Các rạn san hô cùng với rừng ngập mặn và thảm cỏ biển là các môi trường sống quan trọng vùng biển ven bờ Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong nguồn dự trữ đa dạng sinh học, cho các ng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA ĐỊA CHẤT CHUYÊN NGÀNH ĐỊA CHẤT MÔI TRƯỜNG
trong hệ sinh thái rạn san hô và nguy cơ gây suy thoái
hệ sinh thái từ phía con người.
Giảng viên hướng dẫn : T.S Nguyễn Thọ
Nhóm: 2 Sinh viên thực hiện :
Trang 2Nhận xét
Trang 3
MỤC LỤC
I Giới thiệu:
1 Bối cảnh 1
2 Lý do chọn đề tài 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
II Nội dung: 1 Giới thiệu .2
a San hô 2
b Hệ sinh thái san hô 3
c Các thành phần trong hệ sinh thái rạn san hô 4
2 Đặc điểm: .5
a Đặc điểm hệ sinh thái 5
b Đặc điểm các thành phần 9
c Tương tác giữa các thành phần 14
d Lợi ích về mặt sinh thái của san hô 18
e Hoạt động của con người 22
f Hướng khắc phục và đề xuất 23
3 Rạn san hô ở Việt Nam 23
III Kết luận và kiến nghị 29
Tài liệu tham khảo 30
Trang 4đa dạng sinh học và nguồn gen, nơi ươm nuôi của nhiều đối tượng sinh vật, bảo vệ vùng bờ và là môi trường thuận lợi cho sự phát triển ngành du lịch biển Hiện nay hệ sinh thái san hô đã và đang được khai thác và sử dụng với nhiều hình thức khác nhau nhằm đáp ứng các nhu cầu thực phẩm và phát triển kinh tế vùng ven bờ Tuy nhiên quá trình khai thác, sinh hoạt và hoạt động kinh tế của con người cùng với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đang gây áp lực nặng nề lên hệ sinh thái này, gây suy thoái nghiêm trọng Trước thực trạng áp lực khai thác ngày càng tăng, tài nguyên sinh vật và các hệ sinh thái biển bị suy giảm nghiêm trọng, nhiều quốc gia đang tích cực tìm kiếm những giải pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu tới mức thấp nhất các tác động và sử dụng hợp lí tài nguyên theo hướng bền vững, trong đó vấn đề sử dụng hợp lí tài nguyên và thiết lập các khu bảo tồn biển (Marine Protected Areas) đang ngày trở nên cấp thiết
Việt Nam có hơn 3200 km đường bờ và đảo, nằm trong vùng Biển Đông và vịnh Thái Lan, và là nơi có đa dạng sinh học đối với các quốc gia láng giềng trong trung tâm đa dạng sinh học toàn cầu Các rạn san hô cùng với rừng ngập mặn và thảm cỏ biển là các môi trường sống quan trọng vùng biển ven bờ Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong nguồn dự trữ đa dạng sinh học, cho các ngành thuỷ sản và sự phát triển du lịch ở các vùng ven biển Cũng như hầu hết các quốc gia trong khu vực, sự gia tăng các các mối đe doạ do con người lên sự cân bằng sinh thái của nhiều khu vực ven biển với một vài nơi đã có sự suy thoái rõ rệt do khai thác quá mức, khai thác huỷ diệt, đô thị hoá, phát triển du lịch và ô nhiễm Mức độ gia tăng các mối đe doạ và tác động mang tính địa phương, quốc gia, khu vực và toàn cầu, và điều này đã trở thành những vấn đề quan tâm của các cấp chính quyền, các tổ chức chính phủ quốc gia với những hậu quả xa hơn về mặt môi trường và kinh tế- xã hội Mặc dù môi trường vùng biển ven bờ Việt Nam quan trọng như vậy nhưng vẫn chưua nhận được sự quản lí đúng mức Nhân thức được thực trạng ấy, Chính phủ Việt Nam với sự hỗ trợ của các tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới như IUCN, WWF đã và đang cố gắng phối hợp xây dựng các chương trình hành động nhằm bảo vệ đa dạng sinh học, khai thách
