ðể có thể xây dựng thành qui trình và khuyến cáo rộng rãi cho người chăn nuôi, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài “Ảnh hưởng của phương pháp gây thay lông cưỡng bức ñến khả năng sinh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
TÔN THẤT SƠN PHONG
ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP GÂY THAY LÔNG CƯỠNG BỨC ðẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN Ở KỲ ðẺ TRỨNG THỨ HAI
CỦA GÀ MÁI GIỐNG BỐ MẸ ISA – JA57
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : CHĂN NUÔI
Mã số : 60.62.40
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS VŨ DUY GIẢNG
HÀ NỘI - 2012
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu, thông tin chưa từng ñược sử dụng công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Các kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm
về những số liệu trong bản luận văn này Các thông tin trích dẫn ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn Tôn Thất Sơn Phong
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Dinh dưỡng
- Thức ăn, Khoa Chăn nuôi – Nuôi trồng Thuỷ sản, trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã góp ý và chỉ bảo ñể luận văn của tôi ñược hoàn thành
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ kỹ thuật, công nhân tại Xí nghiệp giống gia cầm Lạc Vệ - Tiên Du – Bắc Ninh, ñặc biệt là giám ñốc Nguyễn Hoàng Nguyên ñã tạo mọi ñiều kiện giúp ñỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện ñề tài tốt nghiệp
ðể hoàn thành luận văn này, tôi còn nhận ñược sự ñộng viên khích lệ của những người thân trong gia ñình và bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm quý báu ñó
Tác giả luận văn
Tôn Thất Sơn Phong
Trang 42.2.1 Lịch sử và lợi ích của việc thay lông cưỡng bức trên gà 8 2.2.2 Các phương pháp thay lông cưỡng bức trên gà 11
3.1 ðối tượng, ñịa ñiểm và thời gian nghiên cứu 29
Trang 54 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34 4.1 Khối lượng cơ thể gà trong thời gian gây thay lông 34 4.2 Hao hụt khối lượng cơ thể gà trong thời gian gây thay lông 36
4.4 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm trước khi gây thay lông 41 4.5 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm trong thời gian gây thay lông 42 4.6 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm sau khi gây thay lông 45 4.7 Tỷ lệ ñẻ của gà thí nghiệm trong thời gian gây thay lông 46 4.8 Một số chỉ tiêu sản xuất của gà thí nghiệm 49 4.9 Tỷ lệ ñẻ của gà thí nghiệm sau khi thay lông 54 4.10 Năng suất trứng của gà thí nghiệm sau khi gây thay lông 57 4.11 Tỷ lệ trứng giống của gà thí nghiệm sau khi gây thay lông 60 4.12 Năng suất trứng giống của gà thí nghiệm sau khi gây thay lông 62 4.13 Lượng thức ăn thu nhận của gà trong thời gian gây thay lông 64 4.14 Lượng thức ăn thu nhận của gà sau khi gây thay lông 67 4.15 Hiệu quả sử dụng thức ăn của gà thí nghiệm sau khi gây thay
4.16 Khối lượng trứng của gà thí nghiệm sau khi thay lông 73 4.17 Một số chỉ tiêu chất lượng trứng gà thí nghiệm 74 4.18 Khả năng ấp nở của trứng gà thí nghiệm sau khi thay lông 76 4.19 Hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp thay lông cưỡng bức 77
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 HQSDTA : Hiệu quả sử dụng thức ăn
2 NLTð : Năng lượng trao ñổi
9 TTTA : Tiêu tốn thức ăn
10 TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
11 CS : Cộng sự
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
4.1 Khối lượng cơ thể gà trong thời gian gây thay lông 34 4.2 Hao hụt khối lượng cơ thể gà trong thời gian gây thay lông 36 4.3 Khối lượng cơ thể gà sau khi gây thay lông 39 4.4 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm trước khi gây thay lông 42 4.5 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm trong thời gian gây thay lông 43 4.6 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm sau khi gây thay lông 45 4.7 Tỷ lệ ñẻ của gà thí nghiệm trong thời gian gây thay lông 47 4.8 Một số chỉ tiêu sản xuất của gà thí nghiệm 50 4.9 Tỷ lệ ñẻ của gà thí nghiệm sau khi thay lông (%) 54 4.10 Năng suất trứng của gà thí nghiệm sau khi gây thay lông 58 4.11 Tỷ lệ trứng giống của gà thí nghiệm sau khi gây thay lông 60 4.12 Năng suất trứng giống của gà thí nghiệm sau khi gây thay lông 62 4.13 Lượng thức ăn thu nhận trong thời gian gây thay lông 65 4.14 Lượng thức ăn thu nhận của gà sau khi gây thay lông 67 4.15 Hiệu quả sử dụng thức ăn của gà sau khi gây thay lông 69 4.16 Hiệu quả sử dụng thức ăn của gà sau khi gây thay lông 71 4.17 Khối lượng trứng của gà thí nghiệm sau khi thay lông 73 4,18 Thành phần cấu tạo và một số chỉ tiêu chất lượng trứng của gà thí
4.19 Khả năng ấp nở của trứng gà thí nghiệm sau khi thay lông 76 4.20 Hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp thay lông cưỡng bức 77
Trang 81 MỞ đẦU 1.1 đặt vấn ựề
Trong thực tế sản xuất, sau chu kỳ ựẻ trứng thứ nhất (thường là một năm), ựàn gà sẽ ựược ựem bán Sức sản xuất và chất lượng trứng thường giảm thấp trong giai ựoạn cuối của chu kỳ ựẻ, ựặc biệt khi giai ựoạn này trùng với thời tiết nóng bức (Koelkebeck và CS, 1993; Yousaf, 1998) [66] [118] Khi áp dụng thay lông cưỡng bức, ựàn gà tiếp tục ựẻ trứng thêm một năm, do ựó có thể giảm thấp nhiều phần chi phắ trong sản xuất, mang lại lợi nhuận tốt hơn (Yousaf và Chaudhry, 2008)[119] Theo Holt (2003)[58], số lượng gà ựẻ ựược áp dụng thay lông cưỡng bức hàng năm
ở Mỹ là hơn 75% Năm 2011 ở Mỹ có 336,4 triệu gà mái ựẻ sản xuất gần 96 tỷ quả trứng thì tỷ lệ gà ựẻ áp dụng thay lông cưỡng bức là 20% (USDA, 2012)[108] Theo Keshavars và Quimby (2002)[61], sức ựẻ trững sẽ giảm khi tuổi gà mái tăng lên, vì thế ựể thúc ựẩy gà ựi vào chu kỳ ựẻ trứng tứ hai, thậm chắ là chu kỳ ựẻ trứng thứ ba, người ta sử dụng phương pháp thay lông cưỡng bức Mục ựắch chắnh của quá trình thay lông cưỡng bức là làm cho ựàn gà tạm ngừng ựẻ trứng, ựây là thời kỳ nghỉ ngơi nhằm phục hồi, hay Ộtrẻ hóaỢ cơ quan sinh sản, tạo ựiều kiện tăng năng suất và chất lượng trứng của các ựàn gà sau thay lông
Ở nước ta, trong mấy thập niên trước ựây, khi thời hạn sử dụng các ựàn gia cầm giống ựược rút ngắn lại (thời hạn sử dụng thường là một năm) thì vấn ựề thay lông cưỡng bức trên các ựàn gà mái ựẻ ắt ựược chú ý Trong những năm gần ựây, các biện pháp gây thay lông cưỡng bức lại ựược sử dụng trong chăn nuôi gia cầm theo một hướng mới Người ta sử dụng chúng như một biện pháp giải quyết tình thế khi có Ộsự cốỢ trong chăn nuôi gia cầm Vắ dụ, như khi xảy ra dịch bệnh (bệnh cúm gia cầm Ầ), những ựàn gia cầm không bị bệnh và không nằm trong vùng dịch, nhưng sản phẩm của chúng (trứng và gà con một ngày tuổi) không ựược lưu thông trên thị trường Lúc này, nếu hủy ựàn gia cầm hay nuôi Ộcầm xácỢ ựều gây thiệt hại rất lớn về kinh tế ựối với người chăn nuôi Tùy tình hình cụ thể, người ta có thể ứng dụng biện pháp gây thay lông cưỡng bức ựể ngừng tạo sản phẩm trong một thời gian mà không gây bất lợi ựối với ựàn gà đàn gà ựược Ộnghỉ ngơiỢ ựể chuẩn bị cho
Trang 9một chu kỳ ñẻ mới Trong trường hợp thị trường tiêu thụ có vấn ñề bất hợp lý (sản phẩm bán chậm hoặc giá quá rẻ), cũng có thể áp dụng biện pháp này ñể tạm ngừng sản xuất Gần ñây, giá gà giống bố mẹ ñể thay thế ñàn tăng cao hơn khá nhiều, nên
có thể sử dụng biện pháp thay lông cưỡng bức ñể kéo dài thời gian sử dụng các ñàn
gà giống Bell và CS (2004)[21] cho biết, sử dụng thay lông cưỡng bức ñã làm tăng năng suất trứng, giảm chi phí nuôi gà hậu bị, giảm ñầu tư cơ bản ñối với các trại giống và trạm ấp Không những thế, việc kéo dài thời gian sử dụng các ñàn gà mái
ñẻ còn làm giảm chi phí chăn nuôi và góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ chăn nuôi ðể có thể xây dựng thành qui trình và khuyến cáo rộng rãi cho người
chăn nuôi, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài “Ảnh hưởng của phương pháp gây thay lông cưỡng bức ñến khả năng sinh sản ở kỳ ñẻ trứng thứ hai của gà mái giống bố mẹ ISA JA57 ”
- Xác ñịnh ảnh hưởng của phương pháp thay lông cổ ñiển và sử dụng thuốc kích thích TL2 ñến hiệu quả chăn nuôi gà mái giống bố mẹ ISA JA57 trong chu kỳ
ñẻ thứ hai
Trang 102 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Sinh lý quá trình thay lông
2.1.1 Bộ lông gia cầm
