1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở của trứng gà ri khi ấp nhân tạo

91 549 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 12,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của chế ñộ ấp ñến sự phát triển của phôi và kết quả ấp nở Trong chăn nuôi gia cầm, khi ấp trứng nhân tạo ñể có ñược kết quả ấp nở tốt ngoài yếu tố giống, thức ăn, chăm sóc, c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO

TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

- -

TRẦN VĂN PHƯỢNG

MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ðẾN TỶ LỆ

ẤP NỞ CỦA TRỨNG GÀ RI KHI ẤP NHÂN TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: CHĂN NUÔI

Mã số : 60.62.0105

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Huy ðạt

HÀ NỘI – 2012

Trang 2

LỜI CAM ðOAN

Tôi xin cam ñoan luận văn thạc sĩ “Một số yếu tố ảnh hưởng ñến tỷ lệ ấp

nở trứng gà Ri khi ấp nhân tạo” là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng tuân thủ ñúng nguyên tắc, kết quả trình bày trong luận văn ñược thu thập ñược trong quá trình nghiên cứu là trung thực, chưa ñược công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào từ trước ñến nay

Hà Nội, tháng 11 năm 2012

Trần Văn Phượng

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn này, tôi ñã nhận ñược sự tận tình hướng dẫn của các thầy cô trong Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản, Viện ñào tạo sau ñại học – Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội Tôi cũng luôn nhận ñược sự quan tâm, tạo ñiều kiện giúp ñỡ của Ban Giám ñốc, Trạm ấp, Trại Thực nghiệm Liên Ninh, Cán bộ viên chức và công nhân kỹ thuật – Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi – Viện Chăn Nuôi trong quá trình thực hiện ñề tài ðặc biệt, tôi ñã nhận ñược sự tận tình chỉ bảo của PGS TS Nguyễn Huy ðạt, PGS TS Bùi Hữu ðoàn – những người ñã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc về sự giúp

Trang 4

2.1.3 Ảnh hưởng của chế ñộ ấp ñến sự phát triển của phôi và kết quả

Trang 5

3.1.3 Thời gian nghiên cứu 36

4.2.3 Ảnh hưởng của vị trí xếp khay trứng trong máy ấp ña kỳ ñến kết

4.2.6 Kết quả ấp thử nghiệm trứng có các chỉ tiêu bên ngoài: khối

lượng, CSHD, chế ñộ bảo quản, sát trùng và chế ñộ ấp tốt nhất

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

4.5 Kết quả ấp nở trứng bảo quản trong kho lạnh với thời gian bảo quản

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Trang 8

Trước ñây gà Ri ñược người dân nuôi theo phương thức truyền thống là chăn thả tự nhiên, việc chọn lọc ñể nhân ñàn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, do vậy năng suất và chất lượng không cao ðặc biệt con giống bị pha tạp bởi nhiều giống gà ñịa phương khác Trước tình hình ñó, từ năm 1997 ñến năm 2001 Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc (nay là Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi) ñã tiến hành nghiên cứu chọn lọc, nhân thuần và nuôi dưỡng gà Ri trong ñiều kiện bán chăn thả Từ năm 2001 ñến 2005 Trung tâm tiếp tục nghiên cứu chọn lọc nâng cao năng suất của gà Ri vàng rơm Kết quả

ñã chọn lọc ñược ñàn giống gà Ri màu vàng rơm có sản lượng trứng 125 – 129 quả/mái/năm, khối lượng trứng lúc 38 tuần 43,5g (Nguyễn Huy ðạt và cộng

sự, 2005) [8] Hiện nay gà Ri ñang ñược phát triển chăn nuôi rộng rãi, quy mô hàng ngàn con ở khắp các vùng trong cả nước với phương thức chăn thả vườn ñồi ðể nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi gà Ri, ñáp ứng nhu cầu ngày càng cao về số lượng và chất lượng con giống, cùng với việc nghiên cứu

về chế ñộ chăm sóc nuôi dưỡng, phương thức chăn nuôi thì cần quan tâm ñến quy trình ấp nở ñối với giống gà này Trong chăn nuôi tự nhiên, việc ấp nở do

gà mẹ ñảm nhiệm Khi gà Ri ñược chăn nuôi tập trung với quy mô lớn, ñể có

số lượng lớn gà con cùng ngày tuổi thì ấp trứng bằng máy ấp công nghiệp là bước phát triển tất yếu

Trang 9

Trứng gà Ri có khối lượng nhỏ, so với trứng của gà Lương Phượng, Sasso … thì trứng gà Ri chỉ bằng 75 – 80%, nhưng thực tế sản xuất vẫn ñược ấp trong cùng một máy ðiều tra kết quả ấp nở trong nhiều năm thấy rằng trứng gà Ri luôn có xu hướng nở sớm, tỷ lệ gà loại 1/tổng trứng vào ấp ñạt dưới 80%, thấp hơn trứng của các giống gà khác khi ấp chung một chế

ñộ Về lý thuyết, các loại trứng có khối lượng, kích thước khác nhau phải có chế ñộ bảo quản, chế ñộ ấp khác nhau thì mới có tỷ lệ nở cao và chất lượng con giống tốt Mặt khác cho ñến nay, chưa có những nghiên cứu ñầy ñủ về quy trình ấp nở riêng cho trứng gà Ri Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện ñề

tài nghiên cứu “Một số yếu tố ảnh hưởng ñến tỷ lệ ấp nở của trứng gà Ri khi ấp nhân tạo”

1.2 Mục ñích của ñề tài

Xác ñịnh một số yếu tố ảnh hưởng ñến tỷ lệ ấp nở, góp phần hoàn thiện

quy trình ấp nhằm nâng cao tỷ lệ ấp nở của trứng gà Ri

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Trang 10

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Trong lịch phát triển chăn nuôi gia cầm, con người ñã biết sử dụng kỹ thuật ấp trứng nhân tạo từ rất sớm Từ trước công nguyên, cách ñây trên 2400 năm ở Ai Cập ñã xuất hiện những trạm ấp ñầu tiên bằng ñất sét trộn với rơm, trong ñó xếp các lớp trứng và ở giữa ñốt một ngọn ñèn dầu rất nhỏ ñể cấp nhiệt giai ñoạn ñầu Sang giai ñoạn sau của quá trình ấp người ta chỉ xếp một lớp trứng và nhiệt ñộ ñược duy trì bằng sức nóng do quá trình phát triển phôi tỏa ra Các trạm ấp này có thể ấp mỗi lần ñến hàng chục nghìn trứng Ở Châu

Á, ấp trứng nhân tạo cũng ñã xuất hiện từ rất sớm; ở Trung Quốc từ 250 năm trước Công nguyên Trứng ñược bỏ vào các túi nhỏ và bỏ vào lò ðể cấp nhiệt, người ta ñốt than củi hoặc ủ ñống phân lớn

Ở nước ta, một số ñịa phương còn ấp trứng nhân tạo bằng phương pháp thủ công như: ấp trứng bằng thóc, trấu nóng; dùng trứng ñang ấp ñể ủ cho trứng mới vào còn gọi là “trứng ấp trứng” Phương pháp trứng ấp trứng ñã ñược áp dụng ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam và còn gọi là ấp trứng bằng phương pháp “truyền hơi nóng” Ngoài ra còn ấp trứng bằng phương pháp dùng tủ ấp bằng nước nóng ñể ấp trứng ngỗng, vịt

Ấp trứng nhân tạo bằng các phương pháp thủ công thô sơ nên việc kiểm tra vẫn dựa vào trực quan là chính, chưa có các dụng cụ kiểm tra chính xác

Vì vậy, trong nhiều trường hợp tỷ lệ nở ñạt khá cao nhưng chất lượng gia cầm

nở ra chưa thật tốt

Sự ra ñời của máy ấp công nghiệp cùng với các tiến bộ về khoa học kỹ thuật ñã giải quyết các nhược ñiểm của ấp thủ công, làm cho ấp nhân tạo ngày càng hoàn chỉnh Các máy ấp công nghiệp hiện ñại có hệ thống thiết bị hoàn toàn tự ñộng ñể ñiều chỉnh các yếu tố: nhiệt ñộ, ẩm ñộ, thông thoáng và ñảo trứng với ñộ tin cậy cao Các máy ấp công nghiệp hiện nay có thể ấp với công suất 19.200 quả, 38.400 quả ñến 57.800 quả/chu kỳ ấp, cho tỷ lệ ấp nở rất cao, chất lượng con giống ñều và ñảm bảo

Trang 11

Ấp trứng gia cầm nhân tạo bằng máy ấp công nghiệp ñã tạo ñiều kiện cho việc tập trung hóa ngành chăn nuôi gia cầm, nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm, góp phần thúc ñẩy ngành chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp

2.1 Cơ sở khoa học của kỹ thuật ấp trứng nhân tạo

2.1.1 Cấu tạo và các thành phần của trứng

Theo tác giả Bùi Hữu ðoàn (2009) [11] trứng gia cầm có “hình trứng”,

ñó là hình bầu dục không cân ñối, một ñầu tù và một ñầu nhọn Trứng ñược cấu tạo gồm vỏ, lòng trắng và lòng ñỏ với tỷ lệ tương ñối giữa các phần là 1:6:3 Trung bình vỏ cứng chiếm 10%, lòng ñỏ 33%, lòng trắng 57% khối lượng trứng Tỷ lệ khối lượng giữa các thành phần này trong trứng của các gà mái cũng khác nhau Ngoài ra tỷ lệ này còn tùy thuộc vào khối lượng tuyệt ñối của trứng, tuổi của gà mái và thành phần dinh dưỡng trong thức ăn

2.1.1.1 Vỏ trứng

Vỏ trứng ñược hình thành trong ñường sinh dục của gia cầm, ñặc biệt là lớp vỏ cứng ñược tạo ra trong tử cung của gia cầm từ chất dịch nhầy, chất này nhanh chóng cứng lại tạo thành lớp vỏ bao quanh trứng Vỏ trứng gia cầm có

ñộ dày 0,2 – 0,4mm, ở ngoài phủ một lớp chất nhày trong suốt và ở trong có màng lụa gồm hai lớp chắc Lớp màng ngoài liên kết chặt chẽ với vỏ cứng, ñộ dày khoảng 0,005 – 0,01mm Lớp màng này cấu tạo từ protein muxin có chứa những hạt mỡ nhỏ li ti Nếu thấy vỏ trứng nhẫn bóng là lớp màng ngoài này

ñã bị mất ñi do trứng ñể lâu Vỏ trứng gồm chất hữu cơ, xen vào ñấy là các muối vô cơ Chất hữu cơ do protein giống như keo colagen (4%) tạo thành, chất vô cơ là carbonat canxi (94%), carbonat magie và canxi photphat (1%) tạo thành (Bùi Hữu ðoàn, 2009) [11] Chức năng của vỏ là bảo vệ các thành phần bên trong của trứng, ñồng thời cung cấp canxi cho phôi trong quá trình hình thành và phát triển bộ xương Trong những ngày ấp ñầu, phôi lấy canxi

Trang 12

từ lòng trắng và lòng ñỏ Từ ngày ấp thứ 10, phôi lấy canxi từ vỏ ñể hình thành bộ xương, vì vậy gần ngày nở vỏ trứng mỏng dần

