1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện xuân trường, tỉnh nam định

98 362 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

40 4.3 Việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng của hai dự án nghiên cứu trên địa bàn huyện Xuân Trường 49 4.3.2 Chính sách, các văn bản áp dụng khi thực hiện hai dự án

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

- -

VŨ TRƯỜNG KHÁNH

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG

KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà nội, ngày 16 tháng 04 năm 2012

Tác giả luận văn

Vũ Trường Khánh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình điều tra, nghiên cứu để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân và tập thể

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn trân trọng nhất đến PGS.TS Đỗ Nguyên Hải

- Khoa Tài nguyên và Môi Trường - Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã

tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Khoa Tài nguyên và Môi Trường, Viện đào tạo sau đại học - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn các lãnh đạo và cán bộ Hội đồng Bồi thường Giải phóng mặt bằng huyện Xuân Trường, Phòng Tài nguyên và Môi Trường, Phòng Công Thương, Phòng Tài chính-Kế hoạch huyện Xuân Trường

Xin được cảm ơn chính quyền địa phương và nhân dân xã Xuân Ninh, Xuân Kiên, Xuân Thành, Xuân Hồng, Xuân Thượng, Xuân Phong, Xuân Thủy và thị trấn Xuân Trường, huyện Xuân Trường đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Vũ Trường Khánh

Trang 4

2.1 Khái quát chung về chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng 4

2.1.4 Một số vấn đề ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái

2.2 Chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng ở một số nước trên

Trang 5

2.3.2 Thời kỳ từ Luật Đất đai năm 1987 đến Luật Đất đai năm 1993 142.3.3 Thời kỳ từ Luật Đất đai năm 1993 đến Luật Đất đai năm 2003 152.4 Cơ sở pháp luật hiện hành về bồi thường giải phóng mặt bằng 172.5 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng ở tỉnh Nam Định 21

4.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội và tình hình phát triển của

4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường 394.2 Công tác quản lý đất đai trên địa bàn huyện Xuân Trường 40

4.3 Việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng của

hai dự án nghiên cứu trên địa bàn huyện Xuân Trường 49

4.3.2 Chính sách, các văn bản áp dụng khi thực hiện hai dự án trên 494.3.3 Mô tả việc thực hiện hai dự án trong vùng nghiên cứu 514.3.4 Tác động của việc thực hiện chính sách bồi thường GPMB đến đời

sống, việc làm của người dân sau khi bị thu hồi đất 67

4.4.1 Giải pháp về chính sách và thực hiện các chính sách 75

Trang 6

4.4.2 Đề xuất các pháp cho vấn đề bồi thường, tái định cư và việc làm

Trang 7

Giải phóng mặt bằng Hội đồng nhân dân Luật Đất đai

Phổ thông trung học Quyền sử dụng

Sử dụng đất Tái định cư Trung học cơ sở

Ủy ban nhân dân

Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

4.1 Xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000 - 2010 32 4.2 Hiện trạng, cơ cấu sử dụng đất năm 2012 47 4.3 Thống kê kết quả thu hồi đất, GPMB tính đến tháng 7-2011 48 4.4 Thống kê diện tích đất thu hồi phục vụ dự án đường 32m 52 4.5 Thống kê diện tích đất thu hồi phục vụ dự án kênh Đồng Nê 53

4.10 Kết quả bồi thường tài sản, cây trồng vật nuôi tại hai dự án 60

4.13 Tổng hợp kết quả thực hiện đối với các hộ được giao đất TĐC 64 4.14 Tổng hợp tiền bồi thường, hỗ trợ tại hai dự án 65 4.15 Tổng hợp kết quả điều tra về thu hồi đất GPMB đối với các hộ

4.16 Tổng hợp kết quả điều tra đối với các hộ dân bị thu hồi đất

4.17 Tổng hợp ý kiến về thu nhập, quan hệ trong gia đình, tiếp cận cơ

sở hạ tầng, phúc lợi xã hội của người dân 70 4.18 Tổng hợp ý kiến của người dân về giá giao đất tái định cư 71

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

4.3 Sơ đồ dự án kiên cố hóa kênh Đồng Nê-Chợ Đê 54

4.4 Sơ đồ tóm tắt trình tự thực hiện bồi thường GPMB trên địa bàn

4.5 Hình thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ Dự án 1 69

4.6 Hình thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ Dự án 2 70

4.8 Kênh Đồng Nê-Chợ đê sau khi đã hoàn thành 73

Trang 10

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng Điều 18 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992

quy định “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng và có hiệu quả”

Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết của Đảng về công nghiệp

hóa-hiện đại hóa đất nước với mục tiêu: “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh

tế, đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020”, Nhà nước đã tập trung đầu tư vào các dự án trọng điểm trong nhiều

lĩnh vực trên phạm vi cả nước như các khu cụm công nghiệp, khu thương mại, dịch vụ, du lịch, khu đô thị, làng nghề; phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng: giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục, văn hóa thể dục thể thao Thực tế đã chứng minh, để các dự án được triển khai thuận lợi, sớm phát huy hiệu quả thì công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng là khâu then chốt và giữ một vai trò rất quan trọng