Khác với gia súc, toàn thân gia cầm ñược bao phủ bởi bộ lông vũ Theo Nguyễn thị Mai và CS (2009)[6], lông vũ bắt ñầu mọc từ ngày thứ bảy trong quá trình phát triển của phôi gia cầm Từ những tế bào trong mô hình thành các núm, trên ñó lớp biểu bì dày lên hình thành mầm lông Sau ñó, mầm lông thoát ra, những mao mạch tuần hoàn dần dần lớn lên và dẫn vào các núm, ñồng thời từ lớp tế bào biểu mô hình lăng trụ xếp xít dần hình thành tủy lông Những tế bào xếp xít nhau tạo thành bao lông, dưới bao lông lớp tủy dày thêm, lớp ngoài hóa sừng có dạng thân ống rất ngắn Trên thân lông có các tia ñầu tiên hình thành lông tơ phôi thai ở gia cầm con mới nở Cùng với sự sinh trưởng của gia cầm non, lông tơ phôi thai dần dần ñược thay bằng lông vũ cố ñịnh Nguyễn Mạnh Hùng và CS (1994)[3] cho biết, cấu trúc của mỗi lông vũ gồm hai phần chính là gốc lông và trục lông Gốc lông là phần nằm trong mao nang da, màu sáng ánh, dạng sừng tròn, có tủy lông ở dạng hình phễu thông lẫn nhau Gốc lông nằm trong mao nang của da, phần phình của ñáy gọi là mao cầu ñược hình thành từ các tế bào sống Chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình sinh trưởng, phát triển của lông ñược lấy từ mao mạch xung quanh, chảy vào trong mao cầu Trong thời kỳ sinh trưởng của lông, mao cầu phát triển không ngừng sinh ra tầng vẩy Tế bào tầng vẩy và tầng tủy làm cho trục lông dài ra, sắc tố của lông ñược hình thành tại ñây Gốc lông trong da không nằm thẳng ñứng
mà có một ñộ nghiêng nhất ñịnh Gần gốc lông có một bó cơ trơn gọi là cơ dựng lông Một ñầu của nó bao phủ trên mao nang, một phần khác phủ lên trên sợi mô liên kết chân bì Lúc cơ dựng lông co bóp, lông từ trạng thái nằm nghiêng chuyển thành trạng thái thẳng ñứng Vào cuối thời kỳ sinh trưởng của lông, sự hình thành tầng vẩy, tầng vỏ và sắc tố giảm dần rồi ngừng hẳn Phần lộ ra ngoài da gọi là trục lông do tế bào chết hợp thành gồm ba lớp là lớp vẩy, lớp vỏ và lớp tủy Lớp vẩy do các tế bào hóa sừng thể vẩy xếp thành hình bát úp có tác dụng bảo vệ phần bên trong của lông Lớp vỏ là tầng thể ống do các tế bào hình thoi nối với nhau chặt chẽ,
Trang 11ñộ dày của lớp này quyết ñịnh các ñặc tính bền vững cũng như khả năng co dãn ñàn hồi Ở các loài gia cầm lông mầu, các tế bào của lớp vỏ chứa ñầy các hạt sắc tố hình thành bộ lông nhiều màu sắc khác nhau Lớp tủy do các mô thưa tạo thành gồm các túi khí bào và sắc tố (Nguyễn Thị Mai và CS, 2007)[5] Trục lông gồm thân lông và phiến lông Phần thân lông gồm các tế bào cứng, xốp hình ô van hay hình hạt ñậu Từ thân lông mọc ra các tia lông sơ cấp, từ tia lông sơ cấp mọc ra các tia lông thứ cấp với những sợi tơ cong và thẳng kết lại với nhau tạo thành phiến lông (Freye, 1972 dẫn theo Nguyễn Chí Bảo, 1978)[1]
Theo Nguyễn Thị Mai và CS (2009)[6], Freye, (1972) dẫn theo Nguyễn Chí Bảo, (1978)[1], tuỳ thuộc vào cấu tạo và hình dạng của lông vũ mà người ta phân ra các loại khác nhau là lông ống, lông nhung, lông tơ và lông kim Lông ống chiếm số lượng nhiều nhất, bao gồm lông ống thân (còn có tên là lông bao), lông ống cánh và lông ống ñuôi ðặc ñiểm chung của lông ống là thân lông cứng, phiến lông dày xít Lông ống ở phần cánh có ba loại là lông ống lớn, trung bình và nhỏ Lông cánh dài
và chắc, làm thành quạt lông chắn gió ở loài gia cầm bay, lông vũ hàng thứ nhất ở vùng ngón thứ hai và thứ ba; ở gà có 10 - 12 chiếc Lông vũ hàng thứ hai dính tới mặt ngoài của xương cánh tay có từ 11 – 12 chiếc tạo thành hình quạt Có ba hoặc bốn chiếc lông dính tới ngón thứ nhất của cánh tạo nên lông cánh nhỏ chống lại sự tạo thành dốc thẳng của các dòng không khí phía trước, có ý nghĩa rất quan trọng khi gia cầm bay lên và hạ cánh
Lông nhung hay còn gọi là lông bông có thân ngắn, phiến lông mềm, thường nằm dưới các lông ống Lông nhung bông nhẹ và xốp cùng với lông ống giúp cho
cơ thể không bị lạnh Lông tơ (còn gọi là lông tóc hay lông chỉ) lông tơ nhỏ và dài, mọc rải rác toàn thân Những lông này thường mọc thành từng nhóm nhỏ (2-10 chiếc) xung quanh lông ống ở phần ñầu, cổ và ngực Riêng ở gà tây lông tơ tạo thành một ñám rối ở ngực.Lông hình kim (lông hình bút sơn) có thân lông tương ñối dài nhưng phiến lông ngắn Thường mọc xung quanh các ống dẫn chất tiết của tuyến phao câu
Theo Melekhin và Griddin (1979) dẫn theo Lê Hồng Mận và Bùi Lan Hương Minh (1990)[7], màu sắc lông gia cầm gắn chặt với sự có mặt của những sắc tố
Trang 12melanin và lipocrom ở trong lông, sắc tố có hình hạt hay hình gậy Melanin ñược tạo nên trong ti lạp thể của tế bào sinh trưởng biểu mô melaniphor Tiền sắc tố melanin là melanogen Sự oxy hoá melanogen ở các mức ñộ khác nhau sẽ cho ra các màu của lông khác nhau: vàng ñất, vàng gỉ sắt, hung gỉ sắt, nâu hung, nâu, ñen Màu lông rực rỡ của một số giống gia cầm ñược tạo bởi sắc tố khác - lipocrom
Nó thuộc nhóm sắc tố carotenoit Lipocrom hoà tan trong mỡ và có nguồn gốc ngoại sinh Chúng làm cho lông có màu vàng, ñỏ, xanh da trời hoặc xanh lá cây Nếu không có sắc tố thì lông màu trắng (Nguyễn Thị Mai và CS, 2007)[5]
2.1.2 Sự thay lông
Thay lông là một ñặc ñiểm sinh lý bình thường, nhưng nó luôn ñược chú ý vì
có liên quan ñến thành tích sản xuất của gia cầm Ở gia cầm có hai loại thay lông là thay lông theo tuổi và thay lông theo chu kỳ Khi mới nở ra, gia cầm ñược bao phủ bởi lớp lông tơ phôi thai Lớp lông vũ ñầu tiên (lớp lông sơ cấp) sẽ thay thế dần lớp lông tơ phôi thai Sau khi mọc bộ lông sơ cấp (thậm chí trong khi ñang mọc bộ lông
sơ cấp), ñến một thời ñiểm nhất ñịnh thì bộ lông sơ cấp ñược thay thế bằng bộ lông chính Quá trình này gọi là quá trình thay lông theo tuổi của gia cầm.Ở gà, thay lông theo tuổi bắt ñầu khoảng 45 ngày tuổi, kéo dài 3 – 4 tháng và kết thúc vào thời ñiểm
gà thành thục sinh dục (Nguyễn Thị Mai và CS, 2007)[5]
Theo Nguyễn Mạnh Hùng và CS (1994)[3], thay lông theo chu kỳ ở gà diễn
ra một lần trong năm Những gà mái ñẻ tốt thường thay lông vào cuối mùa thu, ñầu mùa ñông (tháng 10-11), thời gian thay lông khá nhanh Những gà mái xấu có thể thay lông sớm hơn, vào tháng 6-7, thời gian thay lông diễn ra rất chậm, có khi kéo dài tới 3-4 tháng Nguyễn thị Mai và CS ( 2009)[6] cho biết thay lông ở gà theo thứ
tự từ lông cổ, tiếp ñến lông lưng và các phần khác của thân Ở gà thay lông thân tương ứng với thay lông cánh hàng sơ cấp Hàng lông cánh sơ cấp thường có 10 chiếc, thay 1 chiếc lông cánh tương ứng với 10% lông thân Theo số lượng thay lông cánh sơ cấp có thể ñánh giá mức ñộ thay lông ở gà Thay lông cánh hàng thứ nhất theo hướng từ trong ra ngoài và thay lông cánh hàng thứ hai theo hướng ngược lại Thay lông ñuôi ở gà ñối xứng từng ñôi một, từ ñôi lông ngoài cùng tiến vào
Trang 13giữa (hướng tâm)
Theo Berry (2003)[24], thay lông là quá trình sinh lý ñể thay thế các lông cũ bằng lông mới ðối với gia cầm hoang dã, sự thay lông có tính mùa vụ, thường là bắt ñầu vào mùa thu, khi di chuyển chỗ ở hoặc lúc bắt ñầu mùa ñông giá lạnh Vì vậy thay lông là sự thích nghi sinh học của gia cầm với việc thay ñổi ñiều kiện sống Gia cầm ñược thuần hoá ñã nhận ñược tính di truyền này từ tổ tiên của chúng (Nguyễn Thị Mai và CS, 2009)[6]
Theo Bast (2011)[19], thay lông tự nhiên thường diễn ra trong mùa ñông do thời gian chiếu sang rút ngắn Gà thường giảm khối lượng trong quá trình thay lông, khi gà ngừng ñẻ trứng thì chúng bắt ñầu mọc lông mới
Rowan (1926)(Dẫn theo Berry, 2003)[24] cho biết, sự thay ñổi thời gian chiếu sáng là một trong những tác nhân môi trường chính ảnh hưởng ñến quá trình thay lông ở nhiều loài gia cầm Thời gian chiếu sáng thay ñổi dẫn tới sự thay ñổi về nhịp sinh học và chu kỳ sinh học ðiều này ảnh hưởng tới hoạt ñộng của hệ thống thần kinh, nội tiết, gây nên những thay ñổi về sinh lý sinh sản và sự thay lông
Cho ñến nay cơ chế thay lông của gia cầm vẫn chưa ñược nghiên cứu thật ñầy ñủ Sự xuất hiện của mùa thay lông liên quan chủ yếu tới ñộ dài ngày chiếu sáng (Meier và Farner,1964; Wolfson,1966; Follett và Sharp,1969 và King,1970) (Dẫn theo Berry, 2003)[24] Ánh sáng là tác nhân mạnh kích thích cơ quan thụ cảm thị giác và tác dụng qua vùng dưới ñồi thị lên tuyến yên Tuyến yên tăng cường hoặc giảm bớt sự hình thành các hocmon hướng sinh dục qua máu, tác ñộng lên hoạt ñộng của các tuyến sinh dục, từ ñó tác ñộng lên sự thay lông (Pittendrigh và Minis, 1964; Meier và Gregor, 1969)(Dẫn theo Berry, 2003)[24] Sự rút ngắn thời gian chiếu sáng ñã làm cơ quan sinh dục của gia cầm co lại, dẫn tới quá trình thay lông Các tác giả cho biết, sự giảm khả năng sinh sản cũng như sự co lại của cơ quan sinh dục và thời gian thay lông giữa các loài và giữa các cá thể là khác nhau (Khan và CS, 2011)[62]
Berry (2003)[24], Nguyễn Thị Mai và CS (2007)[5] cho biết, trong thời gian thay lông gia cầm thường giảm hoặc ngừng ñẻ trứng ðây là thời kỳ nghỉ ngơi nhằm
Trang 14phục hồi hay còn gọi là quá trình “trẻ hóa” cơ quan sinh sản ñể chuẩn bị cho một chu kỳ ñẻ trứng tiếp theo Nghiên cứu sinh lý thay lông ở gà mái ñẻ, Brake và Thaxton (1979)[28] cho biết, trong thời gian nghỉ ñẻ và thay lông, hàm lượng mỡ máu giảm, kích thước buồng trứng và ống dẫn trứng cũng co nhỏ lại tương tự như ở
gà mái chưa thành thục sinh dục Các tác giả cho rằng, ñiều kiện tiên quyết ñể quá trình thay lông xảy ra là sự giảm hoạt ñộng sinh sản trong ñó hoạt ñộng của tuyến giáp ñóng vai trò quan trọng Những thay ñổi sinh lý ở gà khi thay lông gắn liền với hoạt ñộng của tuyến yên, tuyến giáp và buồng trứng Những hormon này ñóng vai trò cốt yếu trong việc kiểm soát quá trình thay lông ở gia cầm (Decuypere và Verheyen, 1986)[35] Theo Verheyen và CS (1983)[111], việc kiểm soát quá trình thay lông ở gia cầm liên quan chặt chẽ với hormon tuyến giáp, sự thay lông sẽ bắt ñầu diễn ra khi tăng tiết trước tiên là thiroxine T4 và sau ñó là thiroxine T3 Thyroxine cùng với progesterone kích hoạt các nhú lông phát triển làm cho các lông mới thay thế các lông cũ