Trên bề mặt của vỏ cứng có nhiều lỗ khí kích thước rất nhỏ, số lỗ khí trên

vỏ trứng giao ñộng nhiều, trung bình trên một vỏ quả trứng gà có khoảng 7.800

- 10.000 lỗ khí, bình quân 1cm2 vỏ cứng có 130 lỗ khí (Nguyễn Thị Mai, 2009) [28] Những lỗ khí này có ý nghĩa quan trọng khi ấp trứng Trong thời gian phôi phát triển, những lỗ khí ñể oxy ñi vào bên trong, ñẩy cacbonic và hơi nước

ra ngoài Thời gian ấp ñầu có sự trao ñổi không khí giữa phôi và môi trường qua lỗ khí, cuối giai ñoạn ấp có sự giảm các chất chứa bên trong trứng do bay hơi nước Vì vậy, ñối với những trứng có nhiều lỗ khí và ñộ ẩm không khí trong máy ấp thấp thì sẽ có ảnh hưởng bất lợi ñối với kết quả ấp nở Các loại trứng khác nhau có kích thước lỗ khí khác nhau Sự phân bố lỗ khí trên vỏ trứng cũng không ñồng ñều

Chất lượng vỏ cứng ñược thể hiện qua ñộ bền vững và ñộ dày vỏ trứng

ðộ dày vỏ cứng chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền, môi trường, dinh dưỡng, stress, và nhiều yếu tố khác Tuy vậy hệ số di truyền của ñộ dày vỏ cứng tương ñối cao ðộ dày vỏ cứng của trứng từng loại gia cầm không giống nhau: vỏ trứng gà có ñộ dày khoảng 0,2 – 0,4mm, vỏ trứng ngan có ñộ dày từ 0,38 – 0,55mm, vỏ của trứng vịt 0,25 – 0,4mm Trên các vị trí của vỏ cứng ñộ dày không ñồng nhất: dày nhất ở vùng ñầu nhọn và mỏng nhất ở vùng ñầu tù của trứng Trứng có vỏ dày ñộ chịu lực cao hơn trứng có vỏ mỏng Chất lượng vỏ cứng có ý nghĩa quan trọng ñối với việc vận chuyển và trao ñổi chất trong quá trình ấp (Bạch Thị Thanh Dân, 1998) [4]

Dưới vỏ cứng của trứng có vỏ lụa gồm hai lớp ñược cấu tạo từ sợi keratin ñan chéo vào nhau Lớp trong gọi là lớp màng trứng, lớp ngoài dán chặt vào vỏ cứng gọi là lớp màng vỏ cứng ðộ dày của hai lớp màng này trung bình khoảng 0,07mm Hai lớp màng dính sát vào nhau, chỉ tách ra ở ñầu tù của trứng tạo thành buồng khí nơi cung cấp oxy cho phôi Trứng vừa ñẻ ra chưa có

Trang 13

buồng khí, chỉ sau 6 – 60 phút sau buồng khí mới ñược hình thành và lớn dần

do sự bay hơi nước

Không khí trong buồng khí có tầm quan trọng ñến hô hấp của phôi, phần oxy ñáng kể ñầu tiên ñến túi niệu nang là từ buồng khí Khi trứng nở, phôi làm rách màng vỏ và nhận ñược một lượng oxy khá lớn từ không khí Bắt ñầu

từ lúc này phôi mới hoàn thành chức năng hô hấp

Vị trí của buồng khí ảnh hưởng rõ rệt ñến sự phát triển của phôi: giai ñoạn ñầu nếu vị trí buồng khí lệch ở ñầu tù sẽ làm thay ñổi hướng phát triển của túi niệu và từ ñó ảnh hưởng ñến vị trí của phôi Giai ñoạn sau nếu buồng khí lệch sang một bên hoặc ở phía ñầu nhọn thì oxy của buồng khí không cung cấp ñược cho phôi, do ñó có thể dẫn ñến chết phôi

Kích thước của buồng khí phản ánh sự hao hụt khối lượng trứng Theo tác giả Orlov M.V (1974) [31] kích thước buồng khí không hoàn toàn phản ánh thời gian bảo quản, không phải tất cả trứng cũ ñều có buồng khí lớn, một

số trứng vẫn giữ ñược nước tốt do khả năng thấm nước kém của vỏ Trứng mới ñẻ ra có kích thước buồng khí ñường kính khoảng 1,5 cm Thường mùa ñông buồng khí lớn hơn mùa hè do nhiệt ñộ thấp, ẩm ñộ thấp làm giảm khối

lượng của trứng nhiều hơn nhiệt ñộ cao và ẩm ñộ cao

2.1.1.2 Lòng trắng

Lòng trắng trứng chứa khoảng 88% là nước, còn lại các chất dinh dưỡng như ñường, các chất protein, các chất khoáng, các cation… cung cấp cho nhu cầu phát triển của phôi Lòng trắng ñược chia làm 4 lớp:

- Ngay dưới lớp màng trứng là lớp loãng ngoài: lớp này bao bọc bên ngoài chiếm khoảng 23% thể tích

- Lớp trắng ñặc giữa: Lớp này chiếm khoảng 57% thể tích, có chứa nhiều sợi nhày, là lớp ñệm của lòng ñỏ và là nơi ñầu sợi dây chằng bám vào

- Lớp lòng trắng loãng giữa chiếm khoảng 17% thể tích và hầu như không chứa sợi muxin

Trang 14

- Lớp trong cùng sát lòng ñỏ là lớp lòng trắng ñặc trong chiếm khoảng 3% thể tích Dây chằng nằm dọc theo trục dài của trứng, nhờ có những ñầu mút sợi mảnh dán chặt vào lớp này Dây chằng do nhiều sợi protein tạo thành, những sợi này xoắn lại ở quãng giữa tạo thành hình xoắn ốc, có tác dụng giữ cho lòng ñỏ luôn nằm ở vị trí trung tâm

Chất lượng lòng trắng ñược ñánh giá bằng ñơn vị Haugh, ñơn vị Haugh

là mối quan hệ giữa chiều cao lòng trắng ñặc và khối lượng trứng Những trứng có ñơn vị Haugh cao thường cho kết quả ấp nở cao và ngược lại Chất lượng lòng trắng chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền và một số yếu tố khác như tuổi của gia cầm sinh sản, thời gian bảo quản trứng, mùa vụ sinh sản, ñiều kiện môi trường…

2.1.1.3 Lòng ñỏ

Lòng ñỏ là một tế bào khổng lồ nằm ở trung tâm trứng ñược bao bọc bởi một lớp màng mỏng có tính ñàn hồi lớn, nhờ ñó lòng ñỏ không lẫn vào lòng trắng mà luôn giữ ñược hình cầu Màng lòng ñỏ mẫn cảm với những chấn ñộng cơ học và khi trứng ñể lâu tính ñàn hồi mất dần, ñến một lúc nào ñó màng bị rách, lòng ñỏ, lòng trắng tan lẫn vào nhau

Lòng ñỏ có các lớp ñậm nhạt khác nhau là nguồn dinh dưỡng dồi dào cung cấp cho phôi Ở phía cực ñộng vật của tế bào trứng có ñĩa phôi, ñĩa phôi luôn nằm ở phía trên của lòng ñỏ và có xu hướng nổi lên bề mặt trên của trứng, vì vậy nếu trứng không ñược ñảo trong quá trình ấp phôi sẽ bị dính vào vỏ dẫn ñến chết phôi

Chất lượng lòng ñỏ ñược xác ñịnh bằng chỉ số giữa chiều cao lòng ñỏ và ñường kính của nó Trứng có chỉ số lòng ñỏ cao sẽ cho kết quả ấp nở tốt, chỉ

số lòng ñỏ biến ñổi theo mùa vụ, tuổi của gia cầm, sức sản xuất, ñiều kiện chăm sóc nuôi dưỡng Kết quả nghiên cứu của Card và Nesheim (1972) (trích dẫn theo Nguyễn Quý Khiêm, 2003) [19] cho thấy chỉ số lòng ñỏ của trứng

gà nằm trong khoảng 0,4 – 0,42

Trang 15

2.1.2 Sự phát triển của phôi gà trong quá trình ấp

Theo Orlov M V (1974), ñiều kiện thuận lợi cho sự phát triển của phôi

là nhiệt ñộ 37 – 38oC, ẩm ñộ 55 – 65% ðĩa phôi phát triển ra mọi hướng hình thành lớp phôi ngoài, từ lớp rìa của lớp phôi ngoài tách ra lớp phôi trong Lớp phôi trong nằm dưới lớp phôi ngoài và bằng các rìa mép nó ñi vào bên trong lòng ñỏ Sau những giờ ấp ñầu tiên thấy có sự tích tụ tế bào ở dạng trục là vật liệu ñầu tiên, từ ñó về cả 2 phía giữa lá phôi trong và lá phôi ngoài có lá thứ 3 gọi là lá giữa ñược hình thành Từ 3 lá phôi sẽ phát triển hình thành các mô bào, cơ quan của gia cầm

- Ngày ấp ñầu tiên: Xuất hiện mầm não ñầu, tủy sống, các ñốt bắt ñầu hoạt ñộng, tạo thành bộ xương ñầu tiên, các mầm mạch máu và màng ối

- Ngày ấp thứ 2: Xuất hiện vùng mạch máu trong lòng ñỏ, tĩnh mạch lòng

ñỏ Ở mặt bên của ống thần kinh mầm tim xuất hiện và bắt ñầu co bóp, mầm này dần dần chui xuống phía dưới phôi Mép giữa của mầm thần kinh, ống thần kinh phát triển lớn nhờ hốc nguyên thủy và về sau bao gồm cả eo nguyên thủy Những ñốt này sẽ phát triển tạo ra các cơ của lưng Ở mặt trước của ống thần kinh hình thành 3 túi não Ở phía trước của mầm não này có một nếp gấp trong lớp phôi ngoài là nếp gấp màng ối trước Nếp gấp này dần dần bao chùm phần ñầu phôi như một cái mũ Ngay sau ñó mầm và toàn bộ phôi bắt ñầu quay sang bên trái 3 lá phôi, gắn với nhau ở lớp rìa của phôi chúng chuyển thành các màng mỏng Tất cả chất dinh dưỡng của lòng ñỏ ñều kéo cả vào ñó Sau ñó xuất hiện mầm mắt, tai trong, cơ quan khứu giác và một phần của túi niệu

- Ngày ấp thứ 3: Xuất hiện mầm mống của gan, tuyến tụy, tuyến yên, tuyến giáp trạng Trong cơ thể phôi phần sau của ống thần kinh co hẹp lại Hốc nguyên thủy bị dầy ra, số lượng các ñốt tăng lên Sự hình thành não bộ tiếp tục, mắt , tai, vùng khứu giác, miệng phát triển Tim nằm trong xoang bao tim chứa ñầy máu Các mạch máu của túi lòng ñỏ hình thành và thực hiện tuần hoàn ñầy ñủ Các bó thần kinh não nhiều lên trong vùng chẩm và vùng