Công tác bồi thường, GPMB là điều kiện ban đầu để triển khai các dự

án đầu tư, nó có thể là động lực thúc đẩy các dự án được triển khai nhanh, đúng tiến độ nhưng ngược lại có thể trở thành rào cản và luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ khiếu kiện, mất ổn định an ninh vì khi thực hiện công tác này đã làm phát sinh quyền, nghĩa vụ và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, chủ đầu tư và đặc biệt là đời sống vật chất, tinh thần của người dân có đất bị thu hồi

Trang 11

Trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, Luật Đất đai được ban hành và điều chỉnh, sửa đổi; Chính phủ, các Bộ, Ngành đã ban hành nhiều Nghị định, Thông tư hướng dẫn, qui định về chính sách BTHT và TĐC, về quản lý đất đai Đặc biệt từ khi Luật Đất đai năm 2003 ra đời và có hiệu lực, các Nghị định và Thông tư qui định và hướng dẫn về chính sách BTHT và TĐC khi nhà nước thu hồi đất được ban hành về cơ bản đã quán triệt được được các quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý đất đai, phục vụ kịp thời và trực tiếp nhằm cải thiện môi trường đầu tư, khai thác các nguồn lực từ đất đai cho đầu tư

và phát triển, đẩy mạnh phân cấp cũng như tăng cường trách nhiệm cho các cấp, các ngành, đồng thời khắc phục cơ bản những bất cập trong chính sách BTHT, GPMB và đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân

Nhận thức đầy đủ về vai trò hết sức quan trọng của công tác GPMB trong phát triển kinh tế xã hội, những năm qua Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh, các Cấp uỷ, chính quyền địa phương; các ngành đã quan tâm chỉ đạo, đôn đốc thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước về BTHT và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế xã hội

Tuy vậy, công tác bồi thường GPMB vẫn là vấn đề nan giải và phức tạp Xuất phát từ những lý do nêu trên, để nhìn nhận đầy đủ về công tác bồi thường, GPMB ở huyện Xuân Trường – tỉnh Nam Định, được sự phân công của Khoa Tài nguyên và Môi trường, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo -

PGS.TS Đỗ Nguyên Hải, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định”

1.2 Mục đích

- Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng của hai dự án trên địa bàn huyện Xuân Trường và tác động của chúng đến đời sống, việc làm của người dân bị thu hồi đất

- Đề xuất một số giải pháp phục vụ công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tại các dự án trên địa bàn huyện Xuân Trường

Trang 12

1.3 Yêu cầu

- Nghiên cứu, nắm vững các chủ trương, chính sách của Nhà nước liên quan đến công tác bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất

- Các số liệu điều tra phải đầy đủ, chính xác, trung thực và khách quan

- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng các vấn đề liên quan đến việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng của một số dự án trên địa bàn nghiên cứu

- Xác định, xây dựng được những giải pháp cụ thể đóng góp cho công tác giải phóng mặt bằng

- Các đề nghị và kiến nghị phải có tính khả thi

Trang 13

2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Khái quát chung về chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng

2.1.1 Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền

sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất [24]

Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi

Bản chất của việc bồi thường là việc giải quyết mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước, người được giao đất, thuê đất và người bị thu hồi đất Bồi thường về đất phải được thực hiện theo qui định của Nhà nước Việc bồi thường về đất không giống với việc trao đổi, mua bán tài sản, hàng hoá trên thị trường mà nó phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và người bị thu hồi đất, có nghĩa là phải giải quyết một cách hài hoà giữa các đối tượng tham gia

2.1.2 Hỗ trợ

Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới [24]

2.1.3 Tái định cư

Tái định cư trong bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được hiểu là việc di chuyển người có đất bị thu hồi đến sinh sống ổn định tại một nơi ở mới thông qua các hoạt động hỗ trợ của Nhà nước nhằm giúp người bị thu hồi đất ổn định đời sống, sản xuất tại khu tái định cư

Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất theo qui định tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí đất tái định cư bằng

Trang 14

một trong các hình thức sau:

+ Bồi thường bằng nhà ở;

+ Bồi thường bằng giao đất ở mới;

+ Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới

Tái định cư là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí quan trọng trong chính sách GPMB Các dự án TĐC cũng được coi là dự án phát triển và phải được thực hiện như các dự án phát triển khác

2.1.4 Một số vấn đề ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư khi Nhà nước thu hồi đất

2.1.4.1 Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Ở nước ta hiện nay theo quy định của Luật Đất đai, người sử dụng đất phải đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được xét duyệt lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền

sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là giấy chứng nhận) Đăng ký quyền sử dụng đất là việc ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với một thửa đất xác định vào hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền

và nghĩa vụ của người sử dụng đất Hệ thống hồ sơ địa chính và GCN có liên quan mật thiết với công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC, là một trong những yếu tố quyết định khi xác định nguồn gốc, thời điểm bắt đầu sử dụng đất, đối tượng và mức bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất

GIấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, đây là điều kiện đầu tiên để được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

2.1.4.2 Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất được xem là một giải pháp tổng thể định hướng

