Một số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam đã bước đầu thực hiện trách nhiệm xã hội của mình thông qua việc áp dụng các bộ Quy tắc ứng xử CoC và các tiêu chuẩn như SA8000, ISO 14000,… Bên cạnh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHAN VĂN THIỆN
NGHIÊN CỨU TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
CỦA TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI (VIETTEL)
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – Năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHAN VĂN THIỆN
NGHIÊN CỨU TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI (VIETTEL)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu khoa học, kết quả nghiên cứu của Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phan Văn Thiện
Trang 4M ỤC LỤC
Tran g
DANH M ỤC CHỮ VI ẾT TẮT…… ……… ……… ………i
DANH M ỤC CÁC HÌNH…… ……… …… ……… ……… …… ii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Vấn đề nghiên cứu của đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
4 Các câu hỏi đặt ra trong nghiên cứu 3
5 Pham vi nghiên cứu của đề tài 4
6 Phương pháp nghiên cứu: 4
7 Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu 4
8 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
9 Kết cấu của luận văn 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI 12
1.1 Tổng quan về trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp 12
1.1.1 Khái niệm 12
1.1.2 Bản chất của trách nhiệm xã hội 13
1.1.3 Các quan điểm đối lập về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 15
1.1.4 Nội dung của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp 18
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới trách nhiệm xã hội doanh nghiệp 21
1.2.1 Quy định của pháp luật 21
1.2.2 Nhận thức của Xã hội 22
1.2.3 Quá trình toàn cầu hóa và sức mạnh của thị trường 22
1.3 Vai trò của trách nhiệm xã hội 22
1.3.1 Sự cần thiết thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 22
Trang 51.3.2 Ảnh hưởng của việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với toàn xã
hội và doanh nghiệp 23
1.4 Các cấp độ của trách nhiệm xã hội theo mô hình Kim tự tháp Caroll 27
1.5 Một vài vấn đề liên quan đến trách nhiệm xã hội 29
1.5.1 Văn hoá doanh nghiệp 29
1.5.2 Đạo đức kinh doanh 30
1.5.3 Mối liên hệ giữa Văn hóa doanh nghiệp, Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội 31
Chương 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI 37
2.1 Tập đoàn Viễn thông Quân đội 37
2.1.1 Giới thiệu chung về Viettel 37
2.1.2 Ngành nghề kinh doanh: 37
2.1.3 Chặng đường phát triển 38
2.1.4 Những thành tựu 40
2.2 Thực trạng tổng quát về thực hiện trách nhiệm xã hội trên thế giới và ở Việt Nam 43
2.2.1 Trên thế giới 43
2.2.2 Ở Việt Nam 44
2.2.3 Đánh giá thực hiện CSR tại Việt Nam 44
2.3 Thực hiện trách nhiệm xã hội của tập đoàn Viễn thông VIETTEL 47 2.3.1 Trách nhiệm kinh tế 47
2.3.2 Trách nhiệm pháp lý 56
2.3.3 Trách nhiệm đạo đức 59
2.3.4 Trách nhiệm từ thiện 61
Trang 6CHƯƠNG III: CÁC KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI69
3.1 Các kết luận và phát hiện trong quá trình nghiên cứu 69
3.1.1 Thách thức và cơ hội thực hiện CSR ở Việt Nam 69
3.1.2 CSR – yếu tố quyết định xu hướng tiêu dung của khách hàng 72
3.1.3 Viettel được lợi khi thực hiện CSR 75
3.1.4 Đóng góp của Viettel cho quốc dân Việt Nam khi thực hiện CSR 76
3.2 Các đề xuất, kiến nghị với vấn đề nghiên cứu 78
3.2.1 Cơ sở thực hiện CSR trong doanh nghiệp 79
3.2.2 Đề xuất các biện pháp cho việc thực hiện CSR 80
3.3 Các kết quả đã đạt được 85
3.4 Các vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 86
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
4 CoC Code of Conduct Bộ Quy tắc ứng xử
nghiệp
9 VCCI
Vietnam Chamber
of Commerce and Industry
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
1 Hình 1.2 Mô hình kim tự tháp CSR của A.Carroll(1999) 27
2 Hình 2.1 Doanh thu và Nhân lực của Viettel giai đoạn 2000 - 2010 49
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility)
là một vấn đề không thể bỏ qua trên con đường hội nhập của các doanh nghiệp Việt Nam, vì nó vừa mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, vừa mang lại lợi ích cho xã hội Nó góp phần nâng cao lợi thế cạnh tranh và tính bền vững của doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ thực hiện tốt hơn pháp luật lao động tại Việt Nam (Nguyễn Hữu Dũng, 2007)
Tuy nhiên việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ bắt đầu và còn rất nhiều hạn chế Một số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam đã bước đầu thực hiện trách nhiệm xã hội của mình thông qua việc áp dụng các bộ Quy tắc ứng xử (CoC) và các tiêu chuẩn như SA8000, ISO 14000,… Bên cạnh đó còn rất nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội mà theo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (2005), rào cản và thách thức cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm: nhận thức về khái niệm trách nhiệm xã hội còn hạn chế; năng suất bị ảnh hưởng khi phải thực hiện đồng thời nhiều bộ quy tắc ứng xử; thiếu nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực trách nhiệm xã hội; sự nhầm lẫn do khác biệt giữa qui định của bộ quy tắc ứng xử và Bộ Luật Lao động; và những quy định trong nước ảnh hưởng tới việc thực hiện các bộ quy tắc ứng xử
Trên thực tế, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bước đầu đã được một số bộ, ngành quan tâm, chú ý Hiện nay, nhiều doanh nghiệp lớn ở Việt Nam đã nhận thấy rằng, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã trở thành một trong những yêu cầu không thể thiếu được đối với doanh nghiệp, bởi lẽ, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nếu doanh nghiệp không tuân thủ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ không thể tiếp cận được với thị
Trang 10trường thế giới Nhiều doanh nghiệp khi thực hiện trách nhiệm xã hội đã mang lại những hiệu quả thiết thực trong sản xuất kinh doanh Kết quả khảo sát gần đây do Viện Khoa học lao động và xã hội tiến hành trên 24 doanh nghiệp thuộc hai ngành Giầy da và Dệt may cho thấy, nhờ thực hiện các chương trình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, doanh thu của các doanh nghiệp này đã tăng 25%, năng suất lao động cũng tăng từ 34,2 triệu đồng lên 35,8 triệu đồng/1 lao động/năm; tỷ lệ hàng xuất khẩu tăng từ 94% lên 97% Bên cạnh hiệu quả kinh
tế, các doanh nghiệp còn củng cố được uy tín với khách hàng, tạo được sự gắn
bó và hài lòng của người lao động đối với doanh nghiệp, thu hút được lực lượng lao động có chuyên môn cao
Như vậy, các doanh nghiệp đều muốn phát triển và phát triển bền vững Trước hết doanh nghiệp cần thông qua việc thực hiện TNXH để làm cho uy tín của DN tăng lên Điều đó cũng đồng nghĩa với thương hiệu của doanh nghiệp tăng lên Áp dụng CRS không phải là cái lợi một chiều từ doanh nghiệp đến cho cộng đồng Nhờ những đóng góp đó mà uy tín của doanh nghiệp tăng lên Đây là lợi ích không nhỏ mà DN thu về
Một đại gia trong ngành viễn thông là Viettel đã biết gắn trách nhiệm xã hội với hoạt động kinh doanh, dịch vụ…Họ đã “gieo” những “hạt niềm tin” đúng cách và đúng chỗ Và họ có quyền gặt hái “những mùa vàng bội thu”
Với khuôn khổ của bài luận văn khoá học, để kết quả nghiên cứu được tập trung, mang tính thực tiễn và có thể mang lại hiệu quả về nhiều mặt, em chọn Tập đoàn Viễn thông Quân đội(Viettel), làm đối tượng nghiên cứu, với
đề tài :
“Nghiên cứu trách nhiệm xã hội của Tập đoàn Viễn thông Quân
đội(Viettel): Thực trạng và giải pháp”
2 Vấn đề nghiên cứu của đề tài
Để giải quyết được nội dung đề tài trên, cần phải tập trung nghiên cứu:
Trang 11- Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Trong phần này, cần làm sáng
tỏ khái niệm, nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Đưa ra được cơ
sở về lý thuyết để đánh giá tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
- Tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội của Tập đoàn Viễn thông Quân đội: Trong phần này, sẽ vận dụng cơ sở lý thuyết đã nghiên cứu để đưa
ra những đánh giá, nhận xét cụ thể việc thực hiện trách nhiệm xã hội của Tập đoàn Viễn thông Quân đội trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
- Giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội của Tập đoàn Viễn thông Quân đội: Dựa trên cơ sở lý thuyết và tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội của Viettell đã nghiên cứu để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài được đưa ra nghiên cứu như một bản báo cáo về tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội của Tập đoàn Viettel Trên cơ sở đó tác giả sẽ đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội của Tập đoàn viễn thông quân đội(Viettel) Trong tương lai, những nghiên cứu của đề tài có thể được
mở rộng cho các đơn vị khác hoặc làm tiền đề cho những nghiên cứu khác
4 Các câu hỏi đặt ra trong nghiên cứu
Để các vấn đề nghiên cứu trong đề tài được tường minh và đạt kết quả tốt, khi tiến hành nghiên cứu cần phải tập trung trả lời cho các câu hỏi sau:
- Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là gì?
- Những lợi ích đạt được khi thực hiện trách nhiệm xã hội?
- Cơ sở lý thuyết để đánh giá tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp?
- Thực trạng thực hiện xã hội của Tập đoàn Viễn thông Quân đội(Viettel) hiện nay như thế nào?
Trang 12- Giải pháp nào để nâng cao trách nhiệm xã hội của Tập đoàn Viễn thông Quân đội?
- Hướng phát triển tiếp theo của vấn đề nghiên cứu?
5 Pham vi nghiên cứu của đề tài
Đối với đề tài này, việc xác định đối tượng nghiên cứu và các dữ liệu thông tin được thu thập xử lý trong khoảng thời gian như sau:
- Đối tượng: Tập đoàn Viễn thông Quân đội(Viettel)
- Thời gian: Trong những năm gần đây (2005-2010)
6 Phương pháp nghiên cứu:
Có rất nhiều phương pháp nghiên cứu được sử dụng khi thực hiện đề tài,
có thể được liệt kê như:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đây là phương pháp sử dụng để tìm
hiểu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, cũng như thu thập các số liệu để phục vụ cho đề tài
- Phương pháp quan sát thực tiễn: Trên cơ sở phương pháp luận đã tìm
hiểu, vận dụng cơ sở lý thuyết vào thực tiễn để đánh giá và đề xuất các giải pháp
- Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu: Đây là một trong những
phương pháp trọng tâm của đề tài, giúp ích rất nhiều trong việc làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
Bên cạnh những phương pháp được chỉ ra như trên, tác giả còn tham khảo các ý kiến chuyên gia, tổng kết kinh nghiệm, …
7 Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu
Vấn đề trách nhiệm xã hội gần đây đã thu hút ngày các nhiều sự quan tâm của các học giả, các nhà hoạch định chính sách vì vai trò của nó trong sự phát triển của doanh nghiệp và nền kinh tế Những tác động trong việc thực hiện trách nhiệm xã của doanh nghiệp đã được rất nhiều học giả nghiên cứu
Trang 13Tuy nhiên cho đến nay, tại Tập đoàn Viễn thông Quân đội chưa có một đánh giá cụ thể nào về tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội của Viettel, mặc dù đã
có những bước đi và chiến lược mang tính trách nhiệm xã hội
Như vậy, với nghiên cứu của tác giả sẽ có ý nghĩa lớn:
- Thông qua việc nghiên cứu thấy được thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của Tập đoàn Viễn thông Quân đội
- Dựa trên cơ sở lý thuyết và điều kiện thực tế Việt Nam để đưa ra một
số giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội của Tập đoàn Viễn thông Quân đội
8 Tổng quan tình hình nghiên cứu
8.1 Những nghiên cứu về CSR trên thế giới
Nhóm làm việc của ISO về trách nhiệm xã hội (WG SR) đã tham khảo rộng rãi mọi đối tác Chỉ riêng trong năm 2007 có 320 đại diện của 55 nước và
26 tổ chức quốc tế tham gia hội nghị của WC SR
Hiện nay, để đánh giá trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã có những tiêu chuẩn có thể dùng làm cơ sở để chứng nhận một doanh nghiệp: Các tiêu chuẩn của ILO (International Labor Organization, Tổ chức Lao động quốc tế), ISO 9001 về hệ thống quản lý chất lượng, ISO 14001 về hệ thống quản lý môi trường, OHSAS 8001 về an toàn lao động, và SA 8000 về quản lý nhân sự
Trên thế giới có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu như:
– Matthew J Hirschland, “Corporate Social Responsibility and the Shaping of Global Public Policy”, Hardcover (Dec 12, 2006) Tác giả bàn về tầm quan trọng của CSR trong công ty như: Các quy định kinh doanh toàn cầu mới – sự hiểu biết của công ty về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và CSR thực hành đáp ứng lý thuyết – quản trị toàn cầu và mạng lưới chính sách công cộng toàn cầu
– Oyvind Ihlen, Betteke Van Ruler, Magnus Fredriksson, “Public Relations and Social Theory: Key Figures and Concepts” Tác giả bàn về vấn
Trang 14đề: Quan hệ công chúng và lý thuyết xã hội nới rộng phạm vi lý thuyết của quan hệ công chúng Từ đó tập trung vào khái niệm như niềm tin, tính hợp pháp, sự hiểu biết, và phản xạ, cũng như về các vấn đề về hành vi, năng lượng,
và ngôn ngữ
– Muhammad Yunus, “Building Social Business: The New Kind of Capitalism That Serves Humanity’s Most Pressing Needs” Tác giả muốn giúp các doanh nghiệp thấy được vai trò của hoạt động kinh doanh Qua những gương điển hình mà các doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn tới vấn đề trahcs nhiệm xã hội của doanh nghiệp
8.2 Những tổ chức quốc tế về CSR
CSR không chỉ phổ biến ở phạm vi các doanh nghiệp, ở cấp độ quản lý Nhà nước, vấn đề CSR cũng nhận được sự quan tâm, và là một trong những mục tiêu, chiến lược để xây dựng một nền kinh tế vững mạnh Nhà nước có vai trò quan trọng trong điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp để đảm bảo an toàn cho môi trường cũng như cho xã hội, trước cơn sóng vươn tới lợi nhuận cực đại của các doanh nghiệp Chính vì thế, nhiều nước đã thể chế hóa nội dung của CSR vào các văn bản pháp luật hay các quy định khác dưới những hình thức thể hiện khác nhau Trên bình diện rộng hơn, nỗ lực đưa CSR thành thông lệ quốc tế phổ biến và đã trở thành hiện thực Năm 1999, một thỏa thuận toàn cầu được Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc (LHQ) Kofi Annan đưa ra tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới
Đối với các thiết chế khu vực, CSR cũng được Ủy ban Châu Âu công nhận từ rất sớm: “CSR là việc các doanh nghiệp đưa mối quan tâm về xã hội
và môi trường vào các hoạt động kinh doanh và mối quan hệ của họ với cộng đồng của mình trên cơ sở tự nguyện”
Trang 15Ngoài ra, CSR cũng đã được đưa vào Chương trình nghị sự chính thức của Hội nghị thượng đỉnh APEC (Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương) tổ chức vào tháng 11/2008 tại Lima, Peru
8.3 Những nghiên cứu về CSR tại Việt Nam
Tại Việt Nam, có thể kể đến một số sách, bài báo tiêu biểu nghiên cứu
về CSR như:
– TS Lê Thanh Hà, 2006, “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong vấn
đề tiền lương”, Báo Lao động xã hội, số 290, ngày 15/05/2006 Tác giả muốn
đề cập tới vai trò của tiền lương như: các mức lương vừa thể hiện vị trí, công việc vừa thể hiện sự chia sẻ lợi ích giữa các tổ chức, các doanh nghiệp và người lao động vừa thể hiện sự phát triển nghề nghiệp của mỗi cá nhân người lao động
– Hoàng Long, 2007, “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp – Động lực cho
sự phát triển”, Báo Thương Mại, số 26/2007 Tác giả chứng minh tầm quan trọng của CSR trong doanh nghiệp tới sự phát triển xã hội: chú ý phát triển cơ
sở hạ tầng cứng và mềm, giao thông vận tải, nhất là các hành lang kinh tế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, các ngành dịch vụ then chốt như tài chính – ngân hàng, viễn thông, các nguồn năng lượng mới và tái tạo được
– Hồng Minh, 2007, “Trách nhiệm xã hội và đạo đức doanh nghiệp”, Báo Văn hoá và đời sống xã hội, số 2/2007 Đạo đức và trách nhiệm
xã hội rõ ràng là những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh Thật khó mà thuyết phục doanh nghiệp thực hiện tốt các vấn đề đạo đức và trách nhiệm bằng những luận cứ dựa trên lợi ích kinh tế trước mắt
– TS Nguyễn Mạnh Quân, 2004, Giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp”, NXB Lao động Xã hôi Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp là tài sản quý giá góp phần quan trọng quyết định sự thành bại của mỗi doanh nghiệp Đó là một hệ thống các giá trị, chuẩn mực, phương
Trang 16pháp tư duy ảnh hưởng rất lớn tới hành động của các thành viên trong doanh nghiệp
8.4 Bộ quy tắc ứng xử về thực hiện trách nhiệm xã hội
Trong bối cảnh toàn cầu hóa các hoạt động kinh doanh, các giải của doanh nghiệp đưa ra để giải quyết các vấn đề về lao động, xã hội và đạo đức có trong các bộ quy tắc ứng xử ngày cảng trở nên quan trọng Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực lao động chủ yếu thông qua các Bộ Quy tắc ứng xử trách nhiệm xã hội Các bộ Quy tắc quy định về xã hội, môi trường và đạo đức giúp các doanh nghiệp thực hiện các tiêu chuẩn cao hơn luật pháp quốc gia và đối với các nhà cung ứng (bên bán) phải được giám sát việc thực hiện cũng như kiểm tra độc lập thường xuyên Các Bộ Quy tắc này bắt đầu xuất hiện từ đầu những năm 1990 Bộ đầu tiên do Levi Straus xây dựng năm
1991 Hiện nay ước tính có khoảng hơn 1000 Bộ Quy tắc ứng xử do các công
ty đa quốc gia xây dựng, trong đó có SA8000 do tổ chức quốc tế về Trách nhiệm xã hội của Mỹ xây dựng (Social Accountability International - SAI) Nội dung của các Bộ Quy tắc ứng xử đầu tiên rất khác nhau nhưng ngày nay các Bộ Quy tắc này chủ yếu tập trung vào các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế - ILO (Labor International Organization) Hầu hết các bộ Quy tắc này đều gồm 10 điểm, thể hiện các nguyên tắc trong công ước cơ bản của ILO, chẳng hạn SA8000 có các quy định về Trách nhiệm xã hội sau:
1i Lao động trẻ em: Không có công nhân làm việc dưới 15 tuổi, tuối tối thiểu cho các nước đang thực hiện công ước 138 của ILO là 14 tuổi, ngoại trừ các nước đang phát triển; cần có hành động khắc phục khi phát hiện bất cứ trường hợp lao động trẻn em nào
2i Lao động bắt buộc: Không có lao động bắt buộc, bao gồm các hình thức lao động trả nợ hoặc lao động nhà tù, không được phép yêu cầu đặt cọc giấy tờ tuỳ thân hoặc bằng tiền khi được tuyển dụng vào
Trang 173i Sức khoẻ và an toàn: Đảm bảo một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh
4i Tự do hiệp hội và quyền thương lượng tập thể: Phản ảnh quyền thành lập và gia nhập công đoàn và thương lượng tập thể theo sự lựa chọn của người lao động
5i Phân biệt đối xử: Không được phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, đẳng cấp, tôn giáo, nguồn gốc, giới tính, tật nguyền, thành viên công đoàn hoặc quan điểm chính trị
6i Kỷ luật: Không có hình phạt về thể xác, tinh thần và sỉ nhục bằng lời nói
7i Giờ làm việc: Tuân thủ theo luật áp dụng và các tiêu chuẩn công nghiệp về số giờ làm việc trong bất kỳ trường hợp nào
8i Thù lao: Tiền lương trả cho thời gian làm việc một tuần phải đáp ứng được với luật pháp và tiêu chuẩn ngành và phải đủ để đáp ứng được với nhu cầu cơ bản của người lao động và gia đình họ
9i Hệ thống quản lý: Các tổ chức muốn đạt và duy trì chứng chỉ cần xây dựng và kết hợp tiêu chuẩn này với các hệ thống quản lý và công việc thực
tế hiện có tại tổ chức mình
Thông thường, các Bộ Quy tắc ứng xử được chia làm 3 loại chính:
- Quy tắc của bên mua, do một công ty mua hàng xây dựng sử dụng trong hệ thống cung ứng của mình Bên mua trả phí giám sát nội bộ và thuê kiểm toán độc lập; bên cung cấp trả tiền tu sửa điều chỉnh và nâng cấp theo yêu cầu Bên mua sẽ xem xét các tiêu chuẩn lao động khi lựa chọn người bán và giám sát để đảm bảo các bên cung ứng tiếp tục đáp ứng tiêu chuẩn của mình Khi xem xét nên đặt trong bối cảnh hội nhập thị trường quốc tế nơi những tiêu chuẩn về chất lượng và an toàn đã từ lâu là những yếu tố cạnh tranh của doanh nghiệp Điều này sẽ giúp doanh nghiệp có rất nhiều lợi thế
Trang 18- Chương trình cấp chứng chỉ cho doanh nghiệp:
+ Các công ty muốn có chứng chỉ để chứng minh cho khách hàng rằng
họ đáp ứng các tiêu chuẩn lao động Công ty trả tiền xin cấp chứng chỉ, thuê kiểm toán hàng năm và tu sửa nâng cấp hạ tầng cơ sở nếu cần Các chương trình này giúp cho các nhà sản xuất cơ hội thể hiện cam kết của mình trong việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động Thông thường, chỉ coi là công cụ lao động để tiếp thị nhưng trên thực tế buộc các doanh nghiệp phải cải tiến hệ thống quản lý, do đó tạo ra những thay đổi đáng kể trong hoạt động của doanh nghiệp Không có gì đảm bảo rằng khi có chứng chỉ thì doanh nghiệp sẽ ký được hợp đồng, nhưng những chương trình này cho phép doanh nghiệp chuẩn
bị trước những yêu cầu của các công ty đa quốc gia, những công ty mà nếu đánh giá sơ bộ thấy không đạt yêu cầu, nghĩa là họ sẽ mất đi một cơ hội có các hợp đồng
+ Hai Bộ Tiêu chuẩn chính là SA8000 và WRAP Việc cấp chứng chỉ SA8000 do các công ty kiểm toán độc lập quốc tế thực hiện Việc cấp chứng chỉ và kiểm toán cho bộ WRAP do các công ty kiểm toán độc lập, các NGO được chỉ định và các công ty kiểm toán nhỏ thực hiện
+ Các loại quy tắc khác: Bộ Quy tắc mậu dịch đạo đức (ETI), hướng dẫn của ILO cho các công ty đa quốc gia và quy tắc của ICFTU, FIFA, và WFSG Các quy tắc này không đi kèm quy định về giám sát và mục đích là hướng dẫn và chia sẻ kinh nghiệm
- Phương pháp thực hiện từ trên xuống được coi là cần thiết nhưng chưa đủ Việc mở rộng Bộ Quy tắc của các công ty đa quốc gia đã khiến nhiều công ty lâm vào tình trạng thực hiện không đồng đều do một số nơi thiếu trang thiết bị cần thiết, thanh tra giám sát không hiệu quả
9 Kết cấu của báo cáo
Bao gồm 3 phần:
Trang 19- Phần mở đầu: Xác định vấn đề và phương pháp nghiên cứu
- Phần nội dung nghiên cứu: Giải quyết vấn đề nghiên cứu
+ Chương 1: Một số lý luận về vấn đề nghiên cứu
+ Chương 2: Tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội của Tập đoàn Viễn thông Quân đội
+ Chương 3: Các kết luận và đề xuất giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội của Tập đoàn Viễn thông Quân đội
- Phần kết luận: Tóm tắt
Trang 20CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI 1.1 Tổng quan về trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm
Thời gian gần đây, dư luận đang quan tâm chặt chẽ và bức xúc đối với hàng loạt vụ vi phạm đạo đức kinh doanh, xâm hại môi truờng và sức khỏe con nguời ở mức dộ nghiêm trọng Điển hình là vụ sữa nhiễm melamine của Trung Quốc và vụ xả trực tiếp chất thải không qua xử lý ra sông Thị Vải của công ty Vedan ở Việt Nam Sự đúng – sai trong những vụ việc trên là rõ ràng Tuy nhiên, đối với xã hội và hàng ngàn doanh nghiệp đang hoạt động khác, bài toán
về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp lại được đặt ra và cần phải thảo luận nghiêm túc cả về mặt lý luận, chính sách và thực tiễn
Một công ty cần phải làm những gì để có thể được xã hội đánh giá là một công ty tốt và phát triển bền vững? Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước tới đâu? Luật nên quy định trách nhiệm của doanh nghiệp đến mức độ nào thì hợp lý? Căn cứ vào đâu để đánh giá doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội? Nhằm góp phần giải đáp các câu hỏi trên, chúng ta tiếp cận từ góc độ kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực này với suy nghĩ rằng các nền kinh
tế phát triển đều đã từng đối mặt với những vấn đề chúng ta gặp phải ngày hôm nay, do đó những cuộc tranh luận và giải pháp của họ rất đáng để chúng ta tham khảo
Kể từ khi xuất hiện khái niệm Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility (CSR)) lần đầu tiên vào năm 1953, chủ đề này đã gây ra cuộc tranh luận sôi nổi giữa hai truờng phái quản trị “đại diện”
và “đa bên” trong quản trị công ty, trên bình diện lớn hơn, đây là sự tranh chấp giữa chủ nghĩa tư bản tự do (bảo thủ, cánh hữu) và chủ nghĩa tư bản xã hội (dân chủ, cánh tả) Nội dung chính của cuộc tranh luận xoay quanh hai vấn đề
Trang 21then chốt trong CSR là: (i) bản chất của doanh nghiệp hiện dại, và (ii) mối quan hệ ba bên: doanh nghiệp - xã hội - nhà nuớc
Khái niệm CSR theo thời gian đã mở rộng đối tượng ảnh hưởng của mình ra nhiều doanh nghiệp và tổ chức liên quan, còn mục đích đặt ra cho các doanh nghiệp đó là phải quan tâm tới các hoạt động của mình có ảnh hưởng như thế nào tới các vấn đề xã hội xung quanh như với cộng đồng (quyền con người, các vấn đề về lao động,…), bảo vệ môi trường;… Sau rất nhiều định nghĩa về CSR thì định nghĩa của Nhóm Phát triển Kinh tế Tư nhân của Ngân hàng thế giới đưa ra có tầm bao quát nhất
Nhóm Phát triển Kinh tế Tư nhân của Ngân hàng thế giới đưa ra định nghĩa về Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp: “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững thông qua các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội theo cách có lợi nhất cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”
1.1.2 Bản chất của trách nhiệm xã hội
Các doanh nghiệp, với vai trò là đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng phải có quy trình sản xuất, quy trình kinh doanh và hệ thống quản lý sao cho các quyền của người tiêu dùng được thực thi, đây chính là việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Với doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội liên quan đến:
- Vấn đề Marketing và thực hành thông tin trung thực: Thông qua việc thông tin trung thực, không sai lệch, thực hiện kinh doanh công bằng và đúng cam kết Mặc dù vấn đề thông tin, quảng cáo trung thực không chỉ được đề cập đến ở Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà còn ở rất nhiều văn bản khác, đặc biệt là Luật quảng cáo Tuy nhiên, thực trạng nội dung quảng cáo hiện nay vẫn còn rất nhiều bất cập, việc đưa các thông tin lập lờ, không rõ ràng để người
Trang 22tiêu dùng hiểu sai hoặc cố tình đưa các thông tin không đúng sự thật để lừa dối người tiêu dùng đang diễn ra ngày càng nhiều hơn và tinh vi hơn Điều này thể hiện ý thức trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang ở mức báo động và cần thiết phải có sự vào cuộc mạnh mẽ hơn của các cơ quan quản lý
- Vấn đề bảo vệ an toàn và sức khỏe cho người tiêu dùng: Hàng hóa, dịch vụ cung cấp phải an toàn đối với người tiêu dùng trong quá trình sử dụng, đáp ứng được các chuẩn kỹ thuật liên quan đến sức khỏe và an toàn cho người tiêu dùng Có cơ chế thu hồi và khắc phục hậu quả của hàng hóa có khuyết tật
- Vấn đề tiêu dùng bền vững: Thông qua việc cung cấp hàng hóa và dịch
vụ thân thiện với môi trường; cung cấp thông tin để giúp người tiêu dùng lựa chọn hàng hóa dịch vụ cũng như sử dụng hàng hóa dịch vụ giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe
- Vấn đề giải quyết khiếu nại, tranh chấp của người tiêu dùng: Có các biện pháp để ngăn ngừa, giảm thiểu khiếu nại về sản phẩm cũng như thực hiện
cơ chế giải quyết khiếu nại thích hợp và có hiệu quả Đồng thời, thông qua việc xem xét, giải quyết khiếu nại để tự hoàn thiện mô hình, cách thức quản lý họat động sản xuất, kinh doanh
- Vấn đề bảo mật dữ liệu cá nhân và đời tư của người tiêu dùng: Giới hạn việc thu thập các dữ liệu cá nhân ở các thông tin cần thiết cho việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng với sự cho phép một cách tự nguyện của người tiêu dùng thông qua phương thức thu thập và nội dung thu thập hợp pháp Đồng thời bảo vệ dữ liệu cá nhân của người tiêu dùng
- Vấn đề đảm bảo quyền sử dụng các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu của người tiêu dùng: Không được ngừng cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu như điện, chất đốt, nước, rác thải, thoát nước… cho những người không
có khả năng chi trả mà không có khung thời gian hợp lý để người tiêu dùng tìm
Trang 23cơ hội chi trả Khi đặt ra mức giá, chi phí cần tính đến yếu tố tác động xã hội đến các tầng lớp dân cư
- Vấn đề giáo dục và nâng cao nhận thức của người tiêu dùng
Với những nội dung cơ bản về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã
đề cập ở trên, đối chiếu với thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam, có thể nhận thấy không phải doanh nghiệp nào cũng làm tốt trách nhiệm của mình Cá biệt có những doanh nghiệp vì lợi nhuận đã có những hành động xâm hại trắng trợn đến quyền lợi của người tiêu dùng cũng như thiết chế pháp luật Điển hình như trường hợp găm hàng khi có thông tin tăng giá xăng, dầu; tung tin thất thiệt về an ninh lương thực để đẩy giá gạo lên cao; sản xuất bột ngọt, thanh nhôm định hình… nhưng không xử lý nước thải gây hại nghiêm trọng đến môi trường; quảng cáo sai sự thật trên truyền hình, trên mạng internt…
1.1.3 Các quan điểm đối lập về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Thứ nhất, doanh nghiệp và nguời quản lý doanh nghiệp chỉ có trách nhiệm đối với cổ đông là nguời chủ sở hữu công ty dã lựa chọn họ để làm đại diện Do đó, nếu nguời quản lý công ty muốn, anh ta có toàn quyền để thực hiện các trách nhiệm xã hội dựa trên nhận thức và tình cảm của riêng mình và bằng thời gian và tiền bạc của cá nhân, nhung không đuợc sử dụng nguồn lực của công ty và nhân danh công ty, nếu không đuợc cổ đông ủy thác dể làm việc
đó
Thứ hai, công ty vốn là một chủ thể “vô tri vô giác” do con nguời tạo ra;
do đó công ty không thể tự nhận thức và gánh vác nghĩa vụ đạo đức vốn chỉ có con nguời mới có
Hơn nữa, các trách nhiệm xã hội thuộc linh vực của nhà nuớc, là chủ thể cung cấp các dịch vụ công, vì lợi ích công cộng và phi lợi nhuận Trách nhiệm của doanh nghiệp là tạo ra giá trị gia tăng, phát triển công đem lại lợi nhuận,
Trang 24tạo ra việc làm và thu nhập cho nguời lao động Trách nhiệm chính của doanh nghiệp đối với nhà nuớc là đóng góp thuế Và trách nhiệm của nhà nuớc là làm sao sử dụng tiền thuế đó hiệu quả nhất vì lợi ích công cộng Như vậy, nếu doanh nghiệp cũng thực hiện các trách nhiệm xã hội thì sẽ có sự trùng lặp và doanh nghiệp sẽ trở thành nguời vừa đóng thuế, vừa quyết định việc chi tiêu khoản thuế đó ra sao Nguời quản lý doanh nghiệp khi ấy sẽ trở thành một nhân viên công vụ hơn là một nguời dại diện cho lợi ích của cổ đông
Mặt khác, kể cả khi một nguời quản lý doanh nghiệp đuợc sử dụng nguồn lực của công ty để thực hiện trách nhiệm xã hội thì không có gì đảm bảo rằng quyết định của anh ta là sáng suốt và đúng đắn cho mục tiêu xã hội cuối cùng, vì anh ta không phải là một chuyên gia về xã hội, mà là một chuyên gia
về quản lý và kinh doanh và đó là lý do anh ta duợc cổ đông cử làm đại diện và gửi gắm niềm tin trong việc quản lý doanh nghiệp Do đó, nếu muốn thực hiện trách nhiệm xã hội, các cổ đông có thể làm với tư cách cá nhân, tự nguyện và tách biệt với công mà không nên thông qua công ty và những nguời quản lý công ty
Từ quan điểm này, truờng phái phản dối CSR cho rằng các chương trình của doanh nghiệp lấy tên“trách nhiệm xã hội” chỉ là những chương trình PR đạo đức giả, mà thực chất mục tiêu cuối cùng vẫn là vì lợi nhuận của doanh nghiệp mà thôi
Những nguời ủng hộ CSR đưa ra một lập luận khác cung hết sức thuyết phục là bản thân công ty khi đi vào hoạt động dã là một chủ thể của xã hội, sử dụng nguồn lực của xã hội và môi truờng, do đó có thể tác động tiêu cực tới xã hội và môi truờng Vì vậy, doanh nghiệp phải có ý thức về những tác động từ hoạt động SXKD của mình và có trách nhiệm với chính hành vi của mình truớc
xã hội Có thể nói bản chất của doanh nghiệp không thể chỉ vì lợi nhuận mà
Trang 25doanh nghiệp ngay từ đầu dã đóng vai trò của một “công dân” trong xã hội với tất cả nghĩa vụ và quyền lợi thích hợp của mình trong đó
Thực vậy, nếu chỉ nhìn nhận đơn giản khi cho rằng doanh nghiệp hoạt động duy nhất vì lợi nhuận và bù đắp lại chi phí xã hội, cũng như “trả tiền” cho các dịch vụ công mà doanh nghiệp huởng lợi thông qua việc đóng thuế, chúng
ta sẽ thấy những ô nhiễm môi trường và chi phí xã hội mà doanh nghiệp gây ra
có thể lớn hơn rất nhiều lần lợi ích mà công ty này mang lại từ tiền thuế hay tạo việc làm Tất cả sự kiện của doanh nghiệp như khai trương dòng sản phẩm mới, đặt một nhà máy, đóng cửa một chi nhánh… đều kéo theo những hệ quả
xã hội nhất định Do đó, không thể tách rời hoàn toàn giữa tính chất kinh tế và
xã hội khi nhìn nhận bản chất và hoạt động của doanh nghiệp
Và nguời quản lý với tư cách là nguời thác quản doanh nghiệp cần thực hiện các trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp vì nghĩa vụ và lợi ích của chính doanh nghiệp mình Trách nhiệm của họ là đáp ứng những điều mà xã hội mong muốn và trông đợi ở doanh nghiệp như một thành viên đầy đủ trong đó CSR chính là lực cản cuối cùng giúp giữ doanh nghiệp không đi quá đà vì lợi ích kinh tế mà vi phạm các chuẩn mực đạo đức bỏ quên những tác động tiêu cực của mình đến các thành phần khác trong xã hội
Doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội còn vì lợi ích tăng truởng và phát triển bền vững của chính mình Khác với mô hình công ty gia đình truớc kia, doanh nghiệp hiện đại thuờng là các công ty cổ phần đại chúng, hoạt dộng
đa ngành nghề, đa quốc gia Do đó, ngày nay doanh nghiệp không chỉ hoạt động trong môi truờng đơn nhất được giám sát bởi các cơ chế thị trường thuần túy kinh tế , mà còn chịu tác động của các cơ chế xã hội- chính trị- môi trường Người tiêu dùng và nhà đầu tư ngày càng tính đến các tiêu chí thành tích của công ty về đạo đức, lao động, môi truờng, xã hội trong các quyết định tiêu dùng hay đầu tư của mình Hơn thế nữa, không chỉ liên quan đến tính cạnh
Trang 26tranh, CSR còn liên quan trực tiếp đến tính bền vững của công ty Thiếu CSR, doanh nghiệp sẽ tự loại mình ra khỏi thị truờng và cộng đồng doanh nghiệp
1.1.4 Nội dung của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
1.1.4.1 Phạm vi ảnh hưởng của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là một lĩnh vực rộng lớn liên quan đến mọi đối tượng, liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp Bởi vậy, phạm vi ảnh hưởng của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp không chỉ bó hẹp trong nội
bộ doanh nghiệp mà nó còn có sức lan tỏa lớn tới nhiều thành phần khác nhau trong xã hội Vì vậy, về cơ bản người ta chia phạm vi ảnh hưởng của CSR như sau:
- Phạm vi nội bộ doanh nghiệp
- Phạm vi hoạt động kinh doanh
- Phạm vi xã hội
1.1.4.2 Các khía cạnh của trách nhiệm xã hội
Nhiều lãnh đạo của doanh nghiệp cho rằng, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là tham gia vào các chương trình trợ giúp các đối tượng xã hội như hỗ trợ người tàn tật, trẻ em mồ côi, xây dựng nhà tình nghĩa, ủng hộ đồng bào lũ lụt và thiên tai Điều đó là đúng nhưng hoàn toàn chưa đủ, mặc dù các hoạt động xã hội là một phần quan trọng trong trách nhiệm của một công ty Quan trọng hơn, một doanh nghiệp phải dự đoán được và đo lường được những tác động về xã hội và môi trường hoạt động của doanh nghiệp và phát triển những chính sách làm giảm bớt những tác động tiêu cực
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còn là cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, hợp tác cùng người lao động, gia đình họ, cộng đồng và xã hội nói chung để cải thiện chất lượng cuộc sống cho
họ sao cho vừa tốt cho doanh nghiệp vừa ích lợi cho phát triển Nếu doanh nghiệp sản xuất xe hơi, phải tính toán được ngay cả năng lượng mà cơ sở tiêu
Trang 27thụ và tìm cách cải thiện nó Và là doanh nghiệp sản xuất giấy, phải xem chất thải ra bao nhiêu và tìm cách xử lý nó
Vì vậy ngày nay một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội liên quan đến mọi khía cạnh vận hành của một doanh nghiệp Trách nhiệm xã hội bao gồm 4 khía cạnh: kinh tế, pháp lý, đạo đức và lòng bác ái
Khía cạnh kinh tế
Khía cạnh kinh tế trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là phải sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà xã hội cần và muốn với một mức giá có thể duy trì doanh nghiệp ấy và làm thỏa mãn nghĩa vụ của doanh nghiệp với các nhà đầu tư; là tìm kiếm nguồn cung ứng lao động, phát hiện những nguồn tài nguyên mới, thúc đẩy tiến bộ công nghệ, phát triển SP; là phân phối các nguồn sản xuất như hàng hoá và dịch vụ như thế nào trong hệ thống xã hội
Trong khi thực hiện các công việc này, các doanh nghiệp thực sự góp phần vào tăng thêm phúc lợi cho xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Đối với người lao động, khía cạnh kinh tế của doanh nghiệp là tạo công
ăn việc làm với mức thù lao xứng đáng cơ hội việc làm như nhau, cơ hội phát triển nghề và chuyên môn, hưởng thù lao tương xứng, hưởng môi trường lao động an toàn, vệ sinh và đảm bảo quyền riêng tư, cá nhân ở nơi làm việc
Đối với người tiêu dùng, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp là cung cấp hàng hoá và dịch vụ, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp còn liên quan đến vấn đề về chất lượng, an toàn sản phẩm, định giá, thông tin về sản phẩm (quảng cáo), phân phối, bán hàng và cạnh tranh
Khía cạnh kinh tế trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là cơ
sở cho các hoạt động của doanh nghiệp Phần lớn các nghĩa vụ kinh tế trong kinh doanh đều được thể chế hoá thành các nghĩa vụ pháp lý
Khía cạnh pháp lý
Trang 28Khía cạnh pháp lý trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ những quy định về pháp lý chính thức đối với các bên hữu quan Những điều luật như thế này sẽ điều tiết được cạnh tranh, bảo vệ khách hàng, bảo vệ môi trường, thúc đẩy sự công bằng và an toàn
và cung cấp những sáng kiến chống lại những hành vi sai trái Các nghĩa vụ pháp lý được thể hiện trong luật dân sự và hình sự Về cơ bản, nghĩa vụ pháp
lý bao gồm năm khía cạnh:
(1) Điều tiết cạnh tranh
(2) Bảo vệ người tiêu dùng
(3) Bảo vệ môi trường
(4) An toàn và bình đẳng
(5) Khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái
Thông qua trách nhiệm pháp lý, xã hội buộc các thành viên phải thực thi các hành vi được chấp nhận Các tổ chức không thể tồn tại lâu dài nếu họ không thực hiện trách nhiệm pháp lý của mình
Khía cạnh đạo đức
Khía cạnh đạo đức trong TNXHDN là những hành vi và hoạt động mà
xã hội mong đợi ở doanh nghiệp nhưng không được quy định trong hệ thống luật pháp, không được thể chế hóa thành luật
Khía cạnh này liên quan tới những gì các công ty quyết định là đúng, công bằng vượt qua cả những yêu cầu pháp lý khắc nghiệt, nó chỉ những hành
vi và hoạt động mà các thành viên của tổ chức, cộng đồng và xã hội mong đợi
từ phía các doanh nghiệp dù cho chúng không được viết thành luật
Khía cạnh đạo đức của một doanh nghiệp thường được thể hiện thông qua những nguyên tắc, giá trị đạo đức được tôn trọng trình bày trong bản sứ mệnh và chiến lược của công ty Thông qua các công bố này, nguyên tắc và giá
Trang 29trị đạo đức trở thành kim chỉ nam cho sự phối hợp hành động của mỗi thành viên trong công ty và với các bên hữu quan
Với những nội dung cụ thể như vậy về trách nhiệm xã hội thì việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không chỉ làm cho doanh nghiệp phát triển bền vững, mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội nói chung
1.1.4.3 Đối tượng của CSR
- Người lao động, cán bộ nhân viên: doanh nghiệp cần tuân thủ đầy đủ, nghiêm chỉnh các quy định về pháp luật về vấn đề sử dụng lao động, đảm bảo
an toàn lao động, xây dựng mối quan hệ thân thiện, tốt đẹp trong nội bộ doanh nghiệp,…
- Các bên liên quan (stakeholders): Các bên liên quan bao gồm cổ đông, người tiêu dùng, gia đình của người lao động… Trách nhiệm với cổ động là những ràng buộc, cam kết liên quan đến quyền và phạm vi sử dụng tài sản ủy thác; đảm bảo sự trung thực, minh bạc trong thông tin, trong phần lợi tức mà
cổ đông đáng được hưởng,… Trách nhiệm với người tiêu dùng người tiêu dùng được sử dụng hàng hóa, dịch vụ đúng với những gì nhà sản xuất đã cam kết…
- Cộng đồng: Trách nhiệm với cộng đồng là trách nhiệm góp phần nâng cao, cải thiện và phát triển cuộc sống cộng đồng mà gần nhất là địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động, đóng góp cho sự phát triển bền vững môi trường văn hóa – kinh tế – xã hội của quốc gia
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
1.2.1 Quy định của pháp luật
Quy định của pháp luật là cơ sở, là nền tảng của CSR Đây là tiêu chí ràng buộc cho các doanh nghiệp phải hướng tới và phải thực hiện để đạt được hiệu quả kinh tế cao Các nhà kinh doanh, các doanh nghiệp khi đã tuân thủ
Trang 30theo các quy định của pháp luật thì sẽ tạo được một môi trường pháp lý, trong
đó các doanh nghiệp hoạt động theo một mục tiêu đúng đắn, tạo nên môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng, thông thoáng và tạo sự gần gũi giữa các doanh nghiệp với nhau Tuy nhiên, pháp luật không thể là căn cứ phán xét một hành động là có đạo đức hay vô đạo đức trong những trường hợp cụ thể
mà nó chỉ thiết lập những quy tắc cơ bản cho những hành động được coi là có trách nhiệm trong kinh doanh
1.2.2 Nhận thức của Xã hội
Khi xã hội phát triển cao đồng nghĩa với mức sống của cộng đồng được nâng cao, do đó nhu cầu của con người cũng phát triển theo Theo Abraham Maslow thì con người càng cố gắng thỏa mãn những nhu cầu và khi nhu cầu nào đó được thỏa mãn lại xuất hiện những nhu cầu tiếp theo, ban đầu là nhu cầu sinh lý (ăn, mặc, ở,…); sau đó đến nhu cầu an toàn, được bảo vệ; nhu cầu
xã hội (các vấn đề về tình cảm); nhu cầu được tôn trọng, được công nhận, có địa vị; cuối cùng là nhu cầu tự khẳng định, tự phát triển và tự thể hiện mình
1.2.3 Quá trình toàn cầu hóa và sức mạnh của thị trường
Sức mạnh của thị trường mà điển hình là thị hiếu người tiêu dùng lại đã
và đang đặt ra cho các nhà kinh doanh sự cạnh tranh khốc liệt về trách nhiệm
xã hội và đạo đức kinh doanh dựa trên nền tảng sự tác động tổng hợp hành vi ứng xử, tới quyết định lựa chọn của người tiêu dùng Lúc đó, CSR và Đạo đức kinh doanh là nguồn lực, nguồn vốn mới cho doanh nghiệp trong cạnh tranh quốc tế Chính hai nguồn lực này sẽ tác động và thúc đẩy người tiêu dùng thay đổi quan niệm tiêu dùng của họ
1.3 Vai trò của trách nhiệm xã hội
1.3.1 Sự cần thiết thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Tính bền vững của DN liên quan đến nhiều khâu trong DN, bao gồm việc tuyển dụng và đối đãi với người lao động một cách công bằng; các chiến
Trang 31lược marketing, văn hóa kinh doanh, ý thức bảo vệ môi trường v.v… Và trong cách hiểu mới này, trách nhiệm xã hội của DN được xem là đóng vai trò quyết định tới sự bền vững của một DN
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm xã hội có thể sẽ không còn cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế Thực
tế đã chỉ ra rằng, doanh nghiệp nào thực hiện tốt trách nhiệm xã hội thì lợi ích của họ không những không giảm đi mà còn tăng thêm
1.3.2 Ảnh hưởng của việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với toàn xã hội
và doanh nghiệp
1.3.2.1 Đối với doanh nghiệp
Những lợi ích mà doanh nghiệp thu được khi thực hiện trách nhiệm xã hội bao gồm giảm chi phí, tăng doanh thu, tăng giá trị thương hiệu, giảm tỷ lệ nhân viên thôi việc, tăng năng suất và thêm cơ hội tiếp cận những thị trường mới
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp góp phần điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh doanh
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng là cam kết đạo đức của giới kinh doanh về sự đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội bằng cách nâng cao đời sống của lực lượng lao động và gia đình họ, đồng thời nó mang lại các phúc lợi cho cộng đồng và xã hội Bên cạnh đó nếu người lao động có các điều kiện môi trường làm việc thuận lợi sẽ thúc đẩy họ làm việc tốt hơn tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận với thị trường thế giới, mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình
a) Thu hút nguồn lao động giỏi
Lao động có năng lực là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm ở các nước đang phát triển, số lượng lao động lớn nhưng đội ngũ lao động đạt chất lượng cao lại không nhiều; do vậy việc thu hút và giữ được nhân
Trang 32viên có chuyên môn tốt và có sự cam kết cao là một thách thức đối với các doanh nghiệp Những doanh nghiệp trả lương thỏa đáng và công bằng, tạo cho nhân viên cơ hội đào tạo, bảo hiểm y tế và môi trường làm việc sạch sẽ có khả năng thu hút và giữ được nhân viên tốt
Grupo M, một công ty dệt cỡ lớn ở Cộng hòa Dominica đã tổ chức đưa đón công nhân, có trung tâm y tế chăm sóc sức khỏe cho công nhân và gia đình
họ, tổ chức đào tạo công nhân và trả lương gấp đôi mức lương tối thiểu do quốc gia này quy định Tổng giảm đốc, đồng thời là sáng lập viên của công ty không lo lắng nhiều về những chi phí này mà cho rằng đó là khoản đầu tư sáng suốt
b) Việc thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở những vấn
đề vừa nêu, nhưng nhìn chung đây là các vấn đề trọng tâm Thực hiện tốt trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đem lại rất nhiều lợi ích CSR có mối liên hệ tích cực đến lãi đầu tư, tài sản và mức tăng doanh thu CSR sẽ tạo ra cơ sở thành công cho tất cả các hoạt động kinh doanh quan trọng của tổ chức
Thực hiện TNXH góp phần giảm chi phí và năng suất
Một doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí sản xuất nhờ đầu tư, lắp đặt các thiết bị mới
Công ty Hindustan Lever, một chi nhánh của tập đoàn Unilever tại Ấn
Độ, vào đầu những năm 70 chỉ hoạt động được với 50% công suất do thiếu nguồn cung ứng sữa bò từ địa phương và do vậy, đã bị lỗ trầm trọng Để giải quyết vấn đề này, công ty đã thiết lập một chương trình tổng thể giúp nông dân tăng sản lượng sữa bò Chương trình này bao gồm đào tạo nông dân cách chăn nuôi, cải thiện cơ sở hạ tầng cơ bản và thành lập một ủy ban điều phối những nhà cung cấp địa phương Nhờ đó, số lượng làng cung cấp sữa bò đã tăng từ 6
Trang 33tới hơn 400, giúp cho công ty hoạt động hết công suất và đã trở thành một trong những chi nhánh kinh doanh lãi nhất tập đoàn
c) Góp phần nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín của công ty
CSR có thể giúp doanh nghiệp tăng giá trị thương hiệu và uy tín đáng
kể Uy tín giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, hấp dẫn các đối tác, nhà đầu tư
và người lao động Những tập đoàn đa quốc gia như The Body Shop (tập đoàn của Anh chuyên sản xuất các sản phẩm dưỡng da và tóc) và IKEA (kinh doanh
đồ dùng nội thất của Thụy Điển) là những ví dụ điển hình Cả hai công ty này đều nổi tiếng không chỉ vì các sản phẩm có chất lượng và giá cả hợp lí
Công bố thông tin minh bạch, điều hành công ty hiệu quả, sử dụng vốn hợp lý để tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm là điều cần phải làm đối với bất
kỳ doanh nghiệp nào vì sự phát triển bền vững của chính doanh nghiệp Có như thế, mới tạo ra được niềm tin cho nhà đầu tư, mà niềm tin chính là cảm xúc – yếu tố quyết định góp phần tạo ra lợi nhuận cổ phiếu
Đối với khách hàng, CSR thể hiện ở việc bán sản phẩm thỏa mãn tốt nhu cầu, giá cả phải chăng, giao hàng đúng hẹn, và an toàn cho sử dụng Thực tế cho thấy, nếu sản phẩm đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng, hình ảnh về sản phẩm và doanh nghiệp lưu giữ trong tâm trí người tiêu dùng Đối với cộng đồng nói chung, nhiệm vụ trước hết là bảo vệ môi trường (cũng chính là bảo vệ sức khỏe của công chúng) và sau đó là làm từ thiện
1.3.2.2 Đối với xã hội
Trách nhiệm xã hội là xu thế tất yếu và mang tính toàn cầu, thực hiện trách nhiệm xã hội là tăng khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế, không mâu thuẫn với lợi ích kinh tế của doanh nghiệp Vai trò của Chính phủ trong việc thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là phải tạo ra môi trường pháp luật hoàn chỉnh, một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp; cung cấp thông
Trang 34tin, tư vấn, hướng dẫn và ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích đối với doanh nghiệp
1.3.2.3 Một vài ví dụ ở Việt Nam về lợi ích của TNXH
Trong mấy năm gần đây, chủ yếu do yêu cầu của đối tác mua hàng nước ngoài, một số DN Việt Nam đã thực hiện các chương trình CSR Khảo sát do Viện Khoa học Lao động và Xã hội tiến hành gần đây trên 24 DN thuộc hai ngành dệt may và da giầy đã chỉ ra rằng nhờ thực hiện các chương trình CSR, doanh thu của các DN này đã tăng 25%, năng suất lao động cũng tăng từ 34,2 lên 35,8 triệu đồng/lao động/năm, tỷ lệ hàng xuất khẩu tăng từ 94% lên 97%.4 Ngoài hiệu quả kinh tế, các DN còn có lợi từ việc tạo dựng hình ảnh với khách hàng, sự gắn bó và hài lòng của người lao động, thu hút lao động có chuyên môn cao
Tuy nhiên, bên cạnh đó, phải thừa nhận rằng, trong thời gian qua ở Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đã không thực hiện một cách nghiêm túc trách nhiệm xã hội của mình: gian lận trong kinh doanh, báo cáo tài chính, không bảo đảm an toàn lao động, sản xuất, kinh doanh hàng kém chất lượng, cố ý gây
ô nhiễm môi trường Điển hình là các vụ xả nước thải không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cho các dòng sông và cộng đồng dân cư của các Công ty Miwon, Công ty thuộc da Hào Dương, Công ty Giấy Việt Trì, công ty Hyundai Vinashin (Khánh Hòa), các vụ sản xuất thực phẩm chứa chất
có hại cho sức khỏe con người, như nước tương có chứa chất 3-MCPD gây ung thư, bánh phở chứa phormol, thực phẩm chứa hàn the, sữa có chứa melamine Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp vi phạm các quy định pháp luật về lương bổng, chế độ bảo hiểm, vấn đề an toàn lao động cho người lao động cũng không còn
là hiện tượng hiếm thấy, đã và đang gây bức xúc cho xã hội
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là vấn đề tương đối mới mẻ với Việt Nam Song, trong những năm gần đây, trước thảm họa về môi trường và
Trang 35những hậu quả tiêu cực về xã hội do các doanh nghiệp gây ra, vấn đề trách nhiệm xã hội được đặt ra một cách cấp bách Ở Việt Nam, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của chiến lược phát triển bền vững Để thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam, thì việc tuyên truyền, giáo dục trách nhiệm xã hội và việc hoàn thiện hành lang pháp lý để thực hiện nó là việc làm cấp thiết
1.4 Các cấp độ của trách nhiệm xã hội theo mô hình Kim tự tháp Caroll
Cho đến nay, CSR đã trở nên phổ biến Tuy nhiên, theo như trình bày phần trên thì vẫn còn rất nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm, nội dung và phạm vi của CSR Để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu trong khuân khổ bài tiểu luận, tác gả dùng mô hình kim tự pháp của A.Carroll - mô hình được sử dụng rộng rãi và có tính toàn diện, làm cơ sở cho việc đánh giá tình hình thực hiện
và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả TNXH của Tập đoàn Viettel
Theo mô hình kim tự tháp của A Carroll thì CSR bao gồm trách nhiệm: Kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện
Hình 1.1: Mô hình kim tự tháp CSR của A.Carroll(1999)
KINH TẾ
PHÁP LÝ
ĐẠO ĐỨC
TỪ THIỆN
Trang 361.4.1 Trách nhiệm kinh tế
Đây là trách nhiệm đầu tiên, tiên quyết đểtồn tại của mỗi doanh nghiệp Doanh nghiệp cần thực hiện tốt trách nhiệm này bằng việc tối đa hoá lợi nhuận, tăng trưởng, cạnh tranh và hiệu quả, đây là điều kiện tiên quyết bởi doanh nghiệp được thành lập ra trước hết từ động cơ tìm kiếm lợi nhuận của người sở hữu doanh nghiệp Vì vậy, chức năng kinh doanh luôn đặt lên hàng đầu Các trách nhiệm còn lại đều dựa trên trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp
1.4.2 Trách nhiệm pháp lý
Cấp độ trách nhiệm thứ hai còn được gọi là trách nhiệm tuân thủ pháp luật, chính là một phần của bản khế ước giữa doanh nghiệp và xã hội Nhà nước sẽ hiện thực hoá các quy tắc, đạo đức xã hội thông qua các văn bản luật,
để các doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuân khổ đó một cách công bằng và đáp ứng các chuẩn mực và giá trị cơ bản mà xã hội mong đợi Trách nhiệm kinh tế và trách nhiệm pháp lý là hai bộ phận cơ bản không thể thiếu của CSR
1.4.3 Trách nhiệm đạo đức
Là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa được hiện thực hoá vào các văn bản luật Thông thường, luật pháp chỉ có thể đi sau để phản ánh các thay đổi trong các quy tắc ứng xử xã hội vốn luôn mới Bên cạnh
đó, trong đạo đức xã hội vốn luôn tồn tại những ranh giới đúng – sai không rõ ràng, khi mà các cuộc tranh luận trong xã hội chưa ngã ngũ, chúng chưa thể cụ thể hoá vào các văn bản luật Cho nên, tuân thủ pháp luật chỉ được coi là sự đáp ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối thiểu mà xã hội đặt ra Doanh nghiệp cần phải thực hiện cả những cam kết ngoài luật Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện nhưng chính là trung tâm của CSR Ví dụ: ngày nghỉ thứ 7, tiền làm thêm giờ, điều kiện lao động, quan hệ với cộng đồng, thông tin cho người tiêu
Trang 37dùng, uy tín với đối tác… đều là các vấn đề mở và mức độ cam kết như thế nào phụ thuộc vào trách nhiệm đạo đức của doanh nghiệp
1.4.4 Trách nhiệm từ thiện
Là những hành vi của doanh nghiệp vượt ra ngoài sự mong đợi của xã hội, như quyên góp ủng hộ, tài trợ học bổng, đóng góp cho các dự án cộng đồng, …
Điểm khác biệt giữa trách nhiệm từ thiện, đạo đức và trách nhiệm kinh
tế, pháp lý là doanh nghiệp hoàn toàn tự nguyện Nếu họ không thực hiện CSR đến mức độ này, họ vẫn được coi là đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội trông đợi Đây là một điểm tương đối khác khi thảo luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo mô hình kim thự tháp của A.Carroll(1999) so với các lý thuyết khác khi mà hầu hết đều cho rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chính là trách nhiệm đạo đức và từ từ thiện của doanh nghiệp
Việc đặt trách nhiệm kinh tế làm nền tảng không những thỏa mãn cả nhu cầu về lý thuyết đại diện trong quản trị công ty, mà còn giải quyết được những hoài nghi về tính trung thực trong các chương trình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Từ đó, vấn đề vì mình hay vì người không còn được đặt ra nữa, bởi hai mục đích đó là không thể tách rời
1.5 Một vài vấn đề liên quan đến trách nhiệm xã hội
1.5.1 Văn hoá doanh nghiệp
Văn hoá doanh nghiệp chính là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp là một việc làm hết sức cần thiết nhưng cũng không ít khó khăn
Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của
Trang 38doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích
Văn hoá doanh nghiệp có vị trí và vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, bởi bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu thiếu đi yếu
tố văn hoá, ngôn ngữ, tư liệu, thông tin nói chung được gọi là tri thức thì doanh nghiệp đó khó có thể đứng vững và tồn tại được Trong khuynh hướng xã hội ngày nay thì các nguồn lực của một doanh nghiệp là con người mà văn hoá doanh nghiệp là cái liên kết và nhân lên nhiều lần các giá trị của từng nguồn lực riêng lẻ Do vậy, có thể khẳng định văn hoá doanh nghiệp là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp
Có thể nói, Văn hoá doanh nghiệp là nhằm tạo ra quy tắc ứng xử cho doanh nghiệp mà không phải tạo ra tác dụng chỉ đạo Cách làm này của các doanh nghiệp không chỉ có tác dụng thúc đẩy cho doanh nghiệp mình thực hiện được phương thức kinh doanh "lấy con người làm trung tâm", mà còn làm cho năng lực phát triển sản phẩm và năng lực đoàn kết hiệp đồng tập thể của doanh nghiệp trở nên phồn vinh, tăng thêm sự gắn bó của nhân viên với doanh nghiêp, nâng cao hiệu quả kinh doanh
1.5.2 Đạo đức kinh doanh
Cho đến nay các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều khái niệm về đạo đức kinh doanh Theo Brenner (1992) thì đạo đức kinh doanh là những nguyên tắc được chấp nhận để phân định đúng sai, trên cơ sở đó điều chỉnh hành vi của các nhà kinh doanh Còn theo Phillip V Lewis (1985) thì đạo đức kinh doanh
là tất cả các quy tắc, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ để chỉ dẫn về hành vi ứng
xử và sự trung thực trong những trường hợp nhất định
Khái niệm “đạo đức kinh doanh” và “trách nhiệm xã hội” thường hay bị
sử dụng lẫn lộn Tuy nhiên, hai khái niệm này có ý nghĩa hoàn toàn khác nhau Nếu trách nhiệm xã hội là những nghĩa vụ một doanh nghiệp hay cá nhân phải
Trang 39thực hiện đối với xã hội nhằm đạt được nhiều nhất những tác động tích cực và giảm tối thiểu các tác động tiêu cực đối với xã hội thì đạo đức kinh doanh lại bao gồm những quy định và các tiêu chuẩn chỉ đạo hành vi trong thế giới kinh doanh Nếu đạo đức kinh doanh liên quan đến các nguyên tắc và quy định chỉ đạo những quyết định của cá nhân và tổ chức thì trách nhiệm xã hội quan tâm tới hậu quả của những quyết định của tổ chức tới xã hội Nếu đạo đức kinh doanh thể hiện những mong muốn, kỳ vọng xuất phát từ bên trong thì trách nhiệm xã hội thể hiện những mong muốn, kỳ vọng xuất phát từ bên ngoài
Tuy khác nhau nhưng đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội có quan
hệ chặt chẽ với nhau Đạo đức kinh doanh là sức mạnh trong trách nhiệm xã hội vì tính liêm chính và sự tuân thủ đạo đức của các tổ chức phải vượt xa cả
sự tuân thủ các luật lệ và quy định
1.5.3 Mối liên hệ giữa Văn hóa doanh nghiệp, Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội
Đạo đức và trách nhiệm xã hội là những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh Rất nhiều cơ hội và lợi ích chiến lược sẽ đến khi doanh nghiệp xem đạo đức và trách nhiệm xã hội là trọng tâm của các hoạt động kinh doanh
Sự tồn vong của doanh nghiệp không chỉ đến từ chất lượng của bản thân các sản phẩm - dịch vụ cung ứng mà còn chủ yếu từ phong cách kinh doanh của doanh nghiệp
Việc tôn trọng đạo đức và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ mang lại lợi ích chung cho nhân viên, khách hàng, đối tác và cộng đồng Đây là những bộ phận quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp Khi thực hiện tốt đạo đức và trách nhiệm xã hội, doanh nghiệp sẽ nhận được sự ủng hộ trung thành và nhiệt tình của nhân viên, khách hàng và các đối tác này
Trang 40Văn hoá doanh nghiệp lành mạnh, thể hiện được đặc điểm của doanh nghiệp một cách rõ ràng thì mới có khả năng giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh, chiến thắng đối thủ và giành được sự ửng hộ và đồng tình của khách hàng Điều này sẽ là cơ sở cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội được tốt hơn
Đến nay, vẫn chưa có một báo cáo nào chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội Tuy nhiên, theo tác giả đây là những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, chúng bổ trợ cho nhau và có mối liên hệ chặt chẻ với nhau Theo quan điểm của tác giả thì trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chính là sự thể hiện một phần của đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp Điều này được hiểu theo nghĩa thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là vấn đề chính của đạo đức kinh doanh trong đó bao gồm thực hiện các trách nhiệm về kính tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện hay cũng là một phần của văn hóa doanh nghiệp
Khái niệm “đạo đức kinh doanh” và “trách nhiệm xã hội” thường hay bị
sử dụng lẫn lộn Trên thực tế, khái niệm trách nhiệm xã hội được nhiều người
sử dụng như là một biểu hiện của đạo đức kinh doanh Tuy nhiên, hai khái niệm này có ý nghĩa hoàn toàn khác nhau
Nếu trách nhiệm xã hội là những nghĩa vụ một doanh nghiệp hay cá nhân phải thực hiện đối với xã hội nhằm đạt được nhiều nhất những tác động tích cực và giảm tối thiểu các tác động tiêu cực đối với xã hội thì đạo đức kinh doanh lại bao gồm những quy định và các tiêu chuẩn chỉ đạo hành vi trong thế giới kinh doanh Trách nhiệm xã hội được xem như một cam kết với xã hội trong khi đạo đức kinh doanh lại bao gồm các quy định rõ ràng về các phẩm chất đạo đức của tổ chức kinh doanh, mà chính những phẩm chất này sẽ chỉ đạo quá trình đưa ra quyết định của những tổ chức ấy