1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người ở việt nam

93 766 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 669,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Bài viết: Vai trò của tư pháp độc lập của tác giả Philippa Strum, được dịch và in trong cuốn Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến: Một số tiểu luận của học giả nước ngoài, NXB Lao động

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRƯƠNG THỊ THÙY DUNG

VAI TRß CñA T¦ PH¸P TRONG VIÖC B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI ë VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRƯƠNG THỊ THÙY DUNG

VAI TRß CñA T¦ PH¸P TRONG VIÖC B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI ë VIÖT NAM

Chuyên ngành: Pháp luật về Quyền con người

Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trương Thị Thùy Dung

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN TƯ PHÁP 11

1.1 Khái quát về quyền con người 11

1.1.1 Khái niệm, đặc trưng về quyền con người 11

1.1.2 Cách thức ghi nhận các quyền con người 15

1.2 Khái quát về quyền tư pháp 17

1.2.1 Quan niệm chung về quyền tư pháp 17

1.2.2 Các đặc trưng của quyền tư pháp 19

1.2.3 Tính độc lập của quyền tư pháp 21

1.3 Vai trò tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người 26

1.3.1 Mối quan hệ giữa quyền tư pháp với việc bảo vệ quyền con người 26

1.3.2 Các đặc trưng cơ bản của việc bảo vệ quyền con người bằng tư pháp 29

1.3.3 Một số vai trò cụ thể của tư pháp trong việc bảo vệ các quyền con người 31

1.4 Vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người theo luật quốc tế 37

Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM 42

2.1 Khái quát hệ thống tư pháp ở Việt Nam 42

2.2 Thực trạng bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam 44

2.2.1 Đánh giá chung 44

2.2.2 Những điểm còn hạn chế và nguyên nhân 48

Trang 5

Chương 3: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG

CAO VAI TRÒ CỦA TƯ PHÁP TRONG VIỆC BẢO VỆ

QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 57

3.1 Một số quan điểm nhằm nâng cao vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam 57

3.1.1 Sự cần thiết phải nâng cao vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người 57

3.1.2 Một số quan điểm nâng cao vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam 58

3.1.3 Những phương hướng cơ bản cho cải cách tư pháp 61

3.2 Một số giải pháp nâng cao vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam 65

3.2.1 Nâng cao nhận thức về vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người 65

3.2.2 Hoàn thiện pháp luật bảo đảm vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người 67

3.2.3 Nâng cao tính độc lập của tư pháp 75

KẾT LUẬN 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cả trong lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng, trong mối quan hệ giữa nhà nước với công dân, thì các nhánh quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) đều rất dễ có xu hướng lạm dụng quyền lực, xâm hại các quyền con người, cụ thể:

Đối với nhánh lập pháp: với nhiệm vụ là xây dựng những chính sách, quy

tắc điều chỉnh hành vi của con người, liệu hệ thống pháp luật có đầy đủ và tạo ra

cơ chế hữu hiệu để bảo vệ quyền con người hay chưa? Các nội dung Quy định của pháp luật thật ra là đang bảo vệ hay hạn chế quyền con người? Bởi, quyền con người, theo học thuyết về quyền tự nhiên thì mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng, là bẩm sinh, vốn có của con người

Đối với nhánh hành pháp: có một điều rất dễ nhận thấy, đó là, từ khi sinh

ra cho đến khi mất đi, tất cả những hoạt động của con người hầu như gắn liền với các cơ quan quản lý nhà nước Trên thực tế, vấn đề vi phạm những quyền lợi chính đáng, thiết thân của con người trong lĩnh vực quản lý, hành chính nhà nước là câu chuyện đã được truyền thông, báo chí phản ánh rất nhiều với những bức tranh hiện thực muôn màu Nhận thức được điều này, công cuộc cải cách thủ tục hành chính đã được Đảng và nhà nước tiến hành trong hơn 10 năm qua

và đã thu được nhiều kết quả, phản hồi tích cực

Đối với nhánh tư pháp: mặc dù chúng ta cũng đã tiến hành cải cách tư

pháp từ sau Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 về Một số nhiệm vụ

trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, đặc biệt là Nghị quyết số NQ/TW ngày 02-06-2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhưng

49-những kết quả đạt được còn rất ít Chính vì 49-những đổi mới về nhận thức, lý luận

và áp dụng trong hệ thống tư pháp các cấp còn hạn chế nên quyền con người trong lĩnh vực tư pháp thường bị vi phạm rất nhiều

Trang 7

Khác với lĩnh vực hành pháp, trong lĩnh vực tư pháp, hậu quả của hành vi

lạm quyền, xét xử không theo nguyên tắc chỉ tuân theo pháp luật thường là rất

nghiêm trọng vì nó liên quan đến uy tín, danh dự, nhân phẩm, vận mệnh và có thể cả là tính mạng, sự sống của con người, của đời người Các bản án oan, sai, xét xử không đúng hạn, vi phạm các thủ tục tố tụng, vi phạm quyền con người là câu chuyện không còn xa lạ trong đời sống của chúng ta Vì sao hệ thống tư pháp lại còn nhiều bất cập đến vậy? Đó là do các nhánh quyền lực nhà nước còn chưa độc lập, còn chồng chéo lẫn nhau Quyền lực nhà nước của chúng ta không được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền như nhiều nước khác trên thế giới

Chúng ta đang chủ trương kiên trì con đường xây dựng nhà nước pháp quyền, nhà nước pháp quyền nghĩa là phải tôn trọng và bảo vệ các quyền con người và tư pháp phải độc lập Hiện nay chúng ta chưa thể có tư pháp độc lập khi mà cả lập pháp, hành pháp và tư pháp vẫn theo cách phân công phân nhiệm chứ không phải phân quyền Quyền lực nhà nước vẫn theo nguyên tắc tập quyền, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nhưng thực sự nhân dân có làm chủ quyền đó hay không khi mà chỉ thông qua cơ quan đại diện của nhân dân là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp mà trong đó nhân dân với tư cách

“người làm chủ” không được quyền bãi nhiệm người đại diện của mình

Việc phân công, phối hợp quyền lực nhà nước giữa quyền tư pháp với các quyền lập pháp và hành pháp cần phải bảo đảm nguyên tắc độc lập của tư pháp Tuy nhiên, tổ chức và hoạt động của tòa án nước ta chưa bảo đảm được tính độc lập Tư pháp chưa thể độc lập khi mà hệ thống tòa án còn được tổ chức theo các cấp quản lý hành chính, bị chi phối, tác động theo các cấp ủy, Đảng địa phương

Vì vậy, có thể nói, quyền con người trong lĩnh vực tư pháp của chúng ta hiện nay chưa được đảm bảo, chưa có cơ chế bảo vệ hữu hiệu và vẫn còn bộc lộ những bất cập cả về lý luận cũng như hoạt động thực tiễn Những bất cập này đã

ít nhiều gây thiệt hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp

Trang 8

pháp của công dân; vi phạm đến các vấn đề về dân chủ, công bằng, bình đẳng trong xã hội; làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và nhà nước xã hội chủ nghĩa Đó là nguyên cớ để các thế lực thù địch tìm cách chống phá lại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta

Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân ta đang tích cực triển khai những nhiệm vụ khác nhau nhằm hiện thực hóa việc xây dựng nhà nước pháp quyền, là một mô hình tổ chức nhà nước chống lại sự lạm quyền, đề cao, bảo vệ và tôn trọng các quyền con người Quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền đòi hỏi chính quyền phải chịu sự kiểm soát của pháp luật Nhà nước pháp quyền yêu cầu chính quyền phải chịu sự ràng buộc bởi pháp luật để bảo vệ con người, trong đó

tư pháp là lĩnh vực có chức năng đảm bảo cho pháp luật được thực hiện và bảo

vệ con người Do đó, việc xây dựng nhà nước pháp quyền không thể tách rời với quá trình xây dựng, cải cách nền tư pháp, hướng tới một nền tư pháp công minh, độc lập, hiệu quả, bảo vệ các quyền con người Chính vì vậy, để xây dựng thành công nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, chúng ta cần phải đẩy mạnh cải cách tư pháp, hướng tới một nền “tư pháp độc lập” nhằm “bảo vệ các quyền con người, quyền công dân”

Trên thực tế, thời gian vừa qua công luận đã liên tiếp đưa ra ánh sáng tình trạng bắt người tùy tiện, bắt oan người không có tội, tạm giữ, tạm giam người không có căn cứ, khởi tố điều tra sai, khởi tố điều tra khi không đủ căn cứ dẫn đến xâm hại nghiêm trọng đến nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Do hoạt động tố tụng là việc đi ngược dòng thời gian để tìm ra sự thật khách quan, song nhận thức của con người là có hạn nên một số trường hợp không thể hoặc chưa thể truy ra sự thật Tuy nhiên, dưới sức ép không để lọt tội phạm dễ dẫn đến hiện tượng “giết nhằm hơn bỏ sót”, vậy là oan sai lại xảy ra Nguyễn Thanh Chấn (ở tù oan hơn 10 năm) là một điển hình của việc này

Vì tâm lý “sợ lọt tội phạm” nên nhiều vụ án chưa đủ chứng cứ để kết tội

Trang 9

đáng lẽ ra phải tuyên bị cáo vô tội và trả tự do; vậy mà tòa tuyên trả hồ sơ điều tra bổ sung (bị cáo vẫn không được trả tự do), thậm tệ hơn là đưa ra bản án “an toàn” là chung thân trong những vụ án chỉ có thể tử hình hoặc vô tội, Kỳ án Vườn Mít là một ví dụ