Vantienhoven (1981)[109] cho rằng sự tăng dần nồng ñộ corticosteroid là nguyên nhân ngừng hoạt ñộng ñẻ trứng cũng như làm teo nhỏ tuyến sinh dục trong thời gian gia cầm nghỉ ñẻ ñể thay lông Khi kích thước buồng trứng thu hẹp lại ñã làm giảm tiết oestrogen, ñiều này ñã ức chế hoạt ñộng của các nang lông, kìm hãm
sự phát triển của các nhú lông (Stake và CS, 1979)[105]
Nguyễn thị Mai và CS (2009)[6] cũng cho biết, việc tăng cường chức năng của tuyến giáp trạng hoặc tiêm hocmon của nó vào cơ thể gia cầm sẽ làm cho cơ thể bắt ñầu thay lông Nếu cấy tuyến giáp trạng vào cơ thể gia cầm, sau một thời gian ngắn, bắt ñầu thay lông mạnh và nhanh, gia cầm rụng hết lông chỉ trong vài ngày Vào giai ñoạn thay lông của gà, khi mà việc thay lông diễn ra mạnh nhất, hoạt tính chức năng của tuyến giáp trạng và tuyến cận giáp tăng lên thì khối lượng của gà cũng tăng lên Quá trình mọc và hình thành lông ở gia cầm liên quan chặt chẽ với việc tăng cường ñộ trao ñổi chất trong cơ thể (Nguyễn Thị Mai và CS, 2007)[5]
Trang 152.2 Thay lông cưỡng bức trên gà mái ñẻ
2.2.1 Lịch sử và lợi ích của việc thay lông cưỡng bức trên gà
Theo Berry (2003)[24], quá trình thay lông tự nhiên ở gà, thường dẫn tới giảm sức sản xuất trứng trong một thời gian dài Do ñó, ñối với người chăn nuôi, giai ñoạn phi lợi nhuận do sức sản xuất trừng thấp thường vào thời gian cuối của chu kỳ ñẻ thứ nhất ðể tránh sự thiệt hại này, hầu hết gà mái ñẻ thường ñược thay thế ngay trước khi xảy ra quá trình thay lông tự nhiên Sự giảm giá trứng và giá gà
ñẻ loại thải, ñã thu hút mối quan tâm ñến các phương pháp nhằm tránh quá trình thay lông tự nhiên ñối với các ñàn gà, ñồng thời có thể ñược sử dụng chúng trong thời gian dài hơn một năm ðể ñạt mục ñích này, các phương pháp “Cưỡng bức” quá trình thay lông ñã ñược nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Do ñó, thuật ngữ “thay lông cưỡng bức” ñã xuất hiện và trở nên phổ biến Một số thuật ngữ khác như “tạm ngừng”, “nghỉ ngơi”, “nghỉ ngơi cưỡng bức”, “luân chuyển” cũng ñược
sử dụng như ñồng nghĩa với “thay lông cưỡng bức” Tuy nhiên, thay lông cưỡng bức là sự can thiệp vào một phản ứng sinh lý tự nhiên của gà mái ñẻ Do ñó, thay lông “cưỡng bức” là một thuật ngữ chính xác hơn cả (Berry, 2003)[24]
Theo Rice (1905)[93]; Rice và CS (1908)[94], thay lông cưỡng bức ñối với
gà mái ñẻ ñã ñược biết ñến từ những năm ñầu thế kỉ 19 Các nhà khoa học ñã tiến hành nghiên cứu nhiều phương pháp khác nhau ñể thục hiện thay lông cưỡng bức
và những nghiên cứu này trở nên phổ biến vào những năm 1930
Hầu hết các cơ sở sản xuất trứng ở California ñều áp dụng hình thức thay lông cưỡng bức trong sản xuất vào những năm 1950 Việc áp dụng hình thức thay lông cưỡng bức ngày càng trở nên phổ biến khi nhiều kết quả nghiên cứu ñược công
bố vào những năm 1960 và 1970 Thay lông cưỡng bức ñược áp dụng ở nhiều nơi trên thế giới, như một phương pháp ñể phục hồi và tái tạo sức sản xuất của gà mái
ñẻ nhằm kéo dài thời gian sử dụng chúng (Bell, 2003)[20]
Theo Keshavars và Quimby (2002)[61], Gast và Ricke (2003)[46] sức ñẻ trứng sẽ giảm khi tuổi gà mái tăng lên, vì thế ñể thúc ñẩy gà ñi vào chu kỳ ñẻ trứng
tứ hai, thậm chí là chu kỳ ñẻ trứng thứ ba, người ta sử dụng phương pháp thay lông cưỡng bức Mục ñích chính của quá trình thay lông cưỡng bức là làm cho ñàn gà
Trang 16tạm ngừng ñẻ trứng, ñây là thời kỳ nghỉ ngơi nhằm phục hồi cơ quan sinh sản, tạo ñiều kiện tăng năng suất và chất lượng trứng của các ñàn gà sau thay lông
Trong thực tế sản xuất, sau chu kỳ ñẻ trứng thứ nhất (thường là một năm), ñàn gà sẽ ñược ñem bán Sức sản xuất và chất lượng trứng thường giảm thấp trong giai ñoạn cuối của chu kỳ ñẻ, ñặc biệt khi giai ñoạn này trùng với thời tiết nóng bức (Koelkebeck và CS, 1993; Yousaf, 1998)[66][118] Khi áp dụng thay lông cưỡng bức, ñàn gà tiếp tục ñẻ trứng thêm một năm, do ñó có thể giảm thấp nhiều phần chi phí trong sản xuất, mang lại lợi nhuận tốt hơn (Yousaf và Chaudhry, 2008)[119] Theo ước tính, hiện nay ở Mỹ, hơn 75% các ñàn gà ñều ñược thay lông cưỡng bức như một phần trong qui trình sản xuất thường kỳ (Holt, 2003)[58]
Bell (2003)[20] cho biết, sử dụng thay lông cưỡng bức ñã làm tăng năng suất trứng, giảm chi phí nuôi gà hậu bị, giảm ñầu tư tư bản ñối với các trại giống và trạm ấp Lợi ích kinh tế và an sinh ñối với việc áp dụng thay lông cưỡng bức, không chỉ kéo dài thời gian sử dụng ñối với các ñàn gà mái ñẻ trứng thương phẩm mà còn làm giảm ñược số lượng lớn (tương ứng với số gà mái) gà trống con loại thải ñể nuôi thịt (loại này thường có hiệu quả thấp) Theo số liệu thống kê ở Mỹ, hầu như các ñàn gà mái ñẻ ñều ñược thay lông ít nhất một lần và thường là hai lần trong suốt vòng ñời Gà mái ñẻ từ ñàn gà bố mẹ ñược thay lông cũng ñược người chăn nuôi yêu chuộng hơn vì khối lượng cơ thể của chúng cao hơn Hầu hết các nhà nghiên cứu ñều khẳng ñịnh rằng thay lông cưỡng bức ñã cải thiện sức sản xuất của gà mái
ñẻ sau thay lông so với trước khi thay lông Sự cải thiện về các chỉ tiêu chất lượng trứng cũng ñược ghi nhận ở gà ñược thay lông cưỡng bức Sự cải thiện này bao gồm trứng to hơn, chất lượng vỏ trứng tốt hơn và tỷ lệ ñẻ cao hơn (Zimmermann và CS, 1987)[120] Nhìn chung, chất lượng lòng trắng (kể cả ñơn vị Haught), ñộ dày vỏ, kết cấu vỏ và ñộ chịu lực ñều ñược cải thiện khi ñàn gà ñược thay lông (Hansen, 1967)[53] Thay lông cưỡng bức làm giảm tỷ lệ chết, tăng năng suất trứng, giảm tỷ
lệ trứng dập vỡ, tăng khối lượng trứng và chất lượng vỏ trứng (Bar và CS, 2001)[18]
Webster, (2003)[114] cho biết, cho gà thay lông cưỡng bức sau 12 tháng sản xuất trứng, là biện pháp ñược áp dụng rộng rãi trong thực tiễn ñối với gả dẻ trứng
Trang 17thương phẩm Nó không chỉ làm tăng sức sản xuất trứng của gà mái ñẻ trong chu kỳ
ñẻ trứng thứ hai mà còn tăng chất lượng lòng trắng và chất lượng vỏ trứng là những chỉ tiêu thường giảm sút vào cuối kỳ ñẻ trứng thứ nhất
Theo Bell (2003)[20], sự khác biệt rõ ràng nhất giữa gà ñược thay lông cưỡng bức, ở chu kỳ ñẻ thứ hai, thứ ba với chu kỳ ñẻ trứng thứ nhất là khối lượng
và số lượng trứng Khối lượng trứng thường ở mức dưới 60g cho tới tuần 20 của chu kỳ ñẻ trứng thứ nhất Trong 10 tuần ñẻ ñầu, khối lượng trứng trung bình khoảng 52,.3g/quả ở chu kỳ ñẻ trứng thứ nhất ñã tăng lên là 62,6 và 63,4g/quả ở chu kỳ ñẻ thứ hai và thứ ba Tại 35 tuần sản xuất, khối lượng trứng là 57,4, 63,4 và 63,7g/quả tương ứng cho ba chu kỳ ñẻ Tác giả cho biết, khối lượng trung bình của trứng tăng lên trong chu kỳ ñẻ thứ hai và thứ ba có thể một phần là do sự tăng lên về kích thước của cơ thể gà Tuy nhiên, nếu so sánh giữa gà ñược thay lông và không ñược thay lông ở cùng ñộ tuổi và kích cỡ, gà ñược thay lông ñẻ trứng to hơn và những chỉ tiêu ñánh giá chất lượng trứng cũng cao hơn (Bar và CS, 2003)[17] Ở thị trường trứng của Mỹ, trứng từ chu kỳ sản xuất thứ hai và thứ ba cho lợi nhuận cao hơn (tính trên một tá trừng) so với trứng từ chu kỳ sản xuất thứ nhất (Bell, 2003)[20]
Theo Bar và CS (2003)[17], Bell (2003)[20], ở gà ñẻ trứng, ñể hạn chế tối thiểu sự giảm chất lượng trứng và vỏ trứng do tuổi gà, sự tạm ngừng quá trình ñẻ trứng sẽ ñược thực hiện bằng phương pháp thay lông cưỡng bức Thay lông cưỡng bức không những kéo dài thời gian sản xuất của ñàn gà mà còn cung cấp công cụ ñể tối ưu hóa sử dụng các tài nguyên và tăng lợi nhuận thu ñược từ ñầu tư Dưới ñiều kiện kinh tế phù hợp, thời gian sản xuất kinh tế của mỗi ñàn gà ñẻ có thể ñược kéo dài từ ít hơn 80 tuần tới 110 tuần hoặc có khi tới 140 tuần thông qua việc áp dụng thận trọng và hợp lý quá trình thay lông cưỡng bức
Chương trình thay lông ước tình ñược thực hiện trên khoàng 75 – 80% ñàn
gà thương phẩm ở Mỹ Xấp xỉ khoảng một phần ba lợi nhuận của ñàn gà là do gà ñược thay lông (Holt, 2003)[58] Ở bất cứ thời ñiểm nào, 25 – 30% ñàn gà hoặc ñang ñược thay lông hoặc ñã ñược thay lông trước ñó Thay lông cưỡng bức ñược
sử dụng như một phần trong qui trình chăn nuôi, ñể tối ưu hóa sự thay thế gà mái hậu bị ñối với các trại thương phẩm Theo Bell (2003)[20], với hệ thống quản lý
Trang 18hiện nay, các trang trại sử dụng chương trình một chu kỳ (không thay lông) cần 8.4 ñàn mới cho một nhà gà trong thời gian 10 năm, trong khi ñó chỉ cần 5,7 ñàn với hệ thống hai chu kỳ (một lần thay lông)
Bell (2003)[20] cho biết, tất cả các ñàn gà hậu bị ñều yêu cầu bổ sung khoảng 47% gà con mỗi năm ðể ñáp ứng nhu cầu này, cũng cần sự tăng lên tương ứng của ñàn gà giống ở các trại giống và trạm ấp Như vậy, mỗi năm hàng trăm triệu gà con trống cần bị loại bỏ và hơn 47% gà mái ñẻ bị loại thải Không những thế, nếu chỉ sử dụng gà ở chu kỳ ñẻ trứng thứ nhất, sẽ có một số lượng lớn trứng thương phẩm không ñược ưa chuộng (trứng cỡ trung bình và nhỏ) ñược sản xuất ra