Trang 15

cho quá trình phát triển và ảnh hưởng mang tính quyết định đến nền kinh tế trong tương lai Thông qua công tác này, Nhà nước can thiệp vào các mối quan hệ đất đai để giải quyết những vấn đề mà quá trình phát triển đặt ra, đồng thời khắc phục những nhược điểm do lịch sử để lại

Công tác bồi thường GPMB có liên quan mật thiết với công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vì để ra được quyết định thu hồi đất, để giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất thì cần phải căn cứ vào quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt Từ đó mới lập được phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng

2.1.4.3 Giá đất

- Giá quyền sử dụng đất (giá đất) là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước qui định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền

sử dụng đất [24]

- Giá đất được hình thành trong các trường hợp sau đây:

+ Do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định (căn cứ vào nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất và khung giá đất theo quy định của Chính phủ) và được công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 hàng năm

+ Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất + Do người sử dụng đất thoả thuận về giá đất với những người có liên quan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất [24]

- Giá đất là công cụ kinh tế để Nhà nước quản lý và người sử dụng đất tiếp cận với cơ chế thị trường Giá đất cũng là căn cứ để đánh giá sự công bằng trong phân phối đất đai, để người sử dụng thực hiện nghĩa vụ của mình

và để Nhà nước điều chỉnh các mối quan hệ đất đai theo pháp luật

2.1.4.4 Định giá đất

Là những phương pháp kinh tế nhằm tính toán lượng giá trị của đất đai

Trang 16

bằng hình thái tiền tệ tại một thời điểm xác định khi chúng tham gia trong một thị trường nhất định Vì vậy, về nguyên tắc việc định giá đất cũng như định giá các tài sản thông thường nhưng đất đai là một tài sản đặc biệt, giá đất ngoài các yếu tố về không gian, thời gian, kinh tế, pháp luật chi phối, nó còn bị tác động bởi các yếu tố tâm lý xã hội Cho nên, định giá đất được biểu hiện là sự ước tính về giá trị của quyền sử dụng đất bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định tại một thời điểm xác định Việc định giá đất hiện nay chủ yếu được sử dụng là phương pháp so sánh trực tiếp và phương pháp thu thập

Theo qui định tại Luật Đất đai năm 2003, việc xác định giá đất phải đảm bảo nguyên tắc sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường Thực tế cho thấy bảng giá đất các địa phương công bố hàng năm chưa phù hợp với nguyên tắc trên dẫn tới các khiếu kiện của người bị thu hồi đất và gây ảnh hưởng đến quá trình thực hiện bồi thường GPMB

Tuy nhiên giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất sẽ bị tác động bởi giá cả của bất động sản được hình thành trên thị trường, đây là một trong những nguyên nhân khiến công tác GPMB trong thời gian qua bị kéo dài và cũng là nguyên nhân của phần lớn các vụ khiếu kiện đông người

Trang 17

2.2 Chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng ở một số nước trên thế giới và các nước trong khu vực

2.2.1 Trung Quốc

Có thể thấy rằng pháp luật đất đai của Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với Luật đất đai của Việt Nam Tuy nhiên nhìn về tổng thể, Trung Quốc

là một nước khá thành công trong việc thực hiện công tác bồi thường tái định

cư Nguyên nhân chính của sự thành công đó là do nước này có một hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật đất đai nói riêng rất đầy đủ, chi tiết đồng bộ, phù hợp với công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất năng động, khoa học Cùng với một Nhà nước pháp quyền vững chắc, năng lực thể chế của chính quyền địa phương theo thẩm quyền có hiệu lực cao, người dân có ý thức chấp hành pháp luật nghiêm minh Bên cạnh đó việc sử dụng đất đai tại Trung Quốc thực sự tiết kiệm, Nhà nước Trung Quốc hoàn toàn cấm việc mua bán chuyển nhượng đất đai Do vậy thị trường đất đai gần như không tồn tại mà chỉ có thị trường nhà cửa Trung Quốc xây dựng chính sách và các thủ tục rất chi tiết ràng buộc hoạt động tái định cư với nhiều lĩnh vực khác nhau, trong

đó mục tiêu của chính sách này là cung cấp cơ hội cho tái định cư thông qua cách tiếp cận cơ bản nơi ở ổn định, tạo nguồn lực sản xuất cho người thuộc diện bồi thường và tái định cư Về phương thức bồi thường, Nhà nước thông báo cho người sử dụng đất biết trước việc họ sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm Người dân có quyền lựa chọn các hình thức bồi thường, bằng tiền hoặc nhà tại khu ở mới Người bị thu hồi đất được bồi thường bằng đất nông nghiệp, nếu không có đất nông nghiệp thì được bồi thường bằng tiền Giá đất được tính để bồi thường bằng tiền được xác định theo phương pháp thu nhập (lấy thu nhập ròng bình quân 3 năm liền đối với khu đất bị thu hồi chia cho lợi tức tín dụng, sau đó nhân với 30 lần - tương ứng 30 năm được giao đất) Tiền bồi thường được huy động từ 3 nguồn:

Trang 18

- Nguồn thu từ đất đai (khoảng gần 70%), nguồn thu này chiếm khoảng 15% tổng thu ngân sách nhà nước hàng năm);

- Doanh nghiệp bồi thường bằng việc trích từ 10% - 15% diện tích đất thu hồi để nông dân có thể sử dụng đất đó làm khách sạn, nhà hàng, nhà ở, v.v hoặc góp vốn bằng đất với doanh nghiệp để kinh doanh, dịch vụ

- Cộng đồng thôn trích một khoản trong quỹ chung của thôn (quỹ này được hình thành từ nhiều nguồn trong đó một phần từ tiền Nhà nước đền bù cho người bị thu hồi đất) để hỗ trợ cho người bị thu hồi đất

Ngoài việc bồi thường bằng đất, bằng một phần đất và tiền hoặc bằng tiền, người bị thu hồi đất nông nghiệp còn được đào tạo nghề (đối với người trong độ tuổi cho phép), được mua bảo hiểm xã hội

Đồng thời được Nhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà, điều chỉnh rất linh hoạt cho phù hợp với thực tế, được Nhà nước tác động điều chỉnh tại thị trường đó Đối với các dự án phải bồi thường giải phóng mặt bằng, kế hoạch tái định cư chi tiết được chuẩn bị trước khi thông qua dự

án cùng với việc dàn xếp kinh tế, khôi phục cho từng địa phương từng hộ gia đình và từng người bị ảnh hưởng

Chính sách bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tuy đã đạt được những thành công nhất định, song về quyền lợi, đời sống của người có đất bị thu hồi, đặc biệt đối với người bị thu hồi hết đất sản xuất nông nghiệp vẫn còn

là vấn đề nan giải Khiếu nại phát sinh không những không giảm mà có chiều hướng tăng lên [7]

2.2.2 Hàn Quốc

Hàn Quốc có 3 hình thức sở hữu đất đai (gồm: quốc hữu, công hữu và

tư hữu) Hình thức tư hữu chiếm 70% diện tích đất Người dân có toàn quyền trên diện tích đất thuộc sở hữu của mình, kể cả bán hoặc cho người nước ngoài thuê Tuy nhiên nếu người dân sở hữu đất vào mục đích nông nghiệp thì

Trang 19

không được chuyển mục đích nếu không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất

Về bồi thường giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án đầu tư xây dựng

a) Phạm vi thu hồi đất

- Đối với các dự án do Nhà nước đầu tư như đường cao tốc, khu đô thị, khu công nghiệp và các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng khác thì Nhà nước quyết định thu hồi đất (trưng mua) đất đai của người đang có quyền sở hữu Diện tích đất dự án do Nhà nước quyết định thu hồi (trưng mua) đất thực hiện theo qui hoạch sử dụng đất thực hiện dự án Việc bồi thường do Nhà nước thu hồi (trưng mua) đất thực hiện theo Luật bồi thường (trưng mua) Chính sách bồi thường bao gồm bồi thường đất và tài sản gắn với đất, hổ trợ tạm cư nếu thu hồi đất liên quan đến nhà ở, hổ trợ thiệt hại thu nhập do bị thu hồi đất

- Đối với dự án do doanh nghiệp đầu tư thì doanh nghiệp (nhà đầu tư) nhận chuyển nhượng (thỏa thuận mua đất) để thực hiện dự án Việc nhận chuyển nhượng (thỏa thuận mua đất) được thực hiện theo Luật chuyển nhượng tài sản

- Giá đất bồi thường được xác định theo cơ chế thị trường do tổ chức hoặc cá nhân hành nghề định giá thực hiện; tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường thực hiện hiệp thương với người sở hữu đất và tài sản gắn với đất trên

cơ sở giá đất và tài sản do tổ chức hoặc cá nhân hành nghề định giá xác định Trường hợp không hiệp thương được toàn bộ diện tích đất theo giá đã hiệp thương với đại bộ phận chủ sở hữu đất (trên 95%) thì phần diện tích đất còn lại Nhà nước thực hiện cưỡng chế thu hồi

b) Tổ chức thực hiện

- Thu hồi đất để tạo quỹ đất sạch phục vụ dự án khu đô thị, khu công nghiệp và các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng của quốc gia, do Tổng Công ty Phát triển đất Hàn Quốc thực hiện

Tổng Công ty Phát triển đất Hàn Quốc là doanh nghiệp nhà nước hạch

Trang 20

toán độc lập, trực thuộc Bộ Đất đai, Giao thông và Biển Hàn Quốc, có vốn chủ sở hữu thuộc Nhà nước (năm 1975 là 28 triệu USD, năm 2009 là 33,3 tỉ USD); vốn thực hiện bồi thường thu hồi đất được vay ngân hàng theo chỉ định của Chính phủ Tổng Công ty Phát triển đất Hàn Quốc có nhiệm vụ thực hiện bồi thường và giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất sạch, tạo ngân hàng đất đai, tổ chức đấu giá chọn nhà đầu tư sử dụng đất thực hiện dự án, thực hiện thông tin

về đất đai

- Thu hồi đất các khu dân cư để chỉnh trang, phát triển đô thị thì do Tổng Công ty Phát triển nhà Hàn Quốc thực hiện Tổng Công ty Phát triển nhà Hàn Quốc là doanh nghiệp nhà nước hoạch toán độc lập, có nhiệm vụ thực hiện bồi thường và giải phóng mặt bằng, tổ chức tạm cư và tái định cư (sau khi xây dựng xong) theo nguyện vọng của người sở hữu đất bị thu hồi, thực hiện dự án xây dựng nhà, chỉnh trang đô thị và phát triển nhà đô thị (Chính phủ Hàn Quốc dự kiến sẽ sáp nhập Tổng Công ty Phát triển nhà Hàn Quốc vào Tổng Công ty Phát triển đất Hàn Quốc) [26]

