Sản xuất cá rô phi giống trong tỉnh chưa đáp ứng về số lượng và chất lượng, cá rô phi thương phẩm nhiều thời điểm rất khó tiêu thụ, người nuôi bị ép bán với giá thấp.. Nguyên nhân của sả
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : Nuôi trồng thủy sản
Mã số : 60.62.70
Người hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Huy Điền
Hà Nội - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn được chỉ rõ nguồn gốc
Bắc Ninh, ngày 10 tháng 05 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Duy Thành
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Đến nay luận văn của tôi đã hoàn thành, nhận dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Huy Điền đã đầu tư nhiều công sức
và thời gian hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài, đánh giá kết quả và hoàn thành luận văn
Thầy cô giáo tham gia giảng dạy lớp Cao học thủy sản niên khóa
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè, anh em đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn này
Bắc Ninh, ngày10 tháng 05 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Duy Thành
Trang 42.3 Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống 14 2.4 Nghiên cứu dinh dưỡng và sử dụng thức ăn nuôi cá rô phi 19
2.7 Điều kiện tự nhiên, hiện trạng kinh tế xã hội vùng nghiên cứu 30 PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG – ĐỊA ĐIỂM – NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
Trang 54.1.1 Hiện trạng phát triển NTTS 45
4.1.3 Tình hình sản xuất và thị trường cá giống cá rô phi 59
4.2.2 Giá và biến động giá bán cá rô phi thương phẩm tại ao nuôi 65
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 72.4 Xuất khẩu cá rô phi của Trung Quốc từ năm 2007-2009 27 2.5 Hiện trạng dân số tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2005-2010 39 2.6 Tiềm năng diện tích các loại hình mặt nước NTTS của các huyện,
4.1 Diện tích NTTS tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2005-2010 46 4.2 Hiện trạng năng suất, sản lượng NTTS tỉnh Ninh Bình giai đoạn
4.5 Các thông số kỹ thuật điều tra nuôi cá rô phi trong ao đất của các
4.10 Giá thành cá rô phi giống thời điểm đầu vụ tại Ninh Bình 61
4.12 Khách mua cá tại ao và tại chợ cá đầu mối tỉnh Ninh Bình 64
Trang 84.13 Giá cá thương phẩm bán buôn và lượng tiêu thụ trong ngày tại ao
Trang 9DANH MỤC HÌNH
2.2 Tăng trưởng sản lượng cá Rô phi, cá da trơn và cá Hồi giai đoạn
2.3 Sản lượng cá rô phi theo các nước và lãnh thổ nuôi năm 2003 10 2.4 Tỷ lệ sản lượng cá rô phi các nước trên thế giới năm 2009 11 2.5 Hiệu quả giá trị kim ngạch xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam
4.1 Mật độ thả trong ao nuôi cá rô phi tại huyện Yên Khánh 53 4.2 Mật độ thả trong ao nuôi cá rô phi tại huyện Gia Viễn 53 4.3 Mật độ thả trong ao nuôi cá rô phi tại huyện Nho Quan 53
Trang 10PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ninh Bình là tỉnh thuộc vùng Đồng Bằng Sông Hồng (ĐBSH) với diện tích tự nhiên là 1.382,0 km2, có chiều dài bờ biển là 18 km, với 2 cửa sông lớn
là cửa Đáy và cửa Càn; có 18.436 ha đất mặt nước tiềm năng nội địa có thể phát triển nuôi trồng thuỷ sản Là tỉnh có vị trí Địa lý - Kinh tế quan trọng chỉ cách trung tâm thủ đô Hà Nội 90 km - Nơi tiêu thụ một khối lượng lớn các sản phẩm thuỷ sản nói riêng, sản phẩm nông nghiệp nói chung - Đây là những yếu tố quan trọng đầu tiên cho phát triển ngành kinh tế thuỷ sản của tỉnh
Trong những năm qua, ngành thuỷ sản Ninh Bình đã và đang có những bước phát triển chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh Tổng sản lượng thuỷ sản năm 2010 đã đạt 19.987 tấn, giá trị sản xuất thuỷ sản theo giá thực tế năm
2010 đã đạt 429.158 triệu đồng Nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh ở cả hai vùng nước ngọt và nước lợ, tạo thành những vùng nuôi có diện tích tập trung lớn
Bên cạnh các đối tượng cá nuôi truyền thống (mè, trôi, trắm, chép…), trong những năm trở lại đây phong trào nuôi cá rô phi phát triển khá mạnh Tuy nhiên phong trào nuôi rô phi vẫn chỉ mang tính tự phát của người nuôi
mà chưa theo một qui hoạch nào Thực tế thì nghề NTTS tại Ninh Bình cũng như nuôi cá rô phi còn đang đứng trước nhiều khó khăn: về định hướng, cơ sở
hạ tầng phục vụ NTTS một số vùng nuôi; hệ thống thủy lợi, đường giao thông
và hệ thống điện còn yếu kém Sản xuất cá rô phi giống trong tỉnh chưa đáp ứng về số lượng và chất lượng, cá rô phi thương phẩm nhiều thời điểm rất khó tiêu thụ, người nuôi bị ép bán với giá thấp
Xuất phát từ những khó khăn của nghề nuôi nuôi trồng thủy sản nói chung và nghề nuôi cá rô phi nói riêng của tỉnh Ninh Bình chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Điều tra hiện trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển nuôi cá
rô phi bền vững tại tỉnh Ninh Bình”
Trang 111.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá hiện trạng nuôi cá rô phi tại Ninh Bình
- Đề xuất một số giải pháp phát triển nuôi cá rô phi bền vững tại tỉnh Ninh Bình
1.3 Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm tự nhiên và hiện trạng kinh tế xã hội tỉnh Ninh Bình
- Tiềm năng, hiện trạng NTTS, nuôi cá rô phi tại Ninh Bình
- Đề xuất một số giải pháp phát triển nuôi cá rô phi bền vững tại tỉnh Ninh Bình
Trang 12PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học cá rô phi
Cá rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi thuộc họ Cichlidae, bộ cá vược Perciformes Cho đến năm 1964, người ta mới biết khoảng 30 loài cá rô phi, hiện nay con số đó khoảng 100 loài, trong đó khoảng 10 loài có giá trị kinh tế Theo thống kê của FAO (2002), trong mấy thập kỷ gần đây có 3 loài phổ
biến; cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus), cá rô phi xanh (Oreochromis
aureus), cá rô phi đen (Oreochromis mosambica), sản lượng rô phi trên thế
giới của 3 loài này chiếm chủ yếu, trong đó sản lượng rô phi vằn chiếm tới 83% tổng sản lượng cá rô phi trên thế giới Cá rô phi vằn được coi là loài có nhiều ưu điểm bởi chúng có khả năng thích nghi với các điều kiện môi trường nước khác nhau chịu được chất lượng môi trường nước kém như nước thải, ít
bị bệnh dịch và thịt thơm ngon Đặc biệt chúng có thể chịu đựng được điều kiện môi trường oxy hòa tan thấp
Tính ăn: Tính ăn của cá rô phi thay đổi theo giai đoạn phát triển và