Tỷ lệ trứng nhỏ sẽ gỉam thiểu khi sử dụng các ñàn gà ñược thay lông cưỡng bức trong chu kỳ ñẻ trứng thứ hai
2.2.2 Các phương pháp thay lông cưỡng bức trên gà
- Phương pháp thay lông cổ ñiển (phương pháp nhịn ñói)
Theo Hembree và CS (1980)[56], Hussein (1996)[59], Biggs và CS (2004)[26], cho gà nhịn ñói ñể gây thay lông cưỡng bức (còn gọi là phương pháp thay lông cổ ñiển) là phương pháp ñược áp dụng rộng rãi nhất trong thực tế chăn nuôi gia cầm vì nó ñơn giản, tính khả thi cao và kinh tế Phương pháp cho gà nhịn ñói, có thể ñược kết hợp với sự hạn chế chiếu sáng và nước uống (Koelkebeck và
CS, 2001; Deek và Harthi, 2004)[69][36] Trong quá trình thay lông cưỡng bức, gà tạm ngừng ñẻ trứng, chúng nghỉ ngơi ñể hồi phục cơ quan sinh sản nhằm tăng sức sản xuất trứng và chất lượng trứng trong gia ñoạn sau khi thay lông (Webster, 2003)[114]
Swanson và Bell (1974a,b,c); Brake và Carey (1983)(Dẫn theo Berry, 2003)[24] cho biết, trong kỹ thuật gây thay lông bằng phương pháp cổ ñiển, người
ta thường cho gà nhịn ăn hoặc cả nhịn ăn và nhịn uống, ñồng thời giảm thời gian chiếu sáng bằng thời gian chiếu sáng tự nhiên hoặc ngắn hơn Gà mái ñẻ bị nhịn ñói trong một khoảng thời gian (thường từ 7 – 14 ngày) ñủ ñể ảnh hưởng hoàn toàn ñến
cơ quan sinh sản Việc hạn chế nước uống sẽ ñược thực hiện trong ba ngày ñầu tiên cho nhịn ăn Quá trình thay lông bị “cưỡng bức” xảy ra trong thời gian này, khi hoạt ñộng ñẻ trứng bị ngừng và ống sinh sản nhanh chóng bị co lại Thời kỳ nghỉ ñẻ
Trang 19hoàn toàn (tỷ lệ ñẻ bằng không) ñược gọi là thời kỳ nghỉ ngơi Trong thời kỳ nghỉ ngơi, kỹ thuật cho ăn và khẩu phần ăn có ảnh hưởng ñến quá trình thay lông và khả năng hồi phục sau thay lông của gà Với mục tiêu hồi phục lại sức sản xuất trứng,
sử dụng khẩu phần bình thường cho gà mái ñẻ ñược kết hợp với kỹ thuật tăng dần thời gian và cường ñộ chiếu sáng Sức sản xuất trứng nhanh chóng tăng lên ñến mức cao hơn mức sản xuất trung bình trước khi thay lông cưỡng bức Vào khoảng thời gian này, quá trình “trẻ hóa” của cơ quan sinh sản ñã diễn ra.Thời gian thay lông tính từ thời ñiểm bắt ñầu nhịn ăn cho ñến khi tỷ lệ ñẻ trứng ñạt 50%, dao ñộng khác nhau tùy thuộc vào từng kỹ thuật và ñiều kiện thay lông Quá trình thay lông cưỡng bức thường kéo dài trong khoảng từ 5 ñến 9 tuần
Nhịn ăn là phương pháp cổ ñiển, nhằm thúc ñẩy quá trình thay lông cưỡng bức và khởi ñộng ñẻ trứng nhiều kỳ ở gà mái ñẻ (Koelkebeck và CS, 2006)[67] Các tác giả ñều thống nhất rằng, ñể có kết quả tốt khi sử dụng phương pháp nhịn ñói nên giảm thời gian chiếu sáng xuống 8 giờ mỗi ngày (Brake, 1993)[27] Do bị nhịn ñói, gà sẽ giảm khối lượng cơ thể và ñạt ñến khối lượng mong muốn (Brake và Carey, 1983, dẫn theo Berry, 2003)[24]
Phương pháp thay lông lý tưởng cần ñơn giản và mang lại lợi nhuận ðồng thời phương pháp ñó cũng phải giảm tỉ lệ chết và tăng cường sức sản xuất của gà sau khi thay lông Biện pháp thường sử dụng nhất trên thế giới ñối với các ñàn gà thương phẩm là cho gà nhịn trong khoảng 7 ñến 14 ngày, làm giảm khối lượng cơ thể 25 – 35%, sau ñó là giai ñoạn nghỉ ngơi và cuối cùng là quá trình tái kích thích
ñẻ trứng Phương pháp này ñã trở thành quy chuẩn áp dụng nhằm gây thay lông cưỡng bức (Webster, 2003)[114]
Keshavarz và Quimby (2002)[61], Donalson và CS (2005)[41] cho biết, phương pháp cho nhịn ăn là phương pháp kinh ñiển và lâu ñời ñược sử dụng trên toàn thế giới Theo phương pháp này, gà bị cho nhịn ăn từ 10 – 12 ngày trước khi bước vào kỳ ñẻ trứng thứ hai Tuy nhiên phương pháp này ñược kiểm soát chặt chẽ
do các vấn ñề về an toàn thực phẩm và an sinh ñộng vật (animal welfare) Nhiều vấn ñề liên quan ñến phương pháp này ñã ñược tranh luận Theo Webster (2003)[114] và một số tác giả khác cho rằng, bắt gà nhịn ăn là phi nhân tính Gà bị
Trang 20nhịn ñói nhạy cảm hơn và dễ lây nhiễm vi khuẩn, ñặc biệt là Salmonella enteritidis,
bởi vị quá trình nhịn ñói không cung cấp ñủ các chất dinh dưỡng cần thiết ñể duy trì
hệ thống miễn dịch của gà Park và CS (2004)[91] cũng cho rằng, phương pháp nhịn ăn có ảnh hưởng xấu ñến gà mái ñẻ
Theo Koelkebeck và CS (2001)[69], Deeck và Harthi (2004)[37] cùng một
số tác giả khác, trong quá trình không ñược cho ăn, gà sử dụng các nguồn dinh dưỡng dự trự của cơ thể ñể sống sót và không cho sản phẩm Theo các tác giả, nhịn ñói gây ra hiện tượng dị hóa và dẫn ñến các cơ chế sinh lý không bình thường làm giảm hệ thống miễn dịch cùng các hành vi không mong muốn và thậm chí tử vong ở gà
Tuy nhiên, một số tác giả lại cho rằng phương pháp nhịn ñói là hợp lý, bởi vì các loại chim hoang dã cũng có hành vi tương tự khi chúng bắt ñầu quá trình thay lông trong tự nhiên (Webster, 2003)[114] Chúng thường nhịn ăn cho ñến thời kỳ sau của thay lông và giảm 25 – 30% khối lượng cơ thể (Mrosovsky và Sherry, 1980)[83]
Trong những năm gần ñây, thay lông cưỡng bức bằng phương pháp nhịn ñói
ñã trở thành một mối lo ngại ñối với nền chăn nuôi gia cầm của Anh và châu Âu, do vấn ñề an sinh ñộng vật (welfare) và các lý do liên quan ñến an toàn thực phẩm ở người (Bell, 2003; Gast và Ricke, 2003)[20][46]
Hầu hết những nhà chăn nuôi gia cầm ở Mỹ vẫn sử dụng phương pháp gây thay lông cổ ñiển (UEP, 2006)[107] Nhịn ăn gây cảm giác ñói làm suy giảm hệ miện dịch và tăng thiệt hại do tỉ lệ tử vong cao Tỉ lệ tử vong của gà sử dụng phương pháp cổ ñiển thường cao hơn so với các phương pháp khác Mặc dù các phương pháp thay thế khác ñược nghiên cứu khá nhiều, phương pháp cổ ñiển vẫn ñược khẳng ñịnh là phương pháp hiệu quả nhất, khả thi nhất và kinh tế nhất ñối với
chăn nuôi gia cầm Tỉ lệ trứng bị nhiễm Samonella enteritidis (SE) tăng lên khi sử
dụng phương pháp cổ ñiển so với các phương pháp khác (Holt, 2003)[58] Gà bị nhịn ñói ñã có sự thay ñổi nội tiết, ñặc biệt là nồng ñộ corticosterone tăng cao trong máu (Etches và Cs, 1983)[45] Nhịn ñói còn làm ảnh hưởng ñến hàng rào bảo vệ miễn dịch, chống lại sự xâm nhập của các tác nhân gây bệnh do sự giảm phản ứng
Trang 21của các bạch cầu trung tính (Webster, 2003)[114] Thêm vào ñó, thay lông cưỡng bức bằng phương pháp cổ ñiển không những làm giảm khả năng chống chịu lại các tác nhân gây bệnh mà còn giảm sự khoáng hóa của xương chày và xương cánh tay mặc dù sự phục hồi xảy ra sau quá trình thay lông (Mazzuco và Hester, 2005)[78]
Mặc dù phương pháp thay lông cổ ñiển ñem lại hiệu quả cao, nhưng ñứng từ góc nhìn của an sinh ñộng vật, phương pháp này lại không ñược chấp nhận Do ñó, trách nhiệm của các nhà khoa học là phải tìm ra phương pháp phù hợp thay thế cho phương pháp cổ ñiển ñể gây thay lông cưỡng bức trên gia cầm (AVMA, 2002)[13]
Ở Anh và châu Âu, thay lông cưỡng bức bằng phương pháp cổ ñiển ñã bị cấm (Defra, 1994)[38] Tuy nhiên phương pháp thay lông cổ ñiển vẫn ñang ñược sử dụng ở nhiều nước, ñặc biệt là ở Mỹ và có thể sẽ còn ñược sử dụng trong tương lai (AVMA, 2002)[13] Theo Gene Bauston (2004)[48] chủ tịch hiệp hội Farm Sanctuary, một hiệp hội các nhà sản xuất trứng gà gồm 100.000 hội viên tại Mỹ cho biết: thay lông cưỡng bức trên gà mái ñẻ thương phẩm bằng phương pháp nhịn ñói
sẽ bị cấm ðây là một trong những biện pháp hạn chế sự lây nhiễm Salmonella
Enteritidis (SE) qua trứng gà và cũng tuân thủ thực hiện ý kiến của tổ chức Animal
Welfare (Bảo vệ quyền lợi ñộng vật) Thay lông cưỡng bức bằng phương pháp nhịn ñói, nhịn uống làm cho gà bị stress, gà bị nhiễm SE và tỷ lệ trứng nhiễm SE cao
Hoàn toàn có thể sử dụng các phương pháp ñể gây thay lông cưỡng bức cho
gà mà không cần cho gà nhịn ñói và tác ñộng ñến an sinh ñộng vật ở Anh (Edge, 1998)[44] Gần ñây, sự khởi ñầu của Liên hiệp những nhà sản xuất trứng (United Egg Production, UEP) trong việc ngừng sử dụng phương pháp cổ ñiển ñã kéo theo
sự phát triển của các chương trình nghiên cứu phương pháp gây thay lông cưỡng bức khác Trong các phương pháp này, gà vẫn ñược ăn trong quá trình thay lông, chúng vẫn ngừng ñẻ trứng và cho năng suất tốt hơn trong chu kỳ sản xuất tiếp theo
Do ñó, yêu cầu tìm ra phương pháp thay thế cho phương pháp thay lông cổ ñiển ngày càng cấp thiết Nhất là gần ñây, Hiệp hội các nhà sản xuất trứng ñã không cho phép sử dụng phương pháp thay lông cổ ñiển trên gà mái ñẻ
Hiện nay, các nhà khoa học ñang quan tâm vào việc tìm ra các phương pháp gây thay lông cưỡng bức mới thay thế cho phương pháp cổ ñiển Mục tiêu
Trang 22chính của các phương pháp là gà ngừng ñẻ trứng hoàn toàn, ñồng thời giảm khối lượng cơ thể ở mức lý tưởng (khoảng 25 – 30%) ñể gà có thể ñạt sản lượng trứng cao nhất sau thay lông Sự giảm khối lượng cơ thể chủ yếu là do giảm khối lượng các cơ quan trong cơ thể và sự sử dụng các chất dinh dưỡng