và sử dụng tài nguyên biển theo hướng bền vững
2 Lí do chọn đề tài:
Rạn san hô đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong hệ sinh thái biển, là môi trường sống của hàng ngàn sinh vật, đem đến nhiều lợi ích sinh thái, môi trường và kinh tế Việc tìm hiểu về hệ sinh thái san hô góp phần cung cấp thêm thông tin về cấu tạo, đặc điểm và hiện trạng của hệ sinh
Trang 5thái và các thành phần của nó Từ đó mà có cách xử lí phù hợp, vừa khai thác đúng mức vừa duy trì và bảo tồn một hệ sinh thái đặc biệt
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Trong khuôn khổ đề tài, giới thiệu cơ bản về hệ sinh thái rạn san hô, các thành phần của nó và mối tương tác giữa các thành phần; lợi ích mà hệ sinh thái mang lại; hiện trạng hệ sinh thái rạn san hô ở Việt Nam và một số hướng giải pháp đề xuất nhằm duy trì và bảo vệ kết hợp khai thác bền vững nguồn lợi từ hệ sinh thái đặc biệt này
II Nội dung:
1 Giới thiệu:
a San hô:
- San hô là những sinh vật tương đối đơn giản, chúng tồn tại ở khắp các vùng biển nông cũng như sâu Chúng là những cá thể hình trụ rất nhỏ (gọi là polyp) có hàng xúc tu ở trên đầu để bắt mồi trong môi trường nước và được xếp vào lớp san hô (Anthozoa), ngành động vật ruột khoang (Coelenterata) trong hệ thống phân loại độngvật Một số lớn san hô phát triển dạng tập đoàn và hình thành nên bộ xương chung
Một góc ảnh của sinh vật biển san hô
Trang 6- Tuy một đầu san hô trông như một cơ thể sống, nhưng nó thực ra là đầu của nhiều cá thể giống nhau hoàn toàn về di truyền, đó là các polip Các polip là các sinh vật đa bào với nguồn thức ăn là nhiều loại sinh vật nhỏ hơn, tò sinh vật phù du tới các loài cá nhỏ Một số lớn san
hô phát triển dạng tập đoàn và hình thành nên bộ xương chung San hô có 3 nhóm chính là san hô cứng, san hô mềm và san hô sừng
b Hệ sinh thái san hô:
Một rạn san hô điển hình
Trang 7- Rạn san hô hay ám tiêu san hô là cấu trúc aragonit được tạo bởi các cơ thể sống Các rạn san
hô thường được thấy ở các vùng biển nhiệt đới nông mà trong nước có ít hoặc không có dinh dưỡng Mức dinh dưỡng cao chẳng hạn như nước thải từcác vùng nông nghiệp có thể làm hại rạn san hô do sự phát triển nhanh của tảo Tại hầu hết các rạn san hô, sinh vật thống trị là các loài san hô đá, các quần thể thích ti tạo ra bộ xương ngoài bằng cacbonat canxi (đá vôi) Sự tích lũy các chất tạo xương, bị phá vỡ và dồn đống bởi sóng biển và sự xâm thực sinh học, tạo nên cấu trúc đá vôi lớn nâng đỡ san hô đang sống và làm chỗ trú ẩn cho rất nhiều loài động thực vật khác Tuy san hô được tìm thấy ở cả các vùng biển nhiệt đới cũng như ôn đới, nhưng các rạn san hô chỉ hình thành ở khu vực hai bên đường xích đạo trải từ vĩ độ 30° Bắc đến 30° Nam; mặc dù các loại san hô tạo rạn không sống tại các độ sâu quá 30 m (100 ft) nhiệt độ có ảnh hưởng ít hơn đến phân bố của san hô, nhưng người ta thường cho rằng không có san hô sống trong những vùng nước có nhiệt độ dưới 18°c
- Rạn san hô được xây dựng từ các thế hệ ran hô tạo rạn và các sinh vật khác với cấu tạo cơ thể chứa cacbonat canxi Ví dụ, khi một đầu san hô sinh trưởng, nó tạo một cấu trúc xương bao quanh mỗi polip mới Song, các loài sinh vật (như cá vẹt, nhím biển, hải miên), và các lực khác làm vỡ các bộ xương san hô thành các mảnh nhỏ lấp các chỗ trống trong cấu trúc rạn Nhiều sinh vật khác trong cộng đồng rạn san hô cũng đóng góp bộ xương cacbonat canxi của mình
một cách tương tự Các loài tảo san hô (Coralline algae), gồm tảo zooxanthelat (Symbiodinium
spp.) và tảo sợi, là những nhân tố đóng góp quan trọng đối với cấu trúc rạn ở những phần rạn
phải chịu sóng lớn (ví dụ mặt rạn đối diện với đại dương) Các loài tảo này xây rạn bằng các tiết đá vôi thành từng lóp phủ lên bề mặt của rạn, nhờ đó làm tăng tính đồng nhất về cấu trúc của rạn
c Các thành phần khác: Ngoài san hô ra thì rạn san hô còn có các thành phần :
Trang 82 Đặc điểm:
a Đặc điểm hệ sinh thái:
— Hệ sinh thái rạn san hô bao gồm quần xã sinh vật môi trường biển nông (san hô, cá, tôm, rùa, bạch tuột, rong biển, vi sinh vật…) và môi trường vô sinh (ánh sáng, nhiệt độ, chất vô cơ )
— Hệ sinh thái rạn san hô là một hệ sinh thái đa dạng nhất hành tinh và được ví như “rừng mưa nhiệt đới dưới đáy biển”, nó chỉ phân bố ở vùng biển nông ven bờ Đây là nơi sinh sống, đẻ trứng, ẩn náu, kiếm mồi cho rất nhiều loài hải sản
— Hầu hết các rạn san hô tồn tại trong môi trường nghèo chất dinh dưỡng nhưng chúng lại có năng suất xấp xỉ như rừng nhiệt đới Hệ sinh thái rạn san hô là cơ sở dinh dưỡng hữu cơ, và là nguồn cung cấp thức ăn không chỉ cho bản thân sinh vật sống trong rạn mà còn cho cả vùng biển chung quanh Các rạn san hô được coi là một trong những hệ sinh thái có năng suất cao nhất trên thế giới Sức sản xuất sơ cấp của rạn san hô thường cao hơn vùng ngoài rạn đến hàng trăm lần
Hệ sinh thái rạn san hô
Trang 9— Rạn san hô cũng là một hệ sinh thái rất nhạy cảm với những biến đổi của môi trường sống nên nó còn có ý nghĩa chỉ thị môi trường.Sự phân bố mặt rộng của san hô phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ, độ muối, địa hình và chế độ thuỷ động học Ở các vùng lân cận các đảo đất, nơi
có nhiều tích bùn, chất đáy là bùn cát và sỏi cuội nên không thích hợp cho san hô phát triển
— Con đường trao đổi cacbon đặc biệt là tính chất riêng của hệ sinh thái rạn san hô phân biệt với các hệ sinh thái khác Quang hợp của các thực vật từ tảo roi đơn bào, rong thường đến rong vôi cố định cacbon vào các hợp chất và tạo ra các cấu trúc sinh học hoặc đi vào chuỗi dinh dưỡng Sản phẩm quang hợp trên đơn vị diện tích phụ thuộc vào tổng năng lượng mặt trời và
sự tiêu giảm cường độ cũng như sự thay đổi phổ ánh sáng khi đi qua cột nước Quá trình này thuộc vào vị trí địa lý và độ trong của nước
— Để hình thành cấu trúc sinh học, rạn san hô còn có nhóm sinh vật hỗ trợ gồm 3 nhóm: nhóm tăng cường canxi hóa là các tảo roi đơn bào cộng sinh bởi hoạt động đồng hóa của chúng hỗ trợ cho sự canxi hóa trong vật chủ Nhóm xói mòn sinh học đa dạng về thành phần gồm cá, hải miên, thân mềm hai mảnh vỏ, Sipunculida, cầu gai, giun nhiều tơ và tảo sợi Nhóm chế biến trầm tích (sediment operators) có đại diện là thân mềm giun nhiều tơ, hải sâm và cá có khả năng chuyển trầm tích đáy qua ống tiêu hóa để tiêu hóa tảo silic trên đáy Rạn san hô còn
có các sinh vật xúc tác (facilatous) ảnh hưởng lên cấu trúc quần xã Ví dụ, động vật ăn thực vật giúp cho san hô sinh trưởng bình thường thông qua việc ngăn cản sự phát triển quá mức của chúng
— Rạn san hô thường gắn bó chặt chẽ với rừng ngập mặn, thảm cỏ biển nên chúng tạo cho thủy vực năng suất cao Hàng năm, rạn san hô cung cấp hàng triệu tấn carbon cho các vùng nước lận cận phục vụ cho quá trình sống trong đại dương
— Rạn san hô cũng được coi là hệ sinh thái quan trọng nhất, chúng bao gồm nhiều loài đặc trưng đại diện cho hầu hết các nhóm động vật biển
— Tính đa dạng của các loài trên san hô cao đến mức rạn được coi là "kho dự trữ" gen Chúng lưu trữ nhiều chứng cứ để chúng ta có thể hiểu được các quần thể động thực vật phát triển như thế nào và có chức năng gì, cũng như chúng có thể có những giá trị tiềm ẩn trong tương lai
— Khác với các hệ sinh thái khác, hệ sinh thái rạn san hô có cấu trúc dinh dưỡng thấp nhưng vẫn tạo nên sự đa dạng về loài, tạo nên một vòng chu trình tuần hoàn vật chất
— Hệ sinh thái rạn san hô có kích thước to nhỏ khác nhau và có rất nhiều hệ sinh thái rạn san hô
ở đáy đại dương cùng tồn tại độc lập Đây là một hệ sinh thái tự nhiên
— Đặc điểm của hệ sinh thái rạn san hô là một hệ thống hở có 3 dòng (dòng vào, dòng ra và dòng nội lưu) vật chất, năng lượng, thông tin
— Hệ sinh thái rạn san hô cũng có khả năng tự điều chỉnh để duy trì trạng thái cân bằng, nếu có thành phần thay đổi thì các thành phần khác cũng thay đổi theo ở mức độ nào đó để duy trì cân bằng, nếu biến đổi quá nhiều thì sẽ bị phá vỡ cân bằng sinh thái của hệ
— Trong hệ sinh thái rạn san hô, chu trình của vật chất được thể hiện dưới một mạng lưới thức
ăn, sau đó các sinh chết đi phân hủy thành các chất vô cơ đi ra môi trường theo chu trình sau:
Môi trường → Sinh vật sản xuất → Sinh vật tiêu thụ → Sinh vật phân hủy và được gọi
là vòng tuần hoàn sinh-địa-hóa
Trang 10— Ánh sáng mặt trời là nguồn năng lượng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của san hô cũng như cả hệ sinh thái rạn san hô
— Quá trình tiến hóa hệ sinh thái rạn san hô được biểu hiện: Hệ sinh thái trẻ → Hệ sinh thái già → Hệ sinh thái cao đỉnh, chúng luôn được phát sinh, phát triển cho thấy được mức độ tiến
hóa đa dạng của loài trong rạn
— Với sự hoài hòa, ổn định về số lượng cá thể của quần thể trong rạn tạo nên trạng thái ổn định, hướng tới sự thích nghi cao nhất với điều kiện môi trường giúp cho hệ sinh thái rạn san hô luôn được cân bằng
— Tuy nhiên, sự cân bằng của hệ sinh thái rạn san hô có thể bị phá hủy nhanh chóng do sự tác động của con người
— Trong hệ sinh thái rạn san hô có nhiều nguồn năng lượng như: quang năng, hóa năng, động năng, nhiệt năng
Thiếu ánh sáng mặt trời ngăn cản sự phát triển của hô
Trang 11Rạn san hô là nơi cư trú và sinh sản của nhiều loài
sinh vật
Ánh sáng mặt trời giúp san hô phát triển tốt
Trang 12b Đặc điểm các thành phần:
San hô và rạn san hô:
Cấu trúc:
- San hô là các sinh vật biển thuộc lớp San hô (Anthozoa) tồn tại dưới dạng các thể
polip nhỏ giống hải quỳ, thường sống thành các quần thể gồm nhiều cá thể giống hệt nhau
- San hô có 3 nhóm chính là san hô cứng, san hô mềm và san hô sừng San hô cứng có
bộ xương bằng đá vôi và thường tăng trưởng rất chậm, có loại chỉ vào khoảng 1 cm/năm Điều đó có nghĩa là một khối san hô với đường kính khoảng 1 m có thể
đã trải qua cuộc đời hàng thế kỷ Khi san hô chết, bộ xương có màu trắng San hô cứng được xem là thành phần chính cấu tạo nên rạn san hô Chúng chỉ phân bố hạn chế ở những vùng biển nông, ấm áp và cấu trúc đá vôi do chúng liên kết lại tạo thành rạn san hô Tuy hiên, chúng rất mảnh mai và có thể bị tàn phá do gió bão và neo tàu
- Thế giới hiện có hàng ngàn rạn san hô, giới hạn phân bố của chúng chỉ ở vùng nhiệt
đới và cận nhiệt đới, trải dài từ khoảng 300 vĩ tuyến bắc đến 300 vĩ tuyến nam nơi mà nhiệt độ nước biển hiếm khi xuống dưới 180C Diện tích bao phủ rạn san hô lên đến
600 ngàn km2 Sự khác biệt về hình thái, thành phần sinh học, tính đa dạng và cấu trúc phản ánh địa - sinh học, tuổi, phân vùng địa động vật và điều kiện môi trường
- San hô sừng có thành phần đá vôi bao bọc lõi là vậtliệu sừng và/hoặc đá vôi Tập
đoàn san hô sừng có dạng như những chiếc quạt hoặc cành cây mềm mại Khi chết Cấu tạo một polyp Công cụ bắt mồi của san hô
Trang 13đi, cái còn lại là bộ xương màu đỏ hoặc đen hay trắng Loại san hô này cũng sinh trưởng rất chậm San hô mềm tiêu giảm bộ xương bên trong và chỉ còn lại các trâm xương đá vôi nhỏ Một số rất mềm dẻo đến mức đu đưa theo dòng nước Sẽ
khôngcòn gì để lại sau khi san hô mềm chết đi
Hình thái rạn san hô:
- Ở những nơi mà tạo rạn tồn tại, kiểu phát triển củarạn tùy thuộc vào địa hình (độ sâu
và hình dạng) của nền đáy, lịch sử phát triển địa chất của vùng và các nhân tố môi trường, đặt biệt là nhiệt độ và mức độ chịu đựng sóng gió Như chúng ta đã biết, san
hô tạo rạn chỉ sinh trưởng trong những vùng nước ấm, có chiếu sáng tốt và cần nền đáy cứng để bám vào Những yếu tố này hạn chế sự phân bố của san hô tạo rạn ở những vùng biển cạn đáy cứng Bộ xương san hô đến lượt mình lại cung cấp nền đáy cứng cho sự phát triển của nhiều san hô hơn và các sinh vật khác Sự phát triển lên phía trên của cấu trúc rạn có thể cho phép san hô tiếp tục tăng trưởng lên vùng cạn hơn Qua nhiều quá trình biến động của địa chất biển, đã hình thành các kiểu rạn hô khác nhau:
o Rạn riềm (fringing reef): rất phổ biến xung quanh các đảo nhiệt đới và đôi khi dọc theo bờ đất liền Đây là kiểu cấu trúc được coi là đơn giản nhất với sự phát triển đi lên của nền đá vôi từ sườn dốc thoải ven biển, ven đảo Do tồn tại ở gần
bờ, bị ảnh hưởng bởi sự đục nước, nên chúng hiếm khi vươn đến độ sâu lớn
o Rạn dạng nền (platform reef): là một cấu trúc đơn giản đặc trưng bởi sự cách biệt với đường bờ và có thể thay đổi lớn về hình dạng Kích thước của chúng có thể Các polyp và tảo (zooxanthollae) gắn trên nhánh xương san hô