2.2.3 Thái Lan

Ở Thái Lan, cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù [26]

Pháp luật Đất đai Thái Lan cho phép hình thức sở hữu cá nhân với đất đai, vì vậy khi Nhà nước hoặc các tổ chức lấy đất thì đều phải có sự thỏa thuận về sử dụng đất giữa chủ dự án và chủ đang sử dụng khu đất đó (chủ sở hữu) trên cơ sở một hợp đồng

Năm 1987 Thái Lan ban hành luật về trưng dụng bất động sản áp dụng cho việc trưng dụng đất phục vụ vào các mục đích xây dựng các công trình

Trang 21

công cộng, an ninh quốc phòng Luật BE 2530 quy định những nguyên tắc thu hồi đất, nguyên tắc tính giá trị bồi thường các loại tài sản được bồi thường, trình tự lập dự án, duyệt dự án, lên kế hoạch bồi thường trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt Luật còn quy định thủ tục thành lập các cơ quan, uỷ ban tính toán bồi thường TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền bồi thương, trình tự khiếu nại, giải quyết khiếu nại, trình tự đưa ra toà án

Về giá đất làm căn cứ bồi thường thì căn cứ mức giá do một ủy ban của Chính phủ xác định trên cơ sở thực tế giá thị trường chuyển nhượng bất động sản Quá trình bồi thường chủ yếu bằng tiền mặt

Việc chuẩn bị khu TĐC được chính quyền Nhà nước quan tâm đúng mức, luôn đáp ứng đầy đủ các nhu cầu tái định cư, cho nên họ chủ động được công tác này

Việc tuyên truyền vận động đối với các đối tượng được di dời được thực hiện rất tốt, việc bố trí cán bộ có phẩm chất, năng lực phục vụ công tác bồi thường, GPMB rất được quan tâm, các tổ chức chuyên trách thực hiện công tác này

Sự thống nhất trong chỉ đạo điều hành giải quyết, sự phân công nhiệm vụ

rõ ràng, phân cấp rõ về trách nhiệm, sự phối hợp cao trong quá trình giải quyết vấn đề, cũng góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác bồi thường, GPMB

2.2.4 Oxtraylia

Với đặc điểm đất đai quốc gia thuộc hai loại hình sở hữu là sở hữu tư nhân và sở hữu Nhà nước Luật đất đai của quốc gia này bảo hộ tuyệt đối quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai, điều này đã làm ảnh hưởng đến công tác thu hồi đất,GPMB Để giải quyết vấn đề này, khi Nhà nước cần thu hồi đất trước hết Nhà nước sẽ mua lại mảnh đất của chủ sở hữu với mức giá hợp lý, công bằng

và phù hợp với giá thị trường Trong trường hợp chủ sở hữu không chấp nhận thì Nhà nước thông báo rộng rãi quy hoạch trên các phương tiện thông tin đại chúng

Trang 22

nhằm ngăn chặn chủ sở hữu bán khu đất và tiến hành thu hồi theo luật định Nếu không đồng ý, chủ sở hữu có quyền kháng nghị lên Bộ trưởng Bộ quản lý các công trình công cộng Nhà nước xem xét đền bù theo thư đề nghị của chủ sở hữu khu đất đó, việc đền bù dựa trên nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố như kinh doanh, kinh phí cho việc khôi phục thiệt hại gây ra khi tách miếng đất ra khỏi khu vực xung quanh…các yếu tố hợp lý khác sẽ do tòa án xem xét [32]

2.3 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng ở Việt Nam

2.3.1 Thời kỳ trước khi có luật đất đai năm 1987

Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, chúng ta tiến hành xoá bỏ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho nhân dân

Hiến pháp (HP) năm 1959, Nhà nước thừa nhận tồn tại những hình thức

sở hữu đất đai ở nước ta gồm có sở hữu Nhà nước, sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể Thời kỳ này quan hệ đất đai trong bồi thường chủ yếu là thỏa thuận, sau đó thống nhất giá trị bồi thường mà không cần cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường hay ban hành giá bồi thường

Nghị định 151/TTg ngày 15 tháng 04 năm 1959 của Thủ tướng Chính phủ quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất, là văn bản pháp quy đầu tiên liên quan đến việc bồi thường và TĐC bắt buộc ở Việt Nam Nghị định này quy định những nguyên tắc cơ bản trong việc trưng dụng ruộng đất của nhân dân trong việc xây dựng những công trình do Nhà nước quản lý, đó là:

"Đảm bảo kịp thời và đủ tiện ích cần thiết cho công trình xây dựng đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của người có ruộng đất Những người có ruộng đất được trưng dụng được bồi thường và trong trường hợp cần thiết được giúp giải quyết công ăn việc làm " Có thể nói, những nguyên tắc

cơ bản của việc bồi thường thiệt hại trong Nghị định 151/TTg là rất đúng đắn, đáp ứng nhu cầu trưng dụng đất đai trong những năm 1960 Tuy nhiên, Nghị định chưa quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại mà chỉ quan tâm đến sự

Trang 23

thỏa thuận của các bên đó, ngày 06 tháng 07 năm 1959 ban hành Thông tư liên bộ: 1424/TTLB hướng dẫn thi hành Nghị định 151/TTg

Ngày 11/01/1970 Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư 1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai và cây cối lâu năm, hoa màu cho nhân dân xây dựng vùng kinh tế mới, mở rộng thành phố trên nguyên

tắc: "Phải đảm bảo thỏa đáng quyền lợi hợp pháp của Hợp tác xã và của nhân dân" Tuy nhiên, thông tư này mới chỉ dừng lại ở việc quy định bồi thường về tài

sản trên đất mà chưa đề cập cụ thể đến chính sách bồi thường về đất

2.3.2 Thời kỳ từ Luật Đất đai năm 1987 đến Luật Đất đai năm 1993

Thi hành Hiến pháp năm 1980, Luật đất đai được Quốc hội thông qua ngày 29/2/1987 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước giao đất cho các đối tượng có nhu cầu để sử dụng ổn định lâu dài, có thời hạn hoặc tạm thời theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được duyệt Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất nào thì có quyền thu hồi đất đó

Tại khoản 4 Điều 48 Luật Đất đai năm 1987, không nêu cụ thể việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, mà chỉ nêu tại phần nghĩa vụ của người sử

dụng đất "Đền bù thiệt hại cho người sử dụng đất để giao cho mình bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư đó làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật"

Hội đồng Bộ trưởng ngày 31 tháng 05 năm 1990 ra Quyết định số 186/HĐBT quy định về việc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác Tại Điều 1 của Quyết định này quy định rõ: Mọi

tổ chức, cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác phải đền bù về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước Khung mức giá bồi thường do UBND tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương quy định cụ thể mức bồi thường đối với từng quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh sát với giá đất ở địa phương nhưng không được thấp hơn hoặc

Trang 24

cao hơn khung định mức bồi thường của Chính phủ Toàn bộ số tiền bồi thường phải nộp vào ngân sách nhà nước và được điều tiết cho các cấp theo tỷ

lệ Trung ương 30%, địa phương 70%

Có thể thấy trong thời kỳ này có vài quy định riêng lẻ về thu hồi đất chứ chưa hình thành chính sách thu hồi đất Nguyên nhân là khi đó đất đai chỉ được xem là tài nguyên có giá trị sử dụng, mặt khác do nền kinh tế có nhiều khó khăn nên nhu cầu thu hồi đất cũng không lớn

2.3.3 Thời kỳ từ Luật Đất đai năm 1993 đến Luật Đất đai năm 2003

Hiến pháp mới năm 1992 vẫn quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và nhà nước giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định,

nhưng tiếp theo đó tuyên bố: “Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường” [16]

Căn cứ vào Hiến pháp năm 1992, Luật Đất đai năm 1993 ra đời và có hiệu lực từ ngày 15/10/1993, với các quy định cụ thể như sau:

Tại Điều 12 quy định “Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi đất Chính phủ quy định khung giá các loại đất đối với từng vùng và theo từng thời gian.”

Tại Điều 27 quy định “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại”

Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất nào thì có quyền thu hồi đất đó

Việc thu hồi đất để chuyển sang mục đích khác phải theo đúng quy hoạch và kế hoạch đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt

Trang 25

Trước khi thu hồi đất phải thông báo cho người đang sử dụng biết về lý

do thu hồi, thời gian, kế hoạch di chuyển, phương án đền bù thiệt hại

Trong trường hợp có nhu cầu khẩn cấp của chiến tranh, chống thiên tai hoặc trong tình trạng khẩn cấp, thì việc trưng dụng đất do Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên quyết định Hết thời hạn trưng dụng, người sử dụng đất được trả lại đất và được đền bù thiệt hại do việc trưng dụng gây ra theo quy định của pháp luật [21]

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và năm

2001 quy định cụ thể hơn về bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ Nhà nước có chính sách để ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi.[22]

Luật Đất đai năm 2003 ra đời có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra trong tiến trình phát triển nền kinh tế, ổn định chính trị - xã hội của đất nước, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế LĐĐ 2003 quy định thêm về chế tài

áp dụng xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý và sử dụng đất đai, quy định cụ thể nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan Nhà nước trong quản lý đất đai; trình tự, thủ tục thực hiện quyền của người sử dụng đất Việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế là một quy định mới của LĐĐ 2003 Bổ sung trường hợp thu hồi đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án Quy định thêm về việc thu hồi đất đối với các trường hợp đất bị lấn, chiếm [24]