Trang 16

ựỉnh Phôi ựã tách khỏi lòng ựỏ, màng ối ựược khép kắn

- Ngày ấp thứ 4, 5: Kết thúc việc tách phôi khỏi lòng ựỏ, sự chuyển ựộng của phôi quay về phắa trái Ống ruột ựược tạo nên, trong ruột giữa có một bộ phận của lớp phôi ngoài nối với lòng ựỏ và tạo thành túi lòng ựỏ Từ chỗ trồi

ra ở mặt bên của phần ruột sau có một túi gọi là túi niệu Túi này phát triển có kắch thước lớn, hình một cái bao chiếm khoảng không giữa màng ối và màng nuôi Trong túi niệu có nhiều mạch máu, về sau túi niệu gắn với màng nuôi và bắt ựầu hoạt ựộng như là cơ quan hô hấp của phôi Ngày ấp thứ 5 ựầu lớn lên rất nhanh, các phần não ựược phân chia rõ ràng, mắt ựã có sắc tố, mầm phát triển tuyến diều, dạ dày ựã xuất hiện

- Ngày ấp thứ 6: Cổ hoạt ựộng rất rõ, kắch thước thân khá lớn, bắt ựầu có

mỏ Túi niệu nang phát triển ựến bề mặt phắa trong của vỏ, mạng lưới mạch máu phát triển và kiêm cả chức năng hô hấp Vùng máu của túi lòng ựỏ ựã chiếm hơn nửa lòng ựỏ Hình thành rõ hơn cánh và chân

- Ngày ấp thứ 7: đã có thể phân biệt ựược trống mái

- Ngày ấp thứ 8: Xuất hiện mầm của màng mắt, kắch thước buồng trứng bên phải bắt ựầu nhỏ lại

- Ngày ấp thứ 9: Thấy nhúm lông ựầu tiên, mỏ bắt ựầu sừng hóa

- Ngày ấp thứ 10, 11: Túi niệu bao kắn ựến ựầu nhọn của trứng, thận ựã hoàn chỉnh và hoạt ựộng

- Ngày ấp thứ 12: Dòng nước ối màu xám bắt ựầu chảy và lòng trắng xâm nhập vào xoang ối

- Ngày ấp thứ 13, 14: Phôi có dạng gà con, cân ựối giữa ựầu và mình, có lông khắp thân, có xương ở ngón, có mầm xương hàm

- Ngày ấp thứ 15 - 17: Mỏ sừng hóa, chân phát triển và vảy sừng hóa Toàn bộ cơ thể ựược bao phủ một lớp lông tơ, mắt có con ngươi và không lồi

ra quá ngoài hốc mắt

- Ngày ấp thứ 18: Lòng trắng chuyển vào hốc màng ối Chức năng bài

Trang 17

tiết hoàn toàn chuyển về thận

- Ngày ấp thứ 19: Túi niệu teo ñi, túi noãn hoàng kéo dài ra, mắt mở

- Ngày ấp thứ 20: Các cơ quan bên trong hoàn thiện, phổi ñã ñảm nhận chức năng hô hấp, thận bắt ñầu hoạt ñộng Lòng ñỏ xâm nhập vào xoang bụng của phôi, vòng rốn mở, mạch máu túi niệu rỗng khô, gà con bắt ñầu kêu khẽ

và mổ vỏ, sự mổ vỏ kéo dài 4 – 5 giờ Một vài giờ ñầu khi gà mới nở túi lòng

ñỏ ñược hoàn toàn kéo vào trong vẫn tiếp tục liên hệ với ruột giữa qua thân của túi lòng ñỏ Sự phát triển của phôi gà sẽ kết thúc sau khi lông khô và sau

24 giờ gà con bắt ñầu ăn thức ăn

Trang 18

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÔI GÀ

Trang 19

9 ngày 10 ngày

Trang 20

17 ngày 18 ngày

2.1.3 Ảnh hưởng của chế ñộ ấp ñến sự phát triển của phôi và kết quả ấp

nở

Trong chăn nuôi gia cầm, khi ấp trứng nhân tạo ñể có ñược kết quả ấp

nở tốt ngoài yếu tố giống, thức ăn, chăm sóc, các yếu tố ngoại cảnh thì chế ñộ

ấp ñóng vai trò quan trọng, có tính chất quyết ñịnh Chế ñộ ấp bao gồm các yếu tố cơ bản: nhiệt ñộ, ẩm ñộ, thông thoáng và ñảo trứng Các yếu tố này tuy

về tính chất là ñộc lập nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng lẫn nhau Khi ñáp ứng ñược ñầy ñủ các yếu tố trong chế ñộ ấp theo yêu cầu và kết hợp hài hòa các yếu tố ñó thì sẽ cho kết quả ấp nở cao nhất

Vì vậy, ñể ấp nở ñạt kết quả cao cần phải theo dõi chế ñộ ấp qua các dụng cụ ño lường và phải ñiều chỉnh bổ sung bằng kết quả của các lần kiểm

tra sinh học trong quá trình ấp

2.1.3.1 Ảnh hưởng của nhiệt ñộ

Trang 21

Nhiệt ựộ ựóng vai trò quan trọng ựối với sự phát triển của phôi trong quá trình ấp, bởi vì sự phát triển của phôi gia cầm diễn ra ngoài cơ thể mẹ Chỉ khi trứng ựược làm nóng lên ựến nhiệt ựộ tới hạn phôi mới có khả năng phát triển Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của nhiệt ựộ và mối quan hệ giữa nhiệt ựộ và các yếu tố khác tác ựộng ựến sự phát triển phôi có ý nghĩa trên 3 phương diện: sinh học, phát triển phôi và sinh trưởng gia cầm

Phôi bắt ựầu phát triển ở nhiệt ựộ 24 Ờ 28oC hoặc cao hơn Nhiệt ựộ thắch hợp ựể ấp trứng gia cầm trong khoảng 37 Ờ 38oC Ở ựiều kiện này phôi phát triển

và sử dụng tốt nhất các chất dinh dưỡng của trứng Sự biến ựộng nhiệt ựộ ở mức

37oC hay 38oC còn tùy theo giống, giai ựoạn phát triển của phôi, ựiều kiện ẩm ựộ

và những yếu tố liên quan khác Nhiệt ựộ cao hay thấp hơn mức cho phép gây nên sự tăng hay giảm quá trình trao ựổi chất của phôi, gây rối loạn tuần hoàn, phôi phát triển không bình thường (Wilson H.R, 1990) [67]

Nếu trứng ựược ấp ở nhiệt ựộ thấp hơn nhiệt ựộ cho phép sẽ dẫn ựến phôi phát triển chậm, thời gian ấp kéo dài Nhiệt ựộ 35oC (95oF) là nhiệt ựộ ấp thấp nhất mà phôi có thể phát triển ựược nhưng nếu kéo dài thì phôi phát triển không bình thường Còn nhiệt ựộ 38 Ờ 39oC (100,4 Ờ 102,2oF) là mức giới hạn nhiệt ựộ ấp cao nhất mà phôi phát triển ựược nhưng cũng phát triển không bình thường (Charles, Deeming, 1991) [55]

Trong nửa ựầu thời kỳ ấp (trước khi khép túi niệu nang ở phắa ựầu nhọn) và ựặc biệt trong 5 Ờ 6 ngày ấp ựầu phôi tăng dần sức lớn và phát triển khi nhiệt ựộ tăng dần, nước trong lòng trắng với tất cả các nguyên tố khoáng hòa tan sẽ chuyển nhanh vào lòng ựỏ ựể tạo dung dịch huyết tương mới Mạng mạch máu ở lòng ựỏ hình thành sớm, sự tạo máu xảy ra mạnh và mạng mạch máu phát triển nhanh Màng niệu nang cũng như các màng khác hình thành ựúng lúc và khép kắn ựúng thời gian ở ựầu nhọn của trứng bao bọc tất cả bên trong Phôi phát triển tốt trong những ngày ựầu thì quá trình phát triển về sau cũng tốt và ựúng thời gian đào đức Long, Trần Long, 1995) [23] cho biết

Trang 22

nhiệt ñộ ảnh hưởng sâu sắc ñến tỷ lệ nở, ở nhiệt ñộ 39 – 40oC kéo dài, phôi phát triển nhanh, gia cầm nở sớm, một số bị biến dạng, quái thai, dị tật gây sung huyết Nếu nhiệt ñộ lớn hơn 40oC kéo dài gây chết phôi hàng loạt, còn nhiệt ñộ thấp hơn 37oC trong thời gian dài làm phôi phát triển chậm lại, lòng trắng chậm chuyển vào lòng ñỏ, gia cầm nở rải rác, thời gian nở kéo dài

Phôi phản ứng một cách hoàn toàn khác ñối với nhiệt ñộ quá thấp (nhất

là trong 5 – 6 ngày ấp ñầu), lòng trắng giảm khối lượng chậm, lòng ñỏ loãng

ra ít Mạng mạch máu trong lòng ñỏ hình thành chậm và có ít máu Màng niệu nang phát triển chậm và khép kín bên trong muộn Vì vậy phôi lớn chậm và phát triển yếu, dẫn ñến thời gian nở chậm và kéo dài

Trong nửa còn lại của quá trình ấp ảnh hưởng của nhiệt ñộ tới phôi phụ thuộc vào sự phát triển của phôi giai ñoạn trước Nếu phôi ñã phát triển tốt, màng niệu nang khép kín ñúng thời gian thì nhiệt ñộ tăng trong nửa sau của quá trình ấp (ñặc biệt 5 – 6 ngày cuối cùng) sẽ làm giảm khả năng hấp thụ lòng trắng, lòng ñỏ Tuy nhiên sự phát triển của phôi vẫn tăng nhưng phôi nhỏ và kết quả là thời gian nở sớm, rốn không khép kín Ngược lại nhiệt ñộ thấp hơn sẽ làm tăng nhanh sức lớn của phôi, lòng trắng ñược tận dụng sớm, phôi hấp thụ hết túi lòng

ñỏ vào khoang bụng Gà nở ñúng thời gian, rốn khép kín và khỏe mạnh Nếu trong nửa ñầu của quá trình ấp sự phát triển phôi chậm, màng niệu nang khép kín chậm thì trong nửa sau quá trình ấp phôi phản ứng với nhiệt ñộ một cách khác: Khi tăng nhiệt ñộ thì ñộ lớn của phôi và sự phát triển tăng, còn khi giảm nhiệt ñộ thì ñộ lớn của phôi phát triển chậm lại vì trong khi ấp nếu phôi phát triển tốt thì 5 – 6 ngày ấp cuối cùng mới có những dấu hiệu của ñộng vật máu nóng, tức là có thể duy trì nhiệt ñộ cơ thể ở một mức tương ñối ổn ñịnh Khi tăng nhiệt ñộ bên ngoài thì trong trứng giảm sản sinh nhiệt từ ñó làm giảm sử dụng các chất từ lòng ñỏ và lòng trắng dẫn ñến giảm ñộ lớn của phôi, khi gia cầm con nở ra khối lượng lòng ñỏ trong bụng sẽ còn rất lớn (gà nặng bụng) Nếu nhiệt ñộ ấp giảm thấp thì việc sử dụng các chất từ lòng ñỏ, lòng trắng tăng, phôi sản sinh nhiệt ít,

