo vệ môi trường nói chung
và môi trường nước nói riêng, nâng cao chất lượng môi trường sống cho người dân, đảm bảo phát triển công nghiệp bền vững trên địa bàn huyện Cẩm Giàng đồng thời được sự phân công của khoa KT & PTNT trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội và của Bộ môn Kinh tế Tài nguyên và Môi trường chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: "Đánh giá thực trạng công tác quản lý nước thải công nghiệp
trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương."
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trang 16Đánh giá thực trạng trong công tác quản lý nước thải công nghiệp từ đó
đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nước thải công nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
1.3 Đối tượng & phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phòng Tài nguyên và Môi trường, các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Giàng và những hộ dân chịu ảnh hưởng của nước thải công nghiệp do các doanh nghiệp thải ra
• Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
Trang 17• Về thời gian: Đề tài được thực hiện từ ngày 25/12/2009 đến ngày 26/05/2010.
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học, lý luận của đề tài
2.1.1 Một số khái niệm
Khái niệm môi trường
+ Theo tổ chức UNDP thì: "Môi trường là những hệ vật thể và phi vật thể xung quanh chúng ta như: gió, đất, nước, cây cối, sinh vật, sông, biển cả…và những gì con người tạo nên: thành phố, trang trại, nhà cửa và các sản phẩm di tích lịch sử khác mà có ảnh hưởng lẫn nhau theo chiều hướng tốt xấu".[2]
+ Theo hội đồng Quốc Tế các nước nói tiếng Pháp thì môi trường được định nghĩa như sau: "Môi trường là một tập hợp, ở một thời điểm đã cho, các nhân tố vật lý, hóa học, sinh học và các nhân tố xã hội có một hậu quả trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt hay lâu dài, đối với các sinh vất sống và các hoạt động của con người".[2]
+ Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường.[4]
+ Theo luật bảo vệ môi trường 2005 thì: "Môi trường bao gồm các yếu tố
tự nhiên và vất chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật".[18]
Khái niệm ô nhiễm môi trường
Trang 18+ Theo tổ chức y tế thế giới (WHO): "Ô nhiễm môi là việc chuyển các chất thải hoặc nguyên liệu vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, sinh vật làm giảm chất lượng môi trường"
+ Theo luật bảo vệ môi trường 2005: "Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường".[18]
+ Ô nhiễm môi trường là hiện tượng suy giảm chất lượng môi trường qua một giới hạn cho phép, đi ngược lại mục đích sử dụng môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và sinh vật.[20]
Khái niệm ô nhiễm nguồn nước
Theo các qui định về bảo vệ môi trường của Việt Nam, ô nhiễm nước là việc đưa vào các nguồn nước các tác nhân lư, hóa, sinh học và nhiệt không đặc trưng về thành phần hoặc hàm lượng đối với môi trường ban đầu đến mức có khả năng gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển b́nh thường của một loại sinh vật nào đó hoặc thay đổi tính chất trong lành của môi trường ban đầu
Theo một định nghĩa khác "Ô nhiễm nước mặt diễn ra khi đưa quá nhiều các tạp chất, các chất không mong đợi, các tác nhân gây nguy hại vào các nguồn nước, vượt khỏi khả năng tự làm sạch của các nguồn nước này."[22]
Các đặc điểm lư học, hóa học và sinh học của nước thải và nguồn sinh ra nó
Trang 19Đặc điểm Nguồn
Lư học
Màu Nước thải sinh hoạt hay công nghiệp, thường do sự phân hủy của các chất thải hữu cơ Mùi Nước thải công nghiệp, sự phân hủy của nước thải
Chất rắn Nước cấp, nước thải sinh hoạt và công nghiệp, xói mòn đất.