ñể duy trì hoạt ñộng bình thường của cơ thể trong quá trình thay lông Sự giảm khối lượng cơ thể quá mức trong phương pháp thay lông cổ ñiển, ñã làm cho hệ thống miễn dịch suy giảm làm gà nhậy cảm hơn với các tác nhân gây bệnh Gà mái ñẻ ñược áp dụng các phương pháp gây thay lông khác có mức ñộ giảm khối lượng cơ thể thấp hơn, hệ thống miễn dịch tốt hơn, tỷ lệ tử vong thấp hơn, sự phục hồi, làm mới hệ thống sinh dục cũng tốt hơn
- Phương pháp hạn chế thức ăn
Sự hạn chế thức ăn ở mức ñộ khác nhau, cũng là một phương án thay thế khả thi cho phương pháp thay lông cổ ñiển Tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp này phụ thuộc vào mức ñộ hạn chế thức ăn, thành phần của khẩu phần và tỷ lệ các loại thức ăn cũng như các chất dinh dưỡng ñược sử dụng trong khẩu phần (Koelkebeck.và CS, 2001; Deek và Harthi, 2004)[69][36] Một số tác giả cho biết,
sử dụng phương pháp hạn chế thức ăn ñể gây thay lông cưỡng bức không hiệu quả bằng phương pháp cổ ñiển Tỷ lệ chết cao hơn, thời gian ñể tỷ lệ ñẻ giảm xuống bằng không dài hơn và tỷ lệ ñẻ sau thay lông thấp hơn (Deek và Harthi, 2004)[36]
- Thay ñổi thành phần dinh dưỡng của khẩu phần
Nguyên lý của phương pháp này là thay ñổi khẩu phần ăn nhằm tạo ra sự mất cân bằng một hoặc vài chất dinh dưỡng nhất ñịnh (Douglas và CS, 1972; Creger và Scott, 1977; Berry và Brake, 1985, 1987; Biggs và CS, 2003)[42][32][22][23][25] Hiện nay, ñã có nhiều nghiên cứu sử dụng khẩu phẩn bổ sung các sản phẩm nông nghiệp làm thay ñổi thành phần dinh dưỡng của khẩu phần, ñể gây thay lông cưỡng bức trên gà mái ñẻ, nhằm thay thế phương pháp thay lông cổ ñiển
Nghiên cứu sử dụng bột bông (Davis và CS, 2002)[34], bột jojoba (Arnouts và
CS, 1993; Vermaut và CS, 1997)[11][112], bột lúa mỳ (Seo và CS, 2001)[101]; sử dụng các sản phẩm phụ như chất chứa dạ cỏ, bột bã cà chua khô (Mansoori và CS, 2007)[76] ñã ñược công bố là có tác dụng gây thay lông cưỡng bức trên gà mái ñẻ
Trang 23Kwon và CS (2001)[72], Ricke (2003)[95], Donalson và CS (2005)[41], Koch và CS (2005)[65], Landers và CS (2005)[73], Woodward và CS (2005)[116], Kim Và CS (2006)[63], McReynolds và CS (2006)[82], Yardimci và Bayram (2008)[117], Aygun Ali và Olgun Osman (2010)[14] cùng một số tác giả khác ñã nghiên cứu sử dụng bột cỏ alfalfa với tỷ lệ khác nhau (50 – 100%) trong khẩu phần
ăn ñể gây thay lông cưỡng bức trên gà mái ñẻ Các tác giả cho biết, bột Alfafa ñược
sử dụng ñể gây thay lông cưỡng bức trên gà mái ñẻ là do mức năng lượng thấp và hàm lượng xơ cao Khi sử dụng với tỷ lệ cao trong khẩu phần, tốc ñộ thoát qua ruột chậm lại, dẫn tới quá trình tiêu hóa và lên men vi sinh vật tốt hơn
Các tác giả cho biết, mặc dù khẩu phần với tỷ lệ các chất dinh dưỡng khác nhau ñã ñược sử dụng thành công ñể gây thay lông cưỡng bức trong nhiều trường hợp Tuy nhiên, rất khó ñể chỉ ra một chất dinh dưỡng hoặc một loại thức ăn ñơn lẻ nào trong khẩu phần có tác dụng kích thích gây thay lông cưỡng bức Ngoài ra, khi thay ñổi thành phần của khẩu phần, sự thiếu hụt một chất dinh dưỡng nào ñó cũng
có khả năng anh hưởng xấu ñến sức khỏe của ñàn gà
- Sử dụng chất khoáng trong khẩu phần ăn
Nhiều nhà khoa học ñã nghiên cứu sử dụng một số chất khoáng với hàm lượng khác nhau ñể gây thay lông cưỡng bức trên gà, nhằm mục ñích nâng cao năng suất trứng sau thay lông và thay thế phương pháp thay lông cổ ñiển
ðể gây thay lông cưỡng bức trên gà mái ñẻ, Stevenson và Jackson (1984)[106], ñã sử dụng các chất khoáng như ñồng (Cu) và kẽm (Zn) Griminger (1977)[50], Pearce và CS (1983)[92], Stevenson và Jackson (1984)[106] cho biết, ñồng (Cu) ñược coi là một tác nhân gây thay lông cưỡng bức hiệu quả trên gà mái
ñẻ Whitehead và Shannon (1974)[115], Dilworth và Day (1976)[40], Nesbeth và
CS (1976a,b)[89][90], Ross và Herrick (1981)[98], Harms (1981)[55], Naber (1984)[87], Said và CS (1984)[99], Keshavars và Quimby (2002)[61], cho biết, sử dụng khẩu phần có hàm lượng Natri (Na) thấp (<0,04%) ñã gây thay lông cưỡng bức hiệu quả trên gà tương tự như phương pháp cổ ñiển Hussein và CS (1989)[60], Lipstein và Hurwitz (1982)[75], Hussein ( 1996)[59] ñã nghiên cứu sử dụng liều cao muối nhôm gây thay lông cưỡng bức thành công trên gà mái ñẻ Sử dụng liều
Trang 24cao I ốt dưới dạng KI (2.500 – 5000 mg/kg) bổ sung vào khẩu phần ăn ñã có tác dụng kích thích gây thay lông cưỡng bức trên gà mái ñẻ (Arrington và CS, 1967)[12] Douglas và CS (1972)[42], Gilbert và Blair (1975)[49], Webster (2003)[114] ñã sử dụng khẩu phần Canxi (Ca) thấp (<0,3% Ca) ñể gây thay lông cưỡng bức Có thể sử dụng khẩu phần canxi thấp kết hợp với hàm lượng kẽm thấp (Breeding và CS, 1992; Ricke và CS., 2001)[29][96] gây thay lông cưỡng bức trên
gà ñể thay thể cho phương pháp cổ ñiển Tuy nhiên, các tác giả cũng cho biết, nhược ñiểm lớn nhất của phương pháp sử dụng hàm lượng canxi thấp là rất nhiều gà
sẽ bị bại liệt trong thời thí nghiệm
Theo Scott và Creger (1976)[100], Creger và Scott (1977)[32], Berry và Brake (1985)[22], sử dụng Zn, ñược cho là một giải pháp hữu hiệu làm ngừng ñẻ trứng và thay lông cưỡng bức Cantor và Johnson (1984)[31] dùng Zn ñể thay lông cưỡng bức trên chim cút ñẻ Zn khi bổ sung ở mức 20.000 ppm làm ngừng ñẻ trứng hoàn toàn trong vòng 5 ngày Roberson và Francis (1979)[97] cho biết, sử dụng Zn
ở mức 20.000 ppm cũng ñem lại hiệu quả tương ñương với phương pháp thay lông
cổ ñiển (nhịn ăn) Sử dụng 10.000 mg Zn trong một kg thức ăn ñã làm giảm tỷ lệ ñẻ
từ 60% xuống còn 0% trong vòng 6 ngày (Shippee và CS, 1979)[102]
McCormick và Cunningham (1987)[81], Deeck và Harthi (2004)[36], Moore
và CS (2004)[84], Ahmed và CS (2005)[10], Koch và CS (2007)[64], Koelkebeck
và Anderson (2007)[68], Khan và CS (2011)[62] cùng nhiều tác giả khác ñã nghiên cứu sử dụng liều cao kẽm (Zn) bổ sung vào khẩu phần cho gà ñẻ.như một biện pháp thay thế cho phương pháp nhịn ăn Gà thí nghiệm ñược ăn khẩu phần dành cho gà
ñẻ với 20.000 - 30.000 ppm kẽm từ 4 - 10 ngày Thời gian chiếu sáng giảm xuống
8 - 12 giờ mỗi ngày trong thời gian gây thay lông cưỡng bức Sau ñó, gà ñược cho
ăn trở lại thức ăn bình thường của gà mái ñẻ, ñồng thời tăng thời gian chiếu sáng lên mức bình thường (16 giờ chiếu sáng) Kết quả cho biết, không có sự khác biệt về sức sản xuất sau khi thay lông, khối lượng trứng, lượng thức ăn thu nhận, hiệu quả
sử dụng thức ăn và thành phần kẽm trong trứng giữa các phương pháp sử dụng kẽm
và phương pháp cổ ñiển Các kết quả này khẳng ñịnh rằng phương pháp bổ sung liều cao kẽm ñã ñem lại hiệu quả tương tự như phương pháp cổ ñiển; thậm chí một
Trang 25số chỉ tiêu sản xuất lại còn tốt hơn
Mặc dù sử dụng kẽm ñể gây thay lông cưỡng bức trên gà ñã ñược biết ñến từ lâu, song cơ chế gây thay lông từ kẽm vẫn chưa ñược nghiên cứu ñầy ñủ Khan và
CS (2011)[62] cho biết, sử dụng phương pháp gây thay lông cưỡng bức bằng liều cao Zn ñã có tác ñộng ñến sự thoái hóa các mô sinh dục, song cơ chế khởi ñộng quá trình này vẫn chưa ñược làm sáng tỏ Xác ñịnh ñược các nhân tố khởi ñộng quá trình thoái hóa của các mô sinh dục, sẽ giúp ích cho việc cải tiến các phương pháp gây thay lông cưỡng bức Theo Bell (2003)[20], sự thoái hóa của buồng trứng và ống dẫn trứng trong quá trình thay lông xảy ra thông qua cơ chế gây chết tế bào theo chương trình (apoptosis) Vấn ñề này liên quan chủ yếu bởi sự ngừng tiết oestrogene và progesterone Cơ chế chính xác của quá trình thay lông bằng kẽm chưa ñược làm rõ, nhưng giả thiết cho rằng nồng ñộ cao của kẽm (10.000 – 30.000ppm) ñã tác ñộng ñến các lỗ nang, ức chế quá trình rụng trứng và dẫn tới ngừng ñẻ trứng của gà (Creger và Scot, 1977; Shippee và CS, 1979; Berry và Brake, 1987; Park và CS, 2004)[32][102][23][91] Sử dụng kẽm kết hợp trong khẩu phần không có canxi ñã trục tiếp ức chế hoạt ñộng của cơ quan sinh dục, bởi vì canxi rất cần cho sự khởi ñộng và tiết hormone LH (Park và CS, 2004)[91] Canxi ñóng vai trò quan trọng trong quá trình tiết hormon gonadotropin và quá trình tăng sinh các tế bào trứng của gia cầm Sử dụng kẽm liều cao ñã ảnh hưởng ñến quá trình hấp thu canxi, làm cho nồng ñộ canxi giảm thấp xuống dưới mức cần thiết ñể sản sinh gonadotropin và giải phóng LH (Berry và Brake, 1987)[23] McCormick và Cunningham (1984ab)[79][80] cho rằng, cho ăn khẩu phần có hàm lượng kẽm cao,
ñã tác ñộng vào quá trình thay lông do sự giảm lượng thức ăn thu nhận ñã gây một streess với ñàn gà
Sundaresan và CS (2007)[103], ñã nghiên cứu sự tham gia của cytokine ñối với việc thoái hóa các mô sinh dục ở gà Leghorn trắng trong quá trình thay lông bằng kẽm Một nhân tố phiên mã mới, tên là lipopolysacheride (LPS) tác ñộng vào TNF-α factor (LITAF) ñã ñược tìm thấy Chính nhân tố này ñóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng cường ñiều chỉnh các cytokines viêm (inflammatory cytokines) Các nhân tố IL-1 α, RANTES, IFN-γ, MCP-2 và IL-10, ñều tham gia vào quá trình