môi trường nuôi Cá rô phi là loài cá ăn tạp nghiêng về thực vật, thức ăn chủ yếu là tảo và 1 phần thực vật bậc cao và mùn bã hữu cơ Ở giai đoạn cá con từ
cá bột lên cá hương, thức ăn chủ yếu là động vật phù du (ÐVPD) và 1 ít thực vật phù du (TVPD) Từ giai đoạn cá hương đến cá trưởng thành thức ăn chủ yếu là mùn bã hữu cơ và TVPD Cá rô phi có khả năng tiêu hoá các loài tảo xanh, tảo lục mà 1 số loài cá khác không có khả năng tiêu hoá Ngoài ra cá rô phi còn ăn được thức ăn bổ sung như cám gạo, bột ngô, các loại phụ phẩm nông nghiệp khác
Ðặc biệt cá rô phi có thể sử dụng rất có hiệu quả thức ăn tinh như: cám gạo, bột ngô, khô dầu lạc, đỗ tương, bột cá và các phụ phẩm nông nghiệp khác Trong nuôi thâm canh nên cho cá ăn thức ăn có hàm lượng đạm cao (18-35% Protein)
Trang 13Cá rô phi có nhu cầu dinh dưỡng gần giống với cá chép về thành phần tinh bột (dưới 40%), canxi (1,5- 2%), P (1- 1,5%), K, Na chỉ có một điều khác là thức ăn của cá rô phi yêu cầu về hàm lượng đạm thấp hơn Ðiều này rất có ý nghĩa khi chế biến thức ăn công nghiệp cho cá rô phi Để cụ thể hơn về khẩu phần ăn của cá rô phi ở các kích cỡ khác nhau chúng tôi thể hiện qua bảng 2.1
Bảng 2.1 Khẩu phần ăn của cá rô phi ở các cỡ cá khác nhau
Cỡ cá (gam/con) Khẩu phần ăn (% khối lượng cơ thể)
(Nguồn Melard và Philipart, 1981, Trích dẫn của Taco, 1988)
Nhu cầu oxy hòa tan (DO): Cá rô phi có thể chịu được mức oxy hòa
tan 0,1mg/lít [61] Khi DO trong nước dưới 1mg/lít chúng có thể sử dụng oxy trong không khí [39] Tuy nhiên, tỷ lệ sống của cá giảm sẽ phụ thuộc thời gian kéo dài tình trạng oxy hòa tan trong nước thấp Cá rô phi sống được trong bể nước có giá trị DO 1,2mg/l trong thời gian 36 giờ nếu nước được duy trì chất lượng tốt [36]
Nhiệt độ: Là một trong những yếu tố môi trường quan trọng nhất ảnh
hưởng đến sinh trưởng phát triển của cá Cá rô phi là loài cá có nguồn gốc nhiệt đới nên khả năng thích nghi với nhiệt độ cao tốt hơn nhiệt độ thấp Nhiệt độ giới hạn cá rô phi rất rộng từ 11-420C Nhiệt độ tối ưu cho sự sinh trưởng phát triển của cá vào khoảng 28-300C Ở nhiệt độ thấp hơn 15,50C cá
rô phi ngừng hoạt động và hoàn toàn ngừng ăn [36]
PH: Trong NTTS, pH của nước từ 6,5-8,5 được coi như là phù hợp cho
các loài cá nuôi pH ảnh hưởng tới tính độc của amonia, nitrit và hydrogen sulfphile pH quá cao hay quá thấp đều ảnh hướng tới sức khỏe cá Ngưỡng
Trang 14pH giới hạn của cá rô phi nằm trong khoảng từ 4-11 [39] Ngưỡng pH thích hợp 6,5-9[69]
Độ mặn: Cá rô phi thích nghi ở độ mặn rộng O.Niloticus có thể sống ở
độ mặn 13-29‰ (Philippart và Ruwet, 1982) Môi trường có độ mặn 5-10‰
là thích hợp cho cá rô phi vằn phát triển (Sucresh và Lin, 1992)
Đặc điểm sinh sản: Cá rô phi là loài cá thành thục và sinh sản trong
điều kiện bình thường ao nuôi mà không cần tác nhân kích thích sinh sản Cá
rô phi O.Niloticus đực đào hố ở đáy ao, cá cái đẻ trứng vào hố cùng thời điểm
đó cá đực tưới tinh dịch vào trứng của cá cái Sau khi trứng đã thụ tinh cá cái nhặt trứng vào miệng và ấp trong miệng Mỗi cá cái trung bình đẻ từ vài trăm đến 2.000/lứa Thời gian ấm tính từ khi cá cái nhặt trứng từ ổ để ấp trong miệng đến khi thành cá bột khoảng 10 ngày Thời gian ấp tùy thuộc nhiệt độ nước, ở nhiệt độ 300C thời gian kéo dài khoảng 3 ngày Sau khi nở cá bột tiếp tục được cá mẹ bảo vệ đến khi cá con tiêu hết noãn hoàng thì chúng sống độc lập [60]
2.2 Tình hình nuôi cá rô phi
2.2.1 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới
Cá rô phi là loài cá được nuôi phổ biến thứ 2 trên thế giới, chỉ sau những loài cá chép (Fitzsimmons, K và Gonznlez, P, 2005) Sản lượng cá rô phi nuôi không ngừng tăng lên và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện nguồn cung cấp dinh dưỡng cho người nghèo, nghề nuôi cá rô phi cũng được cho là một sinh kế tốt nhất cho nông dân thoát khỏi đói nghèo Trong tương lai, cá rô phi sẽ là sản phẩm thay thế cho các loài cá thịt trắng đang ngày càng cạn kiệt (WFC 2003) Sản lượng cá rô phi đã tăng lên hơn 4 lần từ năm 1990 đến 2003, từ 400.000 tấn lên 1,6 triệu tấn và năm 2004 là 1,8 triệu tấn Sản lượng cá rô phi chủ yêu nuôi tập trung ở các nước Châu Á
Trước 1970, cá rô phi đóng góp vào tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản thế giới là rất ít, khoảng 1% tổng sản phẩm Ví dụ, sản lượng cá rô phi năm
Trang 151969 chỉ có 24.633 tấn, chiếm 0,76% tổng sản lượng thủy sản (3.238.079 tấn) (FAO, 2004) Trong giai đoạn này, rất ít quốc gia nuôi cá rô phi Năm 1950 chỉ có 7 nước nuôi cá rô phi, đến năm 1969 có thêm 5 nước Đài Loan, Trung Quốc, Ai Cập, Nigeria, Israel và Thái Lan là những nước nuôi nhiều nhất Nguyên nhân của sản lượng cá rô phi trên thế giới trong giai đoạn này thấp chủ yếu do nuôi cá rô phi là phần riêng biệt trong NTTS, nó không nằm trong
hệ thống cung cấp thực phẩm trong hầu hết các nước
Từ năm 1970 đến 1990, nuôi cá rô phi phổ biến dần trên toàn thế giới
Số nước nuôi cá rô phi tăng lên đến 78 nước vào năm 1990 (FAO, 2004) Tuy nhiên, sản lượng rô phi của nhiều nước còn rất thấp Theo số liệu của FAO, trong số 78 nước có 40 nước có sản lượng thấp hơn 100 tấn/năm Sản lượng
cá rô phi tăng dần đến 383.654 tấn vào năm 1990, chiếm 2,28 % tổng sản lượng NTTS vào năm đó (FAO, 2004) Trong thời kỳ này, tăng trưởng sản lượng cá rô phi trung bình vào khoảng 14,2% (M EL-Sayed, 2006)
Từ năm 1990 đến nay, nuôi cá rô phi đã phát triển rộng ở hơn 100 nước Theo thống kê của FAO, tổng sản lượng cá rô phi trên thế giới đang tiếp tục tăng một cách ngoạn mục, trong đó sản lượng nuôi chiếm 70% Sản lượng cá rô phi vào năm 2002 tăng hơn 390% so với sản lượng vào năm 1990
là 1.505.804 tấn (FAO, 2004)
Trong giai đoạn 5 năm từ 2003-2007, sản lượng cá nuôi tăng đến 60%, từ 1,58 triệu tấn lên 2,51 triệu tấn Sản lượng cá rô phi nuôi năm 2009
đã vượt quá 3 triệu tấn đến năm 2010 đạt 3,7 triệu tấn
Nhà sản xuất cá rô phi lớn nhất thế giới là Trung Quốc, chiếm đến 45% tổng sản lượng toàn cầu Các nhà sản xuất lớn khác đáng chú ý có Ai-cập, Inđônêxia, Philippin, Thái Lan, Braxin, Đài Loan, Honđurat, Côlômbia, Êcuađo, Trong sản lượng cá rô phi nuôi, loài rô phi vằn
Oreochromis niloticus chiếm đến 85%
Trang 16Sản lượng cá rô phi khai thác tự nhiên năm 2007 đạt 769.900 tấn, tăng khá mạnh so với 689.700 tấn năm 2003.