Nhiệt Nước thải sinh hoạt, công nghiệp
Hóa học
Carbohydrate Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp
Dầu, mỡ Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp
Thuốc trừ sâu Nước thải nông nghiệp
Phenols Nước thải công nghiệp
Protein Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp
Chất hữu cơ bay hơi Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp
Các chất nguy hiểm Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp
Các chất khác Do sự phân hủy của các chất hữu cơ trong nước thải trong tự nhiên
Tính kiềm Chất thải sinh hoạt, nước cấp, nước ngầm
Chlorides Nước cấp, nước ngầm
Kim loại nặng Nước thải công nghiệp
Nitrogen Nước thải sinh hoạt, công nghiệp
pH Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp
Phosphorus Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp; rửa trôi
Sulfur Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp; nước cấp
Hydrogen sulfide Sự phân hủy của nước thải sinh hoạt
Methane Sự phân hủy của nước thải sinh hoạt
Oxygen Nước cấp, sự trao đổi qua bề mặt tiếp xúc không khí - nước
Trang 20Sinh học
Động vật Các ḍng chảy hở và hệ thống xử lư
Thực vật Các ḍng chảy hở và hệ thống xử lư
Eubacteria Nước thải sinh hoạt, hệ thống xử lư
Archaebacteria Nước thải sinh hoạt, hệ thống xử lư
Viruses Nước thải sinh hoạt, hệ thống xử lư
(Nguồn: Wastewater Engineering: treatment, reuse, disposal, 1991)
Khái niệm nước thải công nghiệp
Nước thải công nghiệp do các xí nghiệp công nghiệp có sử dụng nước trong các quy trình sản xuất khác nhau thải ra, nước thải công nghiệp thường được xử lý ngay trong phạm vi nhà máy để sử dụng lại nước hoặc thải ra nguồn tiếp nhận [9]
Nước thải công nghiệp xuất phát từ ba nguồn chính Thứ nhất là từ các cơ
sở sản zuất Công doạn này có thể được thực hiện liên tục và đồng thời liên tục thải ra một dòng tương đối đặc quánh
Nguồn nước thải thứ hai là các thiết bị làm việc, bao gồm nồi hơi, tháp làm mát và các hệ thống nước sinh hoạt Mặc dù không pahỉ là một phần của quy trình sản xuất nhưng những thiết bị này lại dống vai trò vô cùng quan trọng trong công tác vận hành sản xuất Ngoại trừ các quy trình vệ sinh bảo trì, nhìn chung nước thải từ nguồn này thải ra liên tục và có chất lượng ổn định
Trang 21Nguồn nước thải thứ ba là từ các công đoạn xử lý nước Quy trình lọc trong và trao đổi ion là các quy trình hoạt động theo mẻ, tức là chúng diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định và sau đó được hồi lưu hoặc tái sinh, tạo ra một lượng nước thải lớn trong một khoảng thời gian ngắn Mặt khác, quá triìn thẩm thấu ngược lại làm hình thành một lưu lượng nước thải liên tực Mặc dù chúng ta có thể dùng các biện pháp như bay hơi để thu hồi nước
từ các dòng nước thải và làm giảm bới thể tích dòng nhưng như thế vẫn còn lại các chất rắn hoà tan dưới dạng cặn [24]
Khái niệm quản lý môi trường
Khái niệm: Hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý môi trường Theo một số tác giả, quản lý môi trường bao gồm hai nội dung chính
là quản lý nhà nước về môi trường và quản lý của các doanh nghiệp, các khu dân
cư về môi trường
Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, văn hóa, giáo dục Các biện pháp này có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tùy theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt ra
Có thể nêu tóm tắt, quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội; có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm sử dụng hợp lý tài nguyên và hướng tới phát triển bền vững [18]
Các nguyên tắc quản lý môi trường chủ yếu
Trang 22- Hướng tới sự phát triển bền vững.
- Kết hợp các mục tiêu quốc tế- quốc gia - vùng lãnh thổ và cộng đồng dân
cư trong quản lý môi trường
- Quản lý môi trường xuất phát từ quan điểm tiếp cận hệ thống và cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp đa dạng và thích hợp
- Phòng ngừa tai biến, suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc phải xử lý hồi phục môi trường nếu để xảy ra ô nhiễm
- Người gây ô nhiễm phải trả tiền [18]
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức công tác môi trường ở cấp Trung ương của Việt Nam
(Nguồn: Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững, Lưu Đức Hải-Nguyễn
Ngọc Sinh, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005)
Công cụ quản lý môi trường
Công cụ quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp hoạt động về luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật và xã hội nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững kinh tế - xã hội
Uỷ ban nhân
Sở
nghệ & Môi trường
Trang 23Xét theo chức năng có: công cụ điều chỉnh vĩ mô, công cụ hành động, công cụ phụ trợ.
