Đối với ViệtNam, ngành chăn nuôi đã có từ lâu đời và ngày càng phát triển trở thành mộtngành sản xuất chính trong nông nghiệp và nông thôn nước ta, chăn nuôi cungcấp nguồn thực phẩm, đồn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘIKHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
-
-KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Nghiên cứu sự phát triển nghề nuôi hươu sao tại các nông hộ ở
huyện Hương Sơn – Tỉnh Hà Tĩnh
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế nông nghiệp
Giảng viên hướng dẫn : TS NGUYỄN THỊ MINH HIỀN
HÀ NỘI - 2010
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 4
2.1.2 Vai trò của nghề chăn nuôi hươu sao 6
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật trong chăn nuôi hươu sao 9
2.1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nghề nuôi hươu sao 17
2.1.5 Các hình thức chăn nuôi hươu ở Việt Nam 21
2.1.6 Một số chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của chăn nuôi 23
2.2 Cơ sở thực tiễn 24
2.2.1 Tình hình phát triển chăn nuôi hươu sao trên thế giới 24
2.2.2 Tình hình phát triển chăn nuôi hươu sao ở một số địa phương ở Việt Nam .27
2.2.3 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 28
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 33
Trang 33.2 Phương pháp nghiên cứu 37
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 37
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 37
3.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 39
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 39
3.2.5 Phương pháp chuyên gia chuyên khảo 40
3.2.6 Các hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 41
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
4.1 Khái quát lịch sử phát triển và tình hình chăn nuôi hươu sao ở huyện Hương Sơn 43
4.1.1 Lịch sử phát triển 43
4.1.2 Khái quát tình hình chăn nuôi hươu sao tại huyện 44
4.2 Thực trạng phát triển chăn nuôi hươu sao tại nông hộ 47
4.2.1 Thông tin chung về các hộ nuôi hươu điều tra năm 2010 47
4.2.2 Tình hình đầu tư chăn nuôi hươu sao của hộ điều tra 51
4.2.3 Tình hình tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của các hộ nông dân 53
4.2.4 Kết quả và hiệu quả kinh tế chăn nuôi hươu ở hộ nông dân 56
4.3 Định hướng và giải pháp phát triển nghề nuôi hươu 58
4.3.1 Đánh giá chung về thuận lợi và khó khan, phân tich ma trận SWOT 58
4.3.1.1 Những thuận lợi 58
4.3.1.2 Khó khăn gặp phải của các hộ nuôi hươu 60
4.3.2 Định hướng 64
4.3.3 Các căn cứ chung để đề xuất giải pháp 65
4.3.4 Giải pháp 65
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
5.1 Kết luận 71
5.2 Kiến nghị 72
Trang 4PHẦN I MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết
Qua hơn 20 năm đổi mới, nước ta đang vững bước vào tiến trình hội nhậpnền kinh tế thế giới với xu hướng hòa bình hợp tác và cùng phát triển trên cơ sởtạo điều kiện thuận lợi, học hỏi kinh nghiệm và tranh thủ được sự giúp đỡ củacác nước trong quá trình lựa chọn con đường hội nhập nhanh nhất và tránh đượccác nhược điểm, hạn chế mà các nước đi trước gặp phải
Cùng với quá trình phát triển của đất nước, nền nông nghiệp giữ vai tròquan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nông nghiệp cung cấp lương thực thựcphẩm phục vụ nhu cầu sống của người dân và là nguyên liệu cho các ngành sảnxuất khác, trong đó phải kể đến sự đóng góp của ngành chăn nuôi Đối với ViệtNam, ngành chăn nuôi đã có từ lâu đời và ngày càng phát triển trở thành mộtngành sản xuất chính trong nông nghiệp và nông thôn nước ta, chăn nuôi cungcấp nguồn thực phẩm, đồng thời nâng cao thu nhập cho người dân, góp phầnđáng kể trong việc cải thiện mức sống của hộ
Trong cơ cấu ngành chăn nuôi, ngoài chăn nuôi những con gia súc gia cầm nhưlợn, bò, gà, vịt đang chiếm vị trí quan trọng với những đặc tính riêng của nó thìhiện nay việc chăn nuôi các loại động vật hoang dã quý hiếm gắn liền với việckhai thác hợp lý với bảo vệ nguồn tài nguyên động vật là một trong những xuhướng khai thác bền vững, đem lại nhiều lợi ích cho gia đình, cộng đồng và xãhội Trong đó, chăn nuôi hươu sao đang được phát triển ở một số vùng trên đấtnước Hươu sao là loài động vật quý hiếm, nhung hươu là vị thuốc bổ có giá trịđối với sức khỏe con người chữa trị một số bệnh như tim mạch, kéo dài tuổi thọ,trị hư lao, gầy ốm, các bệnh về xương,…., là nguyên liệu quý dùng làm thuốctrong tây y và đông y
Nghề nuôi hươu đã có truyền thống lâu đời ở vùng đất Hương Sơn – HàTĩnh, đã và đang giúp cho người dân nơi đây xóa đói giảm nghèo làm giàu một
Trang 5cách vững chắc Trong những năm gần đây khi điều kiện kinh tế của nông dânsung túc lên nhất là từ những năm 90 của thế kỷ XX thì đàn hươu đã tăng lênkhá nhanh, nó đã trở thành nghề chăn nuôi phát triển kinh tế gia đình Đến nay,tổng số đàn hươu ở Hương Sơn đã đạt trên 20 ngàn con, số gia đình nuôi hươu
đã tăng cao, có nhiều gia đình đã nuôi đến 10 – 30 con/ hộ và mang lại thu nhập
từ 50 – 100 triệu đồng/ hộ / năm Nghề nuôi hươu ở Hương Sơn – Hà Tĩnh đãtrải qua những bước thăng trầm, không tránh khỏi những lúc gian nan cho ngườinuôi do giá biến động bất thường nhưng nay nghề nuôi hươu đang trở lại với giátrị thực của nó
Ngày nay chăn nuôi hươu sao được phát triển rộng khắp ở Hương Sơn,thực sự là một lĩnh vực sản xuất mang lại lợi nhuận cao - từ việc khai thác tiềmnăng, lợi thế ở địa phương Tuy nhiên vẫn còn mang nhiều tính chất tự phát, do
đó còn nhiều câu hỏi đặt ra như:
- Thực trạng phát triển chăn nuôi hươu sao trên địa bàn huyện Hương Sơnđang diễn ra như thế nào?
- Hiện nay có những hình thức chăn nuôi hươu sao nào?
- Những khó khăn thuận lợi của hộ chăn nuôi hươu sao của các hộ trên địabàn huyện Hương Sơn là gì?
- Những giải pháp nào cần được đưa ra nhằm phát triển nghề nuôi hươusao, nâng cao thu nhập cho các hộ chăn nuôi hươu sao tại huyện Hương Sơn?
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu phát triển nghề nuôi hươu sao tại các nông hộ ở Hương Sơn – Hà Tĩnh”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng nghề nuôi hươu ở các nông hộ trên địa bàn huyệnHương Sơn – Hà Tĩnh Từ đó đề xuất một số giải pháp để nhằm phát triển nghềnuôi hươu sao trong các nông hộ trên nhằm nâng cao thu nhập và phát triển chănnuôi bền vững
Trang 61.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề kinh tế - tổ chức có liên chăn nuôi hươu sao tạinông hộ ở Hương Sơn – Hà Tĩnh
- Những thuận lợi khó khăn của sự phát triển chăn nuôi hươu sao của các
hộ chăn nuôi trong huyện
- Các giải pháp thúc đẩy nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi hươu sao tạihuyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 7- Thời gian được nghiên cứu thông qua các số liệu thu thập qua 3 năm
2007 – 2009, trong đó số liệu sơ cấp tập trung chủ yếu vào năm 2009
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Hộ nông dân
Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của các nhà khoa học nôngnghiệp và phát triển nông thôn Các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp
ở nông thôn chủ yếu thực hiện qua sự hoạt động của nông hộ
Tchayanov, nhà nông học người Nga cho rằng: “Hộ nông dân là một đơn
vị sản xuất ổn định và ông coi hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng vàphát triển nông nghiệp” Luận điểm của ông đã được áp dụng rộng rãi trongchính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới
Theo Frank Ellis (năm 1988): “Hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếmsống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằmtrong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sựtham gia từng phần vào thị trường với mức độ hoàn hảo không cao”
Ở Việt Nam, cũng có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân, LêĐình Thắng (năm 1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hìnhthức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”
Đào Thế Tuấn (năm 1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếuhoạt động theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phinông nghiệp ở nông thôn”
Như vậy hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sảnxuất chính là nông nghiệp, nguồn thu và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông.Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nôngnghiệp như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở các mức độ khác nhau
Trang 8Hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn
vị tiêu dùng
2.1.1.2 Kinh tế hộ nông dân
Theo Tchayanov (1920): “Kinh tế hộ nông dân được hiểu là một hìnhthức tổ chức kinh tế nông nghiệp chủ yếu dựa vào sức lao động gia đình nhằmthỏa mãn những nhu cầu cụ thể của hộ gia đình như một tổng thể mà không dựatrên chế độ trả công theo lao động với mỗi thành viên của nó”
Có ý kiến lại cho rằng: “Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tếphức tạp xét từ góc độ quan hệ kinh tế có tổ chức, là sự kết hợp những ngành,những công việc khác nhau trong quy mô gia đình nông dân”
Theo Frank Ellis (1988): “Kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộgia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu lao độngcủa gia đình Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn vàtham gia ở mức độ không hoàn hảo vào các hoạt động của thị trường”
Theo TS.Đỗ Văn Viện (2006): “ Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chứckinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, laođộng, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất
Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, quyết định trong sản xuất – kinh doanh
và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạođiều kiện để phát triển”
Song kinh tế nông hộ cũng có giới hạn nhất định, đặc biệt trong sản xuấtđòi hỏi các hộ phải có sự hợp tác, đoàn kết thì mới làm được Một số hộ nôngdân riêng lẻ khó có thể giải quyết các vấn đề về thủy lợi, phòng trừ sâu bệnh -dịch hại, áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật và sản xuất, tiêu thụ nông sản hànghóa, phòng trừ thiên tai và rủi ro trong sản xuất kinh doanh Ở đây lại nổi lên sựcần thiết của kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư nhân cũng như nhiều
tổ chức khác trong quan hệ hướng dẫn và hỗ trợ kinh tế nông hộ phát triển
Trang 9Từ các khái niệm trên cho thấy: Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chứckinh tế cơ sở của xã hội, trong đó các nguồn lực đất đai, lao động, tiền vốn và tưliệu sản xuất.