Trang 23

sinh trưởng tăng làm cho gà nở ra với khối lượng lòng ñỏ trong bụng nhỏ

Nhiệt ñộ ở giai ñoạn ñầu hơi cao hơn bình thường ñã giúp cho quá trình phát triển của phôi tăng nhanh, lòng trắng nhập vào lòng ñỏ sớm, niệu nang sớm khép kín Giai ñoạn ấp ñầu, trứng phải hấp thu nhiệt nên nhiệt cao có lợi cho việc phát triển các cơ quan của phôi Giai ñoạn giữa trứng bắt ñầu tỏa nhiệt từ quá trình trao ñổi chất của phôi ñã sản sinh ra năng lượng nên không

ñể nhiệt ñộ cao Giai ñoạn sau phôi thải nhiệt càng lớn, nếu ñể nhiệt ñộ cao sẽ không thải ñược nhiệt dư thừa dẫn ñến thừa nhiệt nhưng lại thiếu không khí

ñể thực hiện quá trình sinh lý của phôi

Nhiệt ñộ cao hơn 0,3 – 0,5oC ở mức cho phép trong giai ñoạn ñầu của quá trình ấp tác dụng có lợi trong quá trình phát triển của phôi Paulavisute A (1973) [32] cho biết nhiệt ñộ khi mới ñưa trứng vào ấp ñể 39oC trong 36 giờ

ấp ñầu tiên, hai ngày tiếp theo 38,8oC và 37,9oC – 38oC sau ñó cần ñạt 37,4oC Tác giả còn cho biết nhiệt ñộ 38,3oC trong 3,5 ngày ấp ñầu tỷ lệ nở trong mọi trường hợp ñều cao hơn so với ñối chứng Nếu nhiệt ñộ 39,3oC trong 36 giờ

ấp ñầu thì có trường hợp nở tăng, có trường hợp giảm

Nhiệt ñộ ở các vị trí khác nhau trong máy ấp có sự chênh lệch 0,7 – 0,3oC so với nhiệt ñộ chung của máy, do ñó trong quá trình ấp phải có những thao tác hoán ñảo vị trí của khay trứng sao cho phù hợp thì tỷ lệ nở mới ñạt

cao (Mauldin J M.R, Jeffrey Buhr, 1995) [61]

• Ảnh hưởng của nhiệt ñộ cao và những biểu hiện của phôi

Theo Orlov M.V (1974), trong hai ngày ñầu nếu nhiệt ñộ ấp cao thì gây nên sự thay ñổi về phát triển của phôi, xuất hiện dị hình, biến dị ở ñầu: xương sọ không phát triển nên não bị hở, não sưng lên lòi ra ngoài hộp sọ Các biến dị ở mắt như: một mắt, không có mắt, mắt nhỏ phát triển kém … và các biến dị khác nhau ở xương mặt Nhiệt ñộ cao trong 2 – 3 ngày tiếp theo sẽ gây rối loạn quá trình hình thành túi nước ối và khoang bụng Mép túi ối phía trên phôi khép nhanh nhưng mép phát triển phía dưới phôi không khép lại, vì

Trang 24

vậy xoang bụng bị hở Những biến ñổi do nhiệt ñộ cao gây ra làm phôi bị chết trong những ngày ấp ñầu nhưng ñôi khi phôi vẫn tiếp tục sống và chết muộn hơn, có cá thể tới khi nở rồi sau ñó mới chết

Nếu trứng phải chịu nhiệt ñộ quá cao trong những ngày ấp ñầu thì sẽ thấy các triệu chứng: phôi chứa ñầy máu và xuất huyết ở mình phôi cũng như mạng mạch máu ở túi lòng ñỏ Chính vì có nhiều máu nên khi xuất hiện vòng máu, có thể thấy vòng máu rộng, to và ñậm mặc dù phôi chết từ sớm Tỷ lệ chết phôi tối ña là vào lúc 3 – 4 ngày ấp

Nhiệt ñộ cao vào thời gian giữa của quá trình ấp không gây các dị hình ñặc biệt ở phôi, nhưng thời gian này nhiệt ñộ tăng cao ñột ngột sẽ làm chết rất nhiều phôi Các mạch máu của màng niệu nang chứa ñầy máu, da của phôi bị xuất huyết

Nhiệt ñộ cao còn làm giảm sự tận dụng lòng trắng, lòng ñỏ của phôi nên phôi lớn chậm, khối lượng nhỏ Khối lượng lòng ñỏ còn lại rất lớn nên sự hấp thu nó vào trong xoang bụng bị chậm lại Gà con mổ vỏ sớm, vết mổ vỏ nhỏ và mảnh vỏ vỡ ra nhỏ, có một số trứng vết mổ vỏ nằm ở ñầu nhọn của trứng Gà con nở ra nhỏ nhưng rất nhanh nhẹn, lông xơ xác, thường bụng to

và xệ do túi lòng ñỏ còn lớn Rất nhiều gà con hở rốn ñể lại một mẩu nhỏ hoặc một phần của túi lòng ñỏ ở ngoài Máu ở rốn là một dấu hiệu rất ñặc

trưng của nhiệt ñộ cao

• Ảnh hưởng của nhiệt ñộ thấp và những biểu hiện của phôi

Theo Orlov M.V (1974), khi ấp trứng với nhiệt ñộ thấp sự phát triển của phôi nhìn chung chậm, nhất là khi mới bắt ñầu ấp Hệ thống mạch máu hình thành muộn, sự tạo máu yếu do ñó gây thiếu máu Việc tiêu hóa lòng trắng và lòng ñỏ chậm, nhất là nửa ñầu của quá trình ấp vì vậy phôi phát triển yếu, nhỏ và nhẹ Màng niệu nang phát triển chậm gây nhiều khó khăn, dẫn ñến mạng mạch máu của màng niệu nang không thực hiện ñược chức năng hô hấp, cường ñộ trao ñổi chất yếu, có ít chất thải

Trang 25

Thiếu nhiệt trong những ngày ấp ñầu tiên làm giảm sức lớn và sự phát triển của phôi Tuy vậy, tỷ lệ chết phôi không tăng nhiều, phôi chết chủ yếu từ

4 – 6 ngày ấp Các trứng chết phôi có vòng máu nhỏ và nhạt Giữa quá trình

ấp (11 ngày) màng niệu nang sẽ khép kín chậm từ 1 – 3 ngày so với các trứng

có phôi phát triển bình thường

Nếu nhiệt ñộ thấp ở những ngày cuối thì lòng trắng thường ñược sử dụng hoàn toàn (nếu rất thấp thì nó ñược giữ lại trong thời gian dài), lòng

ñỏ ñược sử dụng triệt ñể và còn lại ít trong túi lòng ñỏ Sự phát triển của phôi quá trì trệ, túi ối duy trì liên hệ với hệ tuần hoàn của phôi lâu dài, phôi

có thể sống trong vỏ trứng quá lâu so với thời gian ấp nở của từng loại gia cầm Gà con bắt ñầu nở chậm và kéo dài vài ngày, mổ vỏ ngắt quãng và nghỉ rất lâu Nhiều con phá vỡ vỏ chui ra rất khó khăn, khi giúp gà tách vỏ thì thường làm rách các mạch máu của màng niệu nang do chưa teo gây xuất huyết làm gà con chết do mất máu Nếu thiếu nhiệt kéo dài, gà con nở

ra còn túi lòng ñỏ lớn chứa ñầy lòng ñỏ loãng

2.1.3.2 Ảnh hưởng của ẩm ñộ

Trong quá trình ấp, ẩm ñộ là một trong các yếu tố quan trọng ảnh hưởng ñến sự phát triển của phôi Quan hệ giữa nhiệt ñộ và ẩm ñộ có ý nghĩa quyết ñịnh ñến tỷ lệ nở của các loài gia cầm, ñến sức sống của gia cầm non

ðộ ẩm của không khí có ảnh hưởng ñến sự bay hơi nước từ trong trứng, cung cấp nhiệt và trao ñổi nhiệt

Trong phần lớn thời gian ấp ñộ bay hơi nước từ trứng phụ thuộc trực tiếp vào ñộ ẩm tương ñối của máy ấp Nếu tăng ñộ ẩm tương ñối trong máy thì lượng nước bay hơi từ trứng sẽ giảm và ngược lại Sự bay hơi nước của trứng trong thời gian này là hiện tượng vật lý, nó hoàn toàn phụ thuộc vào ñiều kiện bên ngoài Theo nghiên cứu của Barott (1978) [70] ở tuần ấp ñầu tiên sự giảm khối lượng của trứng phụ thuộc vào ñộ ẩm không khí trong máy

ấp Khối lượng của trứng giảm tỷ lệ nghịch với ñộ ẩm trong máy ấp ðộ ẩm

Trang 26

trong máy ấp giảm 1% thì khối lượng trứng giảm thêm 0,1% Sau ngày ấp thứ

5 những chất chứa trong trứng dần dần ñược phủ bằng túi niệu thì sự bay hơi nước của trứng không hoàn toàn phụ thuộc vào ñộ ẩm tương ñối của không khí trong máy ấp Do ñó vào những ngày ấp ñầu của quá trình ấp ta phải tăng

ñộ ẩm ñể giảm sự bay hơi nước của trứng

Trong nửa thứ hai của quá trình ấp ñặc biệt là những ngày ấp cuối, sự bay hơi nước của trứng hầu như không phụ thuộc vào ñộ ẩm không khí của máy ấp mà phụ thuộc vào tốc ñộ phát triển của phôi Nếu sự phát triển của phôi tiến hành nhanh thì nước bay hơi càng nhiều

Sự bay hơi nước của trứng còn làm mất nhiệt (nhiệt ñộ biến nước thành hơi) Trong những ngày ñầu quá trình ấp lượng nhiệt mất ñi do quá trình bay hơi nước lớn hơn lượng nhiệt cung cấp cho trứng, vì vậy phải tăng ñộ ẩm không khí ñể giảm sự bốc hơi nước cũng chính là ñể cung cấp nhiệt cho trứng Trong suốt nửa sau của quá trình ấp chỉ có một phần nhỏ nhiệt tạo nên trong trứng bị mất ñi trong lúc bay hơi nước Nhiệt ñộ của trứng trong lúc này cao hơn so với nhiệt ñộ môi trường trong máy ấp và trứng truyền ra làm nóng không khí Môi trường trong máy ấp càng chứa nhiều nước thì càng tăng khả năng sinh nhiệt của không khí và sự mất nhiệt của trứng

Ẩm ñộ trong máy ấp những ngày ấp cuối làm tăng sự thoát nhiệt của trứng Giảm ẩm ñộ sẽ hạn chế khả năng sinh nhiệt của không khí và cản trở sự thải nhiệt của trứng, có nghĩa là hoạt ñộng cùng một kiểu như tăng nhiệt

Ở giai ñoạn ñầu của quá trình ấp khi nhiệt ñộ cao, khả năng bay hơi nước từ lòng trắng sẽ tăng, trong khi ñó ở giai ñoạn ñầu nước có tác dụng rất lớn trong việc hòa tan chất dinh dưỡng, vì vậy cần ñể ẩm ñộ cao Giai ñoạn giữa (sau 11 ngày ấp) khi màng niệu nang ñã khép, hơi nước ñược thải ra ngoài qua quá trình trao ñổi chất Giai ñoạn nở cần ẩm ñộ cao ñể tránh mất nước làm khô màng vỏ, gà con khó mổ vỏ ra ngoài