Theo quy định của Bộ luật Hình sự 2003, bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội – nghĩa là bị can, bị cáo có quyền im lặng trong khâu chứng minh mình vô tội Tuy nhiên trên thực tế chỉ vì im lặng mà xảy ra những cái chết đau lòng tại trụ sở công an Vụ án 05 công an đánh chết nghi can trong quá trình điều tra ở Phú Yên trong thời gian vừa qua là một minh chứng

Thực tế cho thấy vấn đề đảm bảo quyền con người nói chung và đảm bảo quyền con người trong hoạt động tư pháp ở nước ta tuy đang từng bước được củng cố và đã trở thành một trong những tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá

về sự công bằng, dân chủ và tiến bộ trong xã hội, tuy nhiên còn bộc lộ nhiều bất cập, thiếu sót, hạn chế, lý thuyết và là nội dung khá mới mẻ trong nhận thức của công dân, trong hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý cũng như trong việc tổ chức thực hiện trên thực tế Đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận lẫn hoạt động thực tiễn để góp phần thiết thực vào việc đảm bảo quyền con người nói chung và quyền con người trong hoạt động tư pháp nói riêng, làm cơ sở cho việc thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

Chính vì những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Vai trò của tư pháp

trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về tư pháp và quyền con người nói chung, về bảo đảm quyền con người bằng hoạt động tư pháp trong nhà nước pháp quyền nói riêng, chẳng hạn như:

Trang 10

- Bài viết: Vai trò của tư pháp độc lập của tác giả Philippa Strum, được dịch và in trong cuốn Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến: Một số tiểu luận

của học giả nước ngoài, NXB Lao động xã hội (2012), đã chứng minh những

đóng góp quan trọng của nhánh quyền lực tư pháp trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người ở Hoa Kỳ

- Bài viết: Tầm quan trọng của tư pháp độc lập của tác giả Sandra Day O’Connor, được dịch và in trong cuốn Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến:

Một số tiểu luận của học giả nước ngoài, NXB Lao động xã hội (2012), đã cho

thấy tính phổ biến của tư pháp độc lập trong việc bảo vệ quyền con người, thông qua hoạt động xét xử

- Ấn phẩm: Phương thức hoạt động của tòa án Hoa Kỳ của Bộ Ngoại giao

Hoa Kỳ (1999) bao gồm nhiều bài viết của nhiều tác giả về các phương diện của

hệ thống tư pháp Hoa Kỳ, trong đó chủ yếu đều cập đến lịch sử hình thành và phát triển của nền tư pháp Hoa Kỳ, những thành tựu của Hiến pháp Hoa Kỳ trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người Bên cạnh đó, ấn phẩm này cũng cung cấp những kinh nhiệm quý báu trong việc bảo đảm sự vô tư, khách quan của thẩm phán bằng hệ thống đạo đức nghề nghiệp của thẩm pháp và phương thức kỷ luật thẩm phán trong hệ thống tư pháp Hoa Kỳ

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về tư pháp, cải cách tư pháp và quyền con người, có thể kể ra một số nghiên cứu sau:

Một số sách, công trình nghiên cứu:

- Lê Cảm – Nguyễn Ngọc Chí (đồng chủ biên) (2004), Cải cách tư pháp ở

Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, NXB Đại học Quốc

gia Hà Nội, Hà Nội Tác phẩm đã tình bày những vấn đề cơ bản cần đặt ra trong quá trình cải cách tư pháp trong mối quan hệ với những yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về tổ chức, hoạt động của quyền tư pháp; vị trí, vai

Trang 11

trò và đặc điểm của mối quan hệ giữa các thiết chế bên trong cũng như mối quan

hệ giữa quyền lực tư pháp với quyền lập pháp và hành pháp

- Nguyễn Đăng Dung (chủ biên) (2004), Thể chế tư pháp trong Nhà nước

pháp quyền, NXB Tư pháp, Hà Nội Tác phẩm đã đề cập đến vấn đề lý luận về

thể chế tư pháp, thể chế tư pháp ở nhà nước pháp quyền dân chủ và thể chế tư pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

- Nguyễn Đăng Dung (2005), Sự hạn chế quyền lực Nhà nước, NXB Đại

học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

- Nguyễn Đăng Dung (chủ biên) (2012), Tòa án Việt Nam trong bối cảnh

xây dựng Nhà nước pháp quyền, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Tác

phẩm đã phân tích và làm rõ cơ sở lý luận về vị trí, vai trò của tòa án, phạm vi của hoạt động xét xử cũng như tầm quan trọng của độc lập tư pháp trong nhà nước pháp quyền

- Phạm Hồng Thái – Nguyễn Sĩ Dũng – Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công

Giao – Hoàng Minh Hiếu – Đặng Minh Tuấn (đồng chủ biên) (2012), Sửa đổi,

bổ sung Hiến pháp 1992: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Hồng Đức,

Hà Nội Tác phẩm này gồm nhiều chuyên luận có giá trị tham khảo rất lớn của các nhà nghiên cứu trong nước về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền, các yêu cầu cần phải đảm bảo trong quá trình thực hiện cải cách tư pháp

- Nguyễn Đăng Dung – Phạm Hồng Thái – Lã Khánh Tùng – Vũ Công

Giao (đồng chủ biên) (2011), Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con

người, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội

- Nguyễn Đăng Dung – Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên)

(2011), Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, NXB Đại học

Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Tác phẩm đã cung cấp một khối lượng kiến thức trọng tâm về pháp luật về quyền con người, nhằm đưa đến cho người đọc một sự hiểu biết toàn diện và khái quát nhất

Trang 12

- Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân (2012), Giới

thiệu Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR, 1966), NXB

Hồng Đức, Hà Nội Tác phẩm đã cung cấp những phân tích sâu sắc về nội hàm của các quyền con người, đồng thời cũng trình bày sơ lược về quá trình phát triển của các quyền con người

- Nguyễn Đăng Dung – Phạm Hồng Thái – Lã Khánh Tùng – Vũ Công

Giao (đồng chủ biên) (2012), Tuyển tập Hiến pháp của một số quốc gia, NXB

Hồng Đức, Hà Nội

- Gudmundur Alfredsson – Asbjorn Eide (đồng chủ biên) (1999), The

Universal Declaration of Human rights: A common standard of Achivement

(Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền 1948 – Mục tiêu chung của Nhân loại), NXB Martinus Nijhoff

Một số bài viết:

- Lê Cảm (2006), “Tổ chức quyền tư pháp, yếu tố quan trọng nhất đảm

bảo cho thành công của chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, Nhà nước

và pháp luật, (5)

- Ngô Huy Cương (2003), “Tổ chức tư pháp hướng tới Nhà nước pháp

quyền: Một số vấn đề cơ bản”, Nhà nước và pháp luật, (7)

- Nguyễn Đăng Dung (2007), “Trọng tâm của công tác cải cách tư pháp

hiện nay là bảo đảm cho nguyên tắc độc lập có hiệu lực trên thực tế”, Dân chủ

và Pháp luật, (178)

- Nguyễn Hải Ninh (2008), “Cải cách tư pháp ở Canada, Trung Quốc và

Nhật Bản”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1 năm 2008

Những công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập, phân tích rất sâu những khía cạnh của nhà nước pháp quyền; vị trí, vai trò của tư pháp trong nhà nước pháp quyền và yêu cầu của tư pháp độc lập nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ công lý và pháp luật; những yêu cầu và định hướng cải cách tư pháp

Trang 13

nhằm đảo bảo yêu cầu trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, vẫn chưa đề cập đến vai trò cụ thể của tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người, cả trong lý luận và thực tiễn qua hoạt động xét xử của tòa án ở Việt Nam Cho nên, luận văn này là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn

về quyền tư pháp, quyền con người trong nhà nước pháp quyền

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những nội dung về quyền tư pháp, quyền con người trong nhà nước pháp quyền, vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ các quyền con người theo những tiêu chuẩn chung của pháp luật thế giới và được áp dụng trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

Trang 14

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam về hệ thống pháp luật và quyền con người Quan điểm của Liên hợp quốc về vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ các quyền con người

Các phương pháp được sử dụng trong luận văn này bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh và khảo cứu tài liệu

Cách tiếp cận của luận văn bao gồm: triết học, chính trị học và luật học

6 Những nét mới của luận văn

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư pháp và quyền con người ở Việt Nam, nhưng chưa có công trình nào phân tích toàn diện và thấu đáo về mối quan hệ, vai trò của tư pháp độc lập trong việc bảo vệ, thúc đẩy quyền con người Luận văn này góp phần khỏa lấp khoảng trống đó, bổ sung cho các nghiên cứu hiện hành về hai lĩnh vực này ở Việt Nam Tuy vậy, các công trình đã nghiên cứu sẽ là những tài liệu tham khảo quan trọng đối với tác giả trong quá trình thực hiện luận văn

7 Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề cải cách hoạt động tư pháp, nâng cao chất lượng hệ thống tư pháp nhằm bảo vệ hiệu quả những quyền cơ bản của công dân nói riêng và quyền con người nói chung

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu ở khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội và các cơ sở đào tạo khác

ở Việt Nam Ngoài ra, luận văn còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu, hội thảo, chuyên đề có liên quan đến vấn đề tư pháp và quyền con người

Trang 15

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết như sau:

- Chương 1 Một số vấn đề lý luận về quyền con người và quyền tư pháp

- Chương 2 Thực trạng bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư

pháp ở Việt Nam

- Chương 3 Một số quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của

tư pháp trong việc bảo vệ các quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Trang 16