0 500 1.000 1.500 2.000 2.500 3.000 3.500 4.000
Sản lượng
(Nghìn tấn)
Năm 2003
Năm 2004
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Hình 2.1 Sản lượng cá rô phi trên thế giới qua các năm
Hình 2.2 Tăng trưởng sản lượng cá Rô phi, cá da trơn và cá Hồi giai đoạn
1980-2010
(Nguồn Fitzsimmons - Global Outlook for Aquaculture Leadership,
Kualalumpur 2010)
Trang 17Châu Á
Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về nuôi và tiêu thụ cá rô phi Các hình thức nuôi rất đa dạng, từ những ao nhỏ sau nhà, nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến cho đến thâm canh và siêu thâm canh Quốc gia này có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cá rô phi nhanh nhất thế giới, tăng gần 3 lần trong năm 2000 so với năm 1999 (tương ứng 13.492 tấn và 5.728 tấn) Năm
2009, sản lượng cá rô phi của Trung Quốc phục hồi mạnh mẽ sau khi chững lại do mùa đông khắc nghiệt vào năm 2008 Sản lượng ước tính đạt 1,15 triệu tấn, tăng gần 4% so với 1,11 triệu tấn năm 2008 Theo dự đoán, về lâu dài sản lượng cá rô phi của Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng nhằm đáp ứng nhu cầu NK của nhiều thị trường thế giới, trong đó mạnh nhất là Mỹ, thị trường chiếm đến 70% tổng XK cá rô phi của Trung Quốc XK cá rô phi của Trung Quốc năm 2009 tiếp tục tăng, đạt khoảng 259.000 tấn, tăng 15% so với năm 2008, mặc dù cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra khá gay gắt Tuy vậy, cuộc khủng hoảng cũng ảnh hưởng khá nghiêm trọng đến giá xuất của Trung Quốc Đơn giá XK năm 2009 bị giảm mạnh, chỉ còn 2,75USD/kg, giảm 16% so với năm 2008 Điều này giải thích tại sao tổng giá trị XK cá rô phi của Trung Quốc giảm nhẹ trong năm 2009, đạt khoảng 710 triệu USD, mặc dù khối lượng XK tăng kỷ lục
Sản lượng cá rô phi của Philippin, Ðài Loan trung bình đạt 110.000 tấn/năm Cá rô phi của Ðài Loan xuất sang Mỹ, Nhật dưới dạng sản phẩm nguyên con đông lạnh và phi lê, còn Philippin chủ yếu xuất sang thị trường Nhật với sản phẩm sashimi và phi lê Các công ty nuôi cá rô phi ở Ðài Loan
có xu hướng chuyển hướng đầu tư vào Trung Quốc do các điều kiện trong đại lục thuận lợi hơn nên giá thành sản xuất sẽ thấp hơn
Các sản phẩm xuất khẩu của Thái Lan là cá nguyên con đông lạnh
và phi lê đông lạnh Nghề nuôi cá rô phi ở Inđônêxia và Việt Nam đang
Trang 18phát triển, sản lượng đạt được mỗi năm khoảng 30.000 tấn, phần lớn tiêu thụ nội địa
Châu Mỹ
Cá rô phi du nhập vào Châu Mỹ năm 1947, xong cho đến năm 1975 nghề nuôi cá rô phi mới thực sự phát triển mag tính hàng hóa Ngày nay, cá rô phi đã được nuôi ở hầu hết các nước Châu Mỹ Hình thức nuôi đa dạng từ nuôi quảng canh trong các hồ chứ đế nuôi siêu thâm canh với năng suất 100 kg/m3 [41]
Mỹ là quốc gia có ngành công nghiệp nuôi cá rô phi phát triển mạnh mặc dù sản lượng không nhiều (7.500 tấn, 2003 ) Quốc gia sản xuất cá rô phi nhiều nhất châu Mỹ là Mêhicô (110.000 tấn, 2003) kế đến là Braxin (75.000 tấn, 2003) Hai quốc gia này có thị trường nội địa mạnh, đặc biệt là nhu cầu tiêu thụ cao ở Sao Paulo, Rio de Janeiro (Braxin) Braxin là quốc gia có tiềm năng phát triển nuôi cá rô phi do hội tụ các điều kiện thuận lợi về nguồn nước, khí hậu nên giá thành sản xuất thường thấp dẫn đến tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm cá rô phi của nước này trên thị trường thế giới
Ecuađo, một quốc gia sản xuất tôm nổi tiếng nhưng trong những năm gần đây đang đối mặt với dịch bệnh (chủ yếu là bệnh đốm trắng-WSSV) đã chuyển sang phát triển nuôi cá rô phi ở những ao nuôi tôm nhằm cải thiện môi trường, khi môi trường tốt hơn họ lại tiến hành nuôi tôm Chu kỳ nuôi xen kẽ tôm-cá đã chứng tỏ được hiệu quả Một quốc gia khác là Pêru tuy mới phát triển nuôi cá rô phi (dự tính sản lượng đạt 3.000 tấn vào năm 2005) nhưng có nhiều triển vọng trong tương lai
Trang 19Hình 2.3 Sản lượng cá rô phi theo các nước và lãnh thổ nuôi năm 2003
(Nguồn: theo Fitzsimmons, K và Gonzalez, P., 2005)
Châu Phi
Cá rô phi có nguồn gốc từ châu Phi, tuy nhiên nghề nuôi cá rô phi lại chỉ mới bắt đầu phát triển ở châu lục này Ai Cập là nhà sản xuất cá rô phi lớn nhất, đạt sản lượng 200.000 tấn (năm 2003), chiếm 90% sản lượng cá rô phi của châu lục Trong đó, có một sản lượng đáng kể cá được khai thác từ tự nhiên Zămbia có kế hoạch mở rộng nuôi cá rô phi theo mô hình tổng hợp heo
cá, loài được nuôi là cá rô phi địa phương Oreochromis andersonii và cá rô
phi toàn đực dòng Ai Cập Với hình thức nuôi này, mặc dù mang lại hiệu quả nhưng chất lượng cá nuôi không đảm bảo yêu cầu vệ sinh
Ghana và Nigiêria vừa thành lập nhiều trang trại có quy mô lớn và được quản lý tốt Mục tiêu là tạo ra sản phẩm xuất khẩu sang thị trường EU
Malauy có một vài trang trại nhỏ, chủ yếu nuôi các loài cá bản địa O lodole,
O Karonga, O squamipinnis và O shiranus Các quốc gia Kenya, Uganda,
Tanzania, Môzămbic, Namibia, Botswana, Angola đều có sản lượng cá rô phi
Trang 20nuôi không đáng kể và các quốc gia này cũng đang có kế hoạch phát triển nuôi cá rô phi
Châu Âu
Sản lượng cá rô phi nuôi ở châu Âu rất ít do khu vực này có nhiệt độ thấp không thuận lợi để nuôi cá rô phi Bỉ là nước nuôi nhiều nhất với sản lượng đạt khoảng 300 tấn/năm Cá rô phi cũng được nuôi ở Hà Lan, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha, Ðức, Pháp và Anh Hiện nay nhu cầu tiêu thụ cá rô phi ở các quốc gia này tăng lên, cá rô phi được bày bán ở nhà hàng và hệ thống siêu thị nhằm phục vụ cho một bộ phận dân cư có nguồn gốc từ châu á (Erik Roderick, 2003)
Trung Ðông
Ả Rập Xê út, Cô oét và Lebanon nuôi cá rô phi trong môi trường nước
mặn nên loài nuôi phổ biến là O.spiluris Do thiếu nguồn nước nên các hoạt
động nuôi thường bị giới hạn trong khi nhu cầu và giá bán cá rô phi rất cao
Hình 2.4: Tỷ lệ sản lượng cá rô phi các nước trên thế giới năm 2009
(Nguồn: BNN&PTNT;Cục nuôi trồng thủy sản 2009)
Trang 212.2.2 Tình hình nuôi cá rô phi ở Việt Nam
Ở Việt Nam cá rô phi được nuôi từ những năm 1950, ban đầu là loài rô
phi đen (O.mossambicus) được nhập vào Việt Nam từ Thái Lan Đây là loài
cá ăn tạp, có thể sinh trưởng và phát triển tốt ở cả môi trường nước ngọt và nước lợ nhưng lại có rất nhiều nhược điểm như thành thục sớm, chậm lớn, có màu đen xẫm, cỡ cá nhỏ, chịu đựng điều kiện nhiệt độ thấp kém, năng suất nuôi có giá trị thương phẩm thấp nên giá trị kinh tế của loài này thấp
Đến năm 1973, cá rô phi vằn (O.niloticus) được nhập vào nước ta từ