Về vấn đề bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi được quy định tại điều 42: Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi

Trang 26

2.4 Cơ sở pháp luật hiện hành về bồi thường giải phóng mặt bằng

- Sau khi Luật Đất năm 1993 ra đời, ngày 17/8/1994 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/CP quy định cụ thể các chính sách về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng

- Ngày 24/04/1998 Chính phủ ban hành tiếp Nghị định số

22/1998/NĐ-CP quy định về việc đền bù khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích Quốc gia, lợi ích công cộng; Thông tư số 145/1998/TT-BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 22/1998/NĐCP ngày 24/04/1998

Sau Luật Đất đai năm 1993 đến Luật Đất đai năm 2003 ra đời đã có rất nhiều các văn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết, cụ thể và phù hơn với tình hình thực tế hiện nay, cụ thể:

- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai

- Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định 188/2004/NĐ-CP

- Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

- Thông tư số 116/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 07/12/2004 về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định 197/2004/NĐ-CP

- Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSD đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình

tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai

Trang 27

- Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT-BTC-BTNMT của Bộ Tài chính

và Bộ TNMT ngày 31/1/2008 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP

- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ

và tái định cư

- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất

Thực hiện việc bồi thường GPMB khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; mục đích phát triển kinh tế trong các trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu cộng nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của chính phủ Còn đối với các dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất

đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình,

cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất

Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa

có dự án đầu tư thì Nhà nước quyết định thu hồi đất và giao cho tổ chức phát triển quỹ đất do UBND cấp tỉnh thành lập để thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, GPMB và quản lý quỹ đất thu hồi

Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng được UBND cấp tỉnh quy định và cống bố hàng năm, không bồi thường theo giá đất

sẽ chuyển mục đích sử dụng Giá đất do Nhà nước quy định đảm bảo nguyên tắc sát với giá chuyển nhượng QSD đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường

Điều kiện để được bồi thường về đất: Người bị thu hồi đất có đủ các

Trang 28

điều kiện phù hợp với quy định tại Điều 8 Nghị định 197/2004/NĐ-CP (trừ khoản 6 và khoản 8 đã được Nghị định 84/2007/NĐ-CP bãi bỏ) thì được bồi thường về đất

Chính sách hỗ trợ theo quy định tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP và Nghị định 84/2007/NĐ-CP bao gồm: Hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm, hỗ trợ di chuyển Đối với các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp sẽ được giao đất dịch vụ có thu tiền để làm mặt bằng sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, nếu

có đất để giao thì những thành viên trong gia đình còn trong độ tuổi lao động được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp hoặc người bị thu hồi đất không

có nguyện vọng nhận bồi thường bằng đất sản xuất kinh doanh dịch vụ thì được bồi thường bằng giao đất ở có thu tiền sử dụng đất tại khu TĐC hoặc vị trí trong khu dân cư phù hợp với quy hoạch; đối với các hộ gia đình, cá nhân thuộc diện hộ nghèo thì được hỗ trợ để vượt qua hộ nghèo

Trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết từ thực tiễn, để khắc phục những bất cập trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Nghị định số 69/2009/NĐ-CP được ban hành đã giải quyết tốt những vấn đề sau đây:

Một là, phân định tách bạch giữa bồi thường và hỗ trợ; tạo cơ chế linh

hoạt trong bồi thường (bằng tiền, bằng đất, bằng nhà ở) cho phù hợp với thực

tế của từng địa phương

Hai là, đổi mới cơ chế, chính sách trong việc hỗ trợ chuyển đổi nghề

nghiệp và tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp bằng cách tăng mức hỗ trợ từ 1,5 đến 5 lần giá đất nông nghiệp để người sử dụng đất chủ động trong việc lựa chọn nghề nghiệp; các địa phương cũng chủ động khi

Trang 29

xây dựng phương án chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm (nếu giá đất nông nghiệp thấp thì áp dụng mức hỗ trợ cao và ngược lại) Với quy định như trên

đã khắc phục sự chênh lệch về mức bồi thường, hỗ trợ tại các vùng giáp ranh giữa các địa phương; giúp các địa phương lựa chọn được nhà đầu tư có năng lực thực hiện dự án; đồng thời, cũng góp phần vào việc bảo vệ diện tích đất chuyên trồng lúa

Ba là, các khu tái định cư được quy định đa dạng về mức diện tích đất,

diện tích nhà và quy định mức tái định cư tối thiểu, giải quyết được khó khăn cho các hộ nghèo, các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, quỹ đất ở hạn hẹp UBND cấp tỉnh có trách nhiệm lập và thực hiện các dự án TĐC, các khu TĐC phải được xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ đảm bảo đủ điều kiện cho người sử dụng tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ; việc bố trí TĐC phải gắn với tạo việc làm và chuyển đổi nghề nghiệp

Bốn là, quy định việc lập, xét duyệt phương án đào tạo, chuyển đổi

nghề phải thực hiện đồng thời với phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng

đã giải quyết vấn đề tạo công ăn, việc làm cho người bị thu hồi đất

Năm là, cải cách thủ tục hành chính trong thu hồi đất, giao đất, cho

thuê đất bằng cách lồng ghép các thủ tục đầu tư, xây dựng với các thủ tục về đất đai đã rút ngắn được từ 1/3 đến 1/2 thời gian thực hiện so với quy định trước đây

Sáu là, đổi mới cơ chế về tài chính và củng cố Tổ chức phát triển quỹ

đất; tạo lập Quỹ phát triển đất; giúp các địa phương chủ động tạo lập quỹ đất

"sạch" để đấu giá; phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; góp phần ổn định thị trường bất động sản; làm nhiệm vụ tái định cư; quản lý quỹ đất đã được giải phóng mặt bằng; đồng thời, giúp cho các chủ đầu tư đẩy nhanh khâu giải phóng mặt bằng [9]

Trình tự tổ chức thực hiện BTHT và TĐC: Căn cứ vào quy hoạch và kế

Trang 30

hoạch đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt để giới thiệu địa điểm và ra thông báo thu hồi đất (thời gian ra văn bản giới thiệu địa điểm đầu

tư, thông báo thu hồi đất được thực hiện không quá 30 ngày kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ về đầu tư hợp lệ) Sau đó chủ đầu tư lập dự án đầu tư, xây dựng; lập hồ sơ xin giao đất, thuê đất, lập phương án tổng thể bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và niêm yết lấy ý kiến về phương án, thời gian niêm yết ít nhất là 20 ngày Chủ đầu tư dựa trên các ý kiến về phương án hoàn chỉnh lại trình cơ quan Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với cơ quan có liên quan thẩm định phương án, sau khi thẩm định cơ quan Tài nguyên và Môi trường chuẩn bị hồ sơ thu hồi đất trình UBND cùng cấp ra quyết định thu hồi đất, trong thời hạn không quá 5 ngày kể từ ngày ra quyết định thu hồi đất, giao đất, cơ quan Tài nguyên và Môi trường trình UBND cùng cấp phê duyệt và công bố công khai phương án, trong thời hạn không quá 3 ngày kể từ ngày nhận được phương án BTHT và tái định cư đã được phê duyệt, tổ chức làm nhiệm vụ phối hợp với UBND cấp xã công khai quyết định phê duyệt phương

án và ra thông báo về thời gian và địa điểm chi trả tiền bồi thường và thời gian bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ Trong thời gian 20 ngày kể từ ngày tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường GPMB thanh toán xong tiền BTHT thì người có đất bị thu hồi phải bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ [14]

2.5 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng ở tỉnh Nam Định

Tính từ năm 2005 đến tháng 10/2010 toàn tỉnh Nam Định có 302 dự án với diện tích đất thu hồi 1.480,62 ha (trong đó đất nông nghiệp 1.197,31 ha; đất

ở 33,87 ha; đất khác còn lại 249,44 ha) với tổng số hộ bị thu hồi đất 23.070 hộ Tổng số tiền bồi thường được duyệt là 1.085 tỷ đồng (trong đó BTHT về đất 768,9 tỷ đồng; BTHT về tài sản, vật kiến trúc 229,2 tỷ đồng; BTHT cây trồng vật nuôi 22,6 tỷ đồng; Hỗ trợ ổn định đời sống, tạo việc làm 64,3 tỷ đồng) [38]

Trong đó, có nhiều công trình trọng điểm có ý nghĩa quyết định đến sự

Trang 31

phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh như: Các khu công nghiệp Hoà Xá, Mỹ Trung; Các khu đô thị mới Hoà Vượng, Thống Nhất, Mỹ Trung; các cụm công nghiệp Xuân Tiến, Xuân Hùng, Cổ Lễ, Cát Thành, Yên Ninh, Yên Xá, Thị trấn Lâm, Các dự án xây dựng cải tạo những tuyến đường giao thông huyết mạch của tỉnh như đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình; đường BOT Nam Định - Mỹ Lộc; Quốc lộ 21, tỉnh lộ 490 và nhiều tỉnh lộ, huyện khác

Nhìn chung, việc xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã tuân thủ quy định của pháp luật, vận dụng cụ thể, linh hoạt vào điều kiện của từng địa phương trong từng thời điểm; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất; góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh

Thực hiện quy định của Luật Đất đai là khu TĐC phải có điều kiện cơ sở

hạ tầng bằng hoặc tốt hơn vị trí thu hồi đất, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành đầu tư xây dựng các khu TĐC tập trung của thành phố Nam Định đảm bảo yêu cầu về hạ tầng của các khu đô thị mới; các công trình hạ tầng về đường điện, văn hoá, xã hội, thể dục thể thao, được xây dựng đồng bộ Tại thành phố Nam Định đã và đang xây dựng 6 khu TĐC tập trung với diện tích 50,4 ha

Đối với khu vực nông thôn, do phong tục, tập quán của nhân dân chưa thích ứng với các khu TĐC tập trung và do số hộ có đủ điều kiện và nhu cầu TĐC tập trung tại từng xã, thị trấn thấp nên đến nay toàn tỉnh mới xây dựng 5 khu TĐC tập trung tại xã Nghĩa An, Yên