2.1.2 Vai trò của nghề chăn nuôi hươu sao
Hươu là động vật hoang dã có giá trị kinh tế cao Nguồn lợi thu được khinuôi hươu là thịt, nhung hươu và các sản phẩm phụ
2.1.2.1 Chăn nuôi hươu cung cấp nhung là một dược liệu quý hiếm
Nhung hươu có rất nhiều tác dụng chữa bệnh:
* Tăng cường thể lực chung: Lộc nhung làm tăng khả năng tổng hợp của
hồng cầu thí nghiệm đã chứng minh là các động vật thí nghiệm hoặc các vậnđộng viên Khả năng làm việc của các vân động viên Nga có sử dụng lộc nhung
đã tăng từ 15 kg/m tới103 kg/m (Yudin và Dubryakov, 1974) Các tác giả củacông trình khoa học trên nhận thấy rằng tác dụng chủ yếu của lộc nhung trên cácvận động viên là do chất Pantocrine, một hoạt chất có chứa trong nhung.Pantocrine là chất không những tham gia vào tổng hợp hồng cầu hmà còn thamgia vào quá trình vận chuyển máu, hai tác dụng trên đã làm tăng khả năng vậnchuyển Oxi cho Oxihoá chất dinh dưỡng tạo ra năng lượng và đào thải tống khứcác chất độc ra khỏi cơ thể
* Chống lão hoá: Các kết quả nghiên cứu khoa học ở Nhật Bản, Canana,
Nga, Hàn Quốc chứng tỏ rằng dùng nhung hươu sẽ làm giảm hại sự tác động củamôi trường bên ngoài lên cơ thể như sự lão hoá do các hoá chất, làm tăng sự tổnghợp sự tổng hợp Protein làm giảm sự lão hoá
* Tác dụng đối với huyết áp và hệ tim mạch: Các nhà nghiên cứu khoa
học Nga, Nhật Bản đã nghiên cứu tác dụng của lộc hươu lên hệ tim mạch và cókết quả là việc dùng lộc nhung bằng cách uống hoặc chiết suất các chất và tiêm
đã làm giảm đáng kể huyết áp của người (Fisher, 1988; Church,1999) Tuy nhiênlàm giảm huyết áp của lộc nhung chỉ có tính chất tạm thời làm giảm huyết áp lànhờ chất Choline có trong nhung
Trang 10* Phục hồi các chức năng hoocmon và hệ thống miển dịch: Các chấtPantocrine, Proteoglycane có tác động lên hệ miển dịch của cơ thể bằng cáchkích thích sinh sản Immunoglobuline, lộc nhung có tác dụng chống lại việcnhiểm các bệnh cảm cúm thông thường, hiện tượng co rút đau trước chu kỳ kinhnguyệt, hoặc các triệu trứng khó chịu của thời kỳ suy dương của nam giới…
* Chống căng thẳng thần kinh: ở lộc nhung các dây thần kinh phát triểnmạnh nhanh hơn các bộ phận khác, nó có thể tăng lên 1cm/ ngày Tốc độ pháttriển nhanh như vậy kéo theo việc tích tụ một số chất các hoạt chất cần thiết cho
sự phát triển của tế bào thần kinh, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng các chất này lànguyên nhân chống lại căng thẳng thần kinh của lộc nhung
* Chống thấp khớp và loãng xương: Bệnh thấp khớp là bệnh do lớp sụnbôi trơn ở các khớp xương, do cơ thể mất Proteoglucane và Collagene hoặc bịthoái hoá Nếu dùng Glucosamine, Sulgate, Collagene, Chondoroitine thì có thểgiúp cơ thể giảm được bệnh này, trong lộc nhung có chứa một số đáng kể cácchất này, mặt khác các chất trong lộc nhung có thể đồng hoá các chất này của cơthể tạo điều kiện phục hồi phần Collagene và xương của các khớp Các chấtkhoáng cũng có nhiều trong lộc nhung đặc biệt là Calcium, Phosphate dưới dạnghữu cơ góp phần ngăn ngừa bệnh loãng xương
* Kích thích sự tăng trưởng ở trẻ em: Vì trong nhung có chứa các hoocmon sinh trưởng chẳng hạn như DHA (DocosaHexanoic Acid) kích thích pháttriển cho trẻ, lại là nguồn Calcium, Phosphate hữu đặc biệt là các chất làm tăng
sự hấp thu các chất dinh dưỡng qua thành niêm mạc ruột giúp trẻ phát triển Theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc từ 28 bộ phận khác nhau như:Nhung, máu, lông, gân, da, móng Trung Quốc đã tạo ra 76 loài thuốc bổ chia ra
5 nhóm (48 loại thuốc bổ) 23 loại thuốc bài tiết, thận; 3 loại chữa lành: 1 loạicho dạ dày và đường ruột; 1 loại cho tim mạch)
Trang 11Vì vậy, nhung hươu rất có giá trị trên thị trường trong nước và thế giới ỞAustralia và NewZealand, giá 1kg nhung tươi là 198 – 242 USD và 1kg nhungsấy khô thái mỏng là 1000 USD, Hàn Quốc giá 1kg nhung tươi là 80000 won.
Hiện nay, tại Hương Sơn – Hà Tĩnh giá nhung khoảng 3,5 triệu đồng/ kg,với giá này đã tạo được sự ổn định, tạo niềm tin trong việc phát triển chăn nuôihươu sao ở huyện Hương Sơn nói riêng và toàn quốc nói chung
2.1.2.2 Thịt hươu là loại thịt đặc sản bổ dưỡng, có giá trị dinh dưỡng cao và cân đối
Dinh dưỡng của thịt hươu khá cao tương ứng với giá trị dinh dưỡng trongthịt của các vật nuôi khác.Thịt của nó ngon bổ dưỡng ăn thịt hươu có tác dụng
bổ trung ít khí, mạnh gân cốt (Đỗ Tất Lợi, cây thuốc nam) Da, gân, đuôi, lông
và các phụ tạng khác (huyết thanh, dịch hoàn) đều có tác dụng chữa bệnh trong
Hàm lượng Khoáng
Hàm lượng Protein
Hàm lượng Lipit
Trang 12làm các đồ mỹ nghệ, hươu nuôi ở các vườn bách thú phục vụ du lịch tham quan,sinh thái.