Trang 26thoái hóa các mô sinh dục trong thời gian thay lông Một nghiên cứu khác trên gà của Sundaresan và CS (2008)[104] khẳng ñịnh rằng, liều cao kẽm trong thức ăn ñã tác ñộng ñến sự thoái hóa các mô sinh dục thông qua việc tăng cường ñiều chỉnh của các cytokines và chemokines Sự giảm lượng thức ăn thu nhận hàng ngày và sự tăng corticosterone trong huyết thanh ñã dẫn tới quá trình gây chết tế bào theo chương trình (apoptosis) của các mô sinh dục
Từ các kết quả nghiên cứu sử dụng một số chất khoáng trong khẩu phần ăn,
ñể gây thay lông cưỡng bức trên gà mái ñẻ, các tác giả ñều thống nhất rằng, việc sử dụng các chất khoáng ñã có tác dụng kích thích gây thay lông cưỡng bức trên gà Kết quả ñã mang lại sức sản xuất tốt hơn trên gà mái ñẻ sau khi thay lông Tuy nhiên, một số tác giả cho biết, trong số các chất khoáng ñã ñược sử dụng gây thay lông cưỡng bức, chỉ có kẽm, vừa có tác dụng làm ñàn gà ngừng ñẻ hoàn toàn và gây thay lông ñồng loạt; các loại khác ñều làm giảm hoặc ngừng ñẻ trứng, song ñàn gà
có thể thay lông hoặc không thay lông (Arrington và CS, 1967; Webster, 2003; Koch và CS, 2007)[12][114][64]
- Sử dụng hormone
Theo Dickerman và Barh (1989)[39], Burke và Attia (1994)[30], ñể gây thay lông cưỡng bức trên gà, có thể sử dụng hormone giải phóng gonadotrophin (Gn-RG) và Leuprolide acetate Adam (1955)[9], Herremanst và CS (1988)[57] cho biết,
gà ñược tiêm progesterone ñể gây thay lông cưỡng bức có sản lượng trứng sau khi thay lông cao hơn so với phương pháp gây thay lông cổ ñiển Tuy nhiên Gulde và
CS (2010)[51] lại có ý kiến khác, các tác giả này cho rằng, sử dụng progesterone ñể gây thay lông cưỡng bức thì quá trình thay lông diễn ra mạnh hơn, thời gian thay lông nhanh hơn, nhưng sản lượng trứng sau khi thay lông lại thấp hơn so với phương pháp cổ ñiển Herremans và CS (1988)[57], Keshavarz và Quimby (2002)[61] cho biết, sử dụng hormone thyroxine cũng có hiệu quả tốt ñể gây thay lông cưỡng bức trên gà mái ñẻ
Mặc dù các thí nghiệm sử dụng hormone ñể gây thay lông cưỡng bức trên gà mái ñẻ ñã thu ñược kết quả tốt, song các tác giả ñều thống nhất rằng, sử dụng hormone không ñược ñánh giá là một phương pháp khả thi trong chăn nuôi gia cầm
Trang 27(Herremans và CS, 1988; Keshavarz và Quimby, 2002; Gulde và CS, 2010)[57][61][51] Theo các tác giả, khi sử dụng hormone ñể gây thay lông cưỡng bức, năng suất trứng sau khi thay lông của gà mái không ổn ñịnh mà biến ñộng khá lớn Hơn nữa, phương pháp này cần kỹ thuật cao với chuyên môn sâu khi thao tác nên chi phí cũng cao hơn ðiều này ñã không mang lại hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gia cầm, vì thế phương pháp này hầu như không ñược sử dụng trong thực tế sản xuất
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Nghiên cứu vấn ñề cưỡng bức gây thay lông ñồng loạt trên gia cầm ở nước ta cũng ñã ñược biết ñến từ lâu Tuy nhiên vấn ñề này ñược ứng dụng nhiều hơn trong chăn nuôi các loài thủy cầm sinh sản; bởi lẽ các loài thủy cầm như vịt, ngan, ngỗng thường ñược sử dụng với thời gian dài hơn Trước ñây, vịt và ngan sinh sản thường ñược sử dụng từ 2 – 3 năm, ngỗng thường ñược sử dụng từ 4 – 5 năm Người chăn nuôi thường áp dụng phương pháp gây thay lông cổ ñiển trên các ñàn thủy cầm sinh sản vào cuối mỗi chu kỳ ñẻ trứng Trong những năm gần ñây, thời gian sử dụng các ñàn gia cầm sinh sản ñã rút ngắn lại (thường là một năm, thậm chí là chưa ñến một năm) nên vấn ñề thay lông cưỡng bức cũng ít ñược quan tâm nghiên cứu, nhất là trên gà Bởi vì, khi ñàn gà có hiện tượng thay lông thì cũng vào cuối chu kỳ khai thác và chuẩn bị loại thải Chính vì vậy, các nghiên cứu về thay lông cưỡng bức ở gia cầm nói chung và trên gà nói riêng là không nhiều Nghiên cứu ảnh hưởng của cưỡng bức thay lông ñồng loạt ñến một số tính trạng sau thay lông trên ngan của Hoàng Văn Tiệu (2003)[8] cho kết quả rất khả quan ðối tượng nghiên cứu là hai dòng ngan Muscovy (M) và Domiaty (D) Mỗi dòng ngan ñược chia thành các lô gồm lô ñối chứng (ðC), Lô nhịn ñói (F), lô sử dụng 0,2% kẽm dưới dạng oxyt (Zn),
lô sử dụng 0,35% muối sulfat nhôm (Al) và lô sử dụng 20mg thuốc Tarmoxifen trên 1kg khối lượng sống trong 12 ngày (T)
Kết quả cho thấy, sử dụng phương pháp gây thay lông cưỡng bức ở lô F và lô
T, ngan ngừng ñẻ trứng hoàn toàn sớm hơn các lô khác Trên dòng ngan M, lô F ñẻ trứng trở lại sớm nhất; lô Zn có thời gian ñạt tỷ lệ ñẻ 50% sớm nhất và lô Al ñạt
Trang 28ñỉnh cao tỷ lệ ñẻ sớm nhất Trên dòng D, các chỉ tiêu ñều ñạt sớm nhất ở lô T
Tác giả cho biết, các phương pháp gây thay lông cưỡng bức sử dụng trong thí nghiệm ñã cải thiện rõ rệt tỷ lệ ñẻ và năng suất trứng của một ngan mái (P< 0,01) Lô T và lô F có năng suất trứng cao nhất Khối lượng trứng của ngan sau khi ñược thay lông cưỡng bức cũng cao hơn
Dòng D có chỉ số chuyển hóa thức ăn ñể sản xuất trứng (g thức ăn/g trứng) tốt hơn dòng M So với lô ñối chứng, tất cả các lô ñược thay lông cưỡng bức ñều có chỉ số chuyển hóa thức ăn ñể sản xuất trứng thấp hơn Trong các lô thí nghiệm, lô T
có chỉ số chuyển hóa thức ăn ñể sản xuất trứng thấp nhất Trong 24 tuần ñẻ trứng sau thay lông,tỷ lệ nuôi sống ñạt 100% ở các lô F, Zn và T ở dòng D và lô F của dòng M
Nguyễn Thị Mai và CS (1986)[4], nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc kích thích gây thay lông ñồng loạt TL1 trên gà ñẻ trứng thương phẩm giống Leghorn ñã cho biết, sử dụng thuốc kích thích gây thay lông TL1 ñã làm ñàn gà ngừng ñẻ hoàn toàn và thay lông ñồng loạt
Cơ sở khoa học của biện pháp này là ñưa vào khẩu phần ăn một hỗn hợp khoáng gồm ñồng (Cu), kẽm (Zn), Mangan (Mn) và I ôt (I) với hàm lượng cao, nhưng chưa ñến mức ñộc ñối với cơ thể gà Tác ñộng hiệp ñồng cũng như tác ñộng riêng biệt của từng nguyên tố khoáng, sẽ gây ra một streess thức ăn ñủ mạnh ñối với
gà mái ñẻ Chính ñiều ñó sẽ tác ñộng ñến trạng thái sinh lý của cơ thể gà, làm ñàn
gà ngừng ñẻ trứng, ñồng thời xúc tiến quá trình rụng lông, gây nghỉ ñẻ và thay lông ñồng loạt
Tác giả cho biết, sau bốn ngày sử dụng thuốc, ñến ngày thứ năm, tỷ lệ ñẻ giảm xuống bằng 0% Sau ba ngày nghỉ ñẻ hoàn toàn, bắt ñầu xuất hiện sự thay lông, ngày thứ năm, sự thay lông diễn ra mạnh mẽ, sau hai tuần, toàn bộ ñàn gà thí nghiệm ñã thay lông xong Kết quả thí nghiệm còn cho biết, thuốc gây thay lông cưỡng bức TL1 ñã có tác ñộng rõ rệt ñến lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của ñàn
gà Sau bốn ngày dùng thuốc, lượng thức ăn thu nhận từ 91,68 gam/con/ngày ñã giảm xuống chỉ còn 8,30 gam/con/ngày Khối lượng gà sau bốn ngày sử dụng thuốc
ñã giảm 14,43% Tỷ lệ ñẻ trung bình trong 16 tuần ñẻ trứng sau thay lông là
Trang 2953,06%, cao hơn lô ñối chứng 10% Sử dụng thuốc gây thay lông TL1 ñã mang lại hiệu quả tốt, tăng sản lượng trứng lên 17,7%, giảm tiêu tốn và chi phí thức ăn ñể sản xuất trứng so với lô ñối chứng
Trong những năm gần ñây, nhất là sau ñại dịch cúm gia cầm, vấn ñề thay lông cưỡng bức trên các ñàn gà sinh sản lại ñược các nhà chăn nuôi quan tâm Người ta sử dụng các phương pháp thay lông cưỡng bức, không chỉ là một biện pháp kỹ thuật ñể kéo dài thời gian sử dụng và nâng cao năng suất sinh sản của gia cầm, mà còn một giải pháp tình thế ñể nâng cao hiệu quả chăn nuôi
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Thay lông cưỡng bức ñã ñược áp dụng ở nhiều nơi trên thế giới, như một phương pháp ñể phục hồi và tái tạo sức sản xuất của gà mái ñẻ nhằm kéo dài thời gian sử dụng chúng (Bell, 2003)[20] Chính vì vậy, có rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu vấn ñề này trong chăn nuôi gia cầm Cho ñến nay, rất nhiều công trình nghiên cứu về thay lông cưỡng bức trên gà ñã ñược công bố Các nghiên cứu vẫn ñang ñược tiếp tục, nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của các phương pháp gây thay lông cưỡng bức hiện ñang ñược sử dụng, ñồng thời thay thế những phương pháp ñược coi là không phù hợp
Theo Wilson và CS (1969), Swanson và Bell (1971, 1974b,c Baker và Brake (1981) )(Dẫn theo Berry,2003)[24], sử dụng phương pháp gây thay lông cổ ñiển kết hợp với sự thay ñổi thời gian chiếu sáng sẽ làm ngừng quá trình ñẻ trứng của gà mái Tuy nhiên, kết quả thu ñược phụ thuộc vào thời gian cho nhịn ăn và sự giảm thời gian chiếu sáng Bình thường, ñàn gà nhịn ăn tới 10 ngày sẽ ñẻ quả trứng ñầu tiên trong vòng 5 tuần và ñạt tỷ lệ ñẻ 50% sau khoảng 8 tuần tính từ khi bắt ñầu cho nhịn ñói
Lanson và Smyth (1955), Brake và Thaxton (1982)(Dẫn theo Berry,2003) [24], cho biết, giảm thời gian chiếu sáng trong quá thay lông có tác dụng ñẩy nhanh quá trình thay lông và giảm tỉ lệ chết trong quá trình thay lông Hạn chế nước uống
ñể làm gia tăng tác dụng của nhịn ăn cũng ñược ñề xuất sử dụng trong kỹ thuật gây thay lông cưỡng bức (Swanson và Bell, 1974b) Swanson và CS (1978) )(Dẫn theo Berry,2003)[24], cho biết, việc hạn chế nước uống trong thời gian kích thích gây
Trang 30thay lông ñã làm tăng khối lượng trứng sau thay lông Tuy nhiên, Palafox (1976), Brake và Carey (1983) (Dẫn theo Berry,2003)[24], lại không ñồng tình với nhận ñịnh này, các tác giả cho rằng, không nên khuyến cáo việc hạn chế nước uống trong thời gian gây thay lông, bởi vì sẽ làm tăng tỉ lệ chết