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

VÀ QUYỀN TƯ PHÁP

1.1 Khái quát về quyền con người

1.1.1 Khái niệm, đặc trưng về quyền con người

Quyền con người là một khái niệm tiến triển theo thời gian Sự phát triển

của nó “gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của các tôn giáo, tư tưởng, tập quán

và pháp luật trong các giai đoạn lịch sử của nhân loại” [14, tr.19] Trong thời

kì cổ và trung đại, các giáo lý của một số tôn giáo lớn như Phật giáo, Thiên chúa giáo và Hồi giáo đều đã chứa đựng những tư tưởng có ý nghĩa đạo đức về bình đẳng, hạnh phúc và tự do Một số bộ luật cổ còn lưu giữ lại được như Bộ luật Hammurabi cổ đại (khoảng 1780 tr.CN), Bộ luật của Cyrus Đại đế (khoảng 550 tr.CN), Bộ luật Ashoka (khoảng 273-231 tr.CN),… đã đề cập đến việc bảo vệ các quyền lợi chính đáng của con người Trong các tác phẩm của mình, các nhà

tư tưởng có ảnh hưởng trong thời kì này như Aristotle, Platon, Khổng Tử, Mặc Tử,… đều đã đề cập đến những khía cạnh về sự bình đẳng, tự do và các quyền của con người

Tiếp theo, cho đến trước cách mạng tư sản, nhiều văn kiện như Đại

Hiến chương Anh (Magna Carta, 1215), Bộ luật về Quyền của Anh (Bill of

Rights, 1689),… đã chứa đựng những quy định nhằm bảo vệ nhân phẩm của

con người – “chịu ảnh hưởng của các tư tưởng nhân văn trong các học thuyết

tôn giáo” [14, tr.20]

Thời kỳ Khai sáng và cách mạng tư sản, tư tưởng về quyền con người đã đánh dấu một bước phát triển mới Nhiều tư tưởng, học thuyết tiến bộ về chính trị – xã hội ra đời hoặc hồi sinh, nổi bật trong số đó là tư tưởng về quyền tự

nhiên (natural rights) với một số học giả tiêu biểu như Thomas Hobbes, John

Trang 17

Locke, Thomas Paine,… Họ cho rằng: “quyền con người là những gì bẩm sinh,

vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đình nhân loại” [14, tr.20] Điều này cũng có thể được hiểu rằng,

các quyền con người “không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống

văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào” [12, tr.39] Cho nên, không một chủ thể nào, kể cả nhà nước có

quyền ban phát hay tước bỏ các quyền gắn với con người này

Ngược lại, các nhà tư tưởng về học thuyết quyền pháp lý (legal rights) với đại diện Edmund Burke và Jeremy Bentham lại cho rằng: “quyền con người

không phải là những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do các nhà nước xác định và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật hoặc xuất phát

từ truyền thống văn hóa” [12, tr.39]

Những tư tưởng trong thời kì Khai sáng nêu trên đã có những tác động, ảnh

hưởng to lớn đến các cuộc cách mạng tư sản – với ngọn cờ quyền con người nhằm

chống lại xã hội phong kiến thần quyền Sự ra đời của Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776), Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1789), hay Bộ luật về Quyền của Mỹ (1791) đã khẳng định quyền con người như một chân lý tự nhiên

rằng: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có

thể xâm phạm được; trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [15, tr.115] “Con người sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do, bình đẳng về quyền lợi” [15, tr.119]

Từ thế kỉ XIX cho đến nay, quyền con người càng trở nên phổ biến, được thừa nhận và tuân thủ bởi nhiều quốc gia trên thế giới, bất chấp sự khác biệt về thể chế chính trị, hệ tư tưởng, truyền thống văn hóa và pháp luật Cùng với sự ra đời của những khái niệm khác có liên quan đến quyền con người như dân chủ,

phát triển, hòa bình, an ninh,… làm cho “quyền con người trở thành một trong

những khái niệm được đề cập, chấp nhận và cổ vũ một cách rộng khắp, thường xuyên và nồng nhiệt nhất hiện nay” [12, tr.56]

Trang 18

Mặc dù có một quá trình phát triển lâu dài như đã trình bày ở trên, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về quyền con người, bởi đây là một phạm trù

đa diện, đa ngành Với mỗi cách tiếp cận (luật học, chính trị học, triết học, văn hóa học, đạo đức, tôn giáo,…) ta lại có một định nghĩa hoặc khái niệm riêng

Năm 1994, theo một tài liệu của Liên hợp quốc cho thấy “có đến gần 50 định

nghĩa về quyền con người đã được công bố” [12, tr.37] Đầu tiên phải kể đến

định nghĩa được đưa ra bởi Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc – định nghĩa này cũng thường được trích dẫn bởi nhiều nhà nghiên cứu, đó là:

“Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [12, tr.37]

GS TS Nguyễn Đăng Dung – một người có nhiều năm kinh nghiệm nghiên cứu trong lĩnh vực quyền con người lại đưa ra một định nghĩa như sau:

Quyền con người là những quyền cơ bản nhất của con người, được có một cách tự nhiên, gắn bó mật thiết với con người – một động vật cao cấp có lý trí và có tình cảm, làm cho con người khác với các động vật khác, mà nhà nước thành lập với một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của mình là phải bảo vệ những quyền đó [4]

Từ hai định nghĩa nêu trên, có thể rút ra được một số khía cạnh chung về

cách hiểu, nhận thức về quyền con người là: thứ nhất, quyền con người là những

quyền cơ bản, gắn với cá nhân con người, xuất phát từ phẩm giá vốn có của họ

mà không có bất kì sự phân biệt nào Nhờ những quyền đó con người mới tồn tại

và phát triển được bản thân trong đời sống cộng đồng; thứ hai, các quyền con

người yêu cầu phải được pháp luật ghi nhận và bảo đảm – đây chính là công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ các quyền con người, ở cả phạm vi quốc gia và quốc tế

Về các đặc trưng của quyền con người, theo cách hiểu hiện nay của luật nhân quyền quốc tế, quyền con người có bốn đặc trưng cơ bản, đó là:

Trang 19

Thứ nhất, tính phổ biến (universal) Theo đặc trưng này, “quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại mà không có bất cứ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, tôn giáo, xuất thân,…” [12, tr.41] Tuy nhiên, sự

bình đẳng ở đây không phải là cào bằng mức độ hưởng thụ, mà bình đẳng về tư cách chủ thể, và bình đẳng về cơ hội để thụ hưởng các quyền con người

Thứ hai, tính không thể phân chia (indivisible) Đặc trưng này chỉ ra các

quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, không quyền nào được coi là

có giá trị hơn quyền nào Bất kì một sự tước bỏ hay hạn chế quyền con người

nào đều sẽ gây ra những “tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát

triển của con người” [12, tr.42] Mặc dù vậy, trong những điều kiện, hoàn cảnh

thực tế, tùy theo những yêu cầu cụ thể mà có những quyền được ưu tiên thực hiện Chẳng hạn như trong chiến tranh, bệnh dịch, hay đói nghèo thì các quyền như quyền sống, quyền về y tế, quyền về lương thực sẽ được ưu tiên thực hiện hơn các quyền con người khác

Thứ ba, tính không thể tước bỏ (inalienable) Về cơ bản, các quyền con

người là các quyền nhân thân, nó gắn liền với các cá nhân, cho nên không một chủ thể nào, kể cả cơ quan nhà nước có thể tùy tiện tước đoạt hay giới hạn Sự tước đoạt hay giới hạn phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt của pháp luật – được thừa nhận chung bởi các quốc gia trên thế giới Ví dụ như, trong tình

trạng khẩn cấp quốc gia (state emergency) thì một số quyền con người có thể bị

giới hạn, như quyền tự do đi lại, quyền hội họp, biểu tình,… hoặc khi một cá nhân vi phạm những tội ác nghiêm trọng nhất, quyền sống của cá nhân đó có thể

sẽ bị tước đoạt (hình phạt tử hình)

Thứ tư, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated & interdependent)

Đặc trưng này nói lên rằng các quyền con người có mối liên hệ phụ thuộc và tác

động qua lại lẫn nhau: “Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây

Trang 20

ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác Ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặ gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác” [12, tr.43]

1.1.2 Cách thức ghi nhận các quyền con người

Trong một nhà nước pháp quyền, mối quan hệ giữa nhà nước và công dân

là bình đẳng dựa trên cơ sở của pháp luật, và Hiến pháp – bản khế ước thể hiện

sự đồng thuận của những người bị trị – đóng vai trò rất quan trọng Các quyền con người, quyền công dân, thường là một phần trong các bản Hiến pháp Chẳng

hạn, Bộ luật về Quyền của Mỹ (Bill of Rights, 1791) chính là 10 Tu chính án Hiến pháp đầu tiên, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1789) chính là một phần của Hiến pháp Pháp, hay Bộ luật về Quyền của Anh (Bill of

Rights, 1689) là một nguồn của Hiến pháp Anh Các bản Hiến pháp cổ điển này

chủ yếu quy định các quyền dân sự và chính trị Ngày nay, các bản Hiến pháp hiện đại đã mở rộng phạm vi các quyền con người, ghi nhận thêm cả các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, và cả quyền của các nhóm yếu thế (chẳng hạn như phụ

nữ, trẻ em, người thiểu số…)

Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân được ghi nhận tại Chương II Hiến pháp 2013, chia thành

các nhóm quyền như sau: thứ nhất, các quyền dân sự, chính trị như: quyền tự do

và an ninh cá nhân; quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng; quyền tự do đi lại và lựa chọn nơi ở; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do ngôn luận, báo chí và thông tin; quyền lập hội,

hội họp; quyền được bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý đất nước;… thứ hai,

các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội như: quyền làm việc; quyền học tập; quyền được chăm sóc sức khỏe; các quyền về an sinh xã hội;…

Ngoài ra, các đạo luật, luật cũng đã cụ thể hóa các quyền con người trong Hiến pháp vào các lĩnh vực pháp lý cụ thể, chẳng hạn như quyền con người

Trang 21

trong lĩnh vực dân sự, quyền con người trong lĩnh vực hình sự, hay quyền con người trong lĩnh vực hành chính, lao động,… Cùng với đó, quyền của các nhóm cũng được ghi nhận cụ thể hơn, chẳng hạn quyền của phụ nữ, quyền trẻ em, quyền của người sống chung với HIV/AIDS hay quyền của người khuyết tật,…

Với một hệ thống các quy định của pháp luật như trên, từ Hiến pháp cho đến các văn bản dưới nó, quyền con người trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn được ghi nhận và bảo đảm (về mặt pháp lý) Tuy nhiên, việc ghi nhận và bảo đảm về mặt pháp lý như trên là chưa đủ, còn cần phải có những biện pháp, chính sách đảm bảo thực hiện các quyền con người trên thực tế Theo PGS TS Tường Duy Kiên thì cần phải:

Xây dựng và hoàn thiện pháp luật, trong đó chú trọng pháp luật về quyền con người, quyền công dân; Xây dựng chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ công chức trong quá trình thực thi công vụ; Đảm bảo tính độc lập của cơ quan tư pháp trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; Đề cao vai trò của các tổ chức xã hội dân sự [20, tr.64-69]

Còn theo PGS TS Đinh Văn Mậu, để quyền con người được bảo đảm thực hiện, cần phải:

Thông qua mối quan hệ giữa nhà nước và công dân do pháp luật quy định; Thông qua hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước như cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, Tòa án và Viện Kiểm sát; Bằng việc hoàn thiện tổ chức nhà nước như đổi mới tổ chức thực hiện thẩm quyền Quốc hội, cải cách nền hành chính nhà nước, cải cách tư pháp

và nâng cao trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo đảm, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trong cơ chế thị trường và dân chủ hóa xã hội [17, tr.82-111]

Trang 22

Nhìn chung thì với mỗi nhà nghiên cứu, dưới các góc độ khác nhau lại chỉ

ra được những yêu cầu cần phải thực hiện nhằm đảm bảo quyền con người trên

thực tế Tựu chung lại, có thể phân biệt thành các nhóm biện pháp sau: thứ nhất,

các biện pháp liên quan đến hoạt động lập pháp và hoạt động thi hành pháp luật;

thứ hai, các biện pháp liên quan đến chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước,

cán bộ, công chức trong việc bảo vệ các quyền con người; thứ ba, các biện pháp

xử lý vi phạm quyền con người, bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân;

thứ tư, các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà nước

Trong phạm vi của luận văn sẽ đề cập chủ yếu đến nhóm các giải pháp thứ ba,

và sẽ được trình bày cụ thể hơn ở các phần sau

1.2 Khái quát về quyền tư pháp

1.2.1 Quan niệm chung về quyền tư pháp

Trong khoa học pháp lý, theo nghĩa truyền thống, thuật ngữ “quyền tư

pháp” thường được hiểu đơn giản là quyền xét xử Cụ thể, đó là quyền của Tòa án

xét xử một vụ việc trên cơ sở xem xét các tính tiết thực tế, áp dụng pháp luật để xác định hậu quả pháp lý và ra phán quyết, quyết định Hiểu theo nghĩa này, hệ thống cơ quan thực hiện quyền tư pháp chính là hệ thống cơ quan thực hiện quyền xét xử, tức là hệ thống tòa án Từ điển Black’s Law Dictionary định nghĩa, quyền

tư pháp là “thẩm quyền được trao cho tòa án và các thẩm phán xem xét và quyết

định các vụ việc và đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc thi hành đối với các vụ việc ấy; quyền giải thích và áp dụng pháp luật khi có tranh cãi phát sinh từ việc một điều gì đó có phù hợp hay không phù hợp với pháp luật điều chỉnh ấy” [3]

Ngày nay, cách hiểu truyền thống về quyền tư pháp vẫn được sử dụng, tuy nhiên cũng đã xuất hiện những quan điểm về quyền tư pháp và cơ quan tư pháp theo hướng tiếp cận rộng hơn, tổng quát hơn Chẳng hạn như, các cơ quan công

tố ở nhiều quốc gia trên thế giới có thể trực thuộc nhánh hành pháp hay tòa án, song ngày càng có xu hướng vận hành theo nguyên tắc độc lập giống như hệ

Trang 23

thống tòa án Quan điểm này được phản ánh trong các bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa và ở một số Hiến pháp các quốc gia Đông Âu hiện nay Chẳng hạn như, Hiến pháp Trung Quốc gộp chung hệ thống Tòa án nhân dân và hệ thống Viện kiểm sát vào chương điều chỉnh về các cơ quan tư pháp, Hiến pháp Liên bang Nga quy định Viện công tố và Tòa án (cả Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga) cùng thực hiện quyền tư pháp trong một chương Theo nghĩa rộng này, thì các

cơ quan tư pháp có thể bao gồm:

Hệ thống tòa án; Cơ quan giữ quyền công tố; các cơ quan giữ quyền điều tra; Các cơ quan thi hành án hình sự và dân sự; Các thiết chế bổ trợ tư pháp, ví dụ công chứng, đăng ký giao dịch có bảo đảm, thừa phát lại Ngoài ra, các cơ quan tư pháp còn liên quan mật thiết đến những người có hành nghề liên quan đến tư pháp như: luật sư; giám định viên; kiểm toán viên; những người hành nghề bổ trợ tư pháp khác [18]

Trong phạm vi luận văn này, khái niệm quyền tư pháp được sử dụng theo nghĩa truyền thống (nghĩa hẹp), đó là quyền xét xử của tòa án, và tòa án chính

là cơ quan tư pháp của một quốc gia: “Quyền tư pháp là khả năng và năng lực

riêng của các cơ quan tòa án, chiếm vị trí đặc biệt trong bộ máy nhà nước thực hiện để tác động đến hành vi con người, đến quá trình xã hội” [25] Bởi vì, tòa

án là nơi mà quyền tư pháp được thi hành một cách đầy đủ nhất, và hoạt động xét xử của tòa án thể hiện đầy đủ nhất các đặc điểm của quyền tư pháp

Ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phương Tây, quyền tư pháp cùng với quyền lập pháp và hành pháp là ba nhánh quyền lực của nhà nước trong cơ chế phân quyền Trong khi quyền lập pháp và quyền hành pháp luôn có

xu hướng có quan hệ mật thiết với nhau, thì quyền tư pháp luôn phải độc lập – một nguyên tắc quan trọng trong nhà nước pháp quyền Chỉ có vậy, hoạt động xét xử mới thực sự công bằng, công lý được thực hiện và xây dựng được niềm

Trang 24

tin của người dân vào hệ thống tư pháp Lon Fuller – một nhà nghiên cứu về lĩnh vực nhà nước pháp quyền viết:

Nguyên tắc nhà nước pháp quyền chỉ tồn tại khi, thứ nhất, công

lý và nhân phẩm của con người được bảo đảm; thứ hai, các cơ quan

hành pháp phải có trách nhiệm thi hành các quy định của lập pháp đã

được thông qua, ngay cả trong trường hợp quy định đó là sai; thứ ba,

khi các quy định đó được các cơ quan tư pháp đảm bảo thực thi một

cách nghiêm túc; thứ tư, khi có một hệ thống cơ quan tòa án độc lập

sẵn sàng bảo vệ các bên bị xâm hại chống lại các hành vi cửa quyền của các cơ quan chức năng của nhà nước [6, tr.79]

Với tư cách là một trong các nhánh quyền lực nhà nước, bên cạnh những đặc điểm chung của các bộ phận cấu thành nên bộ máy nhà nước như quyền lực công cộng, thể hiện ý chí của nhân dân,… hoạt động tư pháp của tòa án có những đặc trưng riêng mang tính đặc thù sau đây

1.2.2 Các đặc trưng của quyền tư pháp

Trong một nhà nước pháp quyền, hoạt động tư pháp của hệ thống tòa án

có các đặc trưng sau đây:

Thứ nhất, hoạt động tư pháp là hoạt động thực hiện quyền lực – quyền

nhân danh nhà nước xét xử và tuyên án Trong nhà nước pháp quyền, không một

cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào có quyền kết tội một công dân Chỉ có tòa án mới có quyền nhân danh nhà nước phán xét một người là có tội hay không có

tội Điều này được thể hiện trong “nguyên tắc suy đoán vô tội” – một nguyên

tắc kinh điển trong hoạt động tư pháp được thừa nhận chung bởi nền văn minh

pháp lý nhân loại, rằng: không có ai bị coi là có tội cung như phải chịu hình

phạt khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật Ngoài ra,

bất kì sự giới hạn hay tước bỏ các quyền, lợi ích của cá nhân hay các tổ chức đều phải bằng con đường hoặc thủ tục tư pháp