Ngoài ra người ta còn thu được hàng loạt phế phẩm phụ khi giết thịt hươu
mà giá trị của chúng phụ thuộc vào giới tính Couchman (1979) cho rằng: Hầuhết các sản phẩm phụ ngoại trừ da sống và phụ phẩm có thể ăn được có giákhoảng 60 – 75 USD/ con Theo Đỗ Tất Lợi (1982), các cơ thể khác của cơ thểhươu được dùng làm dược liệu trong đông y:
- Lộc thận, lộc tiên (Dịch hoàn và dương vật hươu) có tác dụng bổ thậntráng dương Lộc huyết (máu hươu) phơi khô dùng làm thuốc bổ
2.1.2.4 Phát triển chăn nuôi hươu là biện pháp giảm cạnh tranh lương thực giữa con người và vật nuôi
Nuôi hươu ít hoặc không có cạnh tranh lương thực, thức ăn khác của conngười Bởi vì thông qua hệ vi sinh vật dạ cỏ ở hệ thống tiêu hoá của hươu thì mộtkhối lượng chất hữu cơ và năng lượng khổng lồ tiềm tàng trong hệ thống nôngnghiệp và công nghiệp, chế biến thông qua đấy mà dường như các phế phụ phẩm
đã chuyển thành những sản phẩm quý hiếm cùng cấp cho con người
2.1.2.5 Chăn nuôi hươu mang lại thu nhập cho hộ gia đình, tạo công ăn việc làm cho những lao động nhàn rỗi
Chăn nuôi hươu hàng năm mang lại thu nhập đáng kể cho người dân, bâygiờ con hươu đầu tư vốn ban đầu như con giống thấp, chi phí thức ăn thấp chỉbằng 1/2của con bò, đầu tư sức lao động thấp những thu nhập từ con hươu mỗinăm mang lai có thể hơn con rất là nhiều
Nuôi hươu nói riêng và động vật hoang dã nói chung, không chỉ thu vềnguồn lợi kinh tế mà còn góp phần bảo vệ nguồn gen quý hiếmm, bảo tồn cácloại động vật hoang dã, vừa có giá trị trước mắt, vừa mang ý nghĩa lâu dài Chođến nay hầu như các nước trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề này
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật trong chăn nuôi hươu sao
2.1.3.1 Đặc điểm kinh tế trong chăn nuôi hươu sao
Trang 13Hươu sao là loài vật động vật hoang dã nên việc chăn nuôi hươu cần có lýthuyết áp dụng chăn nuôi theo tính cách hoang dã của chúng Hươu có bản chất
ăn tạp, bộ phận tiêu hóa khác với các loại gia súc khác, thời gian - chăn nuôihươu kéo dài từ 15- 20 năm
Nuôi hươu ở hộ vừa mang tính thâm canh vừa mang tính quản canh, vìthời gian nuôi dài nhưng mỗi năm hươu cái sinh sản một lầnvà hươu đực chonhung từ 1 – 2 lần
Hươu cái trước và sau khi sinh cần đầu tư thêm thức ăn, còn bình thườngcho ăn theo tính chất khẩu phần như tính hoang dã của chúng Hươu đực trước
và sau thời gian lên nhung khoảng 50 – 60 ngày là cắt, cần có sự đầu tư thêm vềthức ăn, còn sau thời gian đó cũng cho ăn theo tiêu chuẩn khẩu phần như tínhcách hoang dã
Hộ gia đình chăn nuôi hươu sử dụng lao động và tiền vốn của hộ là chủyếu Những hộ gia đình chăn nuôi theo quy mô nhỏ thì tận dụng sức lao độnggia đình và những lúc rãnh rỗi về thời gian để chăn nuôi hươu Hộ gia đình chănnuôi theo quy mô lớn thì phải đầu tư tích lũy thức ăn theo mùa vụ và phải cónhân lực lao động chăm sóc và theo dõi hươu
Thu nhập từ chăn nuôi hươu mang lại cho hộ nông dân cao nhưng cầnchú ý những rủi ro về chăm sóc phòng ngừa bệnh tật
2.1.3.2 Kỹ thuật chăn nuôi hươu sao
Trong chăn nuôi nói chung để có năng suất cao, ngoài yếu tố quyết định
là giống thì vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng tác động không kém đến khả năng sảnxuất đó là năng suất, chất lượng nhung, khả năng sinh sản Chính vì thế chămsóc nuôi dưỡng là công việc quan trọng, có ý nghĩa đến sự thành công trongchăn nuôi hươu Đây là những vấn đề quan trọng nhất trong việc nuôi hươu nếulàm tốt theo các bước trong quy trình này, chắc chắn chúng ta sẽ thu được nhữngkết quả tốt
a Chuồng trại
Trang 14Việc xây dựng chuồng trại phải đạt được các mục đích sau đây:
- Phù hợp với các đặc tính sinh lý của hươu
- Có độ bền vững, chắc chắn không cho hươu thoát ra ngoài và đi mất
- Phải tiết kiệm nguyên vật liệu, vật liệu làm chuồng không ảnh hưởng tớisức khoẻ của hươu
* Vị trí xây chuồng:
- Phải cách nhà một khoảng hợp lý tránh ô nhiễm và tiếng động, mùi vị ô
nhiễm, phải là nơi cao ráo nhưng phải là vị trí mà mùa đông thì ấm áp mùa hèthoáng mát
b Chọn giống hươu để nuôi:
* Đối với hươu đực:
- Con khoẻ mạnh, lông mượt, vầng trán to, thân hình vạm vỡ, bốn chânchắc chắn đều đặn
- Chọn những con đực sinh ra từ những con bố mẹ tốt, nên chọn con lứa
thứ 2 đến thứ 7, con bố có đặc điểm tốt đã có khả năng cho nhung từ 1 - 1,5kg/năm trở lên
* Đối với hươu cái:
Trang 15- Chọn con được sinh ra từ con mẹ ổn định hàng năm, nuôi con khỏekhông bị bệnh truyền nhiễm.
- Chọn hươu được sinh ra từ lứa thứ 2 đến thứ 7, không nên lấy các lứasau
- Hươu con khỏe mạnh, lông mượt, cổ dài, đầu thanh, mông nở, các bộphận sinh dục nổi rõ
c Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng Hươu sao
* Nhu cầu dinh dưỡng:
- Lượng thức ăn cho ăn: Cho hươu ăn đủ lượng thức ăn theo tiêu chuẩnkhẩu phần ăn và có sự điều chỉnh, theo dõi tránh bội thực do ăn quá no hoặcphải theo dõi hươu ăn thiếu khẩu phần dẫn đến quá đói (thiếu thức ăn) Để tránhđược điều này chúng tôi đã phân ra các loại hươu để xây dựng định mức khẩuphần cho chúng để tiện chăm sóc nuôi dưỡng: Hươu cai sữa từ 3 tháng đến1năm tuổi, hươu hậu bị từ 1-2 năm tuổi, hươu kiểm định từ 3-4 năm tuổi, Hươu
cơ bản từ 4 năm tuổi trở lên
Bảng 2.2: Khẩu phần ăn của các loại hươu trong một ngày đêm
Chỉ tiêu
Thức ăn xanh (kg)
Thức ăn tinh (kg)
Thức ăn củ quả (kg)
Khoáng sinh tố (g)
Muối (g)
Nước (lít)
Trang 16- Qua bảng 2.1 Định mức khẩu phần ăn cho chúng chúng ta thấy rằng,thức ăn chủ yếu dùng cho hươu là thức ăn thô xanh, thức ăn tinh rất ít, điều nàyphù hợp với dạ dày bốn túi, tiêu hoá nhờ hệ vi sinh vật sống cộng sinh trong dạ
cỏ thức ăn của chúng chủ yếu là cỏ cây giàu xơ
- Còn thức ăn tinh là loại thức ăn bổ sung mà thôi, lượng thức ăn tinh nàynhằm cumg cấp năng lượng cho hệ vi sinh vật dạ cỏ hoạt động, nếu bổ sungkhông hợp lý sẽ làm rối loạn tiêu hoá Đối với thức ăn khoáng và sinh tố thườngchiếm một tỷ lệ rất ít, tuy vậy không để thiếu nhất là hươu cái khi có chữa, đẻ,hươu cái tiết sữa nuôi con, hiện nay thức ăn khoáng và các loại tổng hợpVitamin có bán ở dạng tổng hợp rất nhiều trên thị trường, chúng ta nên mua để
bổ sung cho hươu
Bảng 2.3: Nhu cầu về protein của các loại hươu
Trang 17- Nước rất cần cho hươu uống, có đầy đủ nước thì quá trình tiêu hoá mớithực hiện được, vì thế chúng ta cần cho hươu uống nước sạch và đầy đủ.
* Xử lý và chế biến thức ăn trước khi cho hươu ăn
- Thức ăn cho hươu: Thức ăn xanh phải non, ngon, sạch, không để thức ănquá ướt nước nhất là nước bẩn vì vậy trước khi cho ăn thì phải được rửa sạch đểráo nước, thì mới cho hươu ăn Một số cây thức ăn, như lá cây mía, cây cỏ voitrước khi cho ăn thì cần cắt ngắn chừng 10- 15cm, các thức ăn củ quả dùng làmthức ăn cho hươu thì đem thái lát cắt mỏng làm nhỏ, thức ăn có chứa độc tố thìcần xử lý loại bỏ độc tố rồi mới cho hươu ăn, không cho hươu ăn các thức ănsiu thối kém phẩm chất, cần trồng một số cây hươu thích ăn để làm thức ăn chohươu
- Cho hươu ăn uống sạch sẽ: Hươu là động vật nhai lại nhưng trong ănuống hươu rất sạch sẽ, chính vì thế hươu ít mắc bệnh tật, thức ăn xanh được kẹpthành một dãy phía ngoài chuồng để hươu có thể thò cổ ra ăn, máng ăn được bốtrídốc vào phía trong chuồng có độ cao khoảng 30 – 40cm, rộng máng là 60cm,dài là 1,2 m vừa để bỏ cỏ hoặc cành lá cho hươu rút ăn từ từ
- Để đảm bảo vệ sinh ăn uống cho hươu chuồng rộng có sân chơi thìkhông nên xây máng gần chuồng vì nếu công tác vệ sinh không báo đảm, hươu
sẽ dễ bị một số bệnh đường tiêu hoá Vì vậy nên dùng máng ăn, máng uống diđộng sẽ giữa được vệ sinh sạch sẽ hơn Sau khi hươu ăn xong thì nên chùi rửamáng để khô ráo sạch sẽ để lần sau cho ăn tiếp
* Kỹ thuật cho ăn
- Cho ăn đúng cách: Hươu chủ yếu hoạt động vào ban đêm, ban đêm hươu
ăn tới 60% tổng số thức ăn của khẩu phần, vì vậy mỗi lần cho ăn trong ngàykhông nhiều, ban ngày hươu ăn ít mà dành thời gian nhai lại thức ăn qua đêm.Đây là một đặc điểm hết sức quan trọng mà người chăn nuôi cần nắm biết Vìvậy lịch phân bố cho hươu ăn như sau:
Bữa thứ nhất: 6-7 giờ sáng cho ăn 15% thức ăn xanh
Trang 18Bữa thứ hai: 9-10giờ sáng cho ăn 15% thức ăn xanh.