Theo Wakeling (1977)[113], sử dụng thức ăn có hàm lượng natri thấp ñể gây thay lông cưỡng bức trên gà mái ñẻ cũng ñược nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Gà mái trong giai ñoạn tiền ñẻ trứng ñược ăn thức ăn có hàm lượng natri thấp ñã gây
ức chế khả năng ñẻ trứng Whitehead và Shannon (1974)[115] cho biết, sử dụng thức ăn có 0,038% natri cho gà mái ñẻ ñã làm tỷ lệ ñẻ giảm từ 50 ñến 0% trong vòng bốn tuần trên ñàn gà 70 tuần tuổi Gà ñẻ ăn thức ăn không bổ sung natri trong vòng 28 ngày giảm sức ñẻ trứng từ 74% ñến dưới 10% trong bốn tuần (Dilworth và Day, 1976)[40] Nesbeth và CS (1976a,b)[89][90] công bố, sử dụng thức ăn có 0,017% natri trên gà mái ñẻ 11 tháng tuổi, ñã làm ngừng ñẻ trứng hoàn toàn trong vòng 21 ngày Song, trong một thí nghiệm tương tự, tỷ lệ ñẻ trứng chỉ giảm xuống 12% Naber và CS (1984)[87] cũng cho biết, sử dụng khẩu phần ăn có hàm lượng natri thấp, gà mái ngừng ñẻ trứng hoàn toàn trong vòng 15 ngày Tác giả cho biết, cần phải kiểm tra chặt chẽ hàm lượng natri của từng nguyên liệu thức ăn trước khi
bổ sung vào khẩu phần Ros và Herrick (1981)[98] ñã phối hợp khẩu phần với mức 0,044% natri, nhưng thực tế khi phân tích, kết quả là 0,13% natri
Whitehead và Shannon (1974)[115] cho biết, kết quả gây thay lông cưỡng bức trên gà mái ñẻ bằng phương pháp cho ăn khẩu phần có hàm lượng natri thấp Các tác giả cho biết, cho gà ăn thức ăn có hàm lượng natri thấp trong 7 tuần, sau ñó ñược ăn trở lại thức ăn bình thường Gà sẽ ñạt tỷ lệ ñẻ 50% sau khoảng sáu tuần tính từ khi ngừng cho ăn thức ăn có hàm lượng natri thấp Theo Nesbethet và CS (1976a,b)[89][90], gà mái ñẻ sẽ ngừng ñẻ trứng hoàn toàn sau 23 ngày ăn khẩu phần có hàm lượng natri thấp Chúng bắt ñầu ñẻ lại ở ngày thứ 17, sau khi ngừng cho ăn thức ăn thí nghiệm Gà mái ñược gây thay lông cưỡng bức, bằng khẩu phần
có hàm lượng natri thấp, ñã ñạt tỷ lệ ñẻ 50% sau hai tuần ñược ăn trở lại khẩu phần
ăn bình thường (Ross và Herrick,1981)[98]
Mặc dù ñã ñạt ñược một số kết quả, song các tác giả cũng cho rằng, sử dụng
Trang 31khẩu phần ăn có hàm lượng natri thấp ñể gây thay lông cưỡng bức trên gà mái ñẻ ñã không mang lại hiệu quả tốt
Arrington và CS (1967)[12] cho biết kết quả sử dụng thức ăn thí nghiệm có hàm lượng I ốt cao ñể gây thay lông cưỡng bức trên gà mái ñẻ Các tác gải cho biết,
sử dụng thức ăn thí nghiệm trong thời gian 28 ngày, gà ñạt tỷ lệ ñẻ 50% trong vòng
10 ngày sau khi ngừng cho ăn thức ăn thí nghiệm
Nghiên cứu phương pháp gây thay lông bằng khẩu phần có hàm lượng Ca thấp,các tác giả cho biết, thời gian sử dụng khẩu phần có mức Ca thấp khác nhau, thì khả năng tăng tỷ lệ ñẻ sau khi gây thay lông cũng khác nhau Theo Wakeling (1977)[113], gà ñược ăn khẩu phần có 0,09 % Ca trong vòng 10 ngày sẽ ñạt tỷ lệ ñẻ
50 % sau bốn tuần Gà mái ñẻ ăn khẩu phần có 0,09% Ca trong 14 ngày sẽ ñạt tỷ lệ
ñẻ 50% sau tám tuần tính từ khi bắt ñầu gây thay lông (Douglas và CS, 1972)[42] Gilbert và Blair (1975)[49] công bố rằng, gà mái ñẻ bị thay lông cưỡng bức bằng khẩu phần có 0.05% Ca trong sáu tuần, sẽ ñạt tỷ lệ ñẻ 50% sau tám tuần tính từ khi bắt ñầu cho gà ăn khẩu phần gây thay lông cưỡng bức
Khi kết hợp liều thấp Ca và Zn (2.800 ppm) gây thay lông cưỡng bức giống như khi bổ sung 20.000 ppm Zn (Breeding và CS, 1992)[29]
Hiệu quả của việc sử dụng khẩu phần có hàm lượng canxi thấp, trên gà mái
ñể ngừng ñẻ trứng có sự khác nhau khá lớn giữa các kết quả nghiên cứu Martin và
CS (1973)[77] cho rằng khẩu phần 0,3% canxi có thể ngừng ñẻ trứng hoàn toàn trong vòng 14 ngày với gà mái ñẻ Leghorn 69 tuần tuổi Gilbert và Blair (1975)[49] nhận thấy, khẩu phần 0,05% canxi ñã làm tỷ lệ ñẻ xuống dưới 5% vào khoảng 35 ngày với gà 32 tuần tuổi Theo Douglas và CS (1972)[42], sử dụng khẩu phần có mức canxi là 0,09%, ñã giảm tỷ lệ ñẻ từ 55 xuống 4% ở 14 ngày với gà 10 tháng tuổi và giảm tỷ lệ ñẻ từ 70 xuống 2% ở 42 ngày trên gà 6 tháng tuổi Tuy nhiên, sau
ba ngày ăn khẩu phần Ca thấp, rất nhiều gà bị bại liệt
Theo Douglas và CS (1972)[42], Wakeling (1978) (dẫn theo Berry, 2003)[24], sử dụng khẩu phần Ca thấp ñể gây thay lông cưỡng bức, tỉ lệ chết cao hơn so với gà không thay lông Thay lông bằng khẩu phần natri thấp ñã không ảnh hướng ñến tỉ lệ sống của ñàn gà (Whitehead và Shannon, 1974; Wakeling, 1977)[115][113]
Trang 32Thời kỳ thay lông và phục hổi sau khi sử dụng Zn khác nhau giữa các tác giả
và qui trình kỹ thuật gây thay lông cưỡng bức Scott và Creger (1976)[100], Berry (2003)[24] cho biết mối quan hệ giữa thời gian sử dụng thức ăn có hàm lượng kẽm cao với thời gian bắt ñầu ñẻ trở lại của gà thí nghiệm Các tác giả cho biết, gà mái ñược ăn khẩu phần có hàm lượng Zn cao trong bẩy ngày, bắt ñầu ñẻ lại sau một tuần, tính từ khi bắt ñầu cho ăn trở lại khẩu phần bình thường Gà mái ñẻ ăn khẩu phần Zn cao trong 12 ngày, phục hồi khả năng ñẻ trứng sau 25 ngày, từ khi ñược cho ăn trở lại khẩu phần bình thường Theo Shippee và CS (1979)[102], gà mái ñẻ
bị cho thay lông cưỡng bức bằng khẩu phần Zn liều cao sẽ bắt ñầu ñẻ lại sau hai tuần tính từ khi ngừng cho ăn khảu phần thí nghiệm và ñạt tỷ lệ ñể 50% sau 5 tuần
từ khi bắt ñầu gây thay lông cưỡng bức Yousaf và CS (2008)[119], sử dụng phương pháp gây thay lông bằng Zn liều cao cho biết, gà sẽ trở lại ñỉnh cao tỷ lệ ñẻ trong 5 tuần Trong thí nghiệm của Berry (2003)[24], gà trống giống sẽ tiếp tục sản xuất tinh dịch trong 5 tuần sau khi gây thay lông Mức ñộ co lại lớn nhất của cơ quan sinh dục là yếu tố cơ bản quyết ñịnh sức sản xuất tối ưu sau thay lông Sự biến ñộng về mức ñộ giảm khối lượng cơ thể, liên quan tới sự khác biệt về mức ñộ co lại của cơ quan sinh dục
Theo Khan và CS (2011)[62], sử dụng Zn ñã ñược công nhận như một tác nhân hiệu quả ñể làm ngừng quá trình ñẻ trứng trên gà mái ñẻ Khi bổ sung ở mức
từ 10.000 – 20.000 ppm sẽ làm ngừng ñẻ trứng hoàn toàn trong vòng 5 ñến 6 ngày (Shippee và CS, 1979; Berry và Brake, 1987)[102] Yousaf và CS (2008)[119] gây thay lông cưỡng bức bằng liều 30.000 ppm Zn, thấy có ảnh hưởng rất lớn ñến lượng thức ăn thu nhận Chỉ sau một ngày, lượng thức ăn thu nhận ñã giảm xuống còn 35 g/gà/ngày
McCormick và Cunningham (1987)[81], nghiên cứu sử dụng liều cao kẽm (Zn) bổ sung vào khẩu phần cho gà ñẻ như một biện pháp thay thế cho phương pháp nhịn ăn Thí nghiệm tiến hành trên 6168 gà trắng Hyline ở 79 tuần tuổi Gà ñược phân lô ngẫu nhiên với khẩu phần sử dụng kẽm liều cao và phương pháp cổ ñiển Với phương pháp sử dụng kẽm, gà mái ñẻ ñược ăn khẩu phần dành cho gà ñẻ với 20.000 ppm kẽm trong 10 ngày Thời gian chiếu sáng giảm xuống 12 giờ mỗi ngày
Trang 33trong thời gian gây thay lông cưỡng bức Với phương pháp cổ ñiển, gà cho nhịn ăn liên tục trong mười bốn ngày, nước ñược cung cấp tự do và thời gian chiếu sáng giảm xuống 12giờ mỗi ngày Sau ñó, gà ñược sử dụng lại thức ăn và chế ñộ chiếu sáng bình thường cho gà ñẻ Kết quả cho biết, khối lượng gà mái ñẻ giảm 15 và 20% tương ứng với phương pháp sử dụng kẽm và phương pháp cổ ñiển ở ngày thứ
11 của thí nghiệm Phương pháp cổ ñiển làm tỷ lệ ñẻ của ñàn gà giảm xuống bằng không ở ngày thứ 7, thời gian nghỉ ñẻ hoàn toàn ñến ngày 16 của thí nghiệm, tỉ lệ chết là 0.032% Gà sử dụng thức ăn bổ sung liều cao kẽm, tỷ lệ ñẻ của ñàn gà giảm xuống bằng không ở ngày thứ 8, thời gian nghỉ ñẻ hoàn toàn ñến ngày 29 của thí nghiệm, tỉ lệ chết là 0.057% Không có sự khác biệt về sức sản xuất sau khi thay lông, khối lượng trứng, thức ăn thu nhận, hiệu quả sử dụng thức ăn và thành phần
Zn trong trứng giữa hai phương pháp Các kết quả này khẳng ñịnh rằng phương pháp bổ sung Zn ñem lại hiệu quả tương tự như phương pháp cổ ñiển
Deek và Harthi (2004)[36] thí nghiệm trên gà mái ñẻ giống thịt Hubbard ñược sử dụng các phương pháp gây thay lông cưỡng bức là hạn chế thức ăn và nước uống; sử dụng 20.000 ppm kẽm; sử dụng 30.000 ppm kẽm và phương pháp cổ ñiển Kết quả cho biết, trong giai ñoạn thí nghiệm thứ nhất (1 – 14 ngày ), sử dụng 3,0% Zn và phương pháp cổ ñiển làm giảm khối lượng cơ thể tương ứng là 21,0 và 21,40%, giảm nhiều hơn hai phương pháp còn lại (16 – 18%), sự khác nhau là có ý nghĩa thống kê với P < 0.05 Phương pháp bổ sung Zn ñã làm giảm ñáng kể lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của gà thí nghiệm Trong giai ñoạn thứ hai của thí nghiệm (15 – 32 ngày), khối lượng cơ thể gà tiếp tục giảm thêm 6,4% với lô gà sử dụng 2,0% kẽm; giảm 2,.5 % với phương pháp hạn chế thức ăn và giảm thêm 4,3% với lô sử dụng 3,0% kẽm Riêng lô sử dụng phương pháp cổ ñiển, khối lượng cơ thể
gà ñã tăng lên 14.5% Trong giai ñoạn thí nghiệm thứ ba, khối lượng cơ thể gà ñều tăng lên với tất các các phương pháp, tăng cao nhất là với phương pháp nhịn ñói Không có sự khác biệt giữa các phương pháp về khối lượng buồng trứng Tuy nhiên, buồng trứng của lô gà sử dụng 3,0% kẽm có khối lượng cao nhất (3.53 g/1000 g khối lượng cơ thể)
Trang 34Nghiên cứu mối quan hệ giữa sức ñẻ trứng sau khi thay lông và sự co lại của
cơ quan sinh sản ở gà mái ñẻ, Baker và CS (1981a,b)[15][16] cho rằng, sức ñẻ trứng
của gà sau thay lông phụ thuộc vào sự co lại của cơ quan sinh sản Sự khác biệt về
tỷ lệ giảm khối lượng cơ thể trong thời gian gây thay lông, có ảnh hưởng ñến mức
ñộ co lại khác nhau của cơ quan sinh sản ở gà ðiều này ñược cho là nguyên nhân dẫn tới sự khác nhau giữa các kết quả nghiên cứu cho dù cùng áp dụng các phương pháp gây thay lông giống nhau Theo Kreuger và CS (1977)[70], mức ñộ thay các lông cánh, ñược coi là thước ño mức ñộ co lại của cơ quan sinh sản ở gà mái ñẻ trong thời gian thay lông
Hansen (1960)[52], Len và CS (1964)[74] cho biết, trong phương pháp thay lông cổ ñiển, có mối quan hệ giữa sự cải thiện chất lượng trứng cũng như sức sản xuất trứng sau khi thay lông với ñộ dài của thời gian nghỉ ñẻ Mức ñộ cải thiện sức sản xuất của gà sau thay lông tăng lên khi thời gian ngừng sản xuất trứng kéo dài Baker (1981)(dẫn theo Berry, 2003)[24], Baker và CS (1981a,b)[15][16] cho rằng,
sự cải thiện sức ñẻ trứng của gà cũng tăng lên khi khối lượng cơ thể của gà giảm tới mức 31% so với khối lượng ban ñâu Gà có khối lượng cơ thể giảm nhiều nhất cho chất lượng vỏ trứng tốt nhất và sức sản xuất trứng cao nhất sau khi thay lông Giảm khối lượng cơ thể gà vượt quá 35% có thể gây ảnh hưởng bất lợi ñến tuổi sản xuất của ñàn gà Mặc dù sức sản xuất trứng của gà sau khi thay lông tăng lên khi khối lượng cơ thể giảm hơn 30%, song thời gian phuc hồi khả năng ñẻ trứng bị kéo dài
ra, do ñó làm giảm ñi số lượng trứng ñàn gà sản xuất trong một vòng ñời, dẫn ñến giảm hiệu quả kinh tế
Theo Yardimci và Bayram (2008)[117], giống gà có ảnh hưởng rất lớn ñến sản lượng trứng của kỳ ñẻ thứ hai sau khi gây thay lông cưỡng bức
Venkata và CS (2008)[110], sử dụng 2.500 ppm kẽm và phương pháp cổ ñiển ñể gây thay lông cưỡng bức trên gà Cornish và gà Plymoth ở 60 tuần tuổi Kết quả cho biết, tỷ lệ hao hụt khối lượng cơ thể từ 21,00 – 24,90% (phương pháp cổ ñiển) và 16,00 – 21,74% (sử dụng kẽm) Tỷ lệ ñẻ cao hơn ñối chứng 11,85 – 14,20% ðộ dày vỏ trứng và ñơn vị haught ñều cao hơn so với lô không thay lông
Trang 35Theo Muostafa và CS (2010)[86], nghiên cứu phương pháp thay lông cổ ñiển trên ñàn gà giống bố mẹ hướng thịt (Cobb – 500) cho biết, sau 13 ngày nhịn ñói, khối lượng cơ thể hao hụt 25,20% Thời gian tỷ lệ ñẻ giảm xuống bằng 0% từ 6 – 9 ngày; thời gian nghỉ ñẻ hoàn toàn là bốn tuần Tỷ lệ ñẻ trung bình 17 tuần sau thay lông là 53,3%
Aygun Ali và Olgun Osman (2010)[14] ñã nghiên cứu sử dụng phương pháp thay lông cổ ñiển và phương pháp sử dụng bột cỏ Alfalfa với tỷ lệ khác nhau (100 –
75 – 25% bột cỏ alfalfa trong khẩu phần) ñể gây thay lông cưỡng bức trên gà mái
ñẻ Các tác giả cho biết, sử dụng bột cỏ alfalfa với tỷ lệ khác nhau ñã có tác dụng gây thay lông cưỡng bức trên gà mái ñẻ Kết quả cho thấy, không có sự khác nhau
về tỷ lệ ñẻ và khối lượng trứng sau thay lông ở các lô thí nghiệm Riêng lô sử dụng phương pháp gay thay lông cổ ñiển, có tỷ lệ hao hụt khối lượng cơ thể cao hơn
Kết quả nghiên cứu của Natasha và CS (2012)[88], trên gà ISA Brown ở 88 tuần tuổi và gà Hisex Brown ở 91 tuần tuổi cho biết, gà ñẻ lại quả trứng ñầu tiên ở ngày thứ 12, sau thay lông Kỳ ñẻ trứng thứ hai bắt ñầu ở tuần thứ 5 sau khi kết thúc giai ñoạn nhịn ñói Các tác giả còn cho biết, khi giá trứng trên thị trường giảm thấp, chi phí sản xuất cao thì thay lông cưỡng bức sẽ mang lại hiệu quả kinh tế Tiêu tốn thức ăn ñể sản xuất trứng của kỳ ñẻ thứ hai sẽ cao hơn 10% so với kỳ ñẻ thứ nhất, nhưng khối lượng trứng lại cao hơn
Như vậy, trên thế giới, vấn ñề thay lông cưỡng bức ñể kéo dài thời gian sử dụng ñàn gà mái ñẻ vẫn ñang ñược nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Nhiều phương pháp gây thay lông cưỡng bức mới ñã ñược nghiên cứu sử dụng thay thế cho phương pháp thay lông cổ ñiển ðặc biệt, các phương pháp sử dụng kẽm và hỗn hợp khoáng ñang ñược coi là có hiệu quả gây thay lông cưỡng bức tương ñương với phương pháp thay lông cổ ñiển; thậm chí, còn có những chỉ tiêu tốt hơn
Trang 363 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ðối tượng, ñịa ñiểm và thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu trên ñàn gà mái giống bố mẹ ISA-JA 57 nuôi trên lồng từ 54 tuần tuổi
- TL2: thuốc kích thích gây thay lông cưỡng bức
- ðịa ñiểm: Tiến hành tại xí nghiệp gà giống lạc Vệ Bắc Ninh
Thời gian nghiên cứu từ 10 - 2011 ñến 6 - 2012
3.2 Nội dung nghiên cứu
ðể ñạt ñược mục ñích ñề ra chúng tôi tiến hành nghiên cứu 5 nội dung:
3.2.1 Xác ñịnh ảnh hưởng của phương pháp thay lông cổ ñiển và sử dụng thuốc kích thích TL2 ñến khối lượng cơ thể, thời gian ngừng ñẻ trứng và bắt ñầu ñẻ lại của gà mái giống bố mẹ ISA-JA57
3.2.2 Mức ñộ giảm lượng thức ăn thu nhận của ñàn gà thí nghiệm trong thời gian sử dụng thuốc kích thích TL2
3.2.3 Tác ñộng của việc gây thay lông cưỡng bức ñến tỷ lệ ñẻ và năng suất trứng của gà thí nghiệm
3.2.4 Lượng thức ăn thu nhận và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà thí nghiệm sau khi nghỉ ñẻ thay lông
3.2.5 Khả năng ấp nở của trứng gà thí nghiệm sau khi nghỉ ñẻ thay lông
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp phân lô so sánh theo mô hình bố trí thí nghiệm một nhân tố Thí nghiệm ñược trình bầy theo sơ ñồ bố trí thí nghiệm
3.3.1 Sơ ñồ bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm trên ñàn gà mái giống bố mẹ ISA-JA57 Tổng số gà thí nghiệm
là 300 con ở 55 tuần tuổi Chia ñàn gà thí nghiệm làm 3 lô, mỗi lô 100 con chia làm
5 nhóm Các lô thí nghiệm chỉ khác nhau về phương pháp thay lông cưỡng bức, các yếu tố khác ñảm bảo ñồng ñều giữa các lô thí nghiệm
Gà thí nghiệm ñươc nuôi trên lồng, mỗi lồng 2 mái, thụ tinh nhân tạo Chế
ñộ chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh thú y ñối với gà thí nghiệm theo ñúng qui trình nuôi gà giống bố mẹ hướng thịt giai ñoạn sinh sản của xí nghiệp gà giống Lạc Vệ
Trang 37- Công thức thuốc TL2: Cu: 700 ppm; Mn: 500 ppm, Zn: 15.000 ppm; I: 150 ppm
3.3.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu
- Khối lượng gà trong quá trình thay lông
Trong thời gian gây thay lông cưỡng bức, chúng tôi tiến hành cân khối lượng gà ở ngày thắ nghiệm 1, 3, 7 và 10 Sau 10 ngày thắ nghiệm chúng tôi cân khối lượng gà theo tuần tuổi Hàng tuần vào một ngày, giờ nhất ựịnh, trước khi cho ăn, cân toàn bộ số gà trong mỗi lô thắ nghiệm Cân từng con một, cân bằng cân có ựộ chắnh xác ổ5g
- Lượng thức ăn thu nhận
Hàng ngày, vào một giờ nhất ựịnh, cân chắnh xác lượng thức ăn cho gà ăn đúng giờ ựó ngày hôm sau, vét sạch lượng thức ăn còn thừa trong máng ựem cân lại Lượng thức ăn thu nhận (LTATN) hàng ngày ựược tắnh theo công thức 1
Lượng thức ăn cho ăn(g)- Lượng thức ăn thừa(g) (1) LTATN
(g/con/ngày) = Số gà trong lô (con)
Công thức này chỉ ấp dụng trong thời gian cho gà ăn tự do Khi bắt ựầu ăn hạn chế, lượng thức ăn sẽ ựược cho ăn theo ựịnh mức nên không có thức ăn thừa
- Hiệu quả sử dụng thức ăn(HQSDTA)
Trong giai ựoạn ựẻ trứng, hiệu quả sử dụng ăn ựược tắnh bằng tiêu tốn thức
Trang 38ăn ñể sản xuất 10 quả trứng và 10 quả trứng giống Hiệu quả sử dụng thức ăn trong giai ñoạn ñẻ trứng ñược tính theo công thức (2) và (3):
Lượng thức ăn thu nhận (kg) HQSDTA
Xác ñịnh bằng tỷ lệ nuôi sống qua các giai ñoạn Hàng ngày ñếm chính xác
số gà chết của mỗi lô thí nghiệm Tỷ lệ nuôi sống ñược tính theo công thức (4)
Số gà nuôi sống ñến cuối kì (con)
Tổng số trứng ñẻ ra trong tuần (quả) Năng suất trứng
(quả/mái/tuần) = Số gà trung bình trong tuần (con) (6)
- Tỷ lệ trứng giống
Hàng ngày ñếm chính xác số lượng trứng ñược chọn làm giống, tỷ lệ trứng
Trang 39giống ñược tính theo công thức (7):
Số trứng giống thu ñược trong tuần (quả)
Tỷ lệ trứng giống (%) =
Số trứng thu ñược trong tuần (quả) x 100 (7)
- Tỷ lệ trứng có phôi
Soi trứng vào ngày thứ 6, ñếm chính xác số lượng trứng có phôi Tỷ lệ trứng
có phôi ñược tính bằng công thức (8):
ðếm chính xác số gà con loại 1 của mỗi lô thí nghiệm Tỷ lệ gà con loại I
ñược xác ñịnh theo hai công thức (11), (12)
Số gà con loại I (con)
Tỷ lệ gà con loại I (%) =
Số trứng ñem vào ấp (quả) x 100 (11)
Số gà con loại I (con)
Tỷ lệ gà con loại I (%) =
Số gà con nở ra (con) x 100 (12)
Trang 40- Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng
- Khối lượng trứng: Cân trứng qua các tuần tuổi Mỗi tuần cân ba ngày liên tiếp Cân từng quả một, cân bằng cân ủiện tử có độ chính xác ± 0,01 gam
- Phương pháp giải phẫu trứng: Theo Bựi Hữu ðoàn và CS (2011)[2], Mỗi lụ tiến hành giải phẫu 50 quả Trứng được lấy mẫu trung bình khối lượng X ±± δδδ. Trứng không để quá 48h kể từ khi đẻ ra
- Độ dày vỏ trứng: Đo bằng thước Palme ủiện tử với độ chính xác ± 0,01mm
đo tại 3 vị trí: Đầu lớn, đầu nhỏ và xích đạo (trung tâm)
- Chỉ số hỡnh thỏi trứng (CSHT) : chỉ số hỡnh thỏi trứng ủược tớnh theo cụng
thức 13 :
D CSHT =