Đài Loan thay thế cho cá rô phi đen Trong thời gian đầu, cá rô phi vằn lớn rất nhanh, thịt thơm ngon, nên đã nhanh chóng được thị trường chấp nhận và trở thành loài cá nuôi kinh tế quan trọng trong các loại thủy vực khác nhau Tuy nhiên, những năm sau đó do việc giữ giống thuần thiếu thận trọng đã để cá rô phi vằn và cá rô phi đen tạp giao trong các hệ thống nuôi tạo ra con lai cũng mang đặc điểm chậm lớn, cỡ cá nhỏ và giá trị thương phẩm thấp Do vậy nghề nuôi cá rô phi không phát trưởng được và sản lượng cá rô phi sút giảm đáng kể
Để có thế khôi phục phát triển nghề nuôi cá rô phi nước ta, năm 1994, Viện nghiên cứu NTTS I nhập 2.150 con cá rô phi giống dòng GIFT, 1000 con rô hi dòng Ai Cập, và cá rô phi dòng Tái ICLARM (trung tấm quốc tế về bảo vệ nguồn lợi thủy sản), Philippines Năm 1996, Viện nghiên cứu NTTS I
và II tiếp tục nhập 8.700 cá rô phi giống từ Philippnes (Eknath, Ambekar và Belen Acosta, 1998) Ngay sau đó, cá dòng GIFT , dòng Thái, dòng Ai Cập
và dòng Việt (Dòn cá nhập nội từ Đài Loan năm 1973) được nuôi thử nghiệm
so sánh đánh giá về tốc độ tăng trưởng ở Viện nghiên cứu NTTS I, Viện nghiên cứu NTTS II và nhiều địa phương khác trên cả nước Kết quả cho thấy, các dòng GIFT có sức tăng trưởng cao hơn các dòng khác [9]
Trang 22Hiện nay, sản lượng cá rô phi của Việt Nam đạt khoảng 20-30 nghìn tấn (năm 2004) chiếm khoảng 3% tổng sản thủy sản cả nước ta (967.502 tấn) Nhưng trên thực tế tỷ lệ này lớn hơn rất nhiều do sản phẩm cá rô phi của nước
ta chủ yếu phục vụ tại chỗ đáp ứng nhu cầu nội địa Hình thức và phương thức nuôi cá rô phi của nước ta rất đa dạng như nuôi đơn, nuôi ghép, nuôi nước thải, nuôi công nghiệp, nuôi kết hợp với vịt, lúa, nuôi lồng trong các loại thủy vực khác nhau từ Bắc vào Nam
Từ năm 2002, Bộ thủy sản (cũ chưa sát nhập) mới phát động phong trào nuôi cá rô phi xuất khẩu Năm 2003, sản lượng cá rô phi nuô của cả nước mới hỉ đạt khoảng 30 nghìn tấn và chỉ xuất gần 120.000 USD phi lê cá rô phi đông lạnh, chiếm vị trí rất khiêm tốn so với các nước xuất khẩu khác (TQ xuất khẩu hơn 85 triệu USD-Bộ thủy sản cũ) Trong thời gian, cá rô phi được định hướng là một trong những mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Tuy nhiên, khả năng cung cấp nguyên liệu của nước ta hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu cho chế biến xuất khẩu do kích cỡ cá nuôi còn nhỏ Đến năm 2010, Việt Nam có thể sản xuất được 200.000 tấn cá rô phi thương phẩm, trong đó khoảng 50% xuất khẩu
Theo quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2006 - 2015,
Bộ Nông nghiệp và PTNT đặt ra mục tiêu mở rộng diện tích nuôi cá rô phi là 59.159 ha, sản lượng đạt 300.000 - 350.000 tấn/năm trong đó tiêu thụ nội địa chiếm 70% và 30% giành cho xuất khẩu Hàng loạt các đề tài nghiên cứu, các
dự án thí điểm nuôi cá rô phi đã được tiến hành ở Miền Nam, miền Bắc và đã đạt được một số thành tựu khả quan về sản xuất giống, nâng cao chất lượng giống, sản xuất thức ăn cho cá rô phi và kỹ thuật nuôi cá rô phi thương phẩm
Trang 232.3 Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống
2.3.1 Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống trên thế giới
Cá rô phi là loài cá thành thục và sinh sản trong điều kiện bình thường
ao nuôi mà không cần tác nhân kích thích sinh sản Ban đầu nguồn cá rô phi giống cung cấp cho nuôi thương phẩm được lấy từ tự nhiên [60] Do nhu cầu con giống ngày càng cao người ta tiến hành sản xuất giống cá rô phi Có hai phương pháp sản xuất giống cá rô phi: Sản xuất giống cá rô phi trong ao và sản xuất giống trong giai
Pillay (1990) [60] mô tả kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi trong ao đất
Cá bố mẹ đã thành thục được thả chung trong một ao đã chuẩn bị sẵn và cho
ăn hằng ngày Trong thời gian này cá tự sinh sản trong ao, sang tháng thứ 2 chuyển cá bố mẹ sang ao khác và dùng ngay ao cho đẻ làm ao ương cá bột Quá trình nuôi vỗ, cho đẻ tiếp tục được lặp lại ở ao kế tiếp Nhược điểm phương pháp này là kích cỡ cá giống không đồng đều mặt khác do kích cỡ cá ương không đều nên có hiện tượng những con lớn tấn công con nhỏ hơn Để hạn chế nhược điểm này hàng ngày người ta tiến hành vớt cá bột khi hấy chúng bơi thành đàn trong ao rồi chuyển sao ao ương riêng Phương pháp cho sinh sản cá rô phi phi trong ao đất dễ áp dụng, giá thành sản xuất rẻ nên được
áp dụng nhiều nước như ở Trung Quốc, Thái Lan, Phillipines…[60],[66]
Phương pháp sản xuất giống trong giai, lồng được áp dụng trong ao đất, các mặt nước hở Giai được làm bằng lưới nylon 10x2x1 m Mật độ thả cá bố
mẹ 4 con/m2, tỷ lệ đực cái là 1:3 Khi thấy cá bột xuất hiện tiến hành thu cá bột đưa sang ương trong giai kích cỡ 10x2x1,5 m, mật độ khoảng 1000 con/m2 phương pháp này ưu điểm là quản lý tốt sự sinh sản đàn cá bố mẹ được áp dụng trong chọn giống và tạo ra con lai toàn đực ở nhiều nước trong
đó có Việt Nam [60], [66]
Trang 24Nuôi cá thương phẩm bằng con giống lấy từ tự nhiên và cá thuần để nuôi thường chậm lớn và không kiểm soát được mật độ do thành thục sớm, dễ sinh sản tự nhiên trong ao nuôi Trong quá trình ấp trứng trong miệng cá cái thường ngừng tăng trưởng [51],[60], [66] Để nâng cao tốc độ lớn của cá nuôi
và việc kiểm soát mật độ thả dễ dàng người nuôi cá rất quan tâm đến sử dụng các đàn cá rô phi đơn tính đực Nuôi cá rô phi đơn tính do cá không có khả năng sinh sản, giúp kiểm soát được quần đàn cá trong ao, cá có thể tận dụng tốt dinh dưỡng cho sinh trưởng Để tạo quần đàn cá rô phi đơn tính đực có nhiều phương pháp khác nhau: (a) Chọn cá đực, cá cái riêng biệt dựa vào khác biệt hình thái bên ngoài giữa cá đực và cá cái, (b) chuyển giới tính bằng hormone, (c) phương pháp lai xa và tạo cá siêu đực [60], [62], [63], [64], [66]
Tạo ra đàn cá đơn tính đực băng cách loại bỏ cá cái dựa vào quan sát bộ phận sinh dục ngoài bằng mắt thường là phương pháp sơ khai, đơn giản, tốn nhiều nhân công, chỉ thực hiện khi đã phân biệt rõ cá đực, cá cái bằng hình thái ngoài (khi cá đạt cỡ 5-10g/con) Sự chính xác phương pháp này thấp và phụ thuộc tay nghề của người chọn [50], [67], [68]…Theo Mires (1995) [57] đây là phương pháp được áp dụng rộng rãi ở Israel trong những năm 1970 Tuy nhiên, hiện nay rất ít cơ sở sản xuất giống sử dụng phương pháp này để sản xuất cá rô phi đơn tính đực [58]
Sản xuất cá rô phi đơn tính đực bằng cho ăn hormone được áp dụng rộng rãi trên thế giới trong vòng 20 năm gần đây, cá rô phi 5-7 ngày tuổi sau khi tiêu hết noãn hoàng được cho ăn thức ăn có trộn hormone (thường dùng 17α-Methyltestosterone, liều lượng 60mg/kg thức ăn) trong khoảng thời gian
21 ngày Công nghệ này tương đối đơn giản, dễ áp dụng và đầu tư thấp hơn so với phương pháp lai xa và chọn cá đực bằng tay Kết quả ổn định, tạo đàn cá
có tỷ lệ đực khá cao đạt 92%-100% Hiện công nghệ này được áp dụng khá phổ biến trong sản xuất rô phi đơn tính đực ở Thái Lan, Phillippines, Braxil,
Trang 25Israel, trung quốc [54], [64] Tuy nhiên những lo ngại về ảnh hưởng của hormone sử dụng đến môi trường và sức khỏe con người đã thúc đẩy việc tìm kiếm các công nghệ khác tạo cá rô phí đơn tính đực [60]
Công nghệ lai xa và công nghệ cá siêu đực được xây dựng trên cơ sở khoa học di truyền điều khiển giới tính ở cá rô phi Hicking (1960) (trích bở
Pillay, 1990) cho lai hai loài O.urolpis O.hurnorum với O.mossambicus tạo ra
thế hệ con đơn tính đực, các nghiên cứu sau này được tiến hành trên nhiều
loài khác nhau: T.nilotica X T.nornorum (Pruginin and Kanyike, 1960),
T.nilotica X T.aurea (Fishelson, 1962), T.nilotica X T.variabillis, T.spilurus niger X T.hornorum, T.vulcani X T.hornorum, T.vulcani X T.aurea, T.nilotica X T.macrchir (Lessent, 1968) Lai xa ngoài tạo ra thế hệ con lai
toàn đực, thì lai xa còn cải thiện tốc độ sinh trưởng, khả năng chịu lạnh [66] Tuy nhiên, tỷ lệ đực ở đàn con lai dao động 70-100% và phụ thuộc vào mức
độ thuần chúng cá bố mẹ Tỷ lệ đực cái còn có sự khác biệt khi sử dụng các loài khác nhau Do vậy, ngay ở Trung Quốc, Đài Loan, Israel mới được sử dụng ở một phạm vi nhất định Để có đàn cá toàn đực vẫn phảo kết hợp lai xa với công nghệ chuyển đổi giới tính có điều chỉnh thời gian và hàm lượng hormone trong thức ăn hoặc tiến hành chọn cá đực bằng tay ở đàn cá lai khi
cá giống đạt cỡ 10-20 g/con
Gần đây, dựa trên cơ chế di truyền điều khiển giới tính ở cá rô phi bằng việc tạo ra các cá cái giả (XY) và kỹ thuật lai phân tích hướng tới tạo hàng loạt cá rô phi đực có kiểu gen giới tính (YY) Khi sử dụng cá siêu đực (YY) sinh sản với cá cái thường (XX) tạo đàn cá toàn đực (XY) Tuy nhiên, tỷ lệ cá đực tạo ta không ổn định, khác nhau trên từng cá cái
Trong vòng 20 năm gần đây, nhiều nước đã tiến hành những nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng giống cá rô phi, đặc biệt nâng cao tốc độ sinh trưởng, khả năng chịu lạnh và khả năng chịu mặn của cá thông qua chọn
Trang 26giống Dự án cải thiện chất lượng di truyền cá rô phi (GIFT) được tiến hành
từ năm 1988 dưới sự hợp tác của 4 tổ chức: Trung tâm quốc tế quản lý nguồn lợi đông vật thủy sản (ICLARM), Cục thủy sản và nguồn lợi thủy sản Phillippines (BFAR), trung tâm nước ngọt trường đại học miền Trung Luzon (FAC/CLSU) và Viện nghiên cứu NTTS Nauy (AKVAFORSK) bằng nguồn kinh phí Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) Từ năm 1988-1995, dự án đã tiến hành chương trình chọn giống nâng cao tốc độ sinh trưởng cá rô phi vằn dựa trên chọn lọc gia đình đã tạo ra rô phi vằn dòng GIFT Chúng được nuôi thử nghiệm và được dùng làm giống nuôi ở nhiều nước trên thế giới Chúng có tốc độ tăng trưởng vượt trội so với các dòng rô phi khác Hiện nay chúng là loài rô phi nuôi phổ biến nhất
2.3.2 Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống ở Việt Nam
Năm 1951, lần đầu tiên cá rô phi đen (O.mossambicus) được nhập vào Việt Nam từ Thái Lan [12], [63] Năm 1973, cá rô phi vằn (O.niloticus) đã
được di nhập vào miền Nam nước ta từ Đài Loan, đến năm 1977 chúng được chuyển ra miền Bắc nuôi
Tuy nhiên, do không quản lý tốt dẫn đến sự lai tạp với loài cá rô phi
đen (O.mossambicus) khiến cho chất lượng di truyền của loài cá rô phi vằn
này bị thoái hóa, kéo theo sản lượng cá rô phi của nước ta trong những năm cuối những năm 1980 đầu những năm 1990 bị giảm sút nghiêm trọng [12]
Từ năm 1993-1994, một số dòng cá rô phi đã được nhập nội: Cá rô phi vằn dòng thái và cá rô phi dòng GIFT thế hệ chọn giống thứ 5 nhập từ Thái
Lan Cá rô phi vằn dòng Swansea và cá rô phi xannh (O.aureus ) nhập từ Phillipines, cá rô phi hồng (Oreochromis sp) nhập từ Đài Loan và Thái lan
Qua nuôi thử nghiệm tại một số dịa phương cho thấy cá rô phi dòng GIFT thể hiện sự vượt trội về sinh trưởng, thích ứng với điều kiện nuôi cá ở
Trang 27nước ta [12] Sức tăng trưởng cá dòng GIFT cao hơn các dòng cá khác hiện
có ở Việt Nam 15-20% Hiện nay, cá rô phi dòng GIFT được người nuôi quan tâm và nuôi phổ biến ở nước ta
Năm 1997, Viện NCNTTS I dã tiến hành nghiên cứu lai xa: O.niloticus dòng Egypt-AIT lai với O.aureus, Cá siêu đực O.niloticus dòng Egypt- Swansea lai với cá cái đực O.niloticus nhằm tạo ra đàn cá đơn tính tỷ lệ trung
bình 65,3%-83,2% [16] Do tỷ lệ cá đực tạo ra không ổn định nên kỹ thuật này không được áp dụng phổ biến tại nước ta
Năm 1994-1997, Viện NCNTTS I áp dụng thành công công nghệ chuyển giới tính cá rô phi bằng hormone từ Viện Công nghệ Châu Á Trứng
cá rô phi được thu từ khi cá mẹ đang ấp trong miệng đưa vào ấp nhân tạo trong hệ thống khay ấp cá sau khi tiêu hết noãn hoàng được đưa ra giai cắm trong ao để ương, cá được cho ăn thức ăn bằng bột nghiền mịn trộn với 17α-Methyltestosterone với liều lượng 60mg/kg thức ăn, vitamin C được bổ sung 10g/1kg thức ăn Sau 21 ngày xử lý cá đạt tỷ lệ sống 72,2%, tỷ lệ đực trên 95% [8] Đến nay công nghệ sản xuất cá rô phi đơn tính được áp dụng rộng rãi trên cả nước
Số cơ sở sản xuất cá rô phi đơn tính đực ở nước ta tăng liên tục trong mấy năm qua Năm 2002, cả nước mới có 10 cơ sở sản xuất giống rô phi đơn tính đực, đến năm 2004 đã có tới 57 cơ sở Đến năm 2008 có hàng trăm cơ sở sản xuất trên toàn quốc Các cơ sở sản xuất giống hầu hết tập trung tại phía Nam Mấy năm gần đây một số cơ sở tại các địa phương miền Bắc đã nhập công nghệ sản xuất lai xa khác loài từ Trung quốc, Đài Loan xong sản lượng
cá hương tạo ra còn hạn chế về chất lượng Viện NCNTTS I đã chuyển giao công nghệ lai xa cho nhiều trung tâm giống các tính miền Bắc bước đầu đã mang hiệu quả, chất lượng
Trang 282.4 Nghiên cứu dinh dưỡng và sử dụng thức ăn nuôi cá rô phi
2.4.1 Nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cá rô phi
Nhu cầu dinh dưỡng của cá rô phi thay đổi tùy thuộc từng giai đoạn phát triển Để đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu tăng trưởng, sinh sản và các chức năng sinh lý của cá thì cần đáp ứng đầy đủ các chất dinh dưỡng như: protein, lipid, năng lượng, vitamin và khoáng
Protein là nguyên liệu cung cấp cho xây dựng các mô trong cơ thể, chuyển hóa thành năng lượng cung cấp cho các hoạt động sống Ở mỗi khẩu phần protein khác nhau cho tốc độ tăng trưởng tương ứng sau thời gian nuôi 6-12 tuần [49]
Bảng 2.2 Nhu cầu protein cá rô phi (O.niloticus)
giai đoạn cá hương, cá giống
Nguồn: [40], [44]
Thức ăn có tỷ lệ protein bằng 0% tăng trưởng của cá là âm (Cá tiêu hao nội sinh trong dị hóa mô làm mất protein) nghĩa là cá bị giảm trọng lượng Khi lượng protein trong thức ăn tăng đến điểm nào đó không có sự thay đổi (Tăng trưởng bằng 0, đây là mức nhu cầu protein duy trì) Ở trên mức này đạt đến mức tăng trưởng tối đa (là tăng trưởng tối ưu) và sau đó là mức ổn định nghĩa là tiếp tục tăng khẩu phần protein trong tức ăn nhưng tốc độ tăng trưởng
cá không tăng [48]
Nhu cầu khẩu phần protein cho sinh trưởng cá giai đoạn nhỏ cao hơn giai đoạn cá lớn, phụ thuộc kích cỡ cá và tuổi [60] Mohammad và ctv.,
Trang 29(2004) [58] cũng khẳng định rằng khẩu phần protein tối ưu của cá rô phi vằn
(O.niloticus) có kích cỡ 0,4-0,5 g/con là 45% với cá có kích cỡ 15-22g/con
khẩu phần protein là 35% Khẩu phần protein và tần suất cho ăn cá rô phi nuôi thương phẩm như sau
Bảng 2.3 Chế độ ăn, khẩu phần ăn theo kích cỡ cá
Trọng lượng cá
(g/con)
Hàm lượng protein (%)
Lượng cho ăn (% trọng lượng)
Số lần cho ăn trong ngày
2.4.2 Sử dụng thức ăn nhân tạo
Sử dụng các loại phân bón (vô cơ và hữu cơ) để làm giàu nguồn thức
ăn tự nhiên cho cá trong ao nuôi là một giải pháp cung cấp thức ăn cho cá nuôi Tuy nhiên, phương pháp này làm năng suất nuôi không cao và ảnh hưởng tới chất lượng của cá thương phẩm nếu không biết sử dụng hợp lý
Hình thức nuôi cá rô phi bán thâm canh và thâm canh, mật độ cá thả tăng, nguồn thức ăn tự nhiên không đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cá nuôi Vì vậy cần phải bổ sung dinh dưỡng cho cá bằng thức ăn nhân tạo để nâng cao năng suất nuôi
Có hai loại thức ăn nhân tạo là thức ăn công nghiệp được các hãng, công ty sản xuất và thức ăn tự chế biến tại chỗ của người nuôi cá
Trang 30Thức ăn tự chế biến tại chỗ từ các nguyên liệu có sẵn ở các địa phương: cám gạo, cám ngô, bột sắn, cá tạp…Đây là hình thức chế biến thức ăn khá phổ biến ở nhiều nước Châu Á Ưu điểm của phương pháp này là dễ thực hiện, giá thành rẻ Tuy nhiên, thức ăn tự phối chế theo kinh nghiệm, nguyên liệu không được kiểm tra chất lượng dinh dưỡng thường xuyên nên khó đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng Loại thức ăn này không nổi, dễ hòa tan nếu không
có chế độ cho ăn thích hợp sẽ làm môi trường nước ao nuôi nhanh chóng ô nhiễm [23]
Thức ăn công nghiệp dùng cho cá, hiện nay có nhiều công ty sản xuất Các nhãn hiệu phổ biến được nhiều người nuôi biết đến như: Proconco, C.P, Cargilll…và các loại thức ăn của những nhà sản xuất mới, mang nhãn hiệu Greenfish, Con cá vàng, Con Rồng Thức ăn công nghệp có nhiều loại thức ăn khác nhau về kích cỡ viên, chất lượng dinh dưỡng, thường hàm lượng protein tổng số dao động từ 20-35% Thức ăn công nghiệp có mặt trên thị trường nước ta là thức ăn viên nổi, ưu điểm dễ kiểm soát việc sử dụng thức ăn của cá, hạn chế lãng phí thức ăn, hàm lượng đạm và kích cỡ thức ăn thích hợp với từng giai đoạn phát triển của cá Tuy nhiên, giá thành cao hơn so với thức ăn
tự chế biến
Theo ước tính toàn quốc có khoảng 36 nhà máy sản xuất thức ăn cho NTTS với tổng công suất khoảng 800.000 tấn/năm, trong đó có khoảng 40.000 – 50.000 tấn thức ăn được sản xuất cho nuôi cá rô phi Tuy nhiên, không có sự phân bố đồng đều giữa các khu vực mà tập trung chủ yếu các tỉnh phía Nam Vì vậy thức ăn tại khu vực miền Bắc, miền Trung phải chuyển
từ phía Nam ra Các nguyên liệu chủ yếu (đậu tương, bột cá, dầu cá, chất bổ sung…) dùng để sản xuất thức ăn các nhà máy hiện đều nhập từ nước ngoài Làm giá thành sản xuất nuôi cá rô phi tăng, dẫn đến giảm lợi nhuận trong nuôi
cá rô phi [23]
Trang 312.5 Nuôi cá rô phi trong ao đất
2.5.1 Phương thức nuôi cá rô phi
Nuôi cá rô phi trong ao đất là hình thức nuôi phổ biến ở nhiều nước Phương thức nuôi đa dạng từ nuôi quảng canh cải tiến nuôi bán tham canh và thâm canh Tùy thuộc vào điều kiện tiềm năng đất đai, khả năng đầu tư và trình độ nuôi mỗi nơi mà người ta chọn lựa hình thức nuôi phù hợp
Nuôi quảng canh cải tiến ở cá rô phi chủ yếu áp dụng với con giống hỗn tính, thức ăn cho cá dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên và phân bón xuống
ao Bón phân trong nuôi cá rô phi nhằm cung cấp thức ăn tự nhiên trong ao, phân hữu cơ còn làm tăng mùn bã hữu cơ trong ao, đồng thời kích thích vi khuẩn, động thực vật phù du phát triển Phương thức nuôi này áp dụng một số nước như: Bangladesh, Israel, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Indonesia và các nước Châu Phi [69]
Nuôi thâm canh là phương thức trung gian giữa nuôi quảng canh và nuôi thâm canh Nuôi bán thâm canh thực hiện trong ao sử dụng phân bón và
bổ sung thức ăn nhân tạo Phương thức nuôi này áp dụng phổ biến ở Châu Á, Châu Mỹ, Châu Phi [66], [57], [69]
Ở Ai Cập, sản lượng cá rô phi nuôi bán thâm canh chiếm 75% tổng sản lượng NTTS các nước Thức ăn nhân tạo cho cá cũng được sử dụng nhiều loại khác nhau: thức ăn công nghiệp, thức ăn tự chế từ ngô, đỗ tương, bột cá, cám gạo và một số phế phụ phẩm khác Ở Bangladesh, Israel hầu hết người nuôi dùng thức ăn công nghiệp Trong khi đó ở Việt Nam, thức ăn nuôi cá rô phi dựa vào chủ yếu thức ăn tự nhiên, phế phụ phẩm, phân bón, thức ăn công nghiệp chỉ sử dung mang tính bổ sung (đặc biệt là ở phía Bắc) Nuôi bán thâm canh của Philipines trong ao diện tích từ 0,25-1ha, độ sâu 1m, mật độ thả 5-8con/m2, sau 3-4 tháng nuôi, kích cỡ thương phẩm 200-300g/con, năng suất đạt 4-8 tấn/ha [46], [62], [65], [69]
Trang 32Nuôi thâm canh là hình thức nuôi với mật độ cao, sử dụng thức ăn nhân tạo kèm theo chế độ thay nước và sục khí Nuôi thâm canh ở Đài Loan năng suất lên đến 17 tấn /ha, ở Israel là 10 tấn/ha [62] Ở Việt Nam, nuôi thâm canh
cá rô phi ở quy mô thí nghiệm lên 20-25 tấn/ha [20] Nuôi cá rô phi thâm canh ở Philipines mật độ 15con/m2, cá được cho ăn thức ăn nhân tạo, sục khí, thay nước Năng suất nuôi đạt 20 tấn/ha, sau 3 tháng nuôi kích cỡ đạt 200-250g/con [69]
2.5.2 Hình thức nuôi cá rô phi
Hình thức nuôi cá rô phi trong ao chủ yếu là: nuôi đơn và nuôi ghép Nuôi ghép cá rô phi với các loài cá khác trong ao nhằm tận dụng không gian sống và nguồn thức ăn tự nhiên có trong ao Khi thực hiện nuôi
ghép cá rô phi với cá chép (C Carpio) thì tốc độ tăng trưởng của cá rô phi
vằn nhanh hơn so với khi nuôi đơn Trong ao nuôi ghép, quá trình tìm kiếm thức ăn cá chép đào bới đáy ao giúp cho chu chuyển dinh dưỡng đáy ao và nước được đẩy nhanh, năng suất sinh khối tảo tăng lên và thức ăn tự nhiên của cá tăng lên
Nuôi ghép cá rô phi thường được thực hiện trong ao bán thâm canh và quảng canh cảo tiến hiều nước trên thế giới Nuôi ghép cá rô phi thường được thực hiện nhiều trong hệ thông: VAC hoặc cá – lúa Các loài nuôi ghép với cá
rô phi là các loài cá chép, trắm, mè, trôi vad một số loài cá dữ như cá chim trắng, cá lóc (chuối) [64]
Ở Việt Nam cá rô phi thường được nuôi ghép với các loài cá: Trắm, chép, trôi, mè một số vùng còn thả cá rô phi lẫn với tôm sú
Ở Thái Lan, các loài cá nuôi ghép với cá Rô phi bao gồm: cá trôi, cá
mè hoa, cá mè trắng và cá Puntius gonionotus Hình thức nuôi ghép được