Trang 25

Hoạt động xét xử của tòa án cũng chính là việc áp dụng pháp luật vào việc giải quyết các tranh chấp, vi phạm cụ thể Quy trình này phải tuân theo những trình tự, thủ tục luật định một cách nghiêm ngặt, không được bỏ qua một thủ tục nào, nhằm tránh sự lạm dụng của quyền tư pháp, gây tổn hại cho nền công lý quốc gia, làm giảm niềm tin của công chúng vào công lý, vào bộ máy nhà nước Cho nên, phán quyết và quyết định của tòa án có hiệu lực cao, yêu cầu các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân phải tôn trọng, các chủ thể liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành Chỉ có vậy, tính thiêng liêng, hiệu lực và sức mạnh của pháp luật mới được bảo vệ

Trong hoạt động xét xử, ngoài căn cứ vào pháp luật, tòa án còn cần phải căn cứ vào công lý để áp dụng linh hoạt Đó chính là biểu hiện của sự công bằng, khách quan, vô tư và tình người, để sao cho công bằng không bị bóp méo theo điều cứng nhắc, đóng khung của pháp luật

Thứ hai, hoạt động tư pháp đưa ra những đánh giá về mặt pháp lý cho các

sự kiện Trước hết, hoạt động tư pháp phải tìm kiếm, xác định và minh định được

các sự kiện xảy ra, trên cơ sở đó phải đưa ra được những đánh giá về mặt pháp

lý cho các sự kiện này, từ đó mới áp dụng được pháp luật Điều này đòi hỏi nỗ

lực trí tuệ và trách nhiệm rất cao của các chủ thể áp dụng pháp luật, bởi vì đây là những vấn đề liên quan đến con người, liên quan đến lợi ích của các bên (có thể trái ngược hoặc mâu thuẫn với nhau) Cho nên, tòa án phải độc lập, khách quan,

vô tư, tôn trọng sự thật thì mới có thể làm trọng tài cho các bên tranh chấp

Thứ ba, hoạt động tư pháp mang tính hình thức, thể hiện ở những thủ tục

pháp lý chặt chẽ Trong nhà nước pháp quyền, hoạt động tư pháp có sự đòi hỏi

về tính hình thức rất cao, có nghĩa là phải theo những thủ tục rất chặt chẽ Đặc

trưng này thể hiện ở “nguyên tắc tranh tụng” – một nguyên tắc rất quan trọng

của hoạt động tư pháp Tòa án đóng vai trò là người trọng tài, chỉ căn cứ vào các chứng cứ được đưa ra trước phiên tòa và hoạt động tranh tụng tại phiên tòa để đưa ra phán quyết, quyết định của mình một cách khách quan, vô tư nhất

Trang 26

Những thủ tục pháp lý chặt chẽ còn có tác dụng bảo vệ pháp luật, bảo vệ các quyền con người trước nguy cơ tùy tiện của các cơ quan công quyền Trước hết, đó có thể là sự lạm dụng quyền lực của chính tòa án để mưu cầu lợi ích cá nhân Khi đó, luật thủ tục chính là một trong những biện pháp tốt nhất nhằm giới hạn sự lạm quyền của những người nắm quyền tư pháp Tiếp đến, những quy định về thủ tục và cơ chế cũng nhằm kiểm soát, chống lại sự chuyên chế, lạm quyền của các cơ quan nhà nước Buộc các cơ quan nhà nước phải chịu sự ràng buộc của pháp luật và công lý Nó có tác dụng giống như một tấm lá chắn giữa

kẻ mạnh và kẻ yếu, giữa người thống trị và người bị thống trị, nhằm ngăn cản sự xâm phạm của kẻ có quyền, có sức mạnh đối với những cá nhân yếu thế, bảo đảm sự phát triển bền vững của xã hội

1.2.3 Tính độc lập của quyền tư pháp

Tính độc lập của tư pháp chính là một điều kiện không thể thiếu và có vị trí như là một điều kiện của nhà nước pháp quyền, nếu không có tư pháp độc lập, thì sẽ không thể tồn tại nhà nước pháp quyền Tư pháp độc lập trong nhà nước pháp quyền phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

Thứ nhất, hệ thống tư pháp phải là những thiết chế độc lập Sự độc lập ở

đây không những mang nghĩa “thiết chế” – tức cả hệ thống tòa án, mà còn là sự

độc lập của từng thẩm phán trong giải quyết các vụ việc mà không chịu ảnh hưởng từ các nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp Hiệp hội Đoàn Luật sư

Mỹ chỉ rõ nguyên tắc độc lập của hệ thống tòa án như sau:

Một hệ thống tòa án thực sự độc lập là hệ thống đưa ra được các quyết định và phán quyết được các cơ quan lập pháp và hành pháp tôn trọng và thực thi, là hệ thống nhận được nguồn ngân sách đầy đủ từ phía nghị viện, là hệ thống không khoan nhượng trước những nỗ lực làm giảm đi tính khách quan của nó… Tính độc lập của tòa án gồm tính độc lập của các cá nhân thẩm phán cũng như toàn bộ hệ thống một nhánh quyền lực nhà nước [6, tr.108-109]

Trang 27

Trong nhà nước pháp quyền, chỉ có hệ thống tòa án mới có chức năng xét

xử các tranh chấp giữa người dân với nhau, hoặc giữa người dân với các cơ quan nhà nước Chỉ có tòa án mới có quyền nhân danh nhà nước để đưa ra các phán quyết và quyết định, buộc các chủ thể có liên quan phải tuân theo Trong mối liên hệ với các quyền lập pháp và hành pháp, chỉ có tòa án (tư pháp) với vai trò của mình mới có quyền năng buộc hai nhánh quyền lực kia phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và thi hành các điều khoản của Hiến pháp Cho nên, hai nhánh quyền lực này luôn tìm các biện pháp và hình thức khác nhau để kìm hãm nhánh quyền tư pháp, chẳng hạn như việc bổ nhiệm các thẩm phán thiếu khả năng cương quyết trong việc thực hiện chức năng xét xử của tòa án Sự độc lập cho phép các tòa án có quyền tài phán đối với mọi vấn đề thuộc thẩm quyền xét

xử của mình, có quyền quyết định các vụ việc một cách vô tư, không thiên vị, dựa trên bản chất của sự việc và theo pháp luật Sự độc lập cũng ngăn ngừa việc can thiệp một cách vô cớ hay không thỏa đáng của các chủ thể khác vào quá trình xét xử của tòa án hay việc xem xét lại các phán quyết của tòa án

Tính độc lập không chỉ bao hàm việc các thẩm phán được miễn trừ khỏi sức ép chính trị và chính quyền hay các mối quan hệ chính trị phức tạp, mà còn

ở việc họ không được vướng bận vào các mối quan hệ có thể ảnh hưởng đến họ trong quá trình thực hiện chức năng xét xử (chẳng hạn như mối quan hệ với các doanh nghiệp) Tính độc lập ở đây được hiểu là độc lập trên mọi phương diện,

cả ở bên trong lẫn bên ngoài Độc lập ở bên trong có nghĩa là mọi phán quyết của thẩm phán của tòa án cấp dưới không chịu sự chỉ đạo của tòa án cấp trên, không bị ảnh hưởng bởi các mối quan hệ trong nội bộ Các phán quyết của thẩm phán nếu được cho là sai sẽ được xem xét lại theo các thủ tục nghiêm ngặt được quy định bởi pháp luật (phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm) Trong quá trình xét xử, thẩm phán độc lập với hồ sơ vụ án, độc lập với cáo trạng và quyết định truy tố, không phụ thuộc vào các quyết định hoặc kết luận của cơ quan điều tra,

Trang 28

viện kiểm sát Còn độc lập ở bên ngoài có nghĩa là thẩm phán không phải chịu bất kỳ sự chỉ đạo, ảnh hưởng nào từ phía các cơ quan, tổ chức, cá nhân, đương

sự, bạn bè, người thân, áp lực xã hội,… đối với các phán quyết của mình

Từ trước tới nay, con người cũng đã nghĩ ra rất nhiều các giải pháp để tăng cường tính độc lập của thẩm phán, chẳng hạn như: thẩm phán phải có nhiệm kì lâu dài, thậm chí có thể là suốt đời, được trả lương xứng đáng để không

bị các hoạt động chính trị khác chi phối; thẩm phán phải là các cá nhân liêm khiết, có khả năng, chuyên môn và phải do bổ nhiệm; tăng cường tính trách nhiệm của thẩm phán bằng các quy tắc, các thủ tục tố tụng nghiêm ngặt trong xét xử; quy định về đạo đức nghề nghiệp của thẩm phán và cho phép thẩm phán được quyền xét xử theo lương tâm;…

Để hệ thống tòa án là một thiết chế độc lập, thì tòa án trong nhà nước pháp quyền cần phải có hành chính nội bộ và ngân sách riêng Các nhà nước phải cung cấp đầy đủ các nguồn lực để tòa án thực hiện tốt các chức năng của mình theo một cách thức riêng biệt mà không bị phụ thuộc, chi phối bởi bất cứ một cơ quan nhà nước nào khác Ở nhiều nước, trách nhiệm quản lý hệ thống tòa

án thuộc về cơ quan hành pháp thông qua Bộ Tư pháp, từ quản lý các nguồn lực tài chính, các cơ sở trang thiết bị, kể cả việc tuyển dụng và đào tạo các chức danh tư pháp,… Điều này có thể gây tác động đến tính độc lập của tòa án trong hoạt động xét xử

Về khía cạnh nhân lực, hệ thống tòa án gồm nhiều loại nhân viên nhà nước cùng đóng góp vào quá trình thực thi chức năng của tòa án, như các thẩm phán chuyên nghiệp, hội thẩm nhân dân, thư ký tòa án, nhân viên văn phòng,… trong

