1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Giáo trình Kiểm toán tài chính (Giáo trình đào tạo từ xa): Phần 1

57 426 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 501,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu về lĩnh vực kiểm toán tài chính, cuốn giáo trình Kiểm toán tài chính tập trung làm rõ các nội dung: Đặc điểm, quy trình kiểm toán tài chính và kỹ thuật kiểm toán các khoản mục chủ yếu trên báo cáo tài chính. Mời các bạn cùng tham khảo phần 1 sau đây với nội dung 4 chương đầu tài liệu.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA - QUAN HỆ DOANH NGHIỆP

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA - QUAN HỆ DOANH NGHIỆP

THS.ĐẶNG THÚY ANH

===  ===

KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH

(Giáo trình đào tạo từ xa)

VINH, NĂM 2011

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Kiểm toán tài chính là lĩnh vực kiểm toán chủ yếu của các doanh nghiệp kiểm toán, chiếm phần lớn doanh thu của các doanh nghiệp này Trong nền kinh tế thị trường, kiểm toán tài chính có vai trò, tác dụng lớn đối với những người quan tâm, sử dụng báo cáo tài chính của doanh nghiệp đặc biệt khi thị trường chứng khoán phát triển Để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu về lĩnh vực kiểm toán tài chính, cuốn chính giáo trình Kiểm toán tài chính tập trung làm rõ các nội dung: đặc điểm, quy trình kiểm toán tài chính và kỹ thuật kiểm toán các khoản mục chủ yếu trên báo cáo tài chính Tập thể tác giả biên soạn hy vọng rằng cuốn giáo trình Kiểm toán tài chính sẽ cung cấp nhiều kiến thức bổ ích cho những sinh viên chuyên ngành kế toán, kiểm toán hay những sinh viên ngoài ngành và những bạn đọc khác về kỹ thuật kiểm toán của kiểm toán viên đối với đối tượng chủ yếu của kiểm toán tài là báo cáo tài chính

Cuốn giáo trình được biên soạn gồm 7 chương:

Chương I: Tổng quan chung về kiểm toán tài chính

Chương II: Quy trình kiểm toán tài chính

Chương III: Kiểm toán vốn bằng tiền

Chương IV: Kiểm toán nợ phải thu

Chương V: Kiểm toán Doanh thu, thu nhập

Chương VI: Kiểm toán chi phí

Chương VII: Kiểm toán tài sản cố định

Cùng với phần lý luận ở mỗi chương đều có phần bài tập và câu hỏi do chính tác giả của chương biên soạn Tham gia biên soạn gồm:

1 Th.S Đặng Thuý Anh – Chủ biên- biên soạn Chương thứ nhất, Chương thứ hai, Chương thứ ba, Chương thứ tư, Chương thứ năm và phần Bài tập tổng hợp

2 GV.Nguyễn Thị Diệu Thuý biên soạn Chương thứ sáu, Chương thứ bảy

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn và biên tập nhưng cuốn giáo trình không tránh khỏi những thiếu sót cả về nội dung và hình thức Tập thể tác giả mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của bạn đọc để giáo trình được hoàn thiện hơn trong lần tái bản sau

Tập thể tác giả

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH

Mục tiêu chương: Sau khi nghiên cứu chương này người đọc có thể hiểu được

những vấn đề cơ bản nhất liên quan đến kiểm toán tài chính đó là đối tượng, mục tiêu, nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính, chủ thể, các thử nghiệm trong kiểm toán tài chính

Nội dung của chương tập trung làm rõ những vấn đề sau:

- Đối tượng kiểm toán tài chính

- Mục tiêu kiểm toán tài chính

- Nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính

- Chủ thể kiểm toán tài chính

- Các thử nghiệm trong kiểm toán tài chính

1.1 Đối tượng kiểm toán tài chính

Theo định nghĩa của Liên đoàn kế toán quốc tế (International Federation of Accoutants – IFAC): “ Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về báo cáo tài chính” Theo Tiến sỹ Robert N.Anthony, giáo sư Trường Đại học Harvard (Mỹ) thì: “ Kiểm toán là việc xem xét, kiểm tra các ghi chép

kế toán bởi các kế toán viên công cộng” Kiểm toán tài chính là việc kiểm tra và xác nhận về tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính (BCTC) của đơn vị, phục vụ đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin trên BCTC của đơn vị

Đối tượng thường xuyên và chủ yếu của kiểm toán tài chính là các báo cáo tài chính Chính vì thế kiểm toán tài chính còn được gọi là kiểm toán báo cáo tài chính Theo chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 200, điểm 04 đã định nghĩa báo cáo tài chính như sau: “ Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị”

BCTC ở các đơn vị kinh doanh bao gồm các báo cáo sau:

- Bảng cân đối kế toán

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

- Thuyết minh BCTC

BCTC ở đơn vị kinh doanh là những báo cáo được tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, phản ánh có hệ thống tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp, tình hình và hiệu quả sản xuất kinh doanh,

Trang 6

tình hình lưu chuyển tiền tệ và tình hình quản lý, sử dụng vốn của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định vào một hệ thống mẫu biểu quy định thống nhất

BCTC ở đơn vị hành chính sự nghiệp

Tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí

Báo cáo tình hình tăng giảm TSCĐ

Thuyết minh BCTC

Báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước tại cơ quan tài chính xã, phòng tài chính huyện, sở tài chính, bộ tài chính, cơ quan thuế, kho bạc nhà nước

Ngoài báo cáo tài chính thì đối tượng của kiểm toán tài chính còn có các bảng

kê khai có tính chất tài chính tức là trong các bảng kê khai đó có yếu tố tiền tệ, thông tin được biểu hiện dưới hình thái bằng tiền chẳng hạn như bảng kê khai tài sản cá nhân, bảng kê khai tài sản doanh nghiệp phá sản…

Đặc điểm của đối tượng kiểm toán:

Các báo cáo tài chính được lập ra vào một thời điểm cụ thể theo những nguyên tắc xác định (nguyên tắc kế toán: trọng yếu, dồn tích, nhất quán, phù hợp…) theo chuẩn mực kế toán, Chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận

Quan hệ trực tiếp với kiểm toán: khi tiến hành kiểm toán tài chính, kiểm toán viên không thể không kiểm tra các tài liệu kế toán, hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý của đơn vị

Có 2 cách phân chia đối tượng kiểm toán thành các phần công việc kiểm toán như sau:

Phân theo khoản mục: là cách chia từng khoản mục hoặc từng nhóm khoản mục vào một phần hành

Ví dụ: Kiểm toán vốn bằng tiền, kiểm toán tài sản cố định, kiểm toán nợ phải thu khách hàng, kiểm toán doanh thu, kiểm toán giá vốn…

Phân theo chu trình:là cách chia căn cứ vào mối liên hệ chặt chẽ giữa các khoản mục trên BCTC , các quá trình cấu thành các yếu tố trong một chu trình chung của hoạt động tài chính

Ví dụ: kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền, kiểm toán chu trình mua hàng

và thanh toán, kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên, kiểm toán chu trình hàng tồn kho, kiểm toán chu trình đầu tư và chi trả, kiểm toán tiếp nhận và hoàn trả vốn…

1.2 Mục tiêu kiểm toán báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính được lập bởi các đơn vị được kiểm toán nhưng báo cáo này chủ yếu phục vụ cho các đối tượng bên ngoài đơn vị để đưa ra các quyết định kinh tế chẳng hạn như Ngân hàng cần có thông tin về tình hình kinh doanh, khả năng thanh

Trang 7

có thông tin về kết quả kinh doanh để đưa ra quyết định mua hay bán cổ phiếu, các đối tác đầu tư cần có thông tin về tình hình kinh doanh, khả năng thanh toán để có quyết định đầu tư vốn, hợp tác kinh doanh…Tuy nhiên để có được các quyết định đúng đắn thì các thông tin trên báo cáo tài chính phải có độ tin cậy, phản ánh trung thực, hợp lý, hợp pháp về tình hình tài chính của đơn vị Để những người sử dụng bên ngoài có thể tin được thông tin trên báo cáo tài chính thì báo cáo tài chính này cần được kiểm toán bởi các doanh nghiệp kiểm toán Vì thế, mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là xác nhận độ tin cậy của các thông tin trên BCTC, làm căn cứ để Nhà nước tính các khoản thuế phải nộp của đơn vị được kiểm toán, để những người sử dụng thông tin bên ngoài đơn vị đưa ra được các quyết định kinh tế đúng đắn

Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 200- “Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính”, đoạn 11 chỉ rõ: “ Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không?

Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị”

Thông tin tài chính trung thực là thông tin phản ánh đúng nội dung, bản chất và thực trạng các nghiệp vụ kinh tế phát sinh

Thông tin tài chính hợp lý là thông tin đảm bảo độ tin cậy cần thiết, phù hợp về không gian, thời gian

Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một

số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hay thiếu chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính Mức độ trọng yếu tuỳ thuộc vào tầm quan trọng của thông tin hay của sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Tính trọng yếu của thông tin phải xem xét cả trên tiêu chuẩn định lượng và định tính ( Theo chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 200, đoạn 05)

1.3 Nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính

Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 200, đoạn 13, các nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính bao gồm:

- Tuân thủ pháp luật của Nhà nước

- Tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp

- Tuân thủ Chuẩn mực kiểm toán

Trang 8

Tuân thủ pháp luật của Nhà nước: kiểm toán viên luôn luôn coi trọng và chấp hành đúng pháp luật của Nhà nước trong quá trình hành nghề kiểm toán

Tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán:

Độc lập là nguyên tắc hành nghề cơ bản của kiểm toán viên

Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thực sự không bị chi phối hoặc tác động bởi bất kỳ lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào ảnh hưởng đến sự trung thực, khách quanvà độc lập nghề nghiệp của mình

Kiểm toán viên không được nhận làm kiểm toán cho các đơn vị mà mình có quan hệ kinh tế hoặc quyền lợi kinh tế như góp vốn cổ phần, cho vay hoặc vay vốn từ khách hàng, hoặc là cổ đông chi phối của khách hàng, hoặc có ký kết hợp đồng gia công, dịch vụ, đại lý tiêu thụ hàng hoá,…

Kiểm toán viên không được nhận làm kiểm toán cho các đơn vị mà bản thân có quan hệ họ hàng thân thuộc (như bố, mẹ, vợ, chồng, con cái, anh chị em ruột) với những người trong bộ phận quản lý (Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các trưởng, phó phòng và những người tương đương) trong đơn vị được kiểm toán

Kiểm toán viên không được vừa làm dịch vụ kế toán (như trực tiếp ghi chép, giữ số kế toán và lập báo cáo tài chính) vừa làm dịch vụ kiểm toán cho cùng một khách hàng

Trong quá trình kiểm toán, nếu có sự hạn chế về tính độc lập thì kiểm toán viên phải tìm cách loại bỏ sự hạn chế này Nếu không loại bỏ được kiểm toán viên phải nêu

rõ điều này trong báo cáo kiểm toán

Chính trực : Kiểm toán viên phải thẳng thắn, trung thực và có chính kiến rõ

ràng

Khách quan: Kiểm toán viên phải công bằng, tôn trọng sự thật và không được

thành kiến, thiên vị

Năng lực chuyên môn và tính thận trọng: Kiểm toán viên phải thực hiện công

việc kiểm toán với đầy đủ năng lực chuyên môn cần thiết, với sự thận trọng cao nhất

và tinh thần làm việc chuyên cần Kiểm toán viên có nhiệm vụ duy trì, cập nhật và nâng cao kiến thức trong hoạt động thực tiễn, trong môi trường pháp lý và các tiến bộ

kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu công việc

Tính bí mật: Kiểm toán viên phải bảo mật các thông tin có được trong quá

trình kiểm toán, không được tiết lộ bất cứ một thông tin nào khi chưa được phép của người có thẩm quyền, trừ khi có nghĩa vụ phải công khai theo yêu cầu của pháp luật hoặc trong phạm vi quyền hạn nghề nghiệp của mình

Tư cách nghề nghiệp: Kiểm toán viên phải trau dồi và bảo vệ uy tín nghề

nghiệp, không được gây ra những hành vi làm giảm uy tín nghề nghiệp

Trang 9

Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn: Kiểm toán viên phải thực hiện công việc

kiểm toán theo những kỹ thuật và chuẩn mực chuyên môn đã quy định trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam ( hoặc các chuẩn mực kiểm toán quốc tế được Việt Nam chấp nhận) và các quy định pháp luật hiện hành

Kiểm toán viên phải tuân thủ chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hoặc chuẩn mực kiểm toán viên được Việt Nam chấp nhận Các chuẩn mực kiểm toán này quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản và liên quan đến kiểm toán và báo cáo tài chính

Kiểm toán viên phải có thái độ hoài nghi mang tính nghề nghiệp trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán và phải luôn ý thức rằng có thể tồn tại những tình huống dẫn đến những sai sót trọng yếu trong các báo cáo tài chính Ví dụ: Khi nhận được bản giải trình của Giám đốc đơn vị, kiểm toán viên không được thừa nhận ngay các giải trình đó đã là đúng, mà phải tìm được những bằng chứng cần thiết chứng minh cho giải trình đó

Các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán được giải thích trong đoạn 16, chuẩn mực Kiểm toán Việt nam số 200 như sau:

Hoài nghi nghề nghiệp là thái độ cần thiết của kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán để tránh bỏ sót những tình huống có thể dẫn đến báo cáo tài chính bị sai lệch trọng yếu

1.4 Chủ thể kiểm toán báo cáo tài chính

Chủ thể kiểm toán đề cập đến kiểm toán viên Đối với báo cáo tài chính người tiến hành kiểm toán có thể là kiểm toán viên nhà nước, kiểm toán viên độc lập hoặc kiểm toán viên nội bộ

Kiểm toán báo cáo tài chính là lĩnh vực kiểm toán chủ yếu của các kiểm toán viên độc lập Ở Việt nam, dịch vụ kiểm toán này chiếm đến 60% tổng doanh thu của các doanh nghiệp kiểm toán Kiểm toán viên nhà nước thường tiến hành kiểm toán việc tuân thủ các văn bản pháp luật của nhà nước có liên quan đến hoạt động của đơn

vị được kiểm toán Tuy nhiên kèm theo việc kiểm toán tuân thủ các kiểm toán viên nhà nước tiến hành kiểm toán báo cáo tài chính của các đơn vị để kiểm tra, xác nhận tính trung thực hợp lý của các thông tin được phản ánh trên các báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước

1.5 Các thử nghiệm kiểm toán trong kiểm toán tài chính

Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải vận dụng, kết hợp các phương pháp kiểm toán khác nhau để xác minh các nghiệp vụ, các số dư tài khoản hoặc các khoản mục cấu thành bảng khai tài chính, việc vận dụng, kết hợp như vậy gọi là các thử nghiệm kiểm toán

Trang 10

Thử nghiệm kiểm soát

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 500 – “Bằng chứng kiểm toán”, đoạn

06, định nghĩa: “Thử nghiệm kiểm soát (kiểm tra hệ thống kiểm soát) là việc kiểm tra

để thu thập bằng chứng kiểm toán về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của

hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ”

Những phương pháp kiểm toán được sử dụng trong thử nghiệm kiểm soát gồm:

- Phỏng vấn (phỏng vấn nhân viên đơn vị về các thủ tục kiểm soát đã áp dụng)

- Quan sát( việc áp dụng các thủ tục kiểm soát, các hoạt động kiểm soát nội bộ trong đơn vị)

- Kiểm tra tài liệu (kiểm tra chữ ký, phê duyệt, kiểm tra tính đầy đủ của chứng từ kèm theo) Ví dụ kiểm tra các chứng từ liên quan đến phiếu chi tiền có được phê duyệt đầy đủ hay không

- Kiểm tra lại việc thực hiện các thủ tục kiểm soát nội bộ, ví dụ kiểm tra lại bảng đối chiếu tiền gửi của đơn vị với ngân hàng, xem xét lại biên bản kiểm kê quỹ, kiểm kê hàng tồn kho, đối chiếu lại công nợ để đảm bảo rằng chúng có được đơn vị thực hiện hay không