thực hiện 2 dạng: nuôi ghép với cá truyền thống trong ao nước ngọt và nuôi ghép với tôm Trong ao nuôi ghép tôm-rô phi, mật độ thả tôm 31-62,5 con/m2,
Trang 33cá rô phi thả sau tôm trên 20 ngày với mật độ cá từ 0,1-0,37 con/m2, năng suất nuôi tôm mang lại cao hơn so với nuôi đơn tôm 29%
Tại Israel người ta lại nuôi ghép cá rô phi với cá trôi Ấn Độ, mè trắng
và cá đối (mullet) hoặc nuôi ghép cá rô phi đơn tính với cá chép (C Carpio)
và cá mè trắng (H Mlitrix) [62], [63], [66]
Ở Châu Mỹ Latinh, đặc biệt là ở Ecuador và Peru nơi dịch bệnh đốm trắng xảy ra ở tôm, người ta mở rộng diện tích nuôi ghép cá rô phi với tôm trong các đầm nước lợ Dẫn đến sản lượng cá rô phi của nước này ngày càng tăng ví dụ năm 1990 là 18 tấn đến năm 2000 là 15.000 tấn Nuôi ghép cá rô phi với tôm để hạn chế dịch bệnh ở tôm, nâng cao tỷ lệ sống và lợi nhuận
Nuôi đơn cá rô phi thường là những ao nuôi bán thâm canh, thâm canh hoặc siêu thâm canh trong bể Nuôi đơn cá rô phi thực hiện trong hệ thống bón phân hoặc nuôi trong hệ thống VAC sử dụng thức ăn nhân tạo Nuôi đơn
cá rô phi trong ao đất không phổ biến như nuôi ghép Tại Israel, nuôi cá rô phi đơn tính trong ao đất theo phương thức thâm canh cho năng suất 10 tấn/ha [62] Tại Châu Phi, nuôi đơn trong ao đất quy mô gia đình đóng góp 38-93 % tổng sản lượng cá rô phi khu vực năng suất từ 5-16 tấn/ha/năm [64] Tại Việt Nam nuôi đơn cá rô phi cho năng suất 10-23 tấn/ha/vụ [20]
2.5.3 Nuôi cá rô phi trong hệ thống VAC
Theo Edward (1983) [38] nuôi cá kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm trong hệ thống VAC được xem như là biện pháp tận dụng chất thải ra ngoài
hệ thống canh tác Chất thải của một modul này sẽ là đầu vào của modul khác Phế phụ phẩm, rau xanh tạo ra từ trồng trọt được sử dụng làm thức ăn cho cá Thức ăn thừa, phân trong các hệ thống chăn nuôi đưa xuống ao làm thức ăn cho cá và hệ dộng thực vật phù du trong ao, năng suất sinh học ao nuôi sẽ tăng, tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho cá Ngược lại, bùn nạo vét từ đáy ao nuôi cá có thể sử dụng vào trồng trọt trong trang trại Bằng cách tận dụng
Trang 34nguồn phế thải từ chăn nuôi sẽ hạn chế được ô nhiễm môi trường đồng thời nâng cao hiệu quả nuôi cá [19]
Hệ thống VAC giúp nông hộ tạo nhiều sản phẩm đầu ra, giảm chi phí sản xuất Tận dụng lao động trong gia đình, lao động thời vụ [66]
Nuôi cá rô phi trong hệ thống VAC được áp dụng phổ biến tại các nước Châu á và Việt Nam Tại Thái Lan, năng suất nuôi cá rô phi kết hợp với nuôi vịt đạt 10,1 tấn/ha/năm Nuôi kết hợp chăn nuôi cũng được áp dụng nhiều ở các nước Châu Phi Tại Nigeria một số nông dân nuôi cá rô phi vằn kết hợp với nuôi gà, số lượng gà nuôi 1000 con/ha/ao, lượng phân thải tương đương khoảng 3,6 tấn/ha/tháng (tính theo trọng lượng khô), năng suất đạt 14,9 tấn/ha [57] Hình thức nuôi cá kết hợp chăn nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao do tận dụng nguồn phân làm thức ăn cho cá, xong chất lượng cá không đảm bảo yêu cầu VSATTP [17]
2.6 Thị trường tiêu thụ cá rô phi
2.6.1 Thị trường Mỹ
Mặc dù Mỹ là quốc gia sản xuất cá rô phi, xong do như cầu tiêu thụ cá
rô phi trong nước cao, sản lượng trong nước không đáp ứng nhu cầu nên Mỹ
đã phải nhập khẩu cá rô phi [69]
Nếu trước kia cá rô phi được coi là sản phẩm có giá trị thấp chỉ phù hợp với một số nười thì nay chúng được thay thế dần thị trường truyền thống các loài cá thịt trắng Cá rô phi được ưa chuộng bởi thịt trắng, thơm ngon, không
có xương răm, dễ chế biến thành nhiều món ăn [47]
Đến nay, Mỹ tiếp tục là nhà NK các sản phẩm cá rô phi lớn nhất thế giới Ở Mỹ, loài cá này là năm sản phẩm thủy sản được người tiêu dùng ưa chuộng hàng đầu
Trang 35Năm 2009, Mỹ NK 183.295 tấn sản phẩm cá rô phi, trị giá 696,1 triệu USD Trung Quốc là nhà cung cấp số 1 cho thị trường này, năm 2009 XK 129.871 tấn, trị giá 407,6 triệu USD
Các nhà XK lớn khác cho thị trường Mỹ gồm Êcuađo, Honđurat, Côxtarica và Inđônêxia Tuy nhiên thị phần của các nước này chỉ ở mức khiêm tốn
Sản phẩm chính NK vào Mỹ là philê đông lạnh, cá nguyên con đông lạnh, philê tươi ướp đá và cá nguyên con tươi ướp đá
2.6.2 Thị trường khác
Châu âu là thị trường có tiềm năng lớn Trong đó, Anh là nước nhập khẩu cá rô phi nhiều nhất Châu Lục Ngoài ra, Pháp, Bỉ, Đức, Hà Lan cũng là thị trường tiêu thụ cá rô phi Italia, Thụy Điển và Đan Mạch cũng tiêu thụ cá
rô phi với số lượng nhỏ Cá rô phi được tiêu thụ tại các thành phố lớn của Châu Âu nơi có người nhập cư từ Châu Phi, Châu Á và Trung Quốc [69] Gần đây, người dân Châu Âu đang chuyển sang ăn cá rô phi, dấu hiệu tiêu dùng có
sự gia tăng rất nhanh qua các năm Hiện tại, các nước này đang nhập khẩu cá
rô phi chủ yếu từ Đài Loan Ngoài ra còn nhập khẩu từ một số nước: Trung Quốc, Inđônêsia, Thái Lan, Việt Nam, Malaisia, Costa Rica, Jamaica [69], gần đây có thêm Uganda, Tanzania, Kenya và Zimbabwe [17]
EU là một thị trường tiêu thụ cá rô phi mới nổi, sự phát triển của thị trường còn rất chậm Trong đó Pháp có bước chuyển biến khá rõ, NK 2.900 tấn cá rô phi của Trung Quốc trong năm 2009, trong khi vài năm trước chưa
hề có Nhìn chung, EU đang mở rộng dần thị trường tiêu thụ cá rô phi và năm
2010 tổng NK cá rô phi EU đạt 20.000 tấn
Các nước Châu Á: Nhật Bản, Hàn Quốc nhập khẩu cá rô phi trực tiếp từ Châu Á Các nước xuất khẩu cá rô phi sang nhật là Đài Loan, Inđônêsia và Thái Lan Sản phẩm nhập khẩu chủ yếu của Nhật Bản ở dạng phi lê đông lạnh [70]
Trang 36Các nước Ả rập được xem là thị trường tiềm năng tiêu thụ cá rô phi Hiện tại các nước này nhập khẩu cá rô phi từ Ai Cập Các nước như Sau di Abrabia, Kuwait, Jordan và Quatar nhập khẩu cá rô phi từ Đài Loan [71]
Bảng 2.4: Xuất khẩu cá rô phi của Trung Quốc từ năm 2007-2009
(Nguồn: BNN&PTNT; Cục nuôi trồng thủy sản 2010)
2.6.3 Thị trường tiêu thụ cá rô phi Việt Nam
Cá rô phi hiện nay đươc tiêu thụ chủ yếu ở trong nước với mức giá khá cao Cá rô phi thương phẩm bán lẻ tai Ninh Bình và Hà Nội từ 30.000 đồng/kg đến 40.000 đồng /1kg loại trên 0,4kg/con
Xuất khẩu cá rô phi chỉ tập trung ở một số tỉnh phía Nam Năm 2005, sản lượng xuất cá rô phi là 869 tấn, kim ngạch đạt 1,90 triệu USD Sản lượng xuất khẩu chủ yếu vào thị trường EU với khối lượng 580 tấn, chiếm tỷ lệ 66,7% trong tổng sản lượng cá rô phi xuất khẩu, trị giá 1,16 triệu USD Tiếp đến là xuất khẩu sang Mỹ đạt 268 tấn, trị giá 658.659 USD (chiếm 30,91% về lượng và 34,58% về giá trị) Giá xuất khẩu trung bình năm 2008 là 2,19 USD/kg Năm 2010 giá cá rô phi xuất sang Pháp và Bỉ cá đông lạnh nguyên con là 1,85 USD/kg, sang Mỹ phi lê cá rô phi đông lạnh là 2,418 USD/kg[22]
Trang 37Kết quả tính toán cho thấy, chỉ duy nhất có năm 2006 xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam là có hiệu quả, trong 100% phần tăng lên của tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu cá rô phi thì có 100% là do yếu tố tăng giá tạo ra, các năm còn lại xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam không có hiệu quả, trong 100% phần tăng lên của tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu cá rô phi thì có 100% là do yếu tố tăng sản lượng tạo ra
Hình 2.5 Hiệu quả giá trị kim ngạch xuất khẩu cá rô phi của
Việt Nam giai đoạn 2005-2008
(Nguồn: Tính toán dựa vào nguồn số liệu của VASEP qua các năm)
2.6.4 Giá cá rô phi trên thế giới
Giá các sản phẩm chế biến từ cá rô phi trên thi trường thế giới không có sự biến động lớn trong những năm qua [49] Các sản phâm chế biến
từ cá rô phi có 3 loại chủ yếu: Phi lê đông lạnh, phi lê tươi, đông lạnh nguyên con Từ năm 1992-2004, giá cá đông lạnh nguyên con nhập khẩu tại các nước
có giá từ 1,08 đô la/kg (năm 2002) đến 1,57 đô la/kg (năm 1996) Sản phẩm phi lê đông lạnh có giá từ 2,77 đô la/kg năm 1994 đến 4,52 đô la/kg năm
1997 Sản phẩm phi lê tươi có giá 4,75 đô la/kg năm 1998 đến 5,94 đô la/kg năm 2001
Hiện nay, do sản lượng cá rô phi trên thế giới liên tục tăng vì giá cả cũng diến biến theo chiều hướng giảm dần Tại Bắc Kinh và Thượng Hải, hồi
Trang 38tháng 6/2005 giá cá trung bình là 2,3 USD/kg, đến tháng 1/2006 giảm xuống chỉ còn 1,6USD/kg
Tuy nhiên do sản lượng năm 2008 sụt giảm mạnh trước ảnh hưởng của thời tiết khắc nhiệt, giá đã tăng 36%, nhưng rồi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến nhu cầu tiêu giảm và dìm giá nhiều loại thuỷ sản xuống, trong
đó có cá rô phi
Đơn giá trung bình XK cá rô phi Trung Quốc năm 2009 giảm còn 2,75 USD/kg so với 3 USD/kg năm 2008 Đến năm 2010 giá cá rô phi tăng 20%
do sản lượng Trung Quốc giảm
Hầu hết sản lượng cá rô phi sản xuất nội địa tại Malaysia đều phục
vụ nhu cầu trong nước Hiện tại, cá rô phi tươi sống tại thị trường này có giá khoảng 4 $/kg ở các chợ trời truyền thống Giá tại siêu thị cao hơn khoảng 50%
Tại Bangladesh, cá rô phi nuôi là một sản phẩm khá mới trên thị trường nhưng ngày càng phổ biến ở khu vực thành thị Ngành sản xuất cá rô phi và
cá da trơn tại nước này đạt sản lượng hàng năm khoảng 500 ngàn tấn Trên thị trường bán lẻ, giá cá rô phi tươi sống nguyên con khoảng 1,3-2 $/kg Nông dân thu được lợi nhuận khoảng 0,9-1,25 $/kg Một lượng nhỏ cá rô phi được xuất khẩu sang thị trường Trung Đông và Mỹ Giá cá rô phi đóng gói cỡ 500-600g xuất CFR sang thị trường Trung Đông có giá khoảng 2,1 $/kg
Lượng xuất khẩu sang Mỹ và Mexico, hai thị trường tiêu thụ chính, đồng loạt tăng trong suốt năm 2010 Giá cá rô phi phile đông lạnh tăng 7,2%
so với năm 2009, lên mức 3,53 $/kg Lượng xuất khẩu sang các thị trường châu Ohi như Bờ Biền Ngà, Cameroon, Angola, Congo, Namibia và Zambia cũng tăng lên Thị trường cá phile đông lạnh tại Ba Lan, Tây Ban Nha, Đức, Canada và Ukraine liên tục tăng trưởng
Trang 39Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu của Nga giảm 15% do nước này tăng cường thúc đẩy người tiêu dùng sử dụng sản phẩm nội địa Xuất khẩu cá
rô phi từ Đài Loan – một trong những nhà cung cấp lớn trên thế giới, cũng tăng chậm Các sản phẩm xuất khẩu phổ biến là izumidae phile dùng cho làm sashimi chất lượng cao, hiện ngày càng phổ biến trong giao dịch các sản phẩm sushi và sashimi Cơ quan thủy sản Đài Loan đã đứng sau một kế hoạch
hỗ trợ nhằm thúc đẩy những nông dân nuôi cá rô phi Đài Loan liên kết với các công ty chế biến thủy sản để tăng xuất khẩu các loại sản phẩm cá rô phi phile bỏ xương, bỏ da để tăng giá xuất khẩu Giá các sản phẩm này xuất khẩu điều kiện FOB ở mức khoảng 6,5 $/kg Giai đoạn tháng 1 – 9/2010, Đài Loan xuất khẩu 24,56 ngàn tấn cá rô phi nguyên con và 2,95 ngàn tấn cá rô phi miếng và phile Thị trường Mỹ chiếm gần 54% tổng kim ngạch xuất khẩu cá
rô phi của Đài Loan
2.7 Điều kiện tự nhiên, hiện trạng kinh tế xã hội vùng nghiên cứu
2.7.1 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu
2.7.1.1 Vị trí địa lý
Ninh Bình là tỉnh nằm ở cực Nam khu vực đồng bằng sông Hồng, phía Bắc giáp tỉnh Hoà Bình và Nam Hà, phía Tây giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Đông giáp tỉnh Nam Định, phía Đông nam giáp vịnh Bắc Bộ Chiều dài bờ biển khoảng 17 km Ninh Bình có tọa độ địa lý nằm trong khoảng từ 19°56´ đến 20º26´ vĩ độ Bắc 105°33´ đến 106°10´ kinh độ Đông
Trung tâm tỉnh là thành phố Ninh Bình cách thủ đô Hà Nội 93 km và nằm trên trục quốc lộ 1A, là tuyến giao thông xuyên Bắc Nam, cùng với các tỉnh lộ, huyện lộ và hệ thống sông ngòi đã tạo thuận lợi cho Ninh Bình trong việc giao lưu, tiếp cận với các tỉnh trên cả nước đặc biệt là với thị trường Hà Nội
Tổng diện tích tự nhiên của Ninh Bình là 138.373 ha với 08 đơn vị hành chính là thành phố Ninh Bình, thị xã Tam Điệp, các huyện Nho Quan,
Trang 40Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô, Yên Khánh, Kim Sơn Trong đó Kim Sơn là huyện ven biển duy nhất của tỉnh
2.7.1.2 Địa hình
Ninh Bình nằm trong khu vực tiếp giáp giữa vùng ĐBSH và vùng Bắc Trung bộ, với địa hình khá phức tạp, mang tính chất đặc trưng của vùng núi cao và vùng bán sơn địa Đồng thời đây cũng là vùng đất thấp, trũng nằm trong khu vực phân, xả lũ của phía Nam đồng bằng sông Hồng Địa hình của tỉnh mang đặc điểm của ba vùng rõ rệt
Vùng núi cao: Nằm ở phía Tây và Tây Nam thuộc các huyện Nho
Quan, Gia Viễn, Hoa Lư và thị xã Tam Điệp, với diện tích lớn, địa hình hiểm trở, phức tạp, hầu hết nằm ở độ cao trên 200m so với mặt nước biển, có nhiều đỉnh núi cao từ 400÷500m Đây là vùng có nhiều tiềm năng để phát triển kinh
tế đồi rừng, kinh tế trang trại với các loại cây công nghiệp và cây ăn quả đồng thời cũng là vùng có điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi các loại đại gia súc và các loại con nuôi đặc sản
Vùng bán sơn địa: Gồm các dải gò đồi có nơi xen núi thấp chạy từ phía Tây
bắc (thuộc xã Thạch Bình, Xích Thổ huyện Nho Quan và một phần thuộc huyện Gia Viễn) sang phía Đông Nam của tỉnh (thuộc các xã Yên Thắng, Yên Đồng, Yên Thành, Yên Thái của huyện Yên Mô và một số xã của thị xã Tam Điệp) Đây
là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi đá vôi, phiến thạch sét và sa thạch Trên địa hình này phổ biến là các hệ thống canh tác nông - lâm kết hợp Đây là vùng có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch và công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
Vùng đồng bằng: Chiếm 42% diện tích toàn tỉnh và phân bố ở tất cả
các huyện thị Nhìn chung, địa hình tương đối bằng phẳng, nghiêng về phía Đông Nam và thấp dần ra biển Vùng đồng bằng được hình thành do sự bồi đắp của các hệ thống sông suối Toàn bộ diện tích đã được sử dụng vào sản