Theo Bùi ðức Lũng (2003) [25] ẩm ñộ trung bình trong máy ấp là

Trang 27

53% Nếu trứng lớn thì ẩm ñộ phải cao hơn (khoảng 60%) còn trứng nhỏ thì

ẩm ñộ phải thấp hơn (45%) Ẩm ñộ trong máy nở phải tương ñương trong máy ấp khi con non bắt ñầu mổ vỏ và phải ñược nâng lên 80% trong suốt thời gian từ 8 – 10 giờ trước khi ñưa gia cầm non ra khỏi máy

Theo Anderson Brown A.F, Robbing G.E.S (1995) [54] ẩm ñộ cao hay thấp trong quá trình ấp có ảnh hưởng tới dung tích túi niệu và kết quả ấp nở Mức ẩm ñộ từ 40 – 70% tạo ñiều kiện cho dung tích túi niệu tăng giảm thích hợp và cho tỷ lệ ấp nở cao

Yếu tố ẩm ñộ có quan hệ chặt chẽ với nhiệt ñộ Nếu chỉ quan tâm riêng yếu tố nhiệt ñộ hoặc ẩm ñộ thì kết quả ấp nở thường không cao và không ổn ñịnh Nhưng nếu kết hợp hài hòa giữa nhiệt ñộ, ẩm ñộ và các yếu tố khác trong quy trình ấp thì kết quả ấp nở sẽ cao, chất lượng con giống tốt Swann G.S., Brake J (1990) [65], cho biết ảnh hưởng của nhiệt ñộ cao và ẩm ñộ thấp

sẽ cho gia cầm nở sớm hơn so với nhiệt ñộ thấp hơn và ẩm ñộ cao hơn

• Ảnh hưởng của ẩm ñộ cao và những biểu hiện của phôi

Trong môi trường ẩm ñộ không khí quá cao tạo ñiều kiên cho vi sinh vật

và nấm mốc Trong 5 – 6 ngày ñầu ẩm ñộ cao không gây ảnh hưởng lớn ñối với sự phát triển phôi, nhưng sau 6 ngày sẽ hạn chế sự sinh trưởng của túi niệu nang và khép nối chậm hơn ở tại ñầu nhỏ của trứng Trong nửa sau của quá trình ấp, ẩm ñộ quá thừa làm chậm sự sinh trưởng và phát triển của phôi, sự hấp thu lòng trắng không hết, tồn ñọng lại ở phía ñầu nhỏ, khi soi thấy có khoảng sáng Ẩm ñộ cao trong suốt thời gian ấp sẽ kéo dài thời gian nở, gia cầm nở không ñồng loạt, nở rải rác, có trường hợp nước niệu thoát ra ngoài ñặc quánh, khô nhanh và bịt kín lỗ mổ vỏ gây chết phôi, hoặc ra ngoài dính ñầu mỏ

vào nhau, ñôi khi dính hai cánh vào vỏ trứng, cử ñộng của phôi bị cản trở

• Ảnh hưởng của ẩm ñộ thấp và những biểu hiện của phôi

Ngược lại trong trường hợp ẩm ñộ quá thấp ngay những ngày ñầu gây mất nước nhiều, buồng khí tăng thể tích nhanh, màng niệu nang khép sớm Sự

Trang 28

phát triển phôi nhanh, gia cầm nở sớm, con khô, khối lượng thấp, tỷ lệ nở kém

Ẩm ñộ thấp gây chết phôi ít nhưng quá trình mổ vỏ và nở diễn ra sớm hơn bình thường, màng vỏ bị khô và rất dai, gia cầm nở bị khó, màng niệu nang còn quá ít chất lỏng vì thế phôi cử ñộng rất khó khăn, rốn của gia cầm

con bị khô ngay khi chưa chui ra khỏi vỏ

2.1.3.3 Ảnh hưởng của ñảo trứng

Mục ñích của việc ñảo trứng là tránh cho phôi khỏi dính vào màng vỏ và làm cho quá trình trao ñổi khí ñược cải thiện Phôi có tỷ trọng nhẹ luôn có xu hướng nổi lên trên Trong những ngày ấp ñầu tiên nếu không ñảo trứng phôi sẽ

bị lòng ñỏ ép vào vỏ Do nước từ trứng bay hơi ñi nên phôi sẽ bị dính sát vào màng vỏ, sự phát triển ngừng lại và phôi sẽ bị chết Một ñiều nhận thấy rõ là các phôi chết ñều bị dính vào vỏ ở cùng một phía của trứng ấp

Màng niệu nang ñược hình thành ñầu tiên phát triển về phía buồng khí

và sau ñó chạy dần về phía ñầu nhọn của trứng, lúc màng niệu nang chưa bao bọc mặt trong trứng, toàn bộ lòng trắng ñều ép xuống phía ñầu nhọn của trứng và bám chặt vào màng vỏ Vì vậy nếu không ñảo trứng hoặc góc ñảo quá nhỏ thì màng niệu nang sẽ rất khó tách ñược vào giữa lòng trắng và màng trong của vỏ trứng ñể phát triển và bao bọc toàn bộ lòng trắng Khi ñó các mép của màng niệu nang sẽ khép với nhau ở phía dưới lòng ñỏ chứ không phải ở ñầu nhọn của trứng và sẽ bỏ một phần lòng trắng ở ngoài Những trường hợp này ñều nhận thấy khi soi phần ñầu nhọn của trứng sẽ sáng cho ñến ngày ấp cuối cùng

ðảo trứng cần ñược ñặc biệt quan tâm ở giai ñoạn ñầu và giai ñoạn giữa ấp trứng vì thời kỳ từ 3 – 7 ngày ấp ñầu là giai ñoạn hình thành các khí quan của cơ thể gia cầm và thời kỳ sau 13 ngày ấp, việc ñảo trứng tác ñộng

có lợi cho việc trao ñổi chất của phôi

Theo Charles, Deeming (1994) [56] ñảo trứng còn có tác dụng giữ cho sinh lý phôi phát triển bình thường Khi trứng không ñược ñảo dẫn ñến thiếu

Trang 29

cân bằng trong quá trình hình thành dịch phôi, ñặc biệt là việc vận chuyển nước từ lòng trắng vào trong lòng ñỏ ñể hình thành dung dịch Trứng không ñảo, lượng albumin loãng hơn bình thường, nguyên nhân là do việc vận chuyển albumin vào nước ối chậm hơn, dẫn ñến kìm hãm sự phát triển của màng phôi Cuối cùng là giảm sự phát triển của phôi, tỷ lệ nở thấp, gia cầm

nở kém, khả năng sống không cao Như vậy việc ñảo trứng ñảm bảo chắc chắn phôi sẽ nhận ñược nước và protein nhiều hơn từ albumin dự trữ cho việc phát triển bình thường của phôi

Nếu 6 ngày ñầu không ñảo, túi niệu không khép kín, lượng albumin không vào ñược túi niệu sẽ dẫn ñến tỷ lệ chết phôi cao, khi gia cầm mổ vỏ sẽ không ñúng vị trí, phôi bị dị hình ở phần mắt, mỏ, ñầu

2.1.3.4 ðộ thông thoáng

Trong quá trình ấp trứng, ñộ thông thoáng rất quan trọng Lượng oxy cần thiết cho trứng và lượng cacbonic cho phép ñược duy trì trong máy ấp sẽ góp phần cho tỷ lệ ấp nở cao

Khi mới vào ấp, phôi hô hấp bằng oxy tạo ra ở lòng ñỏ nhờ tác dụng của các loại men Oxy ñi vào các tế bào của phôi bằng hiện tượng khuếch tán Sang ngày ấp thứ 2, phôi ñã lớn lên nguồn oxy này không ñáp ứng ñược nhu cầu Lúc này hệ thống mạch máu ở lòng ñỏ cần ñược hình thành ñể lấy oxy từ những vùng bề mặt khác của lòng ñỏ ñưa qua các mạch máu về cho phôi sử dụng Vì vậy sự hình thành hệ thống mạch máu ở lòng ñỏ một cách kịp thời, các mạch máu phát triển mạnh và quá trình tạo thành máu xảy ra tốt

là sự ñảm bảo chắc chắn cho hô hấp và dinh dưỡng của phôi ñược ñầy ñủ Tới ngày thứ 5, màng niệu nang và hệ thống mạch máu phát triển tới buồng khí và vỏ trứng, sau ñó nhanh chóng phát triển bao bọc toàn bộ phía trong trứng Từ ngày ấp thứ 6, oxy trong không khí của máy ấp là nguồn cung cấp oxy chủ yếu cho phôi Trước khi nở, cơ chế hô hấp của phôi lại thay ñổi, màng niệu nang khô ñi nhanh chóng, hệ thống mạch máu của nó

Trang 30

cắt ñứt mối liên quan với hệ tuần hoàn của phôi Từ lúc này phôi sử dụng oxy từ buồng khí Cuối cùng con non dùng mỏ ñục thủng vỏ trứng và thở trực tiếp không khí trong máy nở

Thời gian phôi chuyển cơ chế hô hấp là những thời ñiểm khủng hoảng hết sức khó khăn của phôi Nếu như phôi và các màng cơ quan không chuẩn

bị hoàn chỉnh cho ñiều ñó xảy ra thì hô hấp sẽ bị rối loạn và phôi sẽ bị chết Phôi rất mẫn cảm với tỷ lệ cacbonic vượt quá mức cho phép Ảnh hưởng

có hại cho sự phát triển của phôi khi thừa cacbonic còn hơn cả khi bị thiếu một ít oxy Chính vì vậy không khí bên trong máy ấp cần ñược thay ñổi sao cho nồng ñộ khí cacbonic và oxy không vượt quá mức giới hạn quá cao hoặc quá thấp Khi nồng ñộ cacbonic trong máy vượt lên quá cao hoặc nồng ñộ oxy giảm xuống quá thấp ñều có thể làm phôi chết ngay hàng loạt Dấu hiệu nhận biết thông thoáng kém khi thấy phôi nằm sai vị trí và mổ vỏ về phía ñầu nhọn của trứng

Phùng ðức Tiến và cộng tác viên (2004) [37] cho biết trứng vịt, ngan có khối lượng 70 – 80g hấp thu 9169 cm3 oxy và thải 6607 cm3 cacbonic, trứng

gà hấp thu 4000 cm3 oxy và thải 3536 cm3 cacbonic Chính vì vậy cần phải ñảm bảo thông thoáng ñể có trao ñổi khí tốt

Không khí trong máy ấp cần ñảm bảo 21% oxy và 0,4 – 0,1% cacbonic Nếu khí cacbonic cao hơn 0,4% sẽ có hại tới sinh trưởng và phát triển của phôi, gây tỷ lệ chết cao Nồng ñộ oxy không thể thấp dưới 15%

Trong máy ấp tốc ñộ gió có vai trò quan trọng vì nó quyết ñịnh ñộ ñồng ñều của chế ñộ ấp ở mọi vùng trong máy Tốc ñộ gió làm tăng hoặc giảm ảnh hưởng của nhiệt ñộ và ẩm ñộ ñối với sự phát triển của phôi Ta có thể nhận biết khi thấy trứng ñặt ở các vị trí trong máy ấp, phôi có mức phát triển khác nhau, con non nở không ñồng ñều, chất lượng khác nhau

2.1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng ñến chất lượng trứng và kết quả ấp nở