Xét theo bản chất công cụ có: các công cụ luật pháp - chính sách, các công
cụ kinh tế, các công cụ kĩ thuật quản lý, các công cụ phụ trợ
Quản lý nước thải công nghiệp
Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái
sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải [21]
2.1.2 Tài nguyên nước và sử dụng tài nguyên nước trong công nghiệp
Nước là một tài nguyên có ý nghĩa quyết định đối với sự sống còn và phát triển của con người và xã hội loài người
Nước là thành phần cấu tạo nên sinh quyển, tác động trực tiếp đến các yếu tố của thạch quyển, khí quyển và các nhân tố tác động đến khí hậu, thời tiết trong khí quyển
Sự phát triển kinh tế xã hội cùng với sự gia tăng dân số làm cho nhu cầu
sử dụng nước ngày càng tăng cao Việc sử dụng nước có hiệu quả đòi hỏi một mặt phải sử dụng tổng hợp với quy luật phát triển của nguồn nước, mặt khác phải chú trọng từ khâu thiết kế, xây dựng và vận hành các công trình sử dụng nước nhằm tận dụng tối đa nguồn nước và hạn chế các thiệt hại do nước gây ra
Trong các đối tượng dùng nước, công nghiệp là một hộ dùng nước lớn, tuy lượng nước hồi quy của nước công nghiệp sau khi sử dụng lớn nhưng tỷ lệ sử dụng lại không lớn và phải xử lý tốn kém
Trang 24Lượng nước dùng trong công nghiệp được tính bằng lượng nước để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc có thể xác định theo giá trị sản phẩm đơn vị
1000 USD [19]
Bảng 2.1 Thống kê lượng nước dùng trong công nghiệp
Năm Lượng nước sử dụng trong
năm (tỷ m 3 )
Tỷ lệ % trong tổng lượng nước sử dụng
(Nguồn: Tài nguyên & môi trường, Bộ khoa học, công nghệ và môi trường, NXB
Khoa học và kỹ thuật Hà Nội, 2001)
2.1.3 Vấn đề môi trường trên thế giới
2.1.3.1 Biến đổi khí hậu toàn cầu
Từ những năm 1800 đến nay, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,60C và có tác động trên toàn thế giới Sự biến đổi khí hậu đã khiến hai cộng đồng người phải đi "tị nạn" Đó là cộng đồng người Latue ở quần đảo Vanuatu ở Thái Bình Dương và làng Shishmaref ở hòn đảo ở Alaska đã phải tái định cư do mực nước biển dâng lên ở Thái Bình Dương và sự tan ra của tầng băng vĩnh cửu
ở Alaska
Các mô hình máy tính dự đoán nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng từ 1,40C đến 5,60C vào năm 2100 Các tác động đự đoán đi kèm với sự tăng lên nhiệt độ bao gồm:
+ Mực nước biển toàn cầu sẽ tăng lên 9 đến 88 cm
+ Lượng nước mưa ở khu vực ôn đới và Đông Nam Á sẽ tăng lên, làm tăng nguy cơ lụt lội
Trang 25+ Lượng mưa ở khu vực Trung Á, khu vực Địa Trung Hải, Châu Phi, nhiều nơi ở Oxtralia và New Zealand giảm, làm tăng nguy cơ hạn hán.
+ Những hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra thường xuyên với sức tàn phá khủng khiếp hơn như gió nóng, bão và cuồng phong
+ Sự lan rộng của những "tác nhân truyền bệnh" nguy hiểm như sốt rét.+ Bắc Cực và Nam Cực ngày càng ấm hơn, dẫn đến sự biến mất của nhiều biển băng [9]
Kể từ năm 2005, hàng năm Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMB) công bố Bản tin về trạng thái các khí nhà kính trong khí quyển của năm trước đó Báo cáo đề cập những khí nhà kính có ảnh hưởng nhiều nhất đến thời tiết khí hậu với thời gian tồn tại lâu dài như cac-bon-đi-ô-xít (CO2), mê-tan (CH4) và ni-tơ-ô-xít (N2O) Ba loại khí này đóng góp tới 88% lượng tăng hấp thụ bức xạ từ trái đất của các loại khí nhà kính tồn tại lâu dài kể từ khi bắt đầu kỷ nguyên công nghiệp (năm 1750)
Bảng 2.2: Các khí nhà kính trong khí quyển năm 2006
Chỉ tiêu CO 2 (ppm) CH 4 (ppb) N 2 O (ppb)
Lượng tăng trung bình hàng năm trong 10
(Nguồn: Bộ Tài nguyên & Môi trường-Thông tin Biến đổi khí hậu số 1/2008)
Trang 26Kèm theo quá trình biến đổi khí hậu là thiên tai Thiên tai không những xuất hiện với tuần suất gia tăng mà quy mô gây tác hại cho con người ngày càng lớn, gây hậu quả nặng nề không chỉ tiền của mà còn rất nhiều sinh mạng người Tháng 12/1999, hai trận mưa lớn ở Venezuela đã làm cho 50.000 người chết và khoảng 20.000 người không có nhà ở Cũng vào năm đó, một cơn bão lớn đã cướp đi sinh mạng của 10.000 người ở Oissa (Ấn Độ) và một trận mưa đá đã tàn phá đất nước Thổ Nhĩ Kỳ Đặc biệt thảm họa động đất ở Ấn Độ đã làm cho khoảng 30.000 người chết và hàng vạn người bị thương [22]
2.1.3.2 Suy giảm tài nguyên
• Tài nguyên rừng
Rừng bao phủ một phần ba bề mặt Trái đất và ước tính nuôi dưỡng khoảng 2/3 các loài đã biết sống trên cạn Trong vòng 8.000 năm trở lại, khoảng 45% độ che phủ rừng nguyên sinh trên Trái đất bị biến đổi Hầu hết chúng bị xóa sổ trong thế kỷ trước [9]
Sự phá rừng trên thế giới vẫn đang diễn ra ở mức độ cao, trên thế giới diện tích rừng có khoảng 40 triệu km2, song cho đến nay đã mất đi một nửa Sự phá rừng xảy ra mạnh ở các nước đang phát triển Và đã có tới 65 triệu ha rừng
bị mất trong thời gian từ 1990 – 1995 [22]
Trang 27giới bị bỏ hoang trong 40 năm qua do xói mòn không thể sản xuất được Hàng năm có thêm 20 triệu ha đất nông nghiệp bị suy thoái quá mức không thể sản xuất cây trồng được hoặc bị lấy mất để mở mang đô thị.[2]
• Tài nguyên nước
Tổng lượng nước trên thế giới là 1.368.106 km2 bao phủ 3/4 diện tích bề mặt trái đất Nhưng trong đó lượng nước ngọt chỉ chiếm 2,5% tổng lượng nước,
mà hầu hết tồn tại ở dạng đóng băng ở hai cực, phần con người có thể sử dụng được chiếm một phần vô cùng nhỏ (0,26%) Sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, thâm canh nông nghiệp và các thói quen tiêu thụ nước quá mức đang gây ra khủng hoảng trên phạm vi toàn cầu Sự suy giảm nguồn nước đang gây nên tình trạng khan hiếm nước ở khắp nơi, sự nhiễm mặn nguồn nước các vùng ven biển, ô nhiễm nước…[22]
2.1.3.3 Sự gia tăng dân số
Hiện nay dân số thế giới đang gia tăng nhanh đặc biệt ở các nước nghèo
và đang phát triển, sự gia tăng nhanh kéo theo sự đói nghèo, gây suy thoái môi trường và tình hình kinh tế giảm sút nghiêm trọn
Kể từ thế kỷ XI dân số thế giới mới chỉ 1 tỷ người, nhưng đến năm 1927 dân số thế giới lên đến 2 tỷ người, lên đến 5 tỷ người vào năm 1987 và 6 tỷ người vào năm 1999, theo dự tính đến năm 2015 dân số thế giới sẽ ở mức 6,9 – 7,4 tỷ người, năm 2025 là 8 tỷ người và năm 2050 sẽ là 10,3 tỷ người Với mức tăng dân số như hiện nay sẽ là một áp lực mạnh mẽ lên tài nguyên và môi trường [22]
2.1.4 Thực trạng và những thách thức đặt ra đối với công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam.
2.1.4.1 Thực trạng môi trường.
Trang 28• Về môi trường không khí.
Các yếu tố gây ô nhiễm không khí là bụi khí và khí thải từ sản xuất công
nghiệp, đặc biệt là hoạt động giao thông vận tải Năm 2002, hoạt động giao thông vận tải đã sử dụng khoảng 1,5 triệu tấn xăng và dầu diezel Tương ứng vời lượng xăng dầu tiêu thụ đó, lượng phát thải các loại khí ô nhiễm là khoảng hơn
6 triệu tấn CO2, khoảng 61.000 tấn CO, 35.000 tấn NO2, 12.000 tấn SO2 và hơn 22.000 tấn CmHn
Các nghành công nghiệp gây ô nhiễm không khí nhiều nhất là nhiệt điện, vật liệu xây dựng, luyện kim, hóa chất, khai thác khoáng sản Công nghệ sản xuất lạc hậu và thiếu các thiết bị xử lý ô nhiễm bụi và khí thải là nguyên nhân gây ra ô nhiễm không khí Ở một số nút giao thông tại các đô thị lớn, nồng độ các chất gây ô nhiễm không khí đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép [3]
Trang 29• Chất lượng rừng và đa dạng sinh học.
Đây là một trong những vần đề môi trường bức xúc nhất của nước ta hiện nay Theo thống kê, diện tích đất có rừng nước ta hiện nay khoảng 11,5 triệu ha, trong đó 84% là rừng tự nhiên Trong vòng chưa đầy 50 năm, diện tích che phủ rừng đã giảm tử 43% xuống còn 27% năm 1990 Sau đó, nhờ những giải pháp kịp thời, diện tích rừng đã được nâng lên 33% vào năm 2001 và 34,4% năm
2003 Mặc dù vậy, rừng tự nhiên đầu nguồn và rừng ngập mặn vẫn tiếp tục bị tàn phá nghiêm trọng Rừng già, rừng kín, rừng nguyên sinh chỉ còn chiếm khoảng 13%, rừng tái sinh chiếm tới 55% tổng diện tích rừng Nguyên nhân suy thoái chất lượng rừng chủ yếu do các hoạt động khai thác lâm sản bừa bãi và chuyển đổi mục đích sử dụng đất không có hoặc không đúng quy hoạch
Việt Nam được coi là một trong các quốc gia có đa dạng sinh học cao nhất trên thế giời Tuy nhiên những năm gần đây, đa dạng sinh học nước ta bị suy giảm mạnh Nguyên nhân chính là do cháy rừng, tình trạng phá rừng bừa bãi
và chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai (làm đầm nuôi trồng thủy sản, xây dựng đường sá, chuyển đất rừng thành đất nông nghiệp), dẫn đến thu hẹp nơi cư trú và nguồn dinh dưỡng các giống loài Tình trạng buôn bán trái phép động thực vật quý hiếm, sử dụng các biện pháp khai thác có tính hủy diệt và gia tăng ô nhiễm môi trường cũng góp phần làm suy giảm đa dạng sinh học Ngoài ra, việc nhập các giống loài ngoại lai thiếu kiểm soát cũng là mối đe dọa đối với các giống loài bản địa [23]
• Về môi trường nước
Trang 30Nước là nguồn tài nguyên rất cần thiết cho sự sống trên trái đất Nước được coi là một khoáng sản đặc biệt, vì tàng trữ một năng lượng lớn, lại hoà tan nhiều vật chất, phục vụ cho nhu cầu nhiều mặt của con người.
Nước trên hành tinh phát sinh từ ba nguồn: từ bên trong lòng đất, từ các thiên thạch đưa lại và từ lớp trên của khí quyển trái đất Khối lượng nước chủ yếu trên trái đất (nước mặn, nước ngọt, hơi nước ) đều bắt nguồn từ lòng đất trong quá trình phân hoá các lớp đá ở nhiệt độ cao Theo sự tính toán thì khối lượng nước ở trạng thái tự do phủ lên trái đất là trên 1,4 tỷ km3, nhưng so với trữ lượng ở lớp vỏ giữa (chừng 200 tỷ km3) thì nó chỉ chiếm không đến 1% Nhưng lượng nước này nếu phủ trên bề mặt trái đất sẽ có độ dày 0,3 - 0,4m Ngoài nguồn nước sin hra từ lòng đất, phần còn lại từ vũ trụ và từ lớp trên của khí quyển cung cấp chỉ là phần rất nhỏ [4]
Bảng 2.3 Trữ lượng nước của thế giới
Loại nước Diện tích phân
bổ (1000km 2 )
Khối lượng (1000km 3 )
% so với trữ lượng thế giới Toàn bộ Nước ngọt
(Nguồn: Theo M.I.Lvotvis và A.A.Xokolop)
Trang 31So với nhiều nước, Việt Nam có nguồn nước khá dồi dào Lượng nước bình quân đầu người đạt tới 17000m3/năm Hệ số bảo đảm nước là 68, lớn gấp 3 lần hệ số bảo đảm nước trung bình trê thế giới Do nền kinh tế chưa phát triển nên nhu cầu dùng nước hiện nay chưa cao, khai thác chủ yếu nước các dòng sông chính để phục vụ cho nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt.
Nguồn tài nguyên nước của Việt Nam đang bị ô nhiễm, chủ yếu ở các vùng hạ lưu sông do ảnh hưởng chất thải từ các đô thị và các cơ sở công nghiệp Nguồn gây ô nhiễm chính là nước thải chưa qua xử lý, xuất phát từ các hoạt động sinh hoạt của dân cư đô thị và các hoạt động sản xuất công nghiệp Nước thải sinh hoạt, kể cả ở đô thị và nông thôn thường được đổ thẳng ra các sông, kênh, rạch, ao hồ mà không được xử lý Với khoảng 70 khu công nghiệp và hơn 1.000 bệnh viện trên cả nước, mỗi ngày có hàng triệu m3 nước thải không qua
xử lý đổ vào môi trường Điển hình ô nhiễm môi trường nước trên các lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ - sông Đáy và sông Sài Gòn - Đồng Nai [23]
Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng
bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước
bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang
Trang 32thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…
Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm
ở Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực [17]
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương) Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng
Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 - 400.000 m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH4, NO2, NO3 ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có xử lý nước thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời
Trang 33Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; Ô xy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP.
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở
hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được
xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trung bình biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới 3800-12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu
Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khoẻ nhân dân [23]
• Ô nhiễm nguồn nước ở một số con sông
Nhìn chung chất lượng nước ở thượng lưu các con sông còn khá tốt, nhưng vùng hạ lưu phần lớn đã bị ô nhiễm, có nơi ở mức nghiêm trọng Nguyên nhân là do nước thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nước thải sinh hoạt không được xử lý đã và đang thải trực tiếp ra các dòng sông Chất lượng nước suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu như BOD, COD, NH4, tổng N, tổng P cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần
Sông Đồng Nai: Vùng hạ lưu (tính từ sau hồ Trị An đến điểm hợp lưu với
sông Sài Gòn), ô nhiễm hữu cơ chưa cao (DO = 4 -6 mg/l, BOD = 4 - 8 mg/l)
Trang 34nhưng hầu như không đạt TCVN đối với nguồn loại A Ô nhiễm vi sinh và dầu
mỡ rõ rệt, ô nhiễm kim loại nặng, phenol, PCB… chưa vượt tiêu chuẩn, nhiễm mặn không xảy ra từ Long Bình đến thượng lưu Vùng thượng lưu nước có chất lượng tốt, trừ khu vực thành phố Đà Lạt đã bị ô nhiễm nặng do hàm lượng cao của các chất hữu cơ, dinh dưỡng, vi sinh Khả năng tự làm sạch của sông Đồng Nai khá tốt.[15]
Sông Sài Gòn: Mức độ ô nhiễm là nghiêm trọng cả về hữu cơ (DO = 1,5 -
5,5 mg/l; BOD = 10 - 30 mg/l), dầu mỡ, vi sinh, không có điểm nào đạt TCVN đối với nguồn loại A Ô nhiễm cao nhất là ở vùng sông chảy qua trung tâm TP
Hồ Chí Minh Ngoài ra, sông Sài Gòn còn bị axit hoá nặng do nước phèn ở đoạn Hốc Môn - Củ Chi (pH = 4,0 - 5,5)
Sông Cầu: Chất lượng nước các sông thuộc lưu vực sông Cầu ngày càng
xấu đi, nhiều đoạn sông đã bị ô nhiễm tới mức báo động Ô nhiễm cao nhất là đoạn sông Cầu chảy qua địa phận thành phố Thái Nguyên, đặc biệt là tại các điểm thải của Nhà máy Giấy Hoàng Văn Thụ, Khu Gang thép Thái Nguyên , chất lượng nước không đạt cả tiêu chuẩn A và B Tiếp đến là đoạn sông Cà Lồ,
hạ lưu sông Công, chất lượng nước không đạt tiêu chuẩn A và một số yếu tố không đạt tiêu chuẩn B Yếu tố gây ô nhiễm cao nhất là các chất hữu cơ, NO2-
và dầu Ô nhiễm nhất là đoạn từ nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ tới cầu Gia Bảy, ôxy hòa tan đạt giá trị thấp nhất (0,4 - 1,5 mg/l), BOD5, COD rất cao (>1000mg/l); Colifom ở một số nơi khá cao, vượt quá tiêu chuẩn A tới hàng chục lần Hàm lượng NO2 > 2,0 mg/l và dầu > 5,5 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn B tới 20 lần
Trang 35Sông Nhuệ - sông Đáy: Hiện tại, nước của trục sông chính thuộc lưu vực
sông Nhuệ - sông Đáy đã bị ô nhiễm, đặc biệt là nước sông Nhuệ Chất lượng nước sông Nhuệ từng lúc (phụ thuộc vào thời gian mở cống Liên Mạc), từng nơi vượt trên giới hạn cho phép đối với nước loại B Các sông khác có chất lượng nước ở mức giới hạn cho phép đối với nước loại B Nếu không có biện pháp ngăn ngừa khắc phục, xử lý ô nhiễm kịp thời thì tương lai không xa nguồn nước sông Nhuệ, sông Đáy không thể sử dụng cho sản xuất được
Ngoài ra, ô nhiễm nước ở các sông hồ ở nội thành Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Tp Đà Nẵng đang ở mức trầm trọng, các chỉ tiêu quan trắc đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, thậm chí hàng trăm lần.[15]
2.1.4.2 Ô nhiễm do nước thải công nghiệp
Một số nước thải công nghiệp có chứa các hoạt chất hữu cơ, amoni, sắt và các hợp chất có khả năng bị oxy hoá khác và chúng là các chất chủ yếu tạo ra nhu cầu oxy sin hoá (BOD) của nc thải Vì thế khi xả nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt có chứa nồng độ BOD cao hơn tiêu chuẩn cho phép ra các nguồn tiếp nhận sẽ làm giảm lượng oxy hoà tan trong các nguồn nước và tạo ra môi trường yếm khí, làm mất cân bằng sinh thái của môi trường nước, gây ra các hiện tượng như làm cá chết, nước có mùi, mầu và huỷ hoại môi trường sống của các sinh vật nước Một số nước thải công nghiệp có chứa các hợp chất độc hại đối với đời sống của các loài vi sinh vật nước Các ion kim loại nặg như thuỷ ngân, cadmi, chì và các hoá chất hữu cơ như polychlorinatex, biphenil có thể tích luỹ trong cơ thể của các loài thuỷ sản, gây ra tác dụng độc hại cho người sử dụng, ngoài ra các hợp chất hữu cơ có trong nước thải gây ra mùi, mầu và huỷ
Trang 36hoại môi trường mước, hàm lượng lớn của nitơ, phôtpho gây ra hiện tượng phú dưỡng các nguồn nước.
Cả nước hiện có gần 200 khu chế xuất, khu công nghiệp, xả hơn 220 ngàn m3 nước thải/ngày đêm nhưng chỉ có 30% được xử lý Ô nhiễm nước thải từ các khu công nghiệp hiện là nguyên nhân chính gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước, lưu vực sông tại nhiều địa phương trên cả nước
Thực trạng cho thấy rất nhiều cụm khu công nghiệp nằm ngay sát các dòng sông để tận dụng nguồn nước đầu vào và thuận tiện xả thải Việc làm này không chỉ tác động đến người dân sở tại mà có khả năng phát tán nguồn gây ô nhiễm trên diện rộng, kéo dài rất khó kiểm soát, khắc phục, xử lý hậu quả Vị trí các khu công nghiệp này cũng tạo điều kiện, tiếp tay cho các doanh nghiệp có cơ hội xả chất thải trực tiếp ra môi trường mà ít có nguy cơ bị phát hiện (điển hình
là các khu công nghiệp trên sông Đồng Nai, Thị Vải, Sài Gòn, Sông Nhuệ, Sông Đuống, sông Cầu bị báo chí lên án trong thời gian qua) [18]
2.1.4.3 Thách thức đối với công tác bảo vệ môi trường.
Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, yêu cầu bảo vệ môi trường đặt ra rất lớn nhưng công tác bảo vệ môi trường đang đứng trước nhiều thách thức, trong đó nổi lên là:
+ Ý thức bảo vệ môi trường trong xã hội còn thấp, đặc biệt là chưa biết nhận thức về bảo vệ môi trường thành hành động trong thực tế
+ Bộ máy tổ chức và năng lực quản lý môi trường chưa đáp ứng yêu cầu, vừa thiếu về lực lượng vừa yếu về năng lực
Trang 37+ Nhiều vấn đề môi trường bức xúc chưa được giải quyết trong khi dự báo mức độ ô nhiễm tiếp tục gia tăng.
+ Kết cấu hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường lạc hậu, nguồn lực bảo vệ môi trường nhà nước và các doanh nghiệp đều bị hạn chế
+ Sự gia tăng dân số, di dân tự do và đói nghèo chưa được giải quyết một cách cơ bản
+ Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra các yêu cầu ngày càng cao về môi trường
và tác động của những vấn đề môi trường khu vực và toàn cầu ngày càng lớn
+ Mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm với yêu cầu bảo vệ môi trường chưa được xử lý đang là thách thức lớn nhất trong công tác bảo vệ môi trường.[2]
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Tình hình quản lý nước thải công nghiệp ở Việt Nam
2.2.1.1 Tình hình quản lý và sử dụng tài nguyên nước
Ở Việt Nam, nước chưa được xem là loại hàng hoá đặc biệt Giá nước không hợp lý và sự quản lý lỏng lẻo là nguyên nhân gây nên tình trạng khai thác bừa bãi và sử dụng lãng phí tài nguyên nước đồng thời cũng là nguyên nhân làm biến đổi số lượng và chất lượng tài nguyên nước của nhiều địa phương và khu vực
Trong công tác đo đạc thuỷ văn ở Việt Nam chỉ được thiến hành có hệ thống về số lượng Việc theo dõi chất lượng nước cũng như nghiên cứu tác động của tài nguyên nước đến kinh tế- xã hội còn phân tán chưa có hệ thống
Trang 38Trong công tác quy hoạch mới chỉ chú ý đến phát triển nguồn nước và xây dựng các công trình Chưa chú ý đến quản lý quy hoạch phát triển các dòng sông, các lưu vực sông và các vùng châu thổ Chưa chú ý đến nhu cầu nước để duy trì hệ sinh thái, tỷ lệ khai thác hợp lý giữa nước mặt và nước dưới đất, sự điều hoà nước giữa các mùa và các vùng.
Về công tác quản lý tài nguyên nước, luật bảo vệ môi trường nước đã có hiệu lực nhưng vẫn chưa đi vào cuộc sống Chưa phân chia tỷ lệ đầu tư hợp lý cho các khâu từ khảo sát, nghiên cứu, thiết kế, xây dựng, khai thác-sử dụng và duy tu - bảo dưỡng Thường chỉ chú ý đến giai đoạn xây dựng mà ít chú ý đến các giai đoạn duy tu bảo dưỡng và nghiên cứu khai thác công trình Vì vậy nhiều công trình không phát huy được hiệu quả, thậm chí bị bỏ quên
Việc phân chia quyền hạn, trách nhiệm, sự phối hợp các đầu mối quản lý
và sử dụng tài nguyên nước để phát triển bền vững tài nguyên nước còn nhiều vấn đề tồn tại [19]
2.2.1.2 Tình hình quản lý nước thải công nghiệp
Quản lý nước thải công nghiệp là một công việc hết sức phức tạp bởi nước thải có biến động rất lớn về thành phần tính chất Nó phụ thuộc vào nhiều điều kiện: nguồn lực kinh tế, khả năng công nghệ, tính chất và thành phần rác thải, phong tục tập quán Hiện nay ở Việt Nam, việc quản lý, bảo vệ môi trường tuy đã được bàn đến nhiều nhưng vẫn chưa thực sự đi vào thực hiện trong thực tế, đặc biệt là vấn đề quản lý nguồn nước thải công nghiệp - một nguồn thải chứa nhiều hoá chất và vi sinh vật độc hại gây huỷ hoại nghiêm trọng nguồn nước tự nhiên
Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công
Trang 39nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu: nhận thức của người dân về vấn đề môi trường còn chưa cao… Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước Các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu (chẳng hạn như chưa có các quy định và quy trình kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn nước)
Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực và các vùng lãnh thổ lớn Chưa có các quy định hợp lý trong việc đóng góp tài chính để quản lý và bảo vệ môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu hụt tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường nước
Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường nước còn rất thấp (một số nước ASEAN đã đầu tư ngân sách cho bảo vệ môi trường là 1% GDP, còn ở Việt Nam mới chỉ đạt 0,1%) Các chương trình giáo dục cộng đồng về môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng còn quá ít Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường nước còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng (Hiện nay ở Việt Nam trung bình có khoảng 3 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu dân, trong khi đó ở một số nước ASEAN trung bình là 70 người/1 triệu dân) [23]
Tại Hội thảo phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật
về môi trường ở khu chế xuất- khu công nghiệp diễn ra ở TPHCM ngày 12/06/2009 Đại tá Phan Hữu Vinh - Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát môi trường
Trang 40cho biết: đến cuối năm 2008, cả nước mới chỉ 60/219 khu chế xuất - khu công nghiệp có nhà máy xử lý nước thải, với lượng nước xử lý đạt 30 phần trăm Tuy nhiên, đáng lo ngại là chất lượng nước thải sau khi xử lý vẫn chưa đạt yêu cầu
và chưa ổn định Nhiều nơi có nhà máy xử lý nước thải nhưng thực chất không hoạt động vì thiếu kinh phí hoặc các cơ sở sản xuất xử lý nhưng không đấu nối vào hệ thống xử lý nước thải tập trung Vì vậy, nhiều chỉ tiêu về coliform, amoniac, kim loại nặng đều vượt tiêu chuẩn cho phép Ông cũng cho biết mỗi ngày có đến 750 ngàn m3 nước thải công nghiệp chưa được xử lý và một lượng lớn đã xử lý nhưng chưa chiệt để được thải ra nguồn nước
Cũng tại hội nghị này Ông Ngô Anh Tuấn - Phó Trưởng ban Quản lý khu chế xuất - khu công nghiệp TPHCM cho biết: Trong năm 2008, 184 doanh nghiệp trong tổng số 13 khu chế xuất - khu công nghiệp ở TPHCM vi phạm môi trường, bị xử lý, với số tiền hơn 1,85 tỷ đồng
Tuy nhiên, theo ông Tuấn, việc xử phạt vẫn chưa đủ sức răn đe các doanh nghiệp, bởi hệ thống văn bản vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường chưa hoàn chỉnh và đồng bộ, vừa thiếu lại vừa chồng chéo.[19]
Theo các nhà môi trường, 10 năm trở lại đây, chưa hề có một chương trình hay dự án nào tiến hành giám sát ô nhiễm và thống kê lượng chất thải tại các khu công nghiệp một cách toàn diện Hầu hết những hỗ trợ từ phía nhà nước chỉ tập trung cải thiện môi trường đầu tư, còn hành lang pháp lý về quản lý môi trường vẫn chưa được ban hành Còn bản thân các khu công nghiệp thì không có bộ phận chuyên trách lĩnh vực này Thậm chí, có trường hợp doanh nghiệp và đơn
vị đầu tư xây dựng khu công nghiệp ngầm thỏa thuận "cùng nhau nhắm mắt"