Bữa thứ ba: 13-14 giờ chiều cho ăn 10% thức ăn xanh cộng với thức ăntinh trong ngày
Bữa thứ tư: 17 - 18giờ tối cho ăn 30% thức ăn xanh
Bữa thứ năm: 22 giờ tối cho ăn 30% thức ăn xanh
- Thức ăn tinh không được cho hươu ăn vào buổi sáng vì ăn như vậy sẽlàm cho hươu ăn ít thức ăn xanh và thức ăn củ quả Nên cho hươu ăn thức ăntinh vào bữa ăn thứ ba vào lúc 13 – 14 giờ trong ngày Hàng ngày người chănnuôi phải thường xuyên theo dõi phân của hươu để điều chỉnh thức ăn cho hợp
lý Thường phân của hươu có dạng viên bóng, cứng hình bầu dục nếu khác vớibình thường thì cần xem xét lại thức ăn cho hươu
Cho hươu ăn nhiều loại thức ăn xanh, đặc tính của chúng là thích ăn nhiềuloại cỏ non, lá non và các loại cây có mủ Không nên cho hươu ăn độc nhất mộtloại thức ăn thì sinh trưởng và phát triển, khả năng sản xuất sẽ bị hạn chế
* Vận động – Tắm nắng – tắm chải
- Vận động: Tuỳ thuộc vào hình thức nuôi khác nhau nên cho hươu vậnđộng khác nhau Hươu là động vật con mang tính hoang dã nên rất thích vậnđộng, chạy, nhảy rất hiếu động nên khi bị bó hẹp trong nuôi nhốt thì rất khóchịu Chúng ta nên tạo diện tích sân chơi cho hươu bằng cách khoanh vùng rộngbằng rào chắn cao 2 – 2.5m thì khả năng vận động và tắm nắng của hươu đượctốt hơn và thích nghi với điều kiện sinh lý của nó hơn, ít gây ra các hiện tượng
ức chế (stress) con vật thoải mái hơn, góp phần tiêu hoá, trao đổi chất được tốthơn
Nếu không có điều kiện thì cần phải thiết kế mái che có lắp tấm kính có
độ rộng 40 X 50cm cho nắng rọi vào 1 giờ/ngày Có thể thiết kế chuồng chonắng xuyên vào chuồng 7-8 giờ/ngày
- Tắm chải Thứ tự tắm chải từ đầu đến mông, từ trên xuống dưới, mỗi lầnchỉ cần 5- 10 phút Trước khi tám chải phải tập làm quen với con vật để tạo cho
Trang 19nó có phản xạ có điều kiện Trong quá trình tắm chải chú ý phát hiện một số kýsinh trùng như ve, ghẻ, lỡ, loét…Nếu có hãy dùng các biện pháp sau đối với ve,ghẻ, lở, loét…
Bắt diệt liên tục bằng cơ học: Dùng Ivermactin điều trị nội ngoại ký sinhtrùng để tiêm 1ml/7kg trọng lượng.Dùng các thuốc sát trùng ngoài da và khửtrùng chuồng trại Định kỳ dọn vệ sinh chuồng trại
d Quy trình cắt nhung hươu
Thời gian cắt nhung khoảng 50 – 55 ngày sau khi mọc là tốt nhất vì cóchất lượng cao và không ảnh hưởng nhiều đến các chu kỳ tiếp theo Quá trìnhcắt nhung phải nhanh gọn, an toàn cụ thể như sau:
- Một số dụng cụ khác như: Dao, dây thừng… để sử dụng lúc cần thiết
- Nhân lực: Cần ít nhất là từ 4 – 5 người hiểu biết về việc cắt nhung và cósức khỏe
Trang 20hứng máu đang chảy trong chậu đã có nước để nguội, sau đó đổ vào các chaithủy tinh có thêm rượu.
- Cầm máu phải nhanh chóng, thuốc cầm máu tốt, cách cầm máu là khi đãchuẩn bị các loại thuốc và gạc đắp thuốc cầm máu lên viết thương và nhanhchóng buộc chặt
e Các phương pháp bảo quản và chế biến nhung
Nhung chứa rất nhiều máu vì thế khi cắt nếu không được sấy nhung sẽ bịthối, kém phẩm chất hoặc hư hỏng Do đó, sau khi cắt nhung tươi từ hươu ra ítnhất là 2h thì chúng ta phải tiến hành sấy nhung
* Phương pháp sấy bằng than
Dùng các loại cỏ lá dài, sắc (cỏ hươu thường ăn) quấn chặt quanh nhungrồi tren giữa hai liếp than với khoảng cách vừa sấy nóng nhung dần dần Khitreo nhung để sấy chú ý treo nhung phía trên đầu xuống dưới để tránh huyếtnhung chảy ra, không nên treo quá gần than làm cháy nhung Trong quá trìnhsấy luôn luôn kiểm tra và trở nhung để đảm bảo cho nhung khô đề, không nênsấy nhiệt độ quá cao mà sấy với nhiệt độ tăng dần
* Phương pháp sấy bằng gạo rang
Phương pháp này thường được áp dụng nhiều ở Nghệ An và Hà Tĩnh Ủnhung vào bao gạo rang nóng nhiều lần, khi gạo đã nguội tiếp tục rang lại, nhiệt
độ sấy khoảng 60 - 700C, làm như vậy cho đến khi nhung khô hẳn thì đưa vàobảo quản Khi dùng thì tán nhỏ thành bột, cho vào cháo ăn dần, mỗi ngày ăn 1 –
2 lần, mỗi lần 1 thìa cafe Cách này là khá tốt vì nhiệt độ vừa phải, đều, ít sơsuất làm hỏng nhung
* Phương pháp sấy bằng điện
Thường dùng những lò sấy vi sóng có công suất lớn, ưu điểm sấy loại này
là nhanh và hiệu quả
2.1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nghề nuôi hươu sao
Trang 21Trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp, nói chung và toàn hộ nông dânchăn nuôi hươu chịu tác động bởi các nhóm yếu tố như điều kiện tự nhiên, điềukiện kinh tế xã hội và khả năng tổ chức quản lý sản xuất, điều kiện về khoa học
kỹ thuật và các chính sách của nhà nước
2.1.4.1 Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý và đất đai
Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đến sựphát triển của kinh tế hộ nông dân chăn nuôi hươu Những hộ nông dân có vị tríthuận lợi như gần đường giao thông, gần các cơ sở chế biến, gần thị trường tiêuthụ sản phẩm, gần trung tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn sẽ có điều kiệnphát triển sản xuất hàng hóa Thực tế cho thấy càng ở các vùng sâu, vùng xa…
do vị trí không thuận lợi nên kinh tế hộ nông dân kém phát triển
Quy mô đất đai, địa hình và tính chất nông hóa thổ nhưỡng có liên quanmật thiết, tới từng loại sản phẩm, tới số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất
ra, tới giá trị sản phẩm và lợi nhuận thu được
* Khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái
Điều kiện khí hậu thời tiết và lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng… cóquan hệ chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất Thực tế cho thấynhững nơi có điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi sẽhạn chế được bất lợi, những rủi ro điều kiện thiên nhiên gây ra và có cơ hội đểphát triển chăn nuôi hươu, tăng sản lượng nông sản hàng hóa của các hộ nôngdân chăn nuôi hươu
Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến phát triển nuôi hươu của hộnông dân nhất là nguồn nước Bởi vì chăn nuôi hươu tồn tại và phát triển theoquy luật của môi trường Nếu môi trường sinh thái thuận lợi thì đàn hươu pháttriển tốt, cho năng suất sản phẩm cao Nếu môi trường sinh thái không phù hợpdẫn đến sinh trưởng và phát triển, năng suất, chất lượng sản phẩm thấp, từ đóhiệu quả sản xuất của hộ nông dân chăn nuôi hươu đạt hiệu quả thấp
Trang 222.1.4.2 Nhóm yếu tố về kinh tế và tổ chức quản lý và xã hội
Nhóm yếu tố kinh tế và tổ chức liên quan đến thị trường và các nguồn lựcchủ yếu, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung vàphát triển kinh tế hộ nông dân chăn nuôi hươu nói riêng
* Trình độ học vấn và kỹ năng lao động
Người lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp thutiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm chăn nuôi hươu tiên tiến Trong chănnuôi phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật mới mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học
kỹ thuật vào chăn nuôi hươu nhằm đem lại lợi nhuận cao Trình độ học vấn vàtrình độ chuyên môn, cũng như kinh nghiệm chăn nuôi hươu của người chủ hộ
có vị trí quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công và thất bại trong kinhdoanh của hộ nông dân Vì vậy chủ hộ nông dân muốn thành đạt phải có tố chấtcủa một nhà chăn nuôi hươu để kinh doanh thực thụ
* Vốn:
Trong quá trình sản xuất nói chung và chăn nuôi hươu nói riêng, vốn là cơ
sở đảm bảo cho hộ nông dân có các tư liệu sản xuất, vật tư nguyên vật liệu cũngnhư thuê nhân công để tiến hành sản xuất kinh doanh Vốn là điều kiện khôngthể thiếu trong chăn nuôi Vốn là một trong những yếu tố quyết định sự hìnhthành sản xuất hàng hóa, nói cách khác, cán có quy mô vốn đủ lớn để kinh tế hộtrở thành kinh tế trang trại gia đình, chăn nuôi hươu đạt hiệu quả
* Công cụ sản xuất:
Trong quá trình sản xuất nói chung, chăn nuôi hươu nói riêng, công cụ laođộng có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật chănnuôi Muốn nuôi hươu có hiệu quả, năng suất lao động cao cần phải sử dụng một
hệ thống công cụ phù hợp
* Cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nói chung và chăn nuôi hươunói riêng bao gồm đường giao thông nông thôn, hệ thống thủy lợi, hệ thống
Trang 23điện, nhà xưởng, trang thiết bị trong nông nghiệp Đây là yếu tố quan trọngtrong quá trình sản xuất hàng hóa của kinh tế hộ nông dân Thực tế cho thấy nơinào cơ sở hạ tầng phát triển nơi đó sản xuất phát triển, thu nhập tăng, đời sốngcủa các hộ nông dân được cải thiện.