đó vai trò độc lập của cá nhân các thẩm phán là rất quan trọng và đóng vai trò trung tâm Về khía cạnh tài chính, tòa án không thể độc lập một khi các khoản chi tiêu có liên quan đến hoạt động của tòa án lại bị phụ thuộc Các khoản ngân sách

dự trù phân bổ cho ngành tòa án và cho hoạt động xét xử nên do chính ngành tư

Trang 29

pháp chuẩn bị (có thể phối hợp với một cơ quan có thẩm quyền khác) và trình lên

cơ quan lập pháp Nhấn mạnh tầm quan trọng của điều này, R.D Nicholson nói:

“Việc lập dự trù ngân sách cho ngành tòa án bởi bất kỳ cơ quan nào khác không phải là tòa án và việc Chính phủ kiểm soát cách các tòa án sử dụng ngân sách được phân bổ là mối đe dọa tiềm tàng cho sự độc lập xét xử” [6, tr.125]

Tuy nhiên, sự độc lập của tòa án cũng cần phải đi kèm theo tính trách nhiệm của tòa án, bởi sự độc lập có xu hướng giải phóng tòa án khỏi mọi sự trách nhiệm, hạn chế và kiểm soát để ra các quyết định theo ý muốn của mình (muốn có một sự độc lập tuyệt đối thì phải vô trách nhiệm) Còn tính trách nhiệm lại có xu hướng kiềm chế, ràng buộc tòa án, không cho phép tòa án hành

xử một cách tùy tiện, vô lương tâm, gây hại cho công lý và quyền lợi đáng ra được hưởng của các bên Cho nên, cần phải có các quy định pháp lý, một mặt bảo đảm cho tòa án có một sự độc lập vừa đủ, không bị ảnh hưởng tác động từ phía bên ngoài, mặt khác cũng có thể buộc các thẩm phán thực hiện chức năng xét xử một cách công bằng và khách quan

Tính trách nhiệm của thẩm phán ở đây chính là trách nhiệm giải trình các

cơ sở ra phán quyết của mình trong bản án Trước hết và quan trọng nhất đó chính là những nhận định của thẩm phán về tình tiết của vụ việc và về cơ sở áp dụng pháp luật Điều này nhằm mục đích tránh việc thẩm phán ra phán quyết một cách tùy tiện và không có cơ sở

Thứ hai, tư pháp độc lập phải được thể hiện ở sự độc lập ở mỗi cấp xét

xử Về mặt tổ chức, khác với các cơ quan quyền lực nhà nước khác, các tòa án không được tổ chức theo một ngành dọc từ trung ương đến địa phương, mà bao gồm các cấp xét xử theo thẩm quyền tố tụng Không có tòa cấp trên và tòa cấp dưới, mà chỉ có mối quan hệ giữa tòa cấp cao hơn và tòa cấp thấp hơn về thẩm quyền tố tụng Khi xét xử, các hội đồng xét xử hoàn toàn độc lập trên cơ sở của pháp luật và ý thức pháp luật của thẩm phán và hội thẩm nhân dân

Trang 30

Việc tổ chức hệ thống tòa án theo thẩm quyền xét xử giúp tăng cường tính độc lập của tòa án đối với các cơ quan quyền lực nhà nước khác, đồng thời cũng hạn chế sự can thiệp của các cơ quan tư pháp cấp trên Việc phân định theo thẩm quyền xét xử cũng giúp cho việc xử án, giải quyết các vụ việc có hiệu quả hơn, bởi những vụ việc cần giải quyết rất đa dạng, phong phú, có tính chất phức tạp không giống nhau, nên cần phân định hợp lý theo khả năng chuyên môn cũng như kinh nghiệm xét xử, nhằm tránh tình trạng tồn đọng án, án oan sai

Sự độc lập ở mỗi cấp xét xử yêu cầu hoạt động xét xử phải tuân thủ chặt chẽ theo những nguyên tắc xét xử và các thủ tục tố tụng được quy định một cách

chặt chẽ Các nguyên tắc như “nguyên tắc hai cấp xét xử” (sơ thẩm và phúc

thẩm) có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động tư pháp, vì nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi của đương sự và ảnh hưởng đến lợi ích chung của toàn xã hội, cho nên cần cẩn trọng trong xét xử Hệ thống tòa án được tổ chức theo cấp xét xử nhằm để tòa án cấp trên có thể xem xét lại phán quyết của tòa án cấp dưới theo thủ tục kháng cáo, kháng nghị nhằm bảo đảm sự công bằng, tránh oan sai Tuy nhiên, việc xem xét lại này cũng phải tuân theo những thủ tục tố tụng chặt chẽ nhằm bảo đảm tính độc lập giữa các cấp tòa án

Ngoài hai yêu cầu chủ yếu nêu trên, ở nhiều nước trên thế giới, tư pháp độc lập trong nhà nước pháp quyền còn cho phép tư pháp có quyền xét xử lập pháp và hành pháp (thông qua cơ chế bảo hiến), và tư pháp có quyền giải thích pháp luật Chẳng hạn như quyền tư pháp trong hệ thống chính trị Mỹ như sau:

Các Tòa án thường có quyền giải thích Hiến pháp; Sự giải thích Hiến pháp của các tòa án chỉ để nhằm giải quyết những vụ, việc cụ thể của quá trình xét xử theo thẩm quyền của các Tòa án, gắn việc giải thích và xem xét sự tương thích của một điều luật nào đó với quy định của Hiến pháp vào việc xem xét vụ việc cụ thể đó, không có thủ tục riêng, tách vấn đề hợp hiến ra khỏi vụ án; Khi phát hiện có sự vi phạm

Trang 31

hoặc bất tương xứng của điều luật hay đạo luật so với quy định của Hiến pháp hoặc quy định của một đạo luật phù hợp với Hiến pháp Nói cách khác, Hiến pháp có giá trị áp dụng trực tiếp; Văn bản vi hiến

sẽ mất hiệu lực pháp lý [26, tr.11-43]

Như vậy, qua những trình bày ở trên, yêu cầu độc lập của tư pháp trong nhà nước pháp quyền không những độc lập về tính thiết chế (tức cả hệ thống tòa án), mà còn là sự độc lập của mỗi cá nhân thẩm phán Sự độc lập phải được xem xét đến cả từ bên trong lẫn bên ngoài, giữa tòa án cấp trên với tòa án cấp dưới,… nhằm bảo đảm đưa ra được những phán quyết độc lập, không bị can thiệp Tuy nhiên, sự độc lập của thiết chế có thể sẽ là vô ích nếu cá nhân các thẩm phán – những người thực hiện chức năng xét xử – lại bị lệ thuộc vào bất kì những yếu

tố bên ngoài nào khác Khi đó, nguyên tắc nhà nước pháp quyền sẽ không được bảo đảm Cho nên, để đảm bảo được sự độc lập của tư pháp, cần phải đảm bảo được sự độc lập của các yếu tố nêu trên, tức các mặt khác nhau của một vấn đề

1.3 Vai trò tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người

1.3.1 Mối quan hệ giữa quyền tư pháp với việc bảo vệ quyền con người

Tư pháp trong nhà nước pháp quyền nhằm bảo đảm công lý, tính đúng đắn của pháp luật, đồng thời đó cũng là bảo vệ các quyền và tự do của con

người, thông qua sự độc lập của tư pháp, nguyên tắc xét xử công bằng và đúng

thời hạn – một trong những nền móng của xã hội tôn trọng pháp quyền Trên

phương diện lý thuyết, tính độc lập của tư pháp và bảo vệ quyền con người có mối liên hệ mật thiết với nhau Nhiệm vụ bảo vệ quyền con người thường được giao cho tòa án (nơi cuối cùng để phân xử hoặc giải quyết các tranh chấp), và

để thực hiện được nhiệm vụ này, tính độc lập của tòa án là một điều kiện không thể thiếu Chỉ có vậy thẩm phán mới được tự do trong việc xét xử để có thể ra được những quyết định một cách vô tư, không thiên vị, bảo đảm công lý

và quyền lợi của các bên

Trang 32

Về nội dung của nguyên tắc xét xử công bằng gồm có:

Tất cả mọi người đều được bình đẳng trước tòa án và có quyền bảo đảm tối thiểu xét xử công bằng; Mọi người có quyền được xét xử công bằng và công khai, do đó dân chúng công khai được chứng kiến việc xét xử; Mọi người bị kết tội có quyền được coi là vô tội cho đến khi chứng minh được sự phạm tội theo đúng quy trình quy định của pháp luật; Mọi người đều có quyền được xét xử kịp thời; Mọi người đều được có quyền có mặt khi xét xử; Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc thông quan trợ giúp pháp lý được lựa chọn, anh ta phải được thông báo về quyền này, trong trường hợp không đủ khả năng chi trả

bị cáo sẽ được trợ giúp miễn phí; Bị cáo có quyền thẩm vấn nhân chứng chống lại anh ta và có quyền tiến hành thẩm vấn nhân chứng vì quyền lợi của mình Bị cáo có quyền không bị ép buộc nhận tội; Bị cáo có quyền nhận sự trợ giúp miễn phí của phiên dịch, nếu không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ mà tòa án sử dụng; Bị cáo không thể bị buộc phạm tội hình sự do bất kỳ hành vi hay sai sót nào không cấu thành tội phạm tại thời điểm sự việc xảy ra; bị cáo cũng không thể chịu hình phạt nặng hơn hình phạt tại thời điểm xảy ra vụ việc [21] Nguyên tắc xét xử công bằng cũng yêu cầu mọi sự can thiệp có thể gây ảnh hưởng đến quyền và tự do của công dân phải được tiến hành theo những thủ

tục tố tụng hết sức nghiêm ngặt Chẳng hạn như “nhà ở của mọi công dân không

thể bị khám xét mà không có lệnh chỉ rõ nguyên nhân chính của việc khám xét; không ai có thể bị bắt nếu không có lệnh viết của người có trách nhiệm khẳng định một cách dứt khoát có vi phạm;…” [6, tr.149-150]