2.1.4.1 Ảnh hưởng của khối lượng trứng

Trang 31

Khối lượng trứng là chỉ tiêu quan trọng trong ấp nở của trứng gia cầm, chỉ tiêu này liên quan ñến di truyền giống Theo Pingel 1989) [64] khối lượng trứng có hệ số di truyền cao (h2 = 0,4 – 0,6) Nhiều nghiên cứu ñã xác nhận khối lượng trứng và kết quả ấp nở có mối quan hệ lẫn nhau Trong cùng một giống, kết quả ấp nở tốt nhất ở trứng có khối lượng xung quanh giá trị trung bình Trứng có khối lượng quá lớn hoặc quá nhỏ so với trung bình sẽ cho ấp nở thấp hơn Landauer (1978) [21] cho rằng nguyên nhân của hiện tượng trên là do sự mất cân ñối giữa các thành phần của trứng, thường trứng nhỏ có tỷ lệ lòng ñỏ cao và tỷ lệ lòng trắng thấp hơn so với trứng to Ngoài ra trứng nhỏ còn có diện tích bề mặt so với khối lượng lớn hơn trứng

có khối lượng lớn Do ñó sự bốc hơi nước trong quá trình bảo quản và ấp làm cho hao hụt khối lượng trứng và làm giảm chất lượng sinh học của trứng quá to và quá nhỏ sẽ không giống nhau Theo Orlov M V (1974) [72] khối lượng trứng thay ñổi theo giống, tuổi và nhóm gia cầm khác nhau Ấp trứng

có khối lượng quá lớn hoặc quá nhỏ so với trung bình của giống sẽ cho kết quả ấp nở kém hơn Vì vậy nên chọn những trứng có khối lượng trung bình của giống ñể ñưa vào ấp Trần Long, Nguyễn Duy Nhị (1989) [22] cho biết khối lượng trứng có ảnh hưởng tới tỷ lệ nở và khối lượng gà con Hệ số di truyền của khối lượng trứng là (0,46 ± 0,16), với hệ số di truyền trung bình cao này có thể chọn lọc theo cá thể nhằm tạo ra ñàn giống có chất lượng trứng tốt, ñồng ñều về khối lượng góp phần nâng cao tỷ lệ nở

2.1.4.2 Ảnh hưởng của hình dạng trứng

Trứng của ñàn gà sinh sản khỏe mạnh bình thường sẽ có ngoại hình tương ñối ñồng nhất ðiều kiện nuôi dưỡng kém, ñặc biệt là chế ñộ dinh dưỡng kém và bệnh tật có thể dẫn ñến hình dạng trứng không bình thường.Trứng có giá trị sinh học cao phải có hình dạng thuôn ñều hình ovan, phân biệt rõ ñầu tù, ñầu nhọn, vỏ trứng không có chỗ dày lên quá thành những vệt rải rác hoặc vỏ ñá vôi hay sần sùi Chỉ số hình dạng trứng ñược xác

Trang 32

ñịnh theo tỷ lệ giữa ñường kính lớn (chiều dài) và ñường kính nhỏ (chiều rộng) trứng Theo Landauer (1978) [21] trứng giống lý tưởng có chỉ số là 0,74 hoặc 1,35 và cho rằng hình dạng trứng có tầm quan trọng nhất ñịnh ñối với sự phát triển của phôi, nó ảnh hưởng ñến vị trí của phôi Khả năng

ấp nở rất thấp ở những trứng tròn hoặc quá dài Kamar và cộng sự (1984) [60] khi nghiên cứu trên trứng vịt Bắc Kinh ñã cho biết tỷ lệ nở bị ảnh hưởng ñáng kể theo những tháng trong năm, tỷ lệ chết phôi cao nhất trong tuần ấp ñầu, chỉ số hình dạng có tương quan ñến tỷ lệ nở (r = 0,78) Bạch Thị Thanh Dân (1995) [2] khi nghiên cứu về ấp trứng ngan ñã có kết luận: trứng có chỉ số hình dạng lớn hơn 1,4 cho kết quả nở kém hơn chỉ số hình dạng 1,3 – 1,4 là 27,45% Nguyễn Quý Khiêm (2003) [19] cho biết trứng của gà Tam Hoàng có chỉ số hình dạng 1,24 – 1,39 có tỷ lệ nở/tổng trứng

ấp và nở/trứng có phôi cao hơn so với trứng có chỉ số hình dạng dưới 1,24

và trên 1,39 tương ứng là 3,50 và 7,52% Như vậy chỉ số hình dạng là một trong những yếu tố ảnh hưởng ñến kết quả ấp nở của trứng gia cầm nói chung và trứng gà nói riêng

2.1.4.3 Ảnh hưởng của chế ñộ bảo quản

Trong quá trình bảo quản trứng có sự thay ñổi rất lớn, ñặc biệt sự hao hụt về khối lượng ðây là một trong những dấu hiệu rõ nhất trong quá trình bảo quản Trong khi trứng ñược bảo quản có hiện tượng bay hơi nước, chủ yếu là ở lòng trắng, do vậy khối lượng của nó giảm ñi, ñồng thời trong quá trình bảo quản ñơn vị Haugh cũng giảm Khối lượng trứng giảm nhiều hay ít phụ thuộc vào thời gian, nhiệt ñộ và ẩm ñộ bảo quản

Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự (1994) [15] trong ñiều kiện bảo quản giống nhau mức ñộ giảm khối lượng của trứng phụ thuộc vào khối lượng của nó Với thời gian bảo quản 10 ngày trứng gà có khối lượng trên 60g thì giảm 1,30 – 1,35%, còn những trứng gà có khối lượng nhỏ hơn 50g thì giảm 1,50 – 1,55% Chất lượng vỏ cũng ảnh hưởng ñến tỷ lệ giảm khối

Trang 33

lượng Những quả trứng có vỏ mỏng, bề mặt sần sùi thì giảm khối lượng nhiều hơn những quả trứng bình thường 2 – 2,5 lần Nếu màng trên vỏ cứng

bị xây xát thì sự bốc hơi nước và giảm khối lượng ñều tăng lên Sự giảm khối lượng của trứng trong thời gian bảo quản gần như diễn ra không ñều nhau Trong 2; 3 ngày ñầu giảm nhiều sau ñó chậm lại ñến ngày thứ 7 rồi lại tăng dần Sở dĩ có sự khác nhau về tốc ñộ giảm khối lượng là do quá trình sinh lý, sinh hóa trong trứng diễn ra khác nhau

Cùng với sự bốc hơi nước từ các chất trong trứng thì kích thước của buồng khí tăng lên Nếu ñiều kiện nhiệt ñộ và ẩm ñộ tương ñối của môi trường xung quanh ổn ñịnh thì thể tích của buồng khí sẽ thay ñổi tương ứng với thời gian bảo quản Thể tích của trứng không thay ñổi, khối lượng trứng lại giảm xuống cho nên khối lượng riêng của trứng giảm Trứng mới ñẻ có khối lượng riêng là 1,063 – 1,065, sau 7 ngày bảo quản là 1,050 và sau 15 ngày bảo quản là 1,025 – 1,027 nếu kéo dài ñến 1 tháng thì khối lượng riêng

có thể nhỏ hơn 1 Lượng nước ở lòng trắng giảm xuống, một phần do bay hơi qua các lỗ khí trên vỏ cứng, một phần do sự di chuyển vào lòng ñỏ Khi quá trình bay hơi nước diễn ra mạnh thì lòng ñỏ và lòng trắng co lại, khối lượng và chỉ số lòng trắng ñều giảm, khối lượng lòng ñỏ trứng tăng, màng lòng ñỏ giảm dần tính ñàn hồi, chỉ số lòng ñỏ giảm xuống Edith và Sarda (1990) [71] cho biết các loại trứng khi bảo quản kéo dài thì khối lượng trứng, chỉ số lòng ñỏ, lòng trắng và ñơn vị Haugh giảm ñáng kể

Trứng sau khi ñẻ ra, nếu ñược ñưa vào ấp sớm sẽ cho kết quả ấp nở tốt, nếu kéo dài thời gian bảo quản thì sự phát triển phôi bị rối loạn, thời gian nở kéo dài, tỷ lệ nở kém Schuberth, Ruhland (1978) [33] cho biết kết luận của Kupch (1972), nếu giữ trứng gà từ 1 – 7 ngày, thời gian ấp nở sẽ là 485,7 giờ, nếu giữ trứng 8 – 14 ngày thời gian ấp nở sẽ là 491,7 giờ, trứng mới cho kết quả ấp nở tốt hơn trứng ñể lâu

Trong ñiều kiện nhiệt ñộ trên 270C, các quá trình trao ñổi chất trong

Trang 34

trứng cũng tăng lên nhưng sự phát triển phôi diễn ra không ñúng quy luật và dẫn ñến sự chết phôi Nhiệt ñộ là yếu tố quan trọng nhất trong thời gian bảo quản trứng, nhiệt ñộ bảo quản trứng liên quan ñến thời gian bảo quản và có tác ñộng tương hỗ lẫn nhau Trứng ñược bảo quản ở nhiệt ñộ thay ñổi từ 15 –

160C thì thời gian bảo quản có thể ñể trên 1 tuần Kinh nghiệm cho biết thời gian bảo quản trứng cho phép từ 5 – 6 ngày Sau thời gian này thì cứ sau 1 ngày bảo quản tỷ lệ nở sẽ giảm ñi 2 – 3%

Thời gian bảo quản ảnh hưởng rất lớn ñến chất lượng trứng và kết quả

ấp nở, tuy nhiên mức ñộ ảnh hưởng của nó còn phụ thuộc vào ñiều kiện môi trường bảo quản Nhiệt ñộ là yếu tố tác ñộng chính và nó có mối quan hệ với thời gian bảo quản Nghiên cứu về vấn ñề này, Jack và Kaltofen (1974) [17] cho thấy trứng bảo quản ở nhiệt ñộ 200C hoặc 320C trong vòng 3 ngày cho kết quả ấp nở tốt hơn trứng ñược bảo quản ở 150C trong cùng thời gian Thời gian

và nhiệt ñộ phòng bảo quản có liên quan chặt chẽ với nhau Nếu nhiệt ñộ cao thì thời gian bảo quản ngắn và ngược lại Trong ñiều kiện mùa ñông thì thời gian bảo quản trứng ñược dài hơn so với mùa hè

Ẩm ñộ không khí trong môi trường bảo quản có ý nghĩa lớn trong việc hạn chế ảnh hưởng của nhiệt ñộ và thời gian bảo quản ñến chất lượng trứng trước khi ấp ðộ ẩm không khí nơi bảo quản càng cao thì trứng càng ít mất nước, tuy nhiên ñộ ẩm không khí quá cao 90 - 100% thì sẽ không có lợi vì trong môi trường này nấm mốc và vi sinh vật sẽ phát triển và xâm nhập vào trong trứng ðộ ẩm không khí thích hợp là 70 – 80%, ở ẩm ñộ này ñủ ñể ngăn cản khối lượng trứng giảm quá mức bình thường Lê Xuân ðồng và cộng sự (1981) [13] cho biết ẩm ñộ không khí có ảnh hưởng ñến sự hao hụt khối lượng trứng trong quá trình bảo quản, ẩm ñộ tương ñối 60% thì sau 5 ngày bảo quản tỷ lệ hao hụt khối lượng là 1,27% và sau 10 ngày là 2,33% Ở ñộ ẩm 68% tỷ lệ hao hụt là 0,81% sau 5 ngày và 1,4% sau 10 ngày

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Trang 35

2.2.1 Những nghiên cứu ngoài nước

Trên thế giới việc áp dụng ấp trứng gia cầm bằng phương pháp nhân tạo

ñã phát triển từ lâu Cùng với sự phát triển của kỹ thuật ấp trứng nhân tạo, các nhà khoa học ñã nghiên cứu về chất lượng trứng, chế ñộ ấp, chế ñộ bảo quản trứng trước khi ấp và những ảnh hưởng của chúng ñến kết quả ấp nở Từ ñó

ñã ñưa ra những kết luận nhằm hoàn thiện các quy trình ấp nở nhân tạo trứng gia cầm

Tác giả Wilson H.R (1991) [68] cho biết tỷ lệ nở của trứng có kích thước trung bình lớn hơn trứng có kích thước quá lớn hoặc quá bé Tỷ lệ nở, khối lượng gà sơ sinh, khả năng sinh trưởng và tỷ lệ nuôi sống kém ở những trứng ñẻ ñầu tiên Thời gian ấp nở thường có tương quan thuận với khối lượng trứng Singh (1981) [65] ñã chỉ ra rằng chất lượng trứng ảnh hưởng rõ rệt ñến kết quả ấp nở Trứng cỡ trung bình của giống tỷ lệ nở 87%; trứng nhỏ hoặc quá nhỏ 80%; trứng ñặc biệt to 71%; trứng vỏ mỏng rạn nứt 53%; trứng méo mó 49%; trứng có vỏ sần sùi 47%

Nhiệt ñộ, ẩm ñộ là yếu tố cơ bản trong quá trình ấp, nó tác ñộng ñến sự hoàn thiện từng cơ quan trong mỗi thời kỳ ấp Kết quả nghiên cứu của Barott (1978) [70] cho thấy khi ấp trứng ở nhiệt ñộ 38,8oC, ẩm ñộ 55% cho

tỷ lệ nở 80% và ở nhiệt ñộ 37,7oC, ẩm ñộ 60% thì tỷ lệ nở tăng lên 90% Wilson H.R (1990) [67] khi nghiên cứu tác ñộng của nhiệt ñộ ấp ñến khả năng nở của trứng gia cầm ñã rút ra kết luận: 1) Hầu hết các loài gia cầm có nhiệt ñộ thích hợp ñể ấp trứng là từ 37 – 38oC mặc dù trứng có thể nở ở nhiệt

ñộ từ 35 – 40,5oC 2) Phôi mẫn cảm với nhiệt ñộ cao hơn so với nhiệt ñộ thấp 3) Tác ñộng của nhiệt ñộ gần dưới ñiểm cực thuận phụ thuộc vào ñộ lệch nhiệt ñộ so với ñiểm cực thuận và thời gian tác ñộng trong bao lâu 4) Phôi dễ

bị ảnh hưởng bởi nhiệt ñộ dưới ñiểm cực thuận ở giai ñoạn ñầu của quá trình

ấp hơn là ở giai ñoạn cuối quá trình ấp Swann G.S., Brake J (1990) [66] ñã thí nghiệm hai chế ñộ ấp, trong ñó chế ñộ 1: nhiệt ñộ 37,2oC, ẩm ñộ 53% Chế

Trang 36

ựộ 2: nhiệt ựộ 37,5oC, ẩm ựộ 60%, kết quả cho thấy ở chế ựộ ấp 2 gia cầm nở sớm và tỷ lệ nở cao hơn chế ựộ 1 Theo nghiên cứu của French N.A (1997) [59] nhiệt ựộ ấp ựa kỳ trứng gà tây ở Châu Âu và Bắc Mỹ là 37,4 Ờ 37,6oC Các trứng có kắch thước lớn nở tốt hơn khi nhiệt ựộ ấp giảm từ 37,5 xuống 36,5oC trong nửa sau của quá trình ấp Willemsen H và cộng sự (2010) [69] tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của việc nâng nhiệt ựộ và hạ nhiệt ựộ vào cuối giai ựoạn ấp ựến sự phát triển của phôi, quá trình nở và trao ựổi chất ở gà thịt ựã rút ra kết luận: trong giai ựoạn ấp từ 16 ngày ựến 18 ngày rưỡi, nhiệt

ựộ cao hơn và thấp hơn 0,3oC so với nhiệt ựộ thường ựược sử dụng gây ra ảnh hưởng rất khác nhau Phôi ở nhóm nhiệt ựộ cao, sinh trưởng của phôi và mức

ựộ tiêu thụ lòng ựỏ bị giảm ựi Kết quả khối lượng gà con thấp ựi ựáng kể Ở nhóm nhiệt ựộ thấp, quá trình nở cũng bị chậm lại, nhưng sự phát triển của phôi vẫn giống như ở các nhóm nhiệt ựộ bình thường

Bên cạnh ựó hàng loạt các công trình nghiên cứu trên thế giới về bảo quản trứng ựã ựược triển khai Các kết quả nghiên cứu ựều khảng ựịnh rằng thời gian bảo quản và tỷ lệ ấp nở có mối tương quan nghịch rất chặt chẽ Nhiệt ựộ và thời gian bảo quản cũng có mối liên hệ tác ựộng qua lại, thời gian bảo quản ngắn thì giữ trứng ở nhiệt ựộ cao tốt hơn và ngược lại nhiệt ựộ thấp thì sẽ kéo dài thời gian lâu hơn Mujeer K.A và cộng sự (1986) [63] nghiên cứu ảnh hưởng của ựiều kiện bảo quản trứng gà giống trước khi ấp ựến tỷ lệ

nở cho thấy 1.440 trứng gà Leghorn trắng ựược bảo quản ở 25,8 Ờ 28oC hoặc 17,4 Ờ 190C với việc xếp ựặt ựầu to hoặc ựầu nhỏ hướng lên trên và ựược cho vào túi linon mở hay ựóng kắn Nhiệt ựộ bảo quản có ảnh hưởng rõ rệt ựến tỷ

lệ chết phôi và khả năng nở (P<0,01) Với trứng bảo quản ở nhiệt ựộ thấp cho thấy chết phôi kỳ 1 thấp nhất (6,0 ổ 1,51%) so với (43,5 ổ 1,26%) và tỷ lệ nở cao nhất (77,1 ổ 1,37%) so với (28,9 ổ 1,26%) và tỷ lệ nở của trứng ựược bảo quản với ựầu nhỏ hướng lên trên là tốt hơn rõ rệt (58,9 ổ 3,41%) so với trứng bảo quản hướng ựầu to lên trên (47,1 ổ 3,29%) đóng gói không ảnh hưởng

Trang 37

ñến tỷ lệ chết phôi hay tỷ lệ nở Theo kết quả thí nghiệm của Kaltofen R.S và cộng sự (1974) (trích dẫn của Nguyễn Văn Trọng, 1998) [49] bảo quản trứng

ấp trên 50 giờ ở nhiệt ñộ 1,7 – 6,70C có ảnh hưởng xấu ñến phôi Khi nhiệt ñộ bảo quản dưới 0oC thì trứng sẽ bị ñóng băng, nhưng khi nâng nhiệt ñộ lên thì lại thấy sự rối loạn trong cấu trúc của lòng trắng, màng lòng ñỏ bị rạn, trong trường hợp ñó trứng không thể ấp nở ñược Tác giả Abdou và cộng sự (1990) [53] ñã nghiên cứu ảnh hưởng của các giai ñoạn bảo quản trước khi ấp ñến tỷ

lệ nở và sự phát triển sau khi nở của gà ñịa phương trong ñiều kiện nhiệt ñới Thí nghiệm ñược tiến hành trên 2400 trứng vào các tháng 6 – 9 giống gà bản

xứ Tanzania, trứng ñược bảo quản trong vòng từ 7 – 15 ngày ở nhiệt ñộ phòng trước khi ấp Tỷ lệ có phôi lớn hơn 71% ñối với các trứng thu ñược ở các tháng khác nhau, tỷ lệ nở trên trứng có phôi của trứng ñược ấp ngay trung bình là 92,8 %, tỷ lệ nở có tương quan âm (r = - 0,98) với thời gian bảo quản trước khi ấp, mỗi ngày bảo quản tỷ lệ nở giảm trung bình 5,3%, khối lượng cơ thể gà lúc 1 tuần tuổi ñược sinh ra từ trứng ñược bảo quản kém hơn so với khối lượng của gà sinh ra từ trứng ñược bảo quản ngắn Edith và Sarda (1990) [57] nghiên cứu những thay ñổi xảy ra trong trứng khi bảo quản và vị trí bảo quản tốt nhất cho thấy trứng gà thịt bảo quản ở 19,50C trong 6; 8 hoặc 12 ngày ở vị trí bình thường trước khi ấp, tỷ lệ nở (gà loại 1) tương ứng là 81,1; 75,8 và 60,4%, trong khi ñó trứng bảo quản cùng thời gian với ñầu nhỏ hướng lên trên có tỷ lệ nở 83,3; 81,6 và 69,2% (P<0,001) Có sự giảm ñáng kể về chỉ

số lòng ñỏ, lòng trắng, ñơn vị Haugh và khối lượng trứng khi tăng thời gian bảo quản Fasenko G.M và cộng sự (1991) [58] cho biết ảnh hưởng của phương thức bảo quản với thời gian thu gom trứng sau khi ñẻ ñến sự phát triển của phôi, thí nghiệm ñược theo dõi trên ñàn gà ở tuần tuổi 38 – 42, thí nghiệm 1 ñược thực hiện thu nhặt trứng trong vòng 1 giờ sau khi ñẻ ra và thí nghiệm 2 thu trứng sau 6 – 7 giờ, cho bảo quản ở nhiệt ñộ 13,80C trong 4 ngày Kết quả khi mở 250 trứng kiểm tra sự phát triển phôi cho thấy trứng

Trang 38

ñược thu gom sau 6 – 7 giờ sau khi ñẻ phôi lớn hơn so với trứng thu trong vòng 1 giờ sau khi ñẻ (P<0,05) Michael và Wineland (1995) [62] , nhận ñịnh: sức sống của phôi giảm dần khi thời gian bảo quản tăng dần, tỷ lệ chết phôi tỷ

lệ thuận với thời gian bảo quản trứng Bảo quản 13 ngày chết phôi sớm cao 16,72%, bảo quản 2 ngày trứng của gà mái non tỷ lệ chết phôi 2,49%, gà mái già tỷ lệ chết phôi 4,55%

2.2.2 Những nghiên cứu trong nước

Các nhà khoa học của nước ta cũng ñã xác nhận rằng sự phát triển của phôi chịu ảnh hưởng của khối lượng và hình dạng trứng