Trang 14rất lớn, đến 20 km2 chiều ngang Lịch sử địa chất của chúng cũng rất khác nhau với nguồn gốc hình thành khá đa dạng
o Rạn chắn (barrier reef): được phát triển trên gờ của thềm lục địa Rạn chắn là cấu trúc rạn nổi lên từ biển sâu và nằm xa bờ Một số vốn nguyên thủy là dạng riềm nhưng do vùng bờ bị chìm xuống hay bị ngập nước khi biển dâng lên
o Rạn san hô vòng (atoll): là những vùng rạn rộng lớn nằm ở vùng biển sâu Mỗi một đảo san hô vòng là tập hợp của các đảo nổi và bãi ngầm bao bọc một lagoon rộng lớn với đường kính có thể lên đến 50 km Kiểu rạn này chỉ có ở vùng biển sâu nằm ở ngoài thềm lục địa
Phân loại:
San hô nằm trong lớp Anthozoa và được chia thành hai phân lớp, tùy theo số xúc tu
(tua cảm) hoặc những đường đối xứng, và một loạt các bộ tương ứng với kiểu xương ngoài, loại tế bào châm và phân tích di truyền ti thể Gồm có san hô 8 xúc tu và san
hô hơn 8 xúc tu
Phân lớp san hô với 8 xúc tu được gọi là san hô tám ngăn(Octocorallia) hay san hô mềm (Alcyonaria) và bao gồm các bộ san mềm (Alcyonacea), san hô sừng
(Gorgonacea) và san hô lông chim (Pennatulacea)
Những loài có nhiều số xúc tu lớn hơn 8 và là bội của 6 được gọi là san hô sáu
ngăn (.Hexacorallia) hay san hô tổ ong (Zoantharia) Nhóm này bao gồm các loài san hô đá (san hô tạo rạn) (,Scleractinia), san hô tổ ong (Zoanthidea) và hải
quỳ
Cách kiếm ăn:
Tuy san hô có thể dùng các tế bào châm (nematocyst) tiết chất độc tại các xúc tu để
bắt phù du, loại động vật này thu nhận phần lớn dưỡng chất từ loại tảo đơn bào cộng sinh có tên tảo vàng đơn bào (zooxanthella) Do đó, hầu hết san hô phụ thuộc vào ánh sáng mặt trời và phát triển ở các vùng nước trong và nông, thường ở độ sâu không tới 60 m (200 ft)
Xung quanh miệng có các xúc tu (người xưa gọi là hoa) chứa các tế bào châm (thích
ty bào) nhằm bắt giữ các sinh vật nhỏ bé trong môi trường khi chúng đến gần và tiếp xúc các xúc tu Những sinh vật nổi đó là những rong biển rất nhỏ sống một cách cộng sinh với san hô: san hô cung cấp cho rong những muối khoáng lọc từ nước biển, rong nẩy nở nhờ quang hợp và trở thành thực phẩm cho san hô
Các thành phần môi trường:
Ánh sáng:
Tất cả san hô tạo rạn đòi hỏi đủ ánh sáng cho quang hợp của tảo cộng sinh trong nội bào của chúng Theo độ sâu, ánh sáng thay đổi rất nhanh cả về cường độ và cả về thành phần Giới hạn này kiểm soát độ sâu mà san hô sinh trưởng Các loài khác nhau có sức chịu
Trang 15đựng khác nhau đối với mức độ chiếu sáng cực đại và cực tiểu Đó cũng là một nguyên nhân chính của sự khác nhau về cấu trúc quần xã rạn
Trầm tích:
Nhiều kiểu trầm tích khác nhau bao phủ trên và xung quanh rạn bao gồm vụn san hô thô, các loại cát và cả bùn mịn Kiểu trầm tích trên rạn ở một số nơi nào đó phụ thuộc vào dòng chảy, sóng và cả nguồn gốc trầm tích Ở gần bờ trầm tích chủ yếu được cung cấp từ đất liền qua vận chuyển của sông Những trầm tích như thế có thành phần hữu cơ cao, dễ
bị khuấy động bởi sóng và có thể giữ lại lơ lững trong nước một thời gian dài, làm đục nước và hạn chế độ xuyên sáng Sự sa lắng của chúng có thể giết chết các sinh vật như san hô, hoặc làm nghẹt các polyp không đủ khả năng đẩy chúng ra
Biên độ triều:
Mức chênh triều khác nhau giữa các rạn ở các vùng khác nhau Sự khác nhau đó ảnh hưởng đáng kể đến sự phân vùng của quần xã san hô Triều càng cao, ảnh hưởng của sự ngập triều và khả năng vận chuyển chất dinh dưỡng tương ứng cũng như ảnh hưởng đến
sự bày khô càng lớn Nói chung, mức chênh lệch triều càng cao thì phân vùng của san hô
và tảo san hô trên sườn càng rõ rệt Các lagoon ít bị ảnh hưởng vì nước trong lagoon được giữ lại khi triều thấp tạo ra mực nước cao hơn so với vùng biển xung quanh
Sóng:
Hoạt động của sóng đạt cực đại trên mào sóng và phần ngoài mặt bằng rạn Trong những ngày yên tĩnh, mào rạn có bộ mặt hiền hòa Khi có bão, nơi đây trở nên dữ dội Các sóng lớn hình thành trên sườn dốc rạn và sau đó đổ lên phần ngoài mặt bằng rạn Chỉ một ít loài san hô có thể sống sót trong điều kiện này và chúng còi cọc xương xẩu Trong khi sóng đang đập dữ dội vào mào rạn thì ở sườn dốc thấp hơn chỉ cách đáy vài trăm mét, nước hoàn toàn yên tĩnh
Thức ăn và chất dinh dưỡng vô cơ:
Cũng như những sinh vật khác, san hô đòi hỏi cả thức ăn và chất dinh dưỡng vô cơ Thức
ăn cũng có thể lơ lững trong nước biển như những mảnh nhỏ bao gồm cả sinh vật đang sống Cũng như những nơi khác, trên rạn có những sinh vật ăn các sinh vật này và bị ăn bởi các sinh vật khác và như thế chuỗi thức ăn được hình thành, trong đó tất cả các động thực vật đều liên hệ với nhau.Khi quan tâm đến nhu cầu thức ăn của sinh vật rạn, một
Trang 16điều quan trọng là phải tách rời nhu cầu của một loài, nhóm loài với nhu cầu của toàn rạn, bởi vì để đạt được sự bền vững lâu dài cần có một cân bằng tổng thể trong chu trình dinh dưỡng của chúng Rạn vừa tạo vừa tiêu thụ các chất dinh dưỡng, nhưng trao đổi với vùng biển xung quanh nhỏ so với vật chất sản sinh bên trong từ chu trình liên tục Các dinh dưỡng đi vào rạn thường là từ sông, nhưng nếu không có sông, đối với các rạn ở xa đất liền, chất dinh dưỡng chỉ đến qua dòng chảy bề mặt Nhiều rạn có sự cung cấp dinh dưỡng vô cơ khác như là dưới một điều kiện nào đó, dòng chảy hướng vào rạn có thể làm cho nước ở tầng sâu chuyển lên bề mặt Loại nước trồi này thường giàu phospho và các chất hóa học phân tử khác Nhiều rạn có sự thay đổi theo mùa về nguồn dinh dưỡng, đặc biệt là những rạn có vĩ độ cao nơi mà ảnh hưởng các mùa rõ rệt hơn
Các loại rong biển cũng được khai thác nhiều ở rạn san hô Một số trong chúng có giá trị dinh dưỡng cao do chứa nhiều viatmin và muối khoáng Một số sinh vật khác được khai thác để làm đồ mỹ nghệ San hô cứng được bán trong các cửa hàng lưu niệm và được sử dụng để trang trí hồ cá Nhiều loài trai ốc được khai thác làm đồ lưu niệm, trang sức Các loài rắn biển cũng đang được khai thác cho mục đích y học
Trong những năm gần đây, cá cảnh biển trở thành nguồn cung cấp cho một thị trường sôi động Nhiều loài cá và động vật không xương sống trở thành đối tượng xuất khẩu từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển ở Châu Âu, Mỹ, Nhật Phương pháp đánh bắt cá cảnh thường bất cẩn và làm hư hại lớn sinh thái rạn san hô Các chất độc như cyanide, formalin đang được sử dụng để gây mê cá, chất độc cũng giết một phần các tập