Trong hoạt động xét xử, các nguyên tắc xét xử phải được tuân thủ

Nguyên tắc suy đoán vô tội cho phép bị cáo được suy đoán là chưa có tội, chưa

phải là tội phạm khi chưa có phán quyết của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, và

Trang 33

có quyền giữ im lặng, mời luật sư để bảo vệ cho mình Điều này đảm bảo sự ngang bằng, bình đẳng trước pháp luật của các bị can, bị cáo trước sức mạnh của các cơ quan tiến hành tố tụng Người buộc tội phải có trách nhiệm chứng minh tội phạm theo quy định của pháp luật Sở dĩ vậy, bởi bên buộc tội (các cơ quan thực thi pháp luật) có đủ các phương tiện, công cụ đặc quyền của nhà nước (như cảnh sát, nhà tù, tòa án,…), còn bị can, bị cáo không có một thứ quyền lực nào, cũng như dụng cụ nào có thể tương đương, họ chỉ còn một cách duy nhất là

trông chờ vào sự vô tư, khách quan của các thẩm phán Nguyên tắc tranh tụng

đảm bảo cho các bên (buộc tội và gỡ tội) trình bày quan điểm của mình, đưa ra các chứng cứ trước phiên tòa Thẩm phán chỉ căn cứ vào các chứng cứ được đưa

ra trước phiên tòa và quá trình tranh tụng tại phiên tòa để ra phán quyết Như vậy, công lý được bảo đảm một cách bình đẳng đối với tất cả mọi người, bất cứ

ai cho rằng quyền lợi của mình bị vi phạm, đều có thể khiếu nại ra tòa, khi đó tòa án với vai trò là người bảo vệ pháp luật đảm bảo xét xử một cách công minh

và độc lập trước mọi sự tác động hay can thiệp

Nguyên tắc xét xử công bằng cũng giúp cho việc bảo vệ hàng loạt các quyền con người trong quá trình thực hành công lý, từ lúc nghi ngờ có hành vi vi phạm pháp luật cho đến khi thực hiện bản án, nó có tác dụng ngăn chặn sự phân biệt, bảo đảm cả quyền tiếp cận bình đẳng với tòa án và quyền được xét xử bình đẳng trước tòa án, ngay từ giai đoạn tiền xét xử – tiền đề để bảo đảm các quyền con người trong các giai đoạn sau của hoạt động xét xử

Còn nguyên tắc xét xử đúng hạn không chỉ bao gồm thời gian xét xử phải

nhanh chóng, không được chậm trễ, mà còn bao gồm thời gian của toàn bộ quá trình tố tụng, từ quá trình điều tra cho đến việc kháng cáo lên các tòa án cấp cao

hơn Nguyên tắc này được thể hiện rất sâu sắc trong câu thành ngữ công lý đến

chậm cũng là không có công lý

Trang 34

1.3.2 Các đặc trưng cơ bản của việc bảo vệ quyền con người bằng tư pháp 1.3.2.1 Bảo vệ quyền con người bằng tư pháp là hoạt động mang tính quyền lực cưỡng chế mạnh mẽ

Trước hết, quyền tư pháp là một loại quyền lực nhà nước Hoạt động xét

xử của tư pháp tuân theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ, mang tính quyền lực cưỡng chế mạnh mẽ Thông qua hoạt động xét xử, tư pháp khẳng định tính hợp pháp của hành vi cũng như quyết định các chế tài pháp lý đối với những hành vi

vi phạm pháp luật Các chế tài pháp lý chính là sự thể hiện mạnh mẽ nhất tính cưỡng chế của quyền lực nhà nước, nó sẽ hạn chế hoặc tước bỏ những quyền và lợi ích của người vi phạm, chẳng hạn như hình phạt tù tước đi quyền tự do, hay hình phạt tử hình tước đi quyền sống của người phạm tội Bên cạnh đó, tính cưỡng chế quyền lực nhà nước của tư pháp còn thể hiện ở việc các phán quyết của hoạt động tư pháp có hiệu lực pháp luật bắt buộc các chủ thể liên quan phải

có nghĩa vụ thi hành, với các cơ chế bảo đảm được quy định bởi pháp luật

1.3.2.2 Bảo vệ quyền con người bằng tư pháp chịu sự chi phối toàn diện của pháp luật

Quyền tư pháp được trao cho tòa án, và được bảo đảm bằng việc ghi nhận trong Hiến pháp Chẳng hạn Điều 102 Hiến pháp 2013 của nước ta quy định:

“Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” [19] Đây chính là cơ sở vững chắc bảo đảm tính

pháp lý và tính quyền lực nhà nước của hoạt động xét xử của tòa án Tiếp đến, hoạt động xét xử của tư pháp yêu cầu phải tuân thủ những quy trình và thủ tục nghiêm ngặt, được quy định bởi pháp luật Cơ cấu tổ chức và thẩm quyền xét xử của tư pháp cũng được giới hạn bởi những quy định của pháp luật Hoạt động xét xử của tư pháp chính là hoạt động giải thích và áp dụng pháp luật đã được quy định Như vậy, có thể thấy việc bảo vệ quyền con người bằng tư pháp được thực hiện trên cơ sở của pháp luật, đồng thời chịu sự chi phối toàn diện của pháp luật cả về nội dung, thể chế và hình thức pháp lý

Trang 35

1.3.2.3 Bảo vệ quyền con người bằng tư pháp hình thành trên cơ sở nhu cầu của cá nhân, nhà nước

Hoạt động bảo vệ quyền con người chủ yếu được thực hiện khi các chủ thể của quyền con người, hoặc nhà nước có nhu cầu hoặc nhận thấy cần thiết phải tiến hành các hoạt động nhằm bảo đảm cho các quyền và tự do của con người Đó là khi nhận thấy được những nguy cơ đe dọa gây xâm hại đến quyền con người, hoặc những hành vi hạn chế hoặc tước đoạt các quyền con người, tất yếu sẽ dẫn đến nhu cầu cần có những hoạt động cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của những nguy cơ đó Khi đó, tư pháp thông qua hoạt động xét xử là cơ chế bảo vệ tốt nhất các quyền con người trong trường hợp nó bị xâm hại, tư pháp trừng phạt những hành vi vi phạm pháp luật, phục hồi quyền và lợi ích của cá nhân, của nhà nước và xã hội

1.3.2.4 Bảo vệ quyền con người bằng tư pháp được thực hiện công khai, độc lập và bảo đảm công bằng

Sự độc lập và công bằng là những yêu cầu tất yếu của hoạt động tư pháp nói chung, bởi vì, chỉ khi có mâu thuẫn, tranh chấp xảy ra thì người ta mới tìm đến con đường tư pháp – một chủ thể có khả năng độc lập, vô tư giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn – để bảo vệ quyền lợi của mình Tính độc lập và công bằng cũng là yêu cầu tiên quyết bảo đảm hiệu quả của hoạt động tư pháp, nếu không

nó sẽ đánh mất vai trò của mình trong xã hội khi người dân không còn tin tưởng vào sự công bằng và công lý

Cùng với độc lập và công bằng, công khai trong hoạt động của tư pháp cũng mang một ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người Nó đảm bảo sự giám sát toàn diện đối với hoạt động xét xử, để hoạt động này thực sự công bằng và bình đẳng Bên cạnh đó, nó cũng tạo ra được áp lực nhất định buộc các bên tham gia vào hoạt động xét xử đề cao tính cẩn trọng, tính hợp pháp trong quá trình xét xử

Trang 36

1.3.3 Một số vai trò cụ thể của tư pháp trong việc bảo vệ các quyền con người 1.3.3.1 Tư pháp kiểm soát hành vi của các cơ quan nhà nước gây xâm hại đến quyền con người

Trong lĩnh vực quyền con người, nhà nước vừa là chủ thể đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ các quyền con người, nhưng cũng đồng thời là chủ thể có nguy cơ xâm hại đến quyền con người Quyền lực nhà nước nếu không được kiểm soát bằng những cơ chế hữu hiệu, thì sẽ dễ dẫn đến sự lạm dụng quyền lực của các cơ quan nhà nước, xâm hại đến các quyền con người Cho nên, từ trước tới nay con người luôn tìm cách xây dựng các cơ chế để kiểm

soát quyền lực nhà nước, trong đó, “cơ chế kiểm soát bằng tòa án là có nhiều ưu

điểm khắc phục được những hạn chế của các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước khác, đặc biệt là cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bằng quyền lập pháp và hành pháp” [5, tr.263]

Thực tiễn cho thấy, hành pháp là nhánh có nguy cơ lạm quyền và dễ xâm phạm đến các quyền con người, quyền công dân nhất Chính bởi vậy mà kiểm soát quyền lực của nhánh hành pháp là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng bảo đảm các quyền con người khỏi sự xâm hại của các cơ quan này Ở hầu hết các quốc gia, nhánh lập pháp được giao quyền giám sát tất cả các cơ quan quyền lực của nhà nước, trong đó có cả hành pháp và tư pháp Tuy nhiên, dù ở bất kì chính thể nào (đại nghị hay tổng thống), nhánh hành pháp và lập pháp luôn có xu hướng liên quan mật thiết đến nhau, cho nên việc lập pháp kiểm soát nguy cơ lạm quyền và chuyên quyền của hành pháp sẽ không triệt để và thiếu minh bạch,

do hai nhánh quyền lực này không thể độc lập hoàn toàn với nhau

Bên cạnh nguy cơ lạm quyền và chuyên quyền của hành pháp, lập pháp cũng chứa đựng những nguy cơ xâm hại đến các quyền con người, đặc biệt là quyền của số ít (hay thiểu số) Bởi vì, quyền lập pháp được hình thành trên cơ sở đại diện cho ý chí, lợi ích của đa số trong xã hội, và có thể sẽ không quan tâm

Trang 37

hoặc phủ nhận những quyền, lợi ích của số ít trong xã hội Điều này được thể hiện rõ trong lập luận sau đây của Philippa Strum:

Nếu đa số tin tưởng một cách cuồng nhiệt vào một ý tưởng nào

đó thì nó sẽ không đón nhận cách phát biểu ý tưởng trái ngược và lại

có khuynh hướng ém nhẹm những ý tưởng đó Nói cho cùng thì sự an sinh của một tập thể cộng đồng bao giờ cũng bị chi phối bởi niềm tin của những người trong cộng đồng Nếu đa số người trong một nước đều tin tưởng mãnh liệt vào một tôn giáo thì sự hiện hữu của các tôn giáo khác có vẻ như mang tính thách thức lại tôn giáo đó và sẽ không được mọi người yêu thích, chẳng khác gì các tư tưởng không được hâm mộ khác [16, tr.316]

Trong một nhà nước pháp quyền, chỉ có hệ thống tòa án độc lập với quyền lực đủ mạnh mới có khả năng chống lại quyền lực của số đông, bảo vệ các quyền con người Chỉ có tòa án, với quyền giải thích Hiến pháp và pháp luật, mới có thể bắt buộc hành pháp và lập pháp phải tuân thủ các giới hạn quyền lực trong Hiến pháp, bảo vệ tự do, công lý, tính chắc chắn của pháp luật và các quyền, tự do của cá nhân

1.3.3.2 Tư pháp bảo vệ các quyền tự do và an toàn của cá nhân

Các quyền tự do và an toàn của cá nhân là một trong những quyền cơ bản của con người, yêu cầu các cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi người phải có nghĩa vụ tôn trọng Mọi hành vi tước quyền tự do của cá nhân đều bị nghiêm cấm và phải tuân theo pháp luật nhằm ngăn ngừa sự lợi dụng bắt, giam giữ người trái pháp luật, xâm hại đến quyền tự do và an toàn của cá

nhân: “Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân Không ai bị bắt

hoặc bị giam giữ vô cớ Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền

đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà pháp luật đã quy định” [13, tr.81]

Trước hết, việc bảo vệ các quyền tự do và an toàn cá nhân được thực hiện

Trang 38

bởi nhánh hành pháp, do nó gắn với chính công việc của hành pháp là quản lý xã hội và phát triển đất nước Công việc này yêu cầu hành pháp phải đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ lợi ích của xã hội Tuy nhiên, cũng chính bởi vậy mà hoạt động của hành pháp dễ bị những người trực tiếp thực hiện lợi dụng nhằm phục vụ lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, dẫn đến xâm hại các quyền và lợi ích của cá nhân Cho nên, để vừa có thể phát huy tối đa năng lực bảo vệ các quyền con người, vừa hạn chế được nguy cơ xâm hại đến các quyền con người của hành pháp, tư pháp được trao quyền trong việc bảo vệ các quyền tự do và an toàn của cá nhân

Đầu tiên là việc người bị bắt, giam giữ có quyền yêu cầu tòa án kiểm tra

và xác định tính hợp pháp của việc họ bị bắt hoặc giam giữ:

Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước tòa án, nhằm mục đích để tòa án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả tự do cho họ, nếu việc giam giữ là bất hợp pháp [13, tr.82]

Và quyền này được áp dụng cho tất cả những người bị tước tự do, kể cả trong các trường hợp phạm tội hay các trường hợp khác như tâm thần, lang thang, nghiện ma túy, bị tước tự do vì các mục đích giáo dục, kiểm soát nhập cư,… Tiếp đến, tòa án có quyền xét xử và áp dụng các hình phạt để bảo vệ các quyền con người nói chung, các quyền tự do của con người nói riêng

Như vậy, tòa án không chỉ trừng trị các hành vi xâm hại đến các quyền tự

do và an toàn của cá nhân bằng việc áp dụng các hình phạt, mà tòa án còn xác định tính hợp pháp hay không hợp pháp của các hành vi hạn chế hoặc tước bỏ các quyền tự do và an toàn cá nhân của các cơ quan thực hiện hành vi đó (cơ quan điều tra, cảnh sát,…) nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng quyền lực xâm hại đến quyền tự do và an toàn của cá nhân

Trang 39

1.3.3.3 Tư pháp trừng phạt những chủ thể xâm hại đến quyền con người, bảo vệ quyền của những người vô tội

Thông qua hoạt động xét xử, tư pháp áp dụng các quy phạm pháp luật (về tội phạm) và quyết định những biện pháp (hình phạt) nhằm ngăn chặn, trừng trị

và loại trừ các hành vi phạm tội, bảo vệ các quyền con người Chẳng hạn như trong lĩnh vực tư pháp hình sự, các hình phạt như tử hình, hình phạt tù hay hình phạt đã tiền trực tiếp tước đoạt hay hạn chế những quyền cơ bản và quan trọng của người phạm tội như quyền sống, quyền tự do và quyền sở hữu Những hình phạt này được coi là cần thiết, góp phần hữu hiệu hạn chế những hành vi phạm tội, vì nó khiến người phạm tội phải nhìn nhận được những hậu quả pháp lý có thể xảy ra mà từ bỏ quyết tâm thực hiện hành vi phạm tội

Tuy nhiên, việc áp dụng các hình phạt phải thông qua con đường tòa án, với các thủ tục được quy định nghiêm ngặt bởi pháp luật, có vậy mới đảm bảo tính công bằng, khách quan, nhằm tránh nguy cơ hình phạt bị áp dụng sai hoặc

bị lợi dụng để xâm hại quyền của người khác: “Mọi người, nếu bị cáo buộc về

hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên tòa xét xử công khai, nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình” [13, tr.50]

Bên cạnh đó, việc xét xử của tòa án cần phải kịp thời, công bằng và khách quan, bởi đây không chỉ là hoạt động trừng phạt những chủ thể xâm hại đến các quyền con người, mà còn là phương thức bảo vệ quyền của những người bị buộc

tội: “Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một tòa

án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra bởi pháp luật để quyết định về lời buộc tội người đó trong các vụ án hình sự, hoặc để xác định quyền

và nghĩa vụ của người đó trong các vụ kiện dân sự” [13, tr.83]

Như vậy, hoạt động xét xử của tòa án không chỉ bảo vệ quyền con người bằng việc áp dụng các hình phạt, trừng trị các chủ thể thực hiện hành vi phạm

Trang 40

tội nhằm ngăn ngừa và loại trừ các hành vi có nguy cơ xâm hại đến quyền con người, hoạt động xét xử của tòa án còn giúp bảo vệ quyền của những người bị buộc tội (bởi các cơ quan điều tra, cơ quan công tố) vì trên thực tế họ có thể là những người vô tội

1.3.3.4 Tư pháp giúp khôi phục quyền và lợi ích của chủ thể bị xâm hại

Hoạt động xét xử của tòa án, không những trừng phạt những hành vi xâm hại đến các quyền con người của các chủ thể, mà còn nhằm mục đích khôi phục lại những quyền con người đã bị xâm hại, đó chính là những quyền hay lợi ích

đã bị tước bỏ, cắt xén hay hạn chế do những hành vi vi phạm pháp luật gây ra Thông qua xét xử, tòa án xác định phương thức, nội dung, mức độ quyền và lợi ích mà những chủ thể có nghĩa vụ khôi phục phải tiến hành khôi phục Chẳng hạn như, trong hoạt động xét xử hình sự, khi kết luận bị cáo vô tội, tòa án sẽ tuyên bố trả tự do cho bị cáo ngay tại tòa, đồng thời xác định trách nhiệm bồi thường cho việc bị bắt giữ oan sai của bị cáo, xác định trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng,…

Trong hoạt động xét xử dân sự và hành chính, tòa án có quyền buộc các chủ thể khác, kể cả các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước,… phải khôi phục lại các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân khi họ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ hoặc gây thiệt hại cho bên có quyền Đồng thời, tòa án cũng có quyền buộc các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước phải khôi phục lại (bồi thường) với những quyền, lợi ích của cá nhân bị hạn chế, tước

bỏ bởi những hành vi thực thi công vụ gây ra qua hoạt động giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước

1.3.3.5 Tư pháp giáo dục ý thức tôn trọng và bảo vệ các quyền con người

Có thể thấy rằng, hoạt động xét xử của tư pháp chính là một biện pháp hữu hiệu nhằm giáo dục ý thức tôn trọng và bảo vệ các quyền con người trong

xã hội Bởi vì, trước hết, tòa án được coi là biểu tượng của công lý, công bằng

Ngày đăng: 14/11/2015, 13:32

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w