Theo Nguyễn Duy Nhị, Nguyễn Thị San (1982) [29] ñã xác ñịnh khối lượng trứng giống thích hợp ñể có tỷ lệ nở cao ñối với trứng gà Plymouth Rock ở ñộ tuổi 26 và 33 tuần tương ứng là 50 – 54g và cho tỷ lệ nở cao nhất (72,6%) tiếp ñến là trứng có khối lượng trên 56 – 59g (57,7%) Tỷ lệ nở thấp nhất ở trứng có khối lượng trên 60g (54,8%) và dưới 50g (53,8%), tuy nhiên

sự sai khác về tỷ lệ nở của trứng 55 – 59g với trứng trên 60g và dưới 50g là chưa rõ rệt Bùi Quang Tiến và cộng sự (1985) [38] trứng gà Rhoderi cho tỷ

lệ nở cao nhất là những trứng có khối lượng trung bình 46 – 51g Trần Long, Nguyễn Duy Nhị (1989) [22] cho biết khối lượng trứng có ảnh hưởng tới tỷ lệ

nở và khối lượng gà con Hệ số di truyền của khối lượng trứng là (0,46 ± 0,16), với hệ số di truyền trung bình cao này có thể chọn lọc theo cá thể nhằm tạo ra ñàn giống có chất lượng trứng tốt, ñồng ñều về khối lượng góp phần nâng cao tỷ lệ nở Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự (1994) [15] nghiên cứu thành phần cấu tạo của trứng cho rằng, thông thường thành phần của trứng là 32% lòng ñỏ, 56% lòng trắng, 12% vỏ và màng vỏ Những trứng nhỏ hoặc quá lớn ñều xa dần tỷ lệ này nên cho kết quả ấp nở thấp hơn Nguyễn Thanh Sơn (1995) [34] cho biết khối lượng trứng gà có ảnh hưởng lớn ñến kết quả

ấp nở và sự sinh trưởng phát triển của gà con Trứng bé (<50g) và quá lớn (>50g) ñều cho tỷ lệ nở thấp hơn trứng có khối lượng trung bình từ 4 – 6%

Trang 39

Theo Bùi ðức Lũng và cộng sự (1996) [24] nghiên cứu ảnh hưởng của khối lượng trứng gà Hybro ñến kết quả ấp nở và sức sống của gà con cho biết, tỷ lệ

nở gà loại 1 ñạt cao nhất ở lô có khối lượng trung bình 52 – 64g (80 – 85%), thấp nhất ở lô có khối lượng trứng nhỏ 45 – 49g (60,9%) Vũ Thị Hưng (1996) [16] khi nghiên cứu một số yếu tố chất lượng trứng ảnh hưởng ñến kết quả ấp

nở của trứng gà thịt Hybro HV85 cho thấy: trứng có khối lượng từ 52,1 – 64g ở

cả hai vụ hè thu và ñông xuân cho tỷ lệ nở và tỷ lệ gà loại 1/trứng ấp cao hơn

so với trứng có khối lượng nhỏ (44,1 – 52,0g) và trứng có khối lượng lớn (64,1 – 70,0g Nguyễn Hoài Tao và cộng sự (1985) [36] nghiên cứu một số chỉ tiêu

về tính năng sản xuất và chất lượng trứng gà Ri cho biết chỉ số hình dạng trứng gà Ri trung bình là 1,31 ± 0,002 Nguyễn Quý Khiêm (2003) [19] khi nghiên cứu về ảnh hưởng của các mức khối lượng và chỉ số hình dạng trứng gà Tam Hoàng ñến kết quả ấp nở ñã kết luận: trứng có khối lượng 45 – 55g tỷ lệ nở/tổng trứng ấp và tỷ lệ nở/trứng có phôi ñạt tương ứng 85,3% và 87,9%, cao hơn so với trứng có khối lượng dưới 45g và trên 55g tương ứng 7,41 và 13,41%; tỷ lệ phôi, tỷ lệ nở ở nhóm trứng có chỉ số hình dạng từ 1,24 – 1,39 luôn cao hơn trứng có chỉ số hình dạng dưới 1,24 và trên 1,39 Gần ñây các tác giả khi nghiên cứu về chọn tạo giống ñều quan tâm ñến chất lượng trứng và tỷ

lệ ấp nở Tác giả Phạm Công Thiếu và cộng sự (2008) [46] khi nghiên cứu ñặc ñiểm ngoại hình, khả năng sinh trưởng và sinh sản của gà H’mông qua các thế

hệ chọn lọc, cho biết: khối lượng trứng 38 tuần tuổi 45,2g, chỉ số hình dạng 1,31; tỷ lệ nở/trứng vào ấp 87,08 – 87,9%, tỷ lệ gà loại 1/trứng vào ấp ñạt 81,05 – 81,09% Vũ Ngọc Sơn và cộng sự (2009) [35] nghiên cứu ñặc ñiểm ngoại hình và khả năng sản xuất của hai giống gà nhập nội Zolo và Bor cho thấy khối lượng trứng tương ứng là 53,0g; 53,7g, chỉ số hình dạng lần lượt là 1,34; 1,35, tỷ lệ nở/trứng ấp tương ứng là 84,6; 85,5%

Về ảnh hưởng của nhiệt ñộ, ẩm ñộ trong quá trình ấp ñến kết quả ấp nở trứng gia cầm Võ Bá Thọ (1990) [48] cho biết chế ñộ ấp ñối với trứng gà

Trang 40

công nghiệp: Ấp ñơn kỳ, giai ñoạn 1 - 15 ngày nhiệt ñộ 37,8oC, từ 16 - 19 ngày 37,4oC, giai ñoạn nở 37,0 – 37,1oC Về ẩm ñộ giai ñoạn 1 – 6 ngày 74 – 62%, từ 7 – 10 ngày 55%, 11 – 19 ngày 50%, giai ñoạn nở 19 – 21 ngày duy trì 55 – 75% Ấp ña kỳ, nếu là ñợt trứng ñầu tiên vào máy thì ñiều chỉnh nhiệt ñộ từ ngày 1 – 15 là 37,8oC, từ ngày 16 hạ xuống 37,5oC và ổn ñịnh ñến ngày 18, ẩm ñộ duy trì từ 50 – 53% Từ 18 ngày rưỡi ñến 19 ngày thì chuyển trứng sang máy nở ñiều chỉnh nhiệt ñộ như ấp ñơn kỳ 37,0 – 37,1oC,

ẩm ñộ duy trì 55 – 75% Nguyễn Quý Khiêm và cộng tác viên (2003) [20] cho biết ñối với trứng gà Ác nhiệt ñộ trong ấp ñơn kỳ với các giai ñoạn 1 – 6; 7 – 13; 14 – 18 và 19 – 21 ngày tương ứng là 37,8; 37,6; 37,4 và 37,2oC với các mức ẩm ñộ 60 – 65%; 55 - 60%; 50 - 55% và 70 – 75% Ấp ña kỳ nhiệt ñộ và ẩm ñộ ổn ñịnh trong cả giai ñoạn ấp từ 1 – 18 ngày là 37,8 – 37,9oC và 55 – 60%, giai ñoạn nở 19 - 21 ngày là 37oC và 70 – 75% Nguyễn Quý Khiêm (2003) [19] cho biết chế ñộ ấp của trứng gà Tam Hoàng như sau:

Ấp ña kỳ: Nhiệt ñộ và ẩm ñộ thích hợp trong giai ñoạn ấp (1 – 18 ngày)

là 37,5 – 37,6oC và 55 – 60%, giai ñoạn nở (19 – 21 ngày) là 37 – 37,2oC và

70 – 75% Nếu là lô trứng ñầu tiên vào máy thì từ 1 – 11 ngày ñầu ñể nhiệt ñộ 37,8oC, ẩm ñộ 60%, sau ñó duy trì 37,5 – 37,6oC, ẩm ñộ 55 - 60%

Các công trình nghiên cứu trong nước về thời gian và ñiều kiện bảo quản trứng trước khi ấp ñều nhận ñịnh rằng thời gian càng dài thì chất lượng

Ngày đăng: 14/11/2015, 08:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.2. Kết quả khảo sát trứng gà Ri - Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở của trứng gà ri khi ấp nhân tạo
Bảng 4.2. Kết quả khảo sát trứng gà Ri (Trang 53)
Hình 4.1. Thành phần cấu tạo trứng gà Ri - Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở của trứng gà ri khi ấp nhân tạo
Hình 4.1. Thành phần cấu tạo trứng gà Ri (Trang 54)
Bảng 4.3. Tương quan giữa khối lượng với một số chỉ tiêu - Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở của trứng gà ri khi ấp nhân tạo
Bảng 4.3. Tương quan giữa khối lượng với một số chỉ tiêu (Trang 56)
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của vệ sinh khử  trựng ủến kết quả ấp nở (n = 3) - Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở của trứng gà ri khi ấp nhân tạo
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của vệ sinh khử trựng ủến kết quả ấp nở (n = 3) (Trang 57)
Bảng 4.5. Kết quả ấp nở trứng bảo quản trong kho lạnh với thời gian - Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở của trứng gà ri khi ấp nhân tạo
Bảng 4.5. Kết quả ấp nở trứng bảo quản trong kho lạnh với thời gian (Trang 60)
Hình 4.2. Kết quả ấp nở trứng bảo quản trong kho lạnh - Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở của trứng gà ri khi ấp nhân tạo
Hình 4.2. Kết quả ấp nở trứng bảo quản trong kho lạnh (Trang 61)
Bảng 4.6. Kết quả ấp nở trứng bảo quản trong ủiều kiện nhiệt ủộ phũng - Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở của trứng gà ri khi ấp nhân tạo
Bảng 4.6. Kết quả ấp nở trứng bảo quản trong ủiều kiện nhiệt ủộ phũng (Trang 63)
Hỡnh 4.3. Kết quả ấp nở trứng bảo quản ở ủiều kiện nhiệt ủộ phũng - Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở của trứng gà ri khi ấp nhân tạo
nh 4.3. Kết quả ấp nở trứng bảo quản ở ủiều kiện nhiệt ủộ phũng (Trang 64)
Bảng 4.7. Kết quả ấp nở của trứng trong các khay ở 3 vị trí trong máy ấp - Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở của trứng gà ri khi ấp nhân tạo
Bảng 4.7. Kết quả ấp nở của trứng trong các khay ở 3 vị trí trong máy ấp (Trang 66)
Bảng 4.8. Kết quả ấp nở cỏc mức nhiệt ủộ trong mỏy ấp (n = 3) - Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở của trứng gà ri khi ấp nhân tạo
Bảng 4.8. Kết quả ấp nở cỏc mức nhiệt ủộ trong mỏy ấp (n = 3) (Trang 68)
Hỡnh 4.4.  Kết quả ấp nở ở cỏc mức nhiệt ủộ trong mỏy ấp ủa kỳ - Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở của trứng gà ri khi ấp nhân tạo
nh 4.4. Kết quả ấp nở ở cỏc mức nhiệt ủộ trong mỏy ấp ủa kỳ (Trang 70)
Bảng 4.9. Kết quả ấp nở của trứng có khối lượng khác nhau  (n=3) - Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở của trứng gà ri khi ấp nhân tạo
Bảng 4.9. Kết quả ấp nở của trứng có khối lượng khác nhau (n=3) (Trang 71)
Hình 4.5. Kết quả ấp nở của các mức khối lượng trứng - Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở của trứng gà ri khi ấp nhân tạo
Hình 4.5. Kết quả ấp nở của các mức khối lượng trứng (Trang 73)
Bảng 4.10. Kết quả ấp nở của trứng có CSHD khác nhau (n=3) - Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở của trứng gà ri khi ấp nhân tạo
Bảng 4.10. Kết quả ấp nở của trứng có CSHD khác nhau (n=3) (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w