* Thị trường:
Nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất với số lượng bao nhiêu vàtheo tiêu chuẩn chất lượng nào Trong cơ chế thị trường các hộ nông dân hoàntoàn tự do lựa chọn hàng hóa mà thị trường cần và họ có khả năng sản xuất Từ
đó kinh tế hộ có điều kiện phát triển sản xuất hàng hóa
* Hình thức và mức độ liên kết, hợp tác trong các mối quan hệ SXKD
Để đáp ứng yêu cầu của thị trường về nông sản hàng hóa các hộ nông dânphải liên kết, hợp tác lại với nhau tiêu thụ sản phẩm Nhờ các hình thức liên kếthợp tác mà các hộ nông dân có điều kiện áp dụng các thành tựu khoa học kỹthuật và công nghệ mới vào chăn nuôi hươu nhằm nâng cao năng suất vật nuôi
và năng suất lao động của mình
2.1.4.3 Nhóm yếu tố về khoa học kỹ thuật và công nghệ
* Kỹ thuật chăn nuôi:
Do điều kiện tự nhiên KT – XH của mỗi vùng khác nhau với yêu cầugiống hươu nuôi khác nhau, đòi hỏi phải có kỹ thuật chăn nuôi khác nhau Trongnuôi hươu, tập quán, kỹ thuật chăn nuôi của từng vùng, từng địa phương có ảnhhưởng trực tiếp đến hiệu quả và phát triển đàn hươu của hộ nông dân
* Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong chăn nuôi hươu:
Chăn nuôi hươu của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoahọc kỹ thuật, vì nó đã tạo ra giống hươu có năng suất cao, chất lượng tôt Thực
tế cho thấy những hộ nhạy cảm với tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ sảnxuất, hiểu biết thị trường, dám đầu tư lớn và chấp nhận những rủi ro trong chănnuôi hươu họ làm giàu lên rất nhanh Nhờ có công nghệ mà các yếu tố sản xuất
Trang 24như lao động, đất đai, sinh vật, máy móc và thời tiết khí hậu kết hợp với nhau đểtạo ra sản phẩm từ chăn nuôi hươu đạt chất lượng cao
Như vậy việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào chăn nuôi có tácdụng thúc đẩy chăn nuôi hươu phát triển, thậm chí những tiến bộ kỹ thuật làmthay đổi hẳn vùng sản xuất hàng hóa
2.1.4.4 Nhóm yếu tố thuộc về quả lý vĩ mô của nhà nước
Nhóm nhân tố này bao gồm các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhànước như: chính sách nông sản phẩm, miễn thuế cho sản phẩm mới, chính sáchcho vay vốn, giải quyết việc làm, các chính sách này có ảnh hưởng lớn tới pháttriển kinh tế nông hộ và là dụng cụ đắc lực để Nhà nước can thiệp có hiệu quảvào sản xuất nông nghiệp nói chung và các hộ chăn nuôi hươu nói riêng
Tóm lại, từ các yếu tố ảnh hưởng đến hộ nông dân đã phân tích ở trên, cóthể khẳng định: hộ nông dân chăn nuôi tự túc tự cấp muốn phát triển thành hộnông dân chăn nuôi sản xuất hàng hóa và chính sách kinh tế là tiền đề, là môitrường để đầu tư, đưa tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất để kinh tế hộ nông dânchăn nuôi hiệu quả
2.1.5 Các hình thức chăn nuôi hươu ở Việt Nam
2.1.5.1 Hình thức nuôi nhốt hoàn toàn
Hình thức chăn nuôi này thường được các hộ chăn nuôi áp dụng phổ biến,phù hợp với quy mô chăn thả nhỏ Đặc điểm của hình thức này là hươu đượcnhốt hoàn toàn trong chuồng và hàng ngày chung ta đem thức ăn, nước uống và
vệ sinh chuồng trại Việc xây dựng chuồng trại phải phù hợp với đặc điểm sinh
lý của hươu, có độ bền vững chắc chắn không cho hươu thoát ra ngoài và đi mất,phải tiết kiệm nguyên vật liệu, vật liệu làm chuồng không ảnh hưởng tới sứckhỏe của hươu Chuồng nuôi phải được xây dựng cách nhà ở một khoảng hợp lýtránh ô nhiễm và tiếng động, phải là nơi cao ráo nhưng phải là vị trí thoáng mát
về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hướng chuồng tốt nhất là xây dựng chuồnghướng Nam hoặc Đông Nam để điều hòa được khí hậu của chuồng nuôi Mỗi
Trang 25một hươu được nhốt riêng trong một ô chuồng diện tích từ 2,5 – 3m2, nhưnghiện nay thường làm chuồng hai ngăn để tiện vệ sinh và phối giống, chuồng haingăn này thường có diện tích là 12m2 trở lên Chuồng được xây dựng trên nềnđất cao thoát nước, chiều cao nền chuồng từ 1 – 1,5m, xung quanh được bảo vệbằng gỗ thanh hoặc các vật liệu cứng khác, tạo được thoáng mát về mùa hè Nềnchuồng được lát bằng gạch hoặc xi măng láng nhám, bằng nền đất nện chặt đềuđược.
Nuôi nhốt có đặc điểm dễ chăm sóc nuôi dưỡng nhưng không thỏa mãntập tính sinh lý vật nuôi chính vì thế chúng ta nuôi nhốt nhưng phải có sân chơi.Diện tích sân chơi to nhỏ tùy thuộc vào số lượng hươu nuôi trong chuồng, trungbình khoảng 20 – 50 m2 Thức ăn thô xanh được bổ sung hàng ngày, khi thunhận về được rửa sạch và để ráo nước trước khi cho ăn Nước uống cho hươudùng nước giếng khơi chứa trong máng uống ở cạnh hoặc ngoài chuồng (có lỗthông cho hươu thò cổ ra uống)
2.1.5.2 Hình thức nhốt hươu bán chăn thả
Hình thức chăn nuôi này thường áp dụng những cho những trang trại nuôivới số lượng hươu lớn như các trang trại chăn nuôi quốc doanh: vường quốc giaCúc Phương – Ninh Bình, trại hươu đảo suối Ba Vì – Hà Nội, công ty cổ phầngiống Hương Sơn – Hà Tĩnh
Với phương thức chăn nuôi này thì khu chăn nuôi phải có diện tích rộngphù hợp với số lượng hươu chăn nuôi Diện tích của mỗi khu chăn nuôi khoảng1.500 – 2.000m2 thả từ 10 – 20 con, xung quanh được rào bằng lưới thép cùngvới cọc xi măng chắc chắn, trong khu vực khu chăn nuôi được trồng cây để làmbóng mát và làm thức ăn bổ sung cho hươu Trong mỗi ô như vậy có nhà nghỉ,
có hệ thống máng ăn, nước uống cho hươu Hươu được thả tự do trong mỗi ô,được đi lại kiếm ăn tự do Người chăn nuôi hàng ngày đem thức ăn vào chohươu theo giờ quy định và kiểm tra tình trạng sức khỏe, mức độ đi lại, vệ sinhphòng dịch cho hươu Vào mùa sinh sản và mùa thu hoạch nhung cần bổ sung
Trang 26thức ăn tinh trong khẩu phần thức ăn Hươu con khi tách mẹ (3 tháng tuổi trởlên) được nuôi riêng ra Hình thức chăn nuôi này làm cho môi trường sinh tháicủa con vật được mở rộng phù hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng.
2.1.5.3 Chăn thả tự nhiên
Hình thức này là không có chuồng trại mà chỉ khoanh vùng nuôi với diệntích lớn Nhưng hình thức này hầu như không được áp dụng vì khó quản lýchăm sóc nuôi dưỡng
2.1.6 Một số chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của chăn nuôi
Chăn nuôi là ngành sản xuất vất chất quan trọng của ngành nông nghiệp
và được phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới Các loại sản phẩm của ngànhchăn nuôi là nguồn thực phẩm không thể thiếu của người nông dân Nó cung cấpthực phẩm giàu dinh dưỡng cho nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời nângcao thu nhập cho người dân, góp phần đáng kể trong việc cải thiện mức sốngcủa hộ
Với tầm quan trọng của ngành chăn nuôi, Đảng và Nhà nước đã đưa ranhững chủ trương chính sách nhằm thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển:
1 Quyết định 125/CT ngày 18/4/1991 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng(nay là Chính phủ) về việc cấp bù kinh phí để duy trì và nâng cao chất lượngđàn gia súc, gia cầm giống gốc Nội dung của quyết định là :Hỗ trợ kinh phí đốivới các trại giống nhà nước để duy trì và nâng cao chất lượng đàn giống gốc vậtnuôi Hình thức hỗ trợ đó là: hỗ trợ quản lý, chọn lọc và cải tiến chất lượng đàngiống Hỗ trợ kinh phí giá giống vật nuôi sinh sản ra thấp hơn giá thành sản xuất
2 Nghị quyết số 06 – NQ/TƯ ngày 10/11/1998 của Bộ chính trị về một sốvấn đề về phát triển nông nghiệp và nông thôn
Hình thành các vùng tập trung sản xuất lúa, cây công nghiệp, rau, hoaquả , sử dụng các giống có chất lượng cao gắn với chế biến và bảo quản sau thuhoạch để nâng cao hiệu quả sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu
Trang 27Khuyến khích kinh tế hộ, hợp tác xã và trang trại chăn nuôi quy mô vừa
và lớn, chú trọng khâu giống và công nghệ chế biến, thị trường xuất khẩu sảnphẩm chaqn nuôi; thực hiện các biện pháp để nâng cao năng suất và hạ giáthành, đưa chăn nuôi thực sự là ngành sản xuất chính
Tập trung bảo vệ có hiệu quả vốn rừng hiện có, hình thành các vùng rừngsản xuất tập trung gắn với chế biến và nâng cao hiệu quả của nghề rừng
2 Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về phát triển kinh tếtrang trại Nghị quyết ban hành nhằm khuyến khích phát triển về bảo hộ kinh tếtrang trại, một số chính sách cụ thể:
- Chính sách về đất đai: được giao đất, cho thuê đất, cấp giấy, chấn nhậnquyền sử dụng lâu dài để tổ chức sản xuất kinh doanh
- Chính sách về thuế: Miễn thuế thu nhập trang trại
- Chính sách đầu tư, tín dụng: Được vay vốn tín dụng thương mại của cácngân hàng thương mại quốc doanh
3 Nghị định số 33/2005/NĐ-CP ngày 15/03/2005 của chính phủ về việcquy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Thú y
Đối với huyện Hương Sơn, để phát triển chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Banthường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã ban hành Nghị quyết số 08 NQ/TU ngày20/08/2002 và chỉ thị số 22 CT/HU ngày 26/03/2003 của Ban thường vụ Huyện
ủy Hương Sơn về tăng cường chỉ đạo phát triển ngành chăn nuôi, thủy sản củahuyện trong những năm tới
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình phát triển chăn nuôi hươu sao trên thế giới
Nuôi hươu đã có từ lâu ở nhiều nước trên thế giới, song tập trung nhiều ởcác vùng châu Á như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Mông Cổ, các nước thuộc châu
Á của Liên Xô (cũ), Việt Nam, Ấn Độ Theo thông báo của các tổ chức FAO,nuôi hươu có ở Trung Quốc cách đây 2000 năm, mục đích chính của ngành chănnuôi là sản xuất nhung cung cấp cho nhu cầu trong nước, bởi vì người Trung
Trang 28Quốc có truyền thống sử dụng nhung hươu để chế biến dược phẩm chữa bệnh vàlàm thuốc bổ.
Đặc trưng nuôi hươu ở Trung Quốc trước đây là nuôi phân tán tận dụngđiều kiện tự nhiên, mang tính chất truyền thống, những năm gần đây nuôi hươu
đã phát triển mạnh ở một số nước theo hướng tập trung thâm canh Theo DrewETAL (1983) (dẫn theo Đặng Vũ Bình, 1997) số đầu hươu nuôi theo hướng tậptrung ở vùng châu Á khoảng 260.000 con Sản lượng nhung được sản xuất hàngnăm là 115 tấn khô Các giống hươu được nuôi ở mỗi nước đều là giống địaphương, thích nghi với điều kiện tự nhiên và sinh thái nhất định của mỗi vùng,mỗi nước
Nuôi hươu theo phương pháp tập trung, công nghiệp hóa hiện đại có ởNewzeaLand khoảng 30 năm gần đây Các nước sau đó cũng áp dụng phươngpháp chăn nuôi mới này Nhà đầu tư thích đáng và áp dụng những kỹ thuật tiêntiến vào chăn nuôi hươu nên đàn hươu ở các nước không ngừng được tăngtrưởng Cụ thể tình hình chăn nuôi của một số nước trên thế giới như sau:
- Anh: Trong năm 1993, nước Anh có 300 trang trại nuôi hươu với sốlượng tăng từ 42.000 con (tháng 6/ 1990) lên tới 50.000 con (tháng 6/ 1992).Hiện nay hươu sao được nuôi ở Anh đã cung cấp được sản lượng xấp xỉ 750 tấn
để đảm bảo tiêu thụ trong nước
- Australia: Số lượng hươu sao năm 1986 có khoảng 150.000 – 180.000con được nuôi tập trung ở các trang trại lớn Hàng năm ở đây tiêu thụ khoảng
200 tấn thịt hươu
- Na Uy: Hiện nay có khoảng 255.000 con hươu, chủ yếu là giống BắcCực Mục đích của việc chăn nuôi hươu ở Na Uy chủ yếu là lấy thịch Sản lượngthịt năm 1976 đạt 1330 tấn, năm 1991 tăng lên 2674 tấn, trong đó 95% sảnlượng thu hoạch từ các khu vực chăn nuôi hươu tập trung Chính phủ Na Uy cóchính sách trợ cấp cho những người chăn nuôi hươu khi giết thịt giảm xuống
Trang 29Chính nhờ chính sách khuyến khích và bảo trợ hợp lý đó mà trong thập niên vừaqua nghề chăn nuôi hươu phát triển rất mạnh ở Na Uy.
- NewZealand: Đây là nước tiên phong trong việc chăn nuôi hươu côngnghiệp từ những năm 1950 Năm 1980 ở đây đã có hơn 100.000 con hươu đượcnuôi ở các trang trại cho đến năm 1996 số lượng hươu tăng lên gần 400.000 con
và chúng chủ yếu được nuôi trong 350 trang trại Doanh thu hàng năm đạtkhoảng 300 triệu USD qua việc xuất khẩu nhung, thịt và các sản phẩm phụ từhươu Hiện nay theo ước tính ở NewZealand có khoảng 1,8 – 2,2 triệu tấn ở gần5.000 trang trại trên khắp đất nước trong đó có 100 trang trại nuôi hươu thuộcloại lớn nhất với số lượng trung bình 2.000 con/ trang trại trong đó có khoảng300.000 con hươu đang ở giai đoạn chon hung, 800.000 con cái sinh sản Doanhthu xuất khẩu các sản phẩm từ hươu ở NewZealand đạt tới 200 triệu USD
- Mỹ: Ngành nuôi hươu đã phát triển hơn 20 năm qua Hiện nay Mỹ cótrên 100.000 hươu nai đang được nuôi trong các trang trại với tổng giá trịkhoảng 120 – 150 triệu USD Sản lượng thịt hươu sản xuất bình quân 300 tấn
- Các nước Đông Âu: Các nước này bao gồm Rumani, Croatia, Slovakia,
Ba Lan, Bungari, Hunggari Trước đây hươu của họ chủ yếu được nuôi ở nhữngkhu vực phục vụ cho mục đích thể thao săn bắn Những năm gần đây việc chănnuôi hươu đã có bước phát triển
- Trung Quốc: Từ 2000 năm trước vào đời nhà Hán, người Trung Quốc đãnuôi hươu và sử dụng các sản phẩm của chúng Việc nuôi hươu thương mại bắtđầu từ tỉnh JinLin vào năm 1733 Theo Vương Câu Nguyên thì khoảng từ 1960trở đi, Trung Quốc đã phát triển mạnh việc nuôi hươu Năm 1984, Trung Quốc
có khoảng 270.000 con và thu được hàng triệu USD
- Hàn Quốc: Nghề nuôi hươu đã có từ 300 năm về trước Năm 1987, HànQuốc có khoảng 3.380 trang trại với 31.314 con Đến năm 1997 số trang trạităng lên 9.909 với tổng số 122.300 con Hàng năm nhu cầu tiêu thụ nhung hươu
ở Hàn Quốc là rất lớn, năm 1995 nhu cầu là 180,10 tấn, năm 1996 là 216,3 tấn
Trang 30nhung Nguồn cung cấp nhung trong nước chỉ 13 – 26%, số còn lại phải nhậpkhẩu từ nước ngoài Giá nhung thô ở Hàn Quốc là 80.000 won/ kg (tương đương70,42 USD/kg).
Có thể nói ngành chăn nuôi hươu rất phát triển ở các nước trên thế giới.Đặc biệt là những năm gần đây ngành chăn nuôi hươu đang phát triển mạnh mẽnhằm đáp ứng nhu cầu về nhung hươu, thịt, các sản phẩm phụ từ hươu phục vụcho nhu cầu của người tiêu dùng
2.2.2 Tình hình phát triển chăn nuôi hươu sao ở một số địa phương ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc chăn nuôi thuần dưỡng hươu sao cũng chỉ mới xuấthiện vào những năm 1920 – 1930 Một số gia đình phong lưu, giàu có ở Nghệ
An và Hà Tĩnh đã chăn nuôi những đàn hươu với quy mô nhỏ từ một vài con, cónhững hộ có đến hàng chục con Hướng sản xuất chính là lấy nhung cung cấpcho nhu cầu nội bộ Mặt khác người ta nuôi hươu để giữ giống địa phương, một
số người nuôi hươu để làm cảnh, để chơi giải trí Do mục đích khác nhau nhưvậy nên nghề nuôi hươu được hình thành và phát triển ở vùng này
Năm 1954, khi miền Bắc tiến hành xây dựng XHCN, các nông trườngquốc doanh, các hợp tác xã nông nghiệp ra đời Cùng với sự phát triển của cácngành khác trong nông nghiệp, nghề nuôi hươu được tập thể hóa Hầu hết cácHTX ở Hương Sơn, Hương Khê (Hà Tĩnh) thành lập các trang trại nuôi hươuvới mục đích chính là sản xuất nhung cung cấp cho các xí nghiệp được phẩmcủa địa phương và trung ương
Số lượng hươu đến cuối năm 2009 trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu – Nghệ
An là khoảng 15.000 con, Hương Sơn – Hà Tĩnh là 20.903 con Hươu chủ yếunuôi trong nông hộ Sản phẩm của hươu sao chủ yếu để làm “thuốc”
Chính từ mô hình kinh tế nông hộ chăn nuôi hươu sao có hiệu quả của haiđịa phương Hà Tĩnh và Nghệ An đã được các địa phương khác học tập như:Vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình ), vườn quốc gia Ba Vì (nay thuộc Hà
Trang 31Nội), huyện Yên Thế (Bắc Giang), huyện Từ Sơn (Bắc Ninh), Vĩnh Phúc,Quãng Ngãi… Hươu nuôi ở các địa phương này cũng đang phát triển mạnh,tăng nhanh về số lượng và chất lượng
Hiện nay, huyện Cam Lộ (Quảng Trị) đã có trên 190 con hươu của gần 30
hộ nuôi hươu, với thu nhập bình quân hàng năm từ mô hình nuôi hươu lấy lộcnhung và cung ứng con giống đạt gần 1 tỷ đồng Quy mô ở đây là chăn nuôitheo hộ gia đình, hộ ít nhất là 1 – 2 con, hộ nuôi nhiều nhất là 10 con
Yên Thế (Bắc Giang) với trên 200 con hươu ước đạt hơn 1 tỷ đồng/ nămthu nhập giá trị từ chăn nuôi hươu
Đến nay nghề nuôi hươu đã và đang khẳng định là nghề chăn nuôi đem lạihiệu quả kinh tế cho hộ nông dân và cải thiện đời sống của nông dân vùng sâu,vùng xa
2.2.3 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
- Năm 1970, Lê Hiền Hảo và Trần Hải đã thông báo về kết quả bước đầunghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh trưởng của hươu nuôi ở vườn Bách Thảo
24 loài
- Vũ Ngọc Tân (1987), đã nhận xét về tình hình nuôi hươu tại cơ sở xungquanh thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai về đặc điểm ngoại hình, chiều cao
và khả năng cho nhung của hươu sao
- Lê Minh Sắt (1994), đã nghiên cứu đặc điểm sinh học của hươu sao vàcho biết hươu sao là động vật hoang dã, thích chạy nhảy, sống bầy đàn, việcchăn nuôi hươu cần có lý thuyết để áp dụng chăn nuôi theo tính cách hoang dã
Trang 32của chúng Hươu có bản năng ăn tạp, bộ phận tiêu hóa khác với các loại gia súckhác, thời gian chăn nuôi hươu kéo dài từ 20 – 25 năm.
- Trần Thị Hạnh và Nguyễn Ngọc Nhiên (1995), đã nghiên cứu nguyênnhân gây nên bệnh xuất huyết hoại tử đường ruột của hươu
- Trình Công Thành và Võ Đình Sơn (1996), khi khảo sát chăn nuôi hươu
ở Sài Gòn và một số tỉnh thuộc miền Trung và miền Nam Việt Nam đã đưa ranhận xét về tình hình chăn nuôi hươu, phương pháp xây dựng chuồng trại, hiệuquả kinh tế và một số chỉ tiêu đánh giá khả năng thích nghi của hươu nhốt Cáctác giả đi đến kết luận các hộ chăn nuôi thường ở quy mô vừa (3 – 4 con), vànhỏ (1 – 2 con) còn các hộ chăn nuôi quy mô từ 5 con trở lên rất ít Nhìn chungchuồng trại của các hộ chăn nuôi đã được xây dựng chắc chắn và đảm bảo kỹthuật
- Nghiên cứu xác định các biện pháp khoa học nhằm nâng cao số lượngchất lượng và các sản phẩm hươu sao ViệtNam (1998) của Viện chăn nuôi
- Đề tài nghiên cứu sự cận huyết của đàn hươu Hương Sơn – Hà Tĩnh vàNghệ An do tổ chức CIRARD tiến hành (2001)
- Dự án BIODIA của viện chăn nuôi về “Quản lý đàn hươu sao ViệtNam” và “Nghiên cứu về kinh tế kỹ thuật sản xuất và thương mại hóa các sảnphẩm đăng ký nhãn mác nhung hươu và thịt hươu từ năm 2005 – 2007 ở HươngSơn – Hà Tĩnh và Quỳnh Lưu- Nghệ An Dự án này nhằm mục đích tăng nănglực chăn nuôi, phân tích các thành phần có trong nhung hươu và thịt hươu, gópphần thúc đẩy quảng bá thương hiệu hươu sao ở huyện Quỳnh Lưu và huyệnHương Sơn
- Đề tài “Nghiên cứu xây dựng đàn hươu sao hạt nhân tỉnh Hà Tĩnh củaCông ty cổ phần hươu giống Hương Sơn – Hà Tĩnh” năm 2005 – 2006 doNguyễn Chí Thanh làm chủ nhiệm đề tài Đề tài này nhằm mục đích hướng dẫncho người chăn nuôi biết về quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng sao, kỹ thuật bảoquản và chế biến nhung hươu, kỹ thuật phòng và trị bệnh cho hươu sao
Trang 33Các tài liệu công bố chủ yếu dựa trên kết quả điều tra, khảo sát và mô tảđặc điểm, sinh trưởng của hươu rừng, đặc biệt các công trình nghiên cứu về kinh
tế chăn nuôi hươu còn quá ít ỏi, những công trình đó mới chỉ đề cập đến vấn đềthực trạng chăn nuôi hươu ở các hộ nông dân và chưa đưa ra những giải pháp cụthể và phát triển chăn nuôi hươu Do vậy, trong thời gian tới cần đầu tư kinh phí
để nghiên cứu các công trình về kinh tế chăn nuôi ở Việt Nam
Trang 34PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý và địa hình
Hương Sơn là một huyện miền núi phía Tây Bắc của Hà Tĩnh Phía Bắcgiáp với huyện Nam Đàn và huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An Phía Đông giáp vớihuyện Đức Thọ Phía Tây giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào PhíaNam giáp với huyện Vũ Quang
Toàn huyện có 32 đơn vị hành chính cấp xã gồm 32 xã và thị trấn trong
đó 30 xã và 2 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 110314,98 ha, chiếm 18,33%diện tích tự nhiên toàn tỉnh Huyện có hai thị trấn là Phố Châu và Tây Sơn, trong
đó Thị trấn Phố Châu là trung tâm văn hoá – chính trị của huyện, cách thành phố
Hà Tĩnh 70 km về phía Tây Bắc Thị trấn Tây Sơn là trung tâm dịch vụ - thươngmại của huyện – là đầu mối lưu thông hàng hoá từ cửa khẩu Cầu Treo đến cácvùng trong cả nước Trên địa bàn huyện có tuyến đường chiến lược Hồ ChíMinh - trục xuyên Việt phía Tây của cả nước; trục quốc lộ 8A – hành lang kinh
tế Đông – Tây nối Việt Nam với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào qua cửakhẩu quốc tế Cầu Treo với chiều dài gần 70Km…đã tạo nên những thuận lợiquan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội của huyện trong tương lai khi nền kinh
tế cả nước hội nhập với khu vực và Thế giới, hứa hẹn một tiềm năng tốt đẹp choviệc phát triển các ngành thương mại và dịch vụ nếu được đầu tư đúng hướng
Địa hình của huyện chủ yếu là đồi núi (chiếm hơn 3/4 diện tích tự nhiêncủa huyện) Địa hình của huyện được xác định là miền núi thấp, hẹp ngang,sườn dốc, với độ cao trung bình khoảng 600 – 700 m, cấu trúc kéo dài theohướng Tây Bắc – Đông Nam bao gồm nhiều dãy núi so le nhau Đồi núi tậptrung chủ yếu ở phía Tây Bắc và thấp dần về phía Đông Nam với các vùng đấtphù sa nằm dọc theo con sông Ngàn Phố, chia cắt địa hình thành 2 phần Sự
Trang 35khác biệt về địa hình đã tạo nên sự khác biệt trong cơ cấu các loại vật nuôi câytrồng của các xã ở khu vực miền núi và vùng đồng bằng.
3.1.1.3 Điều kiện thời tiết, khí hậu, thủy văn
Hương Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, là vùng có khí hậunóng ẩm, mưa nhiều chịu ảnh hưởng nhiều của gió phương Tây Nam (gió Lào).Khí hậu ở đây chia thành hai mùa rõ rệt, từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa mưa, khíhậu nắng nóng mưa nhiều, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa khô lạnh, nhiệt
độ trung bình hàng năm là 270C Tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ xuống dưới
100C Độ ẩm trung bình tương đối cao dao động trong khoảng 80 – 90% Hai thángnóng nhất là tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ trung bình hai tháng này là 370C, có lúclên đến 400C Giai đoạn này thường có gió mùa Tây – Nam hoạt động với cường
độ lớn gây ra khí hậu khô, nóng nên thường gây hậu quả rất xấu như hạn hán, mấtmùa, giảm thu nhập của các hộ nông dân
Lượng mưa trung bình hàng năm lớn nhưng phân bố không đều, thường tậptrung vào tháng 8 và tháng 9 Do địa hình dốc nên khả năng giữ nước rất kém dovậy mùa khô thường thịếu nước cho sinh hoạt và sản xuất Vào mùa mưa thườngxảy ra lũ lụt, đặc biệt là các trận lũ quét thường xây ra gây hậu quả nghiêm trọngđối với sản xuất và đời sống của người dân trong huyện
Nhìn chung thời tiết ở đây tương đối khắc nghiệt, với địa hình phức tạpnơi đây thường xuyên phải gánh chịu hậu quả do thiên tai mang lại, ảnh hưởngxấu đến sản xuất và đời sống của người dân, là một trong những nguyên nhânquan trọng làm cho tỷ lệ nghèo đói trong huyện ở mức cao Đòi hỏi chính quyềnđịa phương và người dân cần có các biện pháp chủ động đối phó, khắc phụcnhững thiệt hại do thiên tai mang lại để ổn định cuộc sống, nâng cao thu nhập,góp phần xoá đói giảm nghèo
Trang 363.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Đất đai và phân bố sử dụng đất đai của huyện
Hương Sơn có tổng diện tích tự nhiên là 110434,78 ha Năm 2007, diệntích đất nông nghiệp là 14577,39 ha chiếm 13,2 % tổng diện tích tự nhiên củatoàn huyện Hai năm tiếp theo là 2008, 2009 diện tích đất nông nghiệp tăng lênkhông đáng kể, bình quân tăng lên được 0,49% Nguyên nhân là do tốc độ đô thịhóa đang dần khiến cho đất nông nghiệp tăng chậm và có xu hướng giảm Quabảng 3.1 ta thấy, diện tích cây hàng năm có xu hướng được mở rộng, bình quânhàng năm tăng 1,48%; đó là do người dân mở rộng thêm đất trồng các loại câyhoa màu như ngô, lạc, đậu…cho hiệu quả và năng suất cao Diện tích trồng câylâu năm trong năm 2008 giảm 0,16% so với năm 2007 nhưng đến năm 2009 đãtăng trở lại tăng 0,63% so với năm 2008 Điều này là do đợt rét trong năm 2008làm ảnh hưởng đến kết quả thu hoạch của cây lâu năm, làm hư hại nhiều diệntích cây trồng; Đến năm 2009 diện tích được tăng lên do các hộ nông dân mởrộng quy mô trồng cây ăn quả, đặc biệt là cây cam bù – một đặc sản của huyện.Diện tích nuôi trồng thủy sản tăng lên do các hộ nông dân mở rộng thêm diệntích nuôi trồng thủy sản, bình quân mỗi năm tăng lên 6,25%
Hương Sơn là một huyện miền núi nên diện tích đất lâm nghiệp chiếm khálớn trong tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện, chiếm tới 76% trong năm 2007 vàtăng lên 76,61% vào năm 2009 Nguyên nhân là do các dự án trồng rừng của chínhphủ Diện tích đất chưa sử dụng giảm dần theo từng năm, bình quân mỗi năm diệntích đất chưa sử dụng giảm 7,01% so với tổng diện tích đất tự nhiên Diện tích đấtchuyên dùng tăng bình quân mỗi năm 2,79% Điều này cho thấy rằng huyệnHương Sơn đang phát triển và mở rộng về điều kiện kinh tế
Trang 37Bảng 3.1 Tình hình đất đai của huyện Hương Sơn qua 3 năm 2007 – 2009
Phòng tài nguyên và môi trường huyện Hương Sơn
Trang 383.1.2.2 Tình hình dân số và lao động
Qua bảng 3.2 ta thấy được tốc độ tăng dân số của huyện vẫn ở mức cao(4,32%) Do cơ cấu ngành nghề thương mại ngày càng phát triển mang lại thunhập cao, thu hút nhiều lao động tham gia nên số lao động phi nông nghiệp ngàycàng có xu hướng tăng, tốc độ tăng trung bình là 8,69% đây là một con số lớn vềmặt tương đối, nguyên nhân là lao động làm các nghề khác như buôn bán, dịch
vụ tăng nhanh Đặc biệt là gần đây lao động nông nghiệp di cư đi làm ăn ở cácvùng miền khác, một số khác thì đi xuất khẩu lao động Nhưng tỷ lệ hộ nôngnghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn so với hộ phi nông nghiệp (năm 2009, hộ nôngnghiệp chiếm 84,53%, hộ phi nông nghiệp là 15,47%)
Trang 39Bảng 3.2 Tình hình dân số của huyện Hương Sơn qua 3 năm 2007 – 2009
So sánh
I Nhân khẩu - Lao động
- Nông nghiệp Người 104184 83,32 109496 83,67 112070 82,36 105,10 102,35 103,72
- Phi nông nghiệp Người 20852 16,68 21364 16,33 24010 17,64 102,46 112,38 107,31
Trang 403.1.2.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện qua 3 năm 2007 – 2009
Qua bảng 3.3 cho thấy tổng giá trị sản xuất của huyện luôn có sự tăngtrưởng, bình quân mỗi năm tăng 33,78%, điều này cho thấy thu nhập của ngườidân đang dần được đảm bảo
Trong cơ cấu sản xuất kinh doanh của huyện, ngành Nông – Lâm – Thủysản vẫn chiếm tỉ lệ cao (54,57% năm 2007 và 54,72% năm 2009) Các ngànhcông nghiệp, thương mại và dịch vụ chiếm tỉ lệ thấp (Công nghiệp – TTCNchiếm 7,05%, thương mại và dịch vụ 22,41% năm 2009) Trong cơ cấu ngànhnông nghiệp, trồng trọt vẫn đóng vai trò chủ đạo (65,73% năm 2009) Đóng gópcủa ngành lâm nghiệp ngày càng tăng (bình quân mỗi năm tăng 38,63%), kếtquả này là nhờ vào việc thực hiện chính sách giao đất, giao rừng và việc thựchiện dự án phủ xanh đất trống, đồi núi trọc bằng thông và keo đã phát huy hiệuquả cao Chăn nuôi ngày càng tăng (bình quân tăng 34,05% mỗi năm)
Giá trị sản xuất/hộ, lao dộng tuy có xu hướng tăng trong 3 năm gần đâynhưng vẫn ở mức thấp Những năm gần đây nhân dân huyện Hương Sơn đã tiếpcận những kiến thức về chăn nuôi, trồng trọt, biết áp dụng tốt những tiến bộkhoa học kỹ thuật vào sản xuất nên 3 năm gần đây giá trị sản xuất nông – lâm –TS/hộ có tăng
Trong thời gian qua huyện có chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tếtrang trại quy mô lớn, kết hợp trồng lúa, nuôi cá, cây ăn quả, chăn nuôi gia súclớn, lâm nghiệp… nhân rộng các mô hình trang trại điển hình trên quy mô toànhuyện
Đẩy mạnh phát triển TM – DV, phát huy lợi thế có cửa khẩu “Cầu Treo”
là đầu mối giao lưu quan trọng của hyện với nước bạn Lào và các nước ĐôngNam Á