Kết quả thử nghiệm kiểm soát chỉ cho biết về thiết kế và vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ hơn là tính xác thực của số liệu trên báo cáo tài chính

Thử nghiệm cơ bản

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 500, đoạn 07, định nghĩa: “ Thử nghiệm cơ bản (kiểm tra cơ bản) là việc kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán liên quan đến báo cáo tài chính nhằm phát hiện ra những sai sót trọng yếu làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính Thử nghiệm cơ bản bao gồm:

- Kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và số dư

- Quy trình phân tích”

Kiểm tra chi tiết là cách thức kết hợp các phương pháp kiểm toán để xác định

độ tin cậy của các số dư (hoặc tổng số phát sinh) ở Sổ cái ghi vào Bảng cân đối kế toán hoặc vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ kinh

tế phát sinh

Ví dụ kiểm tra tính đúng đắn của số dư tài khoản nợ phải trả, phải thu khách hàng, nguyên giá TSCĐ, giá trị hao mòn, doanh thu, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, phải trả nhà cung cấp bằng các phương pháp kiểm toán như đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic, kiểm kê, quan sát, phỏng vấn, gửi thư xác nhận, đối chiếu giữa số liệu trên thư xác nhận với sổ sách kế toán

Quy trình phân tích: Theo chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 520-“Quy trình

phân tích”- đoạn 04 chỉ rõ: “Quy trình phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin,

Trang 11

các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến”

Quy trình phân tích bao gồm việc so sánh các thông tin tài chính như:

- So sánh thông tin tương ứng trong kỳ này với các kỳ trước

- So sánh giữa thực tế với kế hoạch của đơn vị, ví dụ kế hoạch sản xuất, kế hoạch bán hàng …

- So sánh giữa thực tế với ước tính của kiểm toán viên ví dụ chi phí khấu hao ước tính…

- So sánh giữa thực tế của đơn vị với các đơn vị khác trong cùng ngành có cùng quy mô hoạt động, hoặc với số liệu thống kê, định mức cùng ngành (Ví dụ: tỷ suất đầu tư, tỷ lệ lãi gộp…)

Quy trình phân tích có ý nghĩa lớn trong việc đánh giá khái quát tính hợp lý chung của các xu hướng biến động và các mối quan hệ kinh tế đồng thời xác định mức

độ, phạm vi áp dụng các thử nghiệm khác qua đánh giá trên

HƯỚNG DẪN HỌC TẬP CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP VẬN DỤNG

I.Câu hỏi trắc nghiệm

Nhận định Đúng hoặc Sai cho các câu dưới đây và Giải thích:

1 Nhân viên kế toán của công ty kiểm toán cũng phải độc lập với khách hàng kiểm toán

2 Trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính của một doanh nghiệp, kiểm toán viên độc lập X phụ trách cuộc kiểm toán đã nhận quà tặng là cuốn lịch và nhận lời mời đi ăn trưa của kế toán trưởng thì vẫn không vi phạm tính độc lập của kiểm toán viên

3 Thử nghiệm cơ bản được dùng để đánh giá tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội

bộ

4 Thử nghiệm kiểm soát là thử nghiệm dùng để đánh giá tính chính xác của số dư tài khoản

5 Thủ tục phân tích bao gồm phân tích xu hướng và phân tích tỷ suất

B Hãy lựa chọn câu trả lời đúng nhất cho các câu sau:

1.1 Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính có tác dụng:

a Đảm bảo rằng không có bất cứ sai phạm nào trên báo cáo tài chính

b Đảm bảo rằng các hành vi vi phạm pháp luật đã được phát hiện

c Giúp kế toán trưởng tránh được trách nhiệm cá nhân đối với các sai phạm trên báo cáo tài chính

d Cung cấp cho các nhà đầu tư và những người sử dụng báo cáo tài chính rằng các báo

Trang 12

1.2 Thí dụ nào sau đây là thủ tục phân tích:

a Tính tốc độ luân chuyển hàng tồn kho và đối chiếu với tỷ số này của năm trước

b Phân tích số dư nợ phải thu theo từng khách hàng, đối chiếu với sổ chi tiết

c Phân chia các khoản nợ phải thu tành các nhóm theo thời gian quá hạn để kiểm tra việc lập dự phòng nợ phải thu khó đòi

d Phân tích tài khoản thành số dư đầu kỳ, các nghiệp vụ tăng giảm trong kỳ để kiểm tra chứng từ gốc

1.3 Tất cả các cơ sỏ dẫn liệu sau đều thuộc BCTC ngoại trừ:

a Đầy đủ

b Tính giá

c Quyền và nghĩa vụ

d Hiện hữu hoặc phát sinh

1.6 Người có trách nhiệm chính đối với tính trung thực và hợp lý về BCTC của khách hàng là:

a Kiểm toán viên độc lập

b Hiệp hội kiểm toán viên

c Bộ trưởng Bộ Tài chính

d Ban Giám đốc của Công ty khách hàng

1.7 Chủ thể của kiểm toán báo cáo tài chính là:

a Kiểm toán viên nhà nước

b Kiểm toán viên độc lập

c Kiểm toán viên nội bộ

d Cả ba câu trên đều đúng

Trang 13

a Kiểm kê nguyên vật liệu

b Quan sát công tác đối chiếu các báo cáo của Ngân hàng

c Phỏng vấn về công tác kế toán của đơn vị

d Kiểm tra chữ ký phê duyệt trên phiếu chi

1.9 Thủ tục kiểm toán nào dưới đây không được xem là một thử nghiệm cơ bản

a So sánh số dư hàng tồn kho năm nay so với năm trước

b Kiểm kê hàng tồn kho

c Gửi thư xác nhận cho ngân hàng

d Phỏng vấn nhân viên về kiểm soát nội bộ đối với chi tiền

1.10 Mục tiêu của kiểm toán BCTC là:

a Đưa ra ý kiến về tính trung thực, hợp lý của BCTC xét trên khía cạnh trọng yếu

b Đưa ra ý kiến về tính chính xác của BCTC

c Đưa ra nhận xét về hành vi vi phạm pháp luật của đơn vị được kiểm toán

d Giúp kế toán trưởng không phải chịu trách nhiệm về hành vi sai phạm

II Bài tập vận dụng

1 Dưới đây là một số thủ tục kiểm toán được kiểm toán viên sử dụng:

a Chọn mẫu chứng từ vận chuyển để đối chiếu với hoá đơn bán hàng liên quan

b Lấy mẫu đơn đặt hàng để kiểm tra việc xét duyệt và phê chuẩn mua hàng

c Kiểm kê tài sản cố định hữu hình

d Kiểm tra tổng cộng chi tiết các khoản nợ phải trả và đối chiếu tổng số với sổ cái

e So sánh chi phí khấu hao năm nay với chi phí khấu hao năm trước qua đó phát hiện

tỷ lệ khấu hao năm nay tăng lên so với năm trước

f Thảo luận với nhân viên giữ sổ sách về chi quỹ, về trách nhiệm của nhân viên này

g Gửi thư yêu cầu nhà cung cấp xác nhận những khoản phải trả cuối kỳ

h Kiểm tra sự liên tục của các séc trên nhật ký chi quỹ để xem xét chúng có bị bỏ sót hay không

i Kiểm tra hoá đơn của người bán và các tài liệu khác làm cơ sở cho các nghiệp vụ được ghi chép trên nhật ký mua hàng

Yêu cầu: Hãy cho biết mỗi thủ tục kiểm toán trên là loại thử nghiệm gì (thử nghiệm

kiểm soát, thử nghiệm cơ bản), nếu là thử nghiệm cơ bản, thử nghiệm này là thủ tục phân tích hay là thử nghiệm chi tiết?

TÓM TẮT CHƯƠNG I

Kiểm toán tài chính là việc kiểm tra và xác nhận về tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính (BCTC) của đơn vị, phục vụ đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin trên BCTC của đơn vị Đối tượng của kiểm toán tài chính là các bảng khai tài chính bao gồm báo cáo tài chính và các bảng kê khai có

Trang 14

hợp pháp của thông tin phản ánh trên bảng khai tài chính Để đạt được mục tiêu kiểm toán một cách có hiệu quả nhất thì phải sử dụng đúng các phương pháp kiểm toán Sự kết hợp các phương pháp kiểm toán nhằm xác minh nghiệp vụ, số dư tài khoản và các khoản mục cấu thành báo cáo tài chính gọi là thử nghiệm kiẻm toán

CHƯƠNG II: QUY TRÌNH KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH

Mục tiêu chương: Sau khi nghiên cứu chương này, người đọc có thể hiểu được

quy trình tiến hành kiểm toán báo cáo tài chính gồm ba giai đoạn đó là lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán, để có được sản phẩm là báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính thì kiểm toán viên phải thực hiện những công việc cụ thể gì trong từng giai đoạn

Nội dung của chương tập trung làm rõ những vấn đề sau:

- Vai trò, trình tự giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán

- Các công việc trong giai đoạn thực hiện kiểm toán

- Các yếu tố cơ bản của báo cáo kiểm toán, các loại báo cáo kiểm toán

2.1 Lập kế hoạch kiểm toán tài chính

2.1.1 Vai trò của lập kế hoạch kiểm toán

Sự cần thiết của lập kế hoạch kiểm toán đã được đề cập trong chuẩn mực kiểm toán việt nam số 300- lập kế hoạch kiểm toán: “ Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán để đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành một cách có hiệu quả”

Cũng theo chuẩn mực này, đoạn 08 chỉ rõ: “ Kế hoạch kiểm toán phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng yếu của cuộc kiểm toán; phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm ẩn và đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành đúng thời hạn Kế hoạch kiểm toán trợ giúp kiểm toán viên phân công công việc cho trợ lý kiểm toán và phối hợp với kiểm toán viên và chuyên gia khác về công việc kiểm toán”

Lập kế hoạch kiểm toán ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả chung của toàn

bộ cuộc kiểm toán, cụ thể như sau:

- Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên thu thập được các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có tính thuyết phục làm cơ sở cho kết luận kiểm toán về báo cáo tài chính

- Phối hợp công việc của kiểm toán viên một cách có hiệu quả nhằm giảm chi phí kiểm toán và nâng cao chất lượng kiểm toán

- Kế hoạch kiểm toán là căn cứ để công ty kiểm toán tránh xẩy ra những bất đồng với khách hàng Trong kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên đã thống nhất

Trang 15

với các khách hàng về nội dung công việc sẽ thực hiện, thời gian tiến hành kiểm toán cũng như trách nhiệm của mỗi bên

- Là căn cứ để đánh giá và kiểm soát chất lượng công việc kiểm toán đã và đang thực hiện

Lập kế hoạch kiểm toán không chỉ giúp kiểm toán viên chuẩn bị những điều kiện vật chất cơ bản của cuộc kiểm toán để tiến hành một cuộc kiểm toán có chất lượng mà lập kế hoạch kiểm toán còn được quy định trong chuẩn mực kiểm toán (trong văn bản pháp luật) đòi hỏi các kiểm toán viên phải tuân thủ khi thực hiện

2.1.2 Trình tự giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán

- Chuẩn bị để lập kế hoạch kiểm toán

- Tìm hiểu về khách hàng kiểm toán

- Xác lập mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán

- Xây dựng kế hoạch và thiết kế chương trình kiểm toán

2.1.2.1 Chuẩn bị để lập kế hoạch kiểm toán

Đây là giai đoạn tiền kế hoạch, là giai đoạn tiếp cận để thu thập những thông tin

về khách hàng nhằm giúp kiểm toán viên tìm hiểu về các nhu cầu của họ, đánh giá về khả năng phục vụ và các vấn đề khác như thời gian thực hiện, phí kiểm toán, tính liêm chính của ban giám đốc công ty khách hàng Dựa vào đó, nếu đồng ý, kiểm toán viên

sẽ ký kết hợp đồng kiểm toán với khách hàng

Trong ngành nghề kiểm toán cũng có sự cạnh tranh Đối với công ty kiểm toán độc lập nguyên tắc hoạt động của nó là hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, cạnh tranh với các công ty kiểm toán độc lập khác để chiếm lĩnh thị trường và đạt được lợi nhuận tối

đa Như vậy việc có và giữ được một khách hàng có thể khó khăn nhưng kiểm toán viên vẫn cần cẩn trọng khi quyết định tiếp nhận khách hàng bởi vì rủi ro có thể phải gánh trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên rất cao Do đó nếu nhận kiểm toán cho những khách hàng thiếu trung thực hoặc thường tranh luận về phạm vi kiểm toán, giá phí hoặc vi phạm đạo đức nghề nghiệp thì kiểm toán có thể gặp những bất lợi trong tương lai.Vì vậy trong giai đoạn chuẩn bị kế hoạch này kiểm toán viên phải thực hiện các công việc đó là: đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện lý do kiểm toán của khách hàng, lựa chọn đội ngũ kiểm toán viên và ký hợp đồng kiểm toán

Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán: Đây là công việc quan trọng trước khi

chấp nhận một khách hàng mới hay quyết định có tiếp tục kiểm toán cho một khách hàng cũ KTV phải tiến hành một số công việc để xem xét rủi ro kiểm toán mà công ty

có thể gặp phải:

- Thu thập và xem xét thông tin tài chính về khách hàng: giúp kiểm toán viên nhận định, đánh giá tình hình tài chính và công việc kinh doanh của khách hàng

Trang 16

- Trao đổi với kiểm toán viên tiền nhiệm: Nếu khách hàng này trước đây đã được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán khác thì kiểm toán viên mới phải chủ động liên lạc với kiểm toán viên cũ về tính liêm chính của ban quản trị, những bất đồng giữa ban quản trị với kiểm toán viên cũ, xem xét hồ sơ kiểm toán của kiểm toán viên tiền nhiệm

- Đánh giá tính liêm chính của ban giám đốc Công ty khách hàng: Đây là một bộ phận quan trọng của môi trường kiểm soát Nếu ban giám đốc thiếu tính liêm chính thì khả năng báo cáo tài chính tồn tại nhiều sai phạm trọng yếu là rất cao

và kiểm toán viên không thể dựa vào bất kỳ bản giải trình nào cũng như không thể dựa vào sổ sách kế toán (đôi khi kiểm toán viên thấy rằng ban giám đốc thiếu tính liêm chính đến mức mà có thể đưa ra quyết định từ chối không tiến hành kiểm toán)

- Đánh giá khả năng thực hiện kiểm toán của công ty kiểm toán: xem xét khả năng, trình độ của nhân viên kiểm toán có thể thực hiện được cuộc kiểm toán đối với khách hàng này không để tránh những vụ kiện tụng đối với công ty kiểm toán Những vụ kiện tụng này không chỉ gây tổn thất về mặt tài chính mà còn ảnh hưởng lớn đến hình ảnh và uy tín của công ty

- Xem xét tính độc lập của kiểm toán viên trong mối quan hệ với khách hàng

Nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng

Nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng nhằm mục đích đánh giá quy mô phức tạp của công việc kiểm toán cần thực hiện từ đó đề ra quyết định hợp lý trong việc ký kết hợp đồng kiểm toán và thiết kế phương pháp kiểm toán

Khi tiến hành kiểm toán để biết được lý do kiểm toán của công ty khách hàng không có cách nào hiệu quả hơn là phỏng vấn giám đốc khách hàng hoặc dựa vào kinh nghiệm của cuộc kiểm toán trước đó Những thông tin có thể thu thập được là xác định người sử dụng thông tin và mục đích kiểm toán của công ty khách hàng Nếu như báo cáo tài chính của công ty khách hàng là đối tượng quan tâm của nhiều người sử dụng thông tin chẳng hạn như báo cáo tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán thì mức độ trung thực, hợp lý của các thông tin trên BCTC được đòi hỏi càng cao và do đó số lượng cũng như chất lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập tăng lên Chính vì vậy quy mô và độ phức tạp của cuộc kiểm toán sẽ càng tăng lên

Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán: để đảm bảo cuộc kiểm toán đạt được

hiệu quả cao nhất đồng thời tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán phải có đội ngũ kiểm toán viên phù hợp cho từng cuộc kiểm toán cụ thể

Hợp đồng kiểm toán

Trang 17

Sau khi đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán cho công ty khách hàng và xem xét các vấn đề về lý do kiểm toán của khách hàng, lựa chọn đội ngũ kiểm toán viên công ty kiểm toán sẽ quyết định việc ký kết hợp đồng kiểm toán

Theo chuẩn mực kiểm toán việt nam số 210-Hợp đồng kiểm toán , định nghĩa: “ Hợp đồng kiểm toán là sự thoả thuận bằng văn bản giữa các bên tham gia ký kết (công

ty kiểm toán, khách hàng) về các điều khoản và điều kiện thực hiện kiểm toán của khách hàng và công ty kiểm toán, trong đó xác định mục tiêu, phạm vi kiểm toán, quyền và trách nhiệm của mỗi bên, hình thức báo cáo kiểm toán, thời gian thực hiện và các điều khoản về phí, về xử lý khi tranh chấp hợp đồng” Hợp đồng kiểm toán là thoả thuận chính thức giữa công ty kiểm toán và khách hàng về việc thực hiện kiểm toán và các dịch vụ liên quan khác

Chuẩn mực kiểm toán việt nam số 210 cũng quy định: “ Hợp đồng kiểm toán phải có các điều khoản chung của hợp đồng kinh tế theo quy định hiện hành, có thể thay đổi phù hợp với sự thoả thuận của các bên, nhưng phải bao gồm các yếu tố chủ yếu sau:

Số hiệu văn bản, ngày, tháng, năm ký hợp đồng;

Tên, địa chỉ, số tài khoản và ngân hàng giao dịch của các bên;

Nội dung dịch vụ;

Chất lượng hoặc yêu cầu kỹ thuật của công việc

Ngoài những yếu tố chủ yếu nói trên, hợp đồng kiểm toán còn có các nội dung sau:

Mục đích, phạm vi và nội dung kiểm toán hoặc dịch vụ khác;

Trách nhiệm của Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được kiểm toán trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính

Trách nhiệm của khách hàng trong việc cung cấp chứng từ, tài liệu kế toán và những thông tin khác liên quan đến công việc kiểm toán; ”

Trong hợp đồng, kiểm toán viên cần nêu rõ loại báo cáo kiểm toán được phát hành sẽ tuỳ theo mức độ trung thực và hợp lý và phù hợp với các chuẩn mực và chế độ

kế toán hiện hành Đồng thời, cần khẳng định với đơn vị là kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện mọi gian lận và sai sót

2.1.2.2 Tìm hiểu về khách hàng kiểm toán

Sau khi ký kết hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên chuyển sang giai đoạn lập

kế hoạch kiểm toán Để có thể xây dựng và thực hiện kế hoạch và chương trình kiểm toán hữu hiệu và hiệu quả, kiểm toán viên phải có hiểu biết đầy đủ về khách hàng chủ yếu là về tình hình kinh doanh và hệ thống kiểm soát nội bộ Những hiểu biết này sẽ giúp kiểm toán viên hoạch định các thủ tục kiểm toán phù hợp với đặc điểm hoạt động

Trang 18

của đơn vị nhất là giúp kiểm toán viên xác định được các khu vực có rủi ro cao để có những biện pháp thích hợp

Chuẩn mực kiểm toán việt nam số 310- Hiểu biết về tình hình kinh doanh – quy định: “ Để thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải có hiểu biết đầy

đủ về tình hình kinh doanh nhằm đánh giá và phân tích được các sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị mà theo kiểm toán viên thì có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, đến việc kiểm tra của kiểm toán viên hoặc đến báo cáo kiểm toán ”

Những nội dung cần hiểu biết

Kiểm toán viên cần đạt được sự hiểu biết trên một phạm vi rất rộng, bao gồm nhiều phương diện như sau:

- Hiểu biết chung về nền kinh tế như thực trạng nền kinh tế, mức độ lạm phát, các chính sách của chính phủ, biến động thị trường chứng khoán

- Hiểu biết về môi trường và lĩnh vực hoạt động của đơn vị được kiểm toán như tình hình thị trường và cạnh tranh, các đặc điểm của ngành nghề kinh doanh; chuẩn mực và chế độ kế toán có liên quan, sự thu hẹp hay mở rộng quy mô kinh doanh, rủi ro kinh doanh, các quy định của pháp luật và các chính sách chế dộ

cụ thể có liên quan

- Hiểu biết về những yếu tố nội tại của đơn vị được kiểm toán bao gồm những đặc điểm về sở hữu và quản lý, tình hình kinh doanh của đơn vị, khả năng tài chính của đơn vị

Đặc điểm về sở hữu và quản lý:

- Hội đồng quản trị: số lượng uỷ viên và thành phần, uy tín và kinh nghiệm của từng cá nhân, sự tồn tại và phạm vi hoạt động của ban kiểm soát, sự tồn tại và tác động của quy chế hoạt động của đơn vị;

- Giám đốc và bộ máy điều hành( kinh nghiệm và uy tín, thu nhập, các chế độ khuyến khích vật chất, khen thưởng và kỷ luật, sử dụng các ước tính kế toán và

dự toán, áp lực đối với giám đốc hoặc người đứng đầu);

- Loại hình doanh nghiệp(nhà nước, tư nhân, cổ phần, trách nhiệm hữu hạn, công

ty liên doanh, công ty có vốn đầu tư nước ngoài)

- Cơ cấu vốn

- Phạm vi hoạt động,

- Cơ sở sản xuất, kinh doanh chính và các chi nhánh, đại lý

- Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý

- Quan niệm và thái độ của Giám đốc đối với hệ thống kiểm soát nội bộ,

- Công ty kiểm toán và kiểm toán viên năm trước

Tình hình kinh doanh của đơn vị (sản phẩm, thị trường, các nhà cung cấp, chi

Trang 19

- Đặc điểm và quy mô hoạt động sản xuất, kinh doanh

- Các điều kiện sản xuất, kho bãi, văn phòng

- Sản phẩm, dịch vụ và thị trường (thí dụ: các khách hàng và hợp đồng chính, các đối thủ cạnh tranh, xuất khẩu, các chính sách giá cả, danh tiếng các mặt hàng ,

xu hướng, chiến lược và mục tiêu tiếp thị, quy trình sản xuất )

- Các nhà cung cấp hàng hoá và dịch vụ quan trọng (Thí dụ: mức độ ổn định của nhà cung cấp, điều kiện thanh toán, các hình thức nhập khẩu )

- Hàng tồn kho

- Các khoản chi phí quan trọng

- Luật pháp và các quy định có ảnh hưởng lớn đến đơn vị được kiểm toán

- Cơ cấu nợ vay

Khả năng tài chính: tình hình thanh toán và khả năng thanh toán của đơn vị được kiểm toán

Phương pháp tìm hiểu

Để đạt được những hiểu biết như trên, kiểm toán viên phải thu thập và nghiên cứu tài liệu, tham quan đơn vị, phỏng vấn các cá nhân có liên quan và thực hiện phân tích sơ bộ

Thu thập và nghiên cứu tài liệu về tình hình kinh doanh

Việc nghiên cứu tài liệu sẽ giúp kiểm toán viên có nhiều thông tin hữu ích về tình hình kinh doanh để xem xét ảnh hưởng của chúng đối với báo cáo tài chính của

đơn vị Dưới đây là một vài tài liệu cần thu thập và nghiên cứu:

- Điều lệ công ty và giấy phép thành lập (kiểm toán viên yêu cầu đơn vị cung cấp

những bản sao của tài liệu này để nghiên cứu vì điều lệ giúp kiểm toán viên hiểu

và xem xét về nhiều vấn đề như cơ cấu tổ chức, thể lệ họp cổ đông, thủ tục phát hành cổ phần, thể thức công bố về cổ tức ; giấy phép hay quyết định thành lập

là tài liệu pháp lý chứng minh về tư cách pháp nhân của đơn vị, hiểu được về mục tiêu hoạt động, các lĩnh vực kinh doanh hợp pháp của đơn vị)

- Báo cáo tài chính và các báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra của năm hiện hành và một vài năm trước

- Các biên bản họp Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị (hay Hội đồng thành

viên) và Ban giám đốc: Đây là tài liệu tóm tắt về những vấn đề quan trọng đã được thảo luận và quyết định trong những cuộc họp Nó bao gồm nhiều thông tin quan trọng như là quyết định về cổ tức, chuẩn y việc hợp nhất, giải thể các đơn vị trực thuộc, xét duyệt về việc mua bán các tài sản quan trọng, cho phép vay dài hạn Nhờ nghiên cứu chúng, kiểm toán viên sẽ xác định những dữ kiện

có ảnh hưởng đến việc hình thành các thông tin tài chính và trình bày báo cáo

Trang 20

- Các hợp đồng hoặc cam kết quan trọng (giúp hình dung những khía cạnh pháp

lý có ảnh hưởng đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị)

- Các nội quy, chính sách của khách hàng: việc nghiên cứu này giúp kiểm toán viên xác định xem các quyết định của nhà quản lý có phù hợp với luật pháp, với chính sách hiện hành của công ty hay không và hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị

- Các tài liệu khác: các văn bản luật, chế độ, chính sách của Nhà nước có liên quan đến môi trường kinh doanh và những lĩnh vực hoạt động của đơn vị

Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán chung: hồ sơ

kiểm toán năm trước có rất nhiều thông tin về khách hàng, về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức và các đặc điểm hoạt động khác

Khảo sát thực tế hoạt động của đơn vị

Nếu như chỉ thu thập và nghiên cứu để đưa ra những đánh giá, nhận xét về hệ thống kiểm soát nội bộ và tình hình hoạt động kinh doanh của đơn vị thì chưa đủ Những gì diễn ra trong thực tế có thể khác những gì phản ánh trên tài liệu sổ sách, kế toán của đơn vị Vì vậy, kiểm toán viên phải tận mắt quan sát các hoạt động của khách hàng Để tận mắt quan sát về mọi hoạt động của khách hàng, kiểm toán viên cần phải tham quan nhà xưởng, kho tàng, cửa hàng, văn phòng làm việc của đơn vị Điều này rất hữu ích vì sẽ tạo cơ hội để kiểm toán viên:

- Tiếp cận và quan sát về thiết kế và vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ

- Bước đầu hình dung về hoạt động của các phân xưởng, cửa hàng, về sản phẩm

dở dang, về thiết bị nhờ đó kiểm toán viên hiểu hơn về tình hình hoạt động thực

Kiểm toán viên có thể yêu cầu đơn vị cử người có thẩm quyền để trình bày về tình hình của đơn vị, về hệ thống kiểm soát nội bộ, chính sách kinh doanh, cơ cấu tổ chức Ngoài ra, trong quá trình tham quan, kiểm toán viên có thể trực tiếp trao đổi với những cán bộ chủ chốt tại các bộ phận Thí dụ như phỏng vấn trưởng phòng kỹ thuật

về quy trình công nghệ, trao đổi với phòng vật tư về số lượng kho hàng, tình hình bảo

Trang 21

2.1.2 3 Xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán

Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả tiêu chuẩn định lượng

và định tính

Về mặt định lượng, được gọi là trọng yếu khi sai lệch trên báo cáo tài chính đạt

đến một số tiền nhất định có thể gây ảnh hưởng đến quyết định của những người sử dụng báo cáo tài chính

Về mặt định tính, kiểm toán viên phải nhận thức rằng có những trường hợp tuy

sai lệch có giá trị thấp nhưng do bản chất của nó nên có thể vẫn gây ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính thí dụ như sai lệch có tác động dây chuyền, sai lệch là gian lận, sai lệch luỹ kế

Xác định mức trọng yếu là vấn đề thuộc xét đoán chuyên nghiệp của kiểm toán viên Kiểm toán viên xác lập mức trọng yếu cho toàn bộ báo cáo tài chính và phân bổ mức trọng yếu đó cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính

Xác lập mức trọng yếu trong giai đoạn lập kế hoạch nhằm mục đích thiết lập các thủ tục kiểm toán thích hợp để phát hiện những sai lệch có thể có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính Thí dụ: khi xác lập mức trọng yếu thấp tức là sai lệch được phép khá nhỏ, kiểm toán viên phải mở rộng phạm vi kiểm tra cũng như tăng cỡ mẫu của các thử nghiệm cơ bản

Đánh giá rủi ro

Khả năng kiểm toán viên đưa ra nhận xét không xác đáng về báo cáo tài chính

Trang 22

toán như kiểm toán viên chỉ lấy mẫu để kiểm tra, việc thu thập bằng chứng kiểm toán

là do kiểm toán viên cần dựa vào đó để thuyết phục chứ không phải nhằm chứng minh

số liệu của báo cáo tài chính là tuyệt đối chính xác, sự xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên ) Vì vậy, trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro kiểm toán bao gồm rủi ro kiểm toán mong muốn, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát nhằm xác định mức rủi ro phát hiện phù hợp Trên cơ sở đó thiết kế các thử nghiệm kiểm toán thích hợp (Ví dụ: đối với khoản mục mà rủi ro phát hiện chấp nhận được là thấp, kiểm toán viên cần tăng cường thử nghiệm chi tiết, mở rộng cỡ mẫu Ngược lại, đối với khoản mục có thể cho phép mức rủi ro phát hiện cao, kiểm toán viên có thể giảm bớt các thử nghiệm cơ bản và giảm cỡ mẫu để tăng hiệu quả kinh tế )

Đánh giá rủi ro kiểm toán: kiểm toán viên xác định mức rủi ro kiểm toán mong muốn cho từng khoản mục

Rủi ro kiểm toán là rủi ro do công ty kiểm toán và KTV đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu (Theo chuẩn mực kiểm toán việt nam số 400, mức rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định dựa vào hai yếu tố:

Mức tin tưởng vào BCTC của người sử dụng Có thể xác định qua các thông tin như quy mô của công ty khách hàng, sự phân phối quyền sở hữu, bản chất và quy mô của công nợ (quy mô càng lớn thì số lượng người sử dụng báo cáo tài chính càng nhiều Nếu báo cáo tài chính càng được nhiều người sử dụng quan tâm và đặt niềm tin thì kiểm toán viên phải xác định một mức rủi ro kiểm toán thấp Từ đó phải tăng cường các thủ tục kiểm toán và tăng số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập và tăng độ chính xác của các kết luận kiểm toán)

Khả năng công ty khách hàng gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán được công bố Có thể cân nhắc các yếu tố như: khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản, các khoản lãi hoặc lỗ trong các năm trước, bản chất hoạt động của công ty khách hàng

Đánh giá rủi ro tiềm tàng

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 400, đoạn 04, định nghĩa: “ Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mặc dù có hay không hệ thống kiểm soát nội bộ”

Kiểm toán viên phải dựa vào việc xét đoán chuyên môn của mình để đánh giá rủi ro tiềm tàng trên những nhân tố chủ yếu sau:

Bản chất kinh doanh của khách hàng (doanh nghiệp kinh doanh vàng bạc đá quý thì khả năng xẩy ra các gian lận và sai sót đối với khoản mục tiền cao hơn là các đơn vị

Trang 23

Tính trung thực của ban giám đốc

Kết quả của các lần kiểm toán trước: đối với khoản mục được phát hiện có sai phạm trong các lần kiểm toán trước thì rủi ro tiềm tàng thường được xác định ở mức cao

Hợp đồng kiểm toán lần đầu và hợp đồng kiểm toán dài hạn

Các nghiệp vụ kinh tế không thường xuyên: rủi ro tiềm tàng thường được đánh giá cao đối với khoản mục chứa đựng nhiều nghiệp vụ không thường xuyên này

Các ước tính kế toán

Số lượng tiền của các số dư tài khoản

Đánh giá rủi ro kiểm soát

Rủi ro kiểm soát là khả năng xẩy ra các sai phạm trọng yếu trong từng nghiệp

vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa, không phát hiện và sửa chữa kịp thời

Rủi ro kiểm soát liên quan đến sự yếu kém của hệ thống kiếm soát nội bộ, do hệ thống kiểm soát nội bộ không hoạt động hoặc hoạt động không có hiệu quả

Đánh giá rủi ro phát hiện

Rủi ro phát hiện là khả năng xẩy ra các sai phạm trọng yếu trong từng nghiệp

vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính mà trong quá trình kiểm toán kiểm toán viên và công ty kiểm toán đã không phát hiện được

Rủi ro phát hiện có nguyên nhân từ chính các kiểm toán viên: từ nội dung, thời gian và phạm vi của các thử nghiệm cơ bản do kiểm toán viên thực hiện

Rủi ro phát hiện được xác định từ ba loại rủi ro: rủi ro kiểm toán mong muốn, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát

2.1.2.4 Xây dựng kế hoạch và thiết kế chương trình kiểm toán

Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm:

- Lập kế hoạch chiến lược

- Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể

- Thiết kế chương trình kiểm toán

Kế hoạch chiến lược

Kế hoạch chiến lược bao gồm các định hướng cơ bản, nội dung trọng tâm và phương pháp tiếp cận chung của cuộc kiểm toán do cấp chỉ đạo vạch ra dựa trên hiểu biết về tình hình hoạt động và môi trường kinh doanh của đơn vị được kiểm toán

Theo chuẩn mực kiểm toán việt nam số 300- lập kế hoạch kiểm toán-quy định:

“ Kế hoạch chiến lược phải được lập cho các cuộc kiểm toán lớn về quy mô, tính chất phức tạp, địa bàn rộng hoặc kiểm toán báo cáo tài chính của nhiều năm ”

Trang 24

Như vậy khi cuộc kiểm toán có đặc điểm trên thì công ty kiểm toán phải lập kế hoạch chiến lược còn trong những cuộc kiểm toán khác thì không nhất thiết phải lập kế hoạch này

Cuộc kiểm toán lớn về quy mô là cuộc kiểm toán báo cáo tài chính tổng hợp (hoặc báo cáo tài chính hợp nhất) của Tổng công ty, trong đó có nhiều công ty đơn vị trực thuộc cùng loại hình hoặc khác loại hình kinh doanh

Cuộc kiểm toán có tính chất phức tạp là cuộc kiểm toán có dấu hiệu tranh chấp, kiện tụng hoặc nhiều hoạt động mới mà kiểm toán viên và công ty kiểm toán chưa có nhiều kinh nghiệm

Cuộc kiểm toán địa bàn rộng là cuộc kiểm toán của đơn vị có nhiều đơn vị cấp dưới nằm trên nhiều tỉnh, thành phố khác nhau, kể cả chi nhánh ở nước ngoài

Kiểm toán báo cáo tài chính nhiều năm là khi công ty ký hợp đồng kiểm toán cho một số năm tài chính liên tục

Kế hoạch kiểm toán tổng thể

Kế hoạch kiểm toán tổng thể là việc cụ thể hoá kế hoạch chiến lược và phương pháp tiếp cận chi tiết về nội dung, lịch trình và phạm vi dự kiến của các thủ tục kiểm toán

Mục tiêu của kế hoạch kiểm toán tổng thể là để có thể thực hiện công việc kiểm toán một cách có hiệu quả và theo đúng thời gian dự kiến

Kế hoạch kiểm toán tổng thể thường bao gồm các nội dung sau:

Hiểu biết của kiểm toán viên về hoạt động kinh doanh của khách hàng

Hiểu biết của kiểm toán viên về hệ thống kiểm soát nội bộ

Xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán

Nội dung, thời gian và phạm vi của các thủ tục kiểm toán: bao gồm phương hướng áp dụng các kỹ thuật kiểm toán đối với những khoản mục chủ yếu của báo cáo tài chính Nội dung này có thể được trình bày dưới dạng một bảng phác thảo vắn tắt về các thủ tục kiểm toán chủ yếu hoặc một bảng kế hoạch sơ bộ cho kiểm toán các khoản mục:

Khoản

mục

Các nhân tố làm tăng(giảm)rủi ro

áp dụng kỹ thuật kiểm toán

Sự phối hợp, chỉ đạo, giám sát và kiểm tra: bao gồm việc dự kiến nguồn nhân lực và trách nhiệm của họ trong cuộc kiểm toán; sự tham gia của các chuyên gia; sự

Trang 25

Các vấn đề khác: bao gồm những vấn đề như các điều khoản của hợp đồng kiểm toán, lịch trình thực hiện hợp đồng kiểm toán

Chương trình kiểm toán

Chương trình kiểm toán là toàn bộ những chỉ dẫn cho kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán tham gia vào công việc kiểm toán và là phương tiện ghi chép, theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện kiểm toán Chương trình kiểm toán chỉ dẫn mục tiêu kiểm toán từng phần hành, nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán cụ thể và thời gian ước tính cần thiết cho từng phần hành

2.2 Thực hiện kế hoạch kiểm toán

Thực chất của quá trình kiểm toán là quá trình sử dụng các thử nghiệm kiểm toán để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán có chất lượng để làm căn cứ hợp lý đưa cho những ý kiến về bảng khai tài chính

Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình triển khai một cách chủ động và tích cực các kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằm đưa ra những ý kiến xác thực về mức

độ trung thực và hợp lý của Bảng khai tài chính

Quyết định về loại trắc nghiệm được sử dụng phụ thuộc vào kết quả đánh giá độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ

Nếu KTV khẳng định không dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ thì kiểm toán viên sẽ triển khai sử dụng ngay các thử nghiệm cơ bản với số lượng lớn

Nếu KTV khẳng định có thể dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ thì sử dụng kết hợp thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản với số lượng ít hơn các nghiệp vụ

Nếu KTV đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ có độ tin cậy cao thì bằng chứng kiểm toán thu thập được chủ yếu qua thử nghiệm kiểm soát kết hợp với một số ít thử nghiệm cơ bản

2.2.1 Thực hiện thử nghiệm kiểm soát

Sau khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ với đánh giá ban đầu là khách thể kiểm toán có hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động có hiệu lực thì kiểm toán viên thực hiện thử nghiệm kiểm soát

Thử nghiệm kiểm soát (còn được gọi là thử nghiệm tuân thủ) là những thử nghiệm dùng để thu thập bằng chứng kiểm toán về sự hữu hiệu trong thiết kế và vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ

2.2.2 Thực hiện thử nghiệm cơ bản

Thử nghiệm cơ bản là thử nghiệm dùng để thu thập bằng chứng về những sai lệch trọng yếu trong báo cáo tài chính Nó bao gồm thủ tục phân tích và thủ tục kiểm tra chi tiết

Thực hiện thủ tục phân tích

Trang 26

Thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết: là việc thực hiện kiểm tra chi tiết nghiệp vụ hay số dư tài khoản hoặc số phát sinh

Quá trình kiểm tra chi tiết bao gồm các công việc chính sau:

Lập kế hoạch để kiểm tra chi tiết : trong bước này bao gồm các công việc như xác định mục tiêu kiểm tra tức là thu nhận bằng chứng kiểm toán về sai phạm trọng yếu trong các cơ sở dẫn liệu thuộc các mục tiêu kiểm toán

Lựa chọn các khoản mục để kiểm tra chi tiết: khi không có đủ thời gian để tiến hành kiểm tra tất cả các nghiệp vụ và số dư (kiểm tra tất cả các khoản mục) thì kiểm toán viên có thể tiến hành chọn mẫu để kiểm tra Khoản mục được chọn phải điển hình

và đại diện hoặc là những khoản mục chính

Thực hiện các biện pháp kỹ thuật kiểm tra chi tiết trên các khoản mục được chọn: sau khi đã chọn ra được các khoản mục để kiểm tra thì kiểm toán viên phải xác định kỹ thuật kiểm toán nào được sử dụng để kiểm tra các khoản mục đó Kỹ thuật kiểm toán thường được sử dụng là xác nhận và kiểm tra thực tế (kiểm kê)

Đánh giá kết quả kiểm tra chi tiết: sau khi kiểm tra chi tiết, kiểm toán viên phát hiện ra những sai phạm về tài khoản và chức năng hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ Sau khi kiểm tra kiểm toán viên cũng phát hiện ra những chênh lệch thì cần điều tra nguyên nhân và tính chất, xem xét chênh lệch đó có trọng yếu hay không để có quyết định điều chỉnh phù hợp

2.3 Kết thúc kiểm toán

Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán đóng vai trò quan trọng, là yếu tố đảm bảo cho một cuộc kiểm toán có chất lượng và hiệu quả, giai đoạn thực hiện kiểm toán là quá trình thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán có chất lượng thì giai đoạn cuối cùng của quá trình kiểm toán cũng giữ một vai trò quan trọng Đây là giai đoạn kiểm toán viên phải đánh giá và tổng hợp các bằng chứng kiểm toán và đưa ra ý kiến nhận xét của mình về báo cáo tài chính được kiểm toán, ý kiến nhận xét đó được trình bày trên báo cáo kiểm toán Trong giai đoạn cuối cùng này một công việc quan trọng mà kiểm toán viên phải thực hiện là lập báo cáo kiểm toán

2.3.1 Khái niệm

Kết thúc kiểm toán thì kiểm toán viên phải thông báo kết quả kiểm toán của mình Trong báo cáo kiểm toán thể hiện ý kiến nhận xét về báo cáo tài chính Nội dung của các ý kiến kiểm toán có thể khác nhau nhưng báo cáo kiểm toán phải cho người đọc thấy được những đánh giá của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của các thông tin phản ánh trên báo cáo tài chính xét trên khía cạnh trọng yếu, sự tuân thủ chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các văn bản pháp lý khi soạn thảo báo cáo tài chính Báo cáo tài chính được xem là trung thực khi nó phản ánh đúng thực trạng tài

Trang 27

lý khi thông tin trên báo cáo là trung thực là cần thiết, phù hợp về không gian, thời gian

và sự kiện được nhiều người thừa nhận

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 700- “Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính”, đoạn 06, định nghĩa: “Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính là loại báo cáo bằng văn bản do kiểm toán viên và công ty kiểm toán lập và công bố để nêu rõ ý kiến chính thức của mình về báo cáo tài chính của một đơn vị đã được kiểm toán”

2.3.2 Vai trò, ý nghĩa của báo cáo kiểm toán

Báo cáo kiểm toán là sản phẩm của cuộc kiểm toán và nó có vai trò rất quan trọng đối với kiểm toán viên, đối với đơn vị được kiểm toán và đối với người sử dụng thông tin

Đối với kiểm toán viên, báo cáo kiểm toán là tài liệu trình bày các kết luận sau cùng về báo cáo tài chính được kiểm toán Nó là sản phẩm của kiểm toán viên cung cấp cho xã hội và họ phải chịu trách nhiệm về ý kiến của mình

Đối với người sử dụng thông tin, báo cáo kiểm toán là căn cứ để đánh giá độ tin cậy của thông tin trên báo cáo tài chính và từ đó đưa ra quyết định kinh tế đúng đắn

Đối với đơn vị được kiểm toán, báo cáo kiểm toán chấp nhận toàn phần sẽ góp phần làm tăng độ tin cậy của thông tin trên báo cáo tài chính

2.3.3 Trách nhiệm lập, trình bày và gửi báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

Kiểm toán viên và công ty kiểm toán có trách nhiệm lập báo cáo kiểm toán và trình bày ý kiến của mình về tính trung thực và hợp lý của các thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính xét trên khía cạnh trọng yếu và về việc tuân thủ chuẩn mực, chế

độ kế toán hiện hành cũng như các quy định pháp lý có liên quan

Phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu nghĩa là ý kiến của kiểm toán viên đưa ra trên báo cáo kiểm toán một sự đảm bảo chắc chắn rằng báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu; nhưng không đảm bảo tuyệt đối rằng không có bất kỳ một sai sót nào trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán, kiểm toán viên chỉ quan tâm tới yếu tố trọng yếu của các báo cáo tài chính

Để đảm bảo sự thống nhất, trong kiểm toán độc lập chuẩn mực về báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính được xây dựng Các chuẩn mực này xác định những nội dung chính cần trình bày và các loại ý kiến mà kiểm toán viên có thể nêu ra trên báo cáo kiểm toán nhằm hạn chế tối đa các ngộ nhận có thể xẩy ra khi đọc báo cáo kiểm toán

Vì vậy nội dung, hình thức và kết cấu của báo cáo phải được trình bày theo đúng chuẩn mực kiểm toán về báo cáo kiểm toán

Báo cáo kiểm toán được báo cáo cho: hội đồng quản trị và cổ đông; cho Ban giám đốc; cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức khác (thị trường chứng khoán) theo luật định

Trang 28

Một báo cáo kiểm toán bao gồm các yếu tố (phần ) cơ bản sau đây:

Tên và địa chỉ công ty kiểm toán

Báo cáo kiểm toán phải nêu rõ tên, biểu tượng, địa chỉ giao dịch, số điện thoại,

số fax và số hiệu liên lạc khác của công ty hoặc chi nhánh công ty kiểm toán phát hành báo cáo chẳng hạn như Công ty Dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC) Ghi rõ tên địa chỉ để biết rõ ai là đơn vị kiểm toán báo cáo tài chính này, báo cáo kiểm toán là do công ty nào phát hành

Nếu có từ 2 công ty kiểm toán trở lên cùng thực hiện một cuộc kiểm toán thì phải ghi đầy đủ các thông tin nêu trên của các công ty cùng ký báo cáo kiểm toán

Số hiệu báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

Báo cáo kiểm toán phải ghi rõ số hiệu phát hành báo cáo kiểm toán của công ty hoặc chi nhánh của công ty theo từng năm

Tiêu đề báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

Tiêu đề có thể là báo cáo kiểm toán, báo cáo kiểm toán về BCTC, báo cáo của KTV Tiêu đề này giúp phân biệt báo cáo kiểm toán với các loại báo cáo do người khác

lập

Người nhận báo cáo

Báo cáo kiểm toán phải ghi rõ người được nhận báo cáo kiểm toán phù hợp với hợp đồng kiểm toán Người nhận có thể là hội đồng quản trị, giám đốc hoặc các cổ đông đơn vị được kiểm toán

VD: Kính gửi Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc Tổng công ty

Mở đầu của báo cáo kiểm toán

Báo cáo kiểm toán phải ghi rõ BCTC là đối tượng của cuộc kiểm toán và ghi rõ ngày lập và phạm vi niên độ tài chính mà BCTC đó phản ánh

Báo cáo kiểm toán phải khẳng định rõ việc lập BCTC là thuộc trách nhiệm của giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được kiểm toán Trách nhiệm của KTV và công ty kiểm toán là đưa ra ý kiến về BCTC dựa trên kết quả kiểm toán của mình (báo cáo tài chính phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính của doanh nghiệp Việc lập báo cáo tài chính đòi hỏi Giám đốc (hoặc người đứng đầu ) đơn vị phải tuân thủ chuẩn mực và chế dộ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận; phải lựa chọn các nguyên tắc

và phương pháp kế toán thích hợp Còn trách nhiệm của kiểm toán viên và công ty kiểm toán là kiểm tra các thông tin trên báo cáo tài chính và đưa ra ý kiến về báo cáo này)

Phạm vi và căn cứ thực hiện cuộc kiểm toán

Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính phải nêu chuẩn mực kiểm toán và kế hoạch kiểm toán đã áp dụng để thực hiện cuộc kiểm toán Báo cáo phải nêu những

Ngày đăng: 14/11/2015, 08:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng chỉnh hợp ngân hàng  Ngân hàng ACB - Giáo trình Kiểm toán tài chính (Giáo trình đào tạo từ xa): Phần 1
Bảng ch ỉnh hợp ngân hàng Ngân hàng ACB (Trang 43)
Bảng phân tích số dư theo tuổi nợ - Giáo trình Kiểm toán tài chính (Giáo trình đào tạo từ xa): Phần 1
Bảng ph ân tích số dư theo tuổi nợ (Trang 53)
Bảng đối chiếu kết quả xác nhận nợ phải thu khách hàng - Giáo trình Kiểm toán tài chính (Giáo trình đào tạo từ xa): Phần 1
ng đối chiếu kết quả xác nhận nợ phải thu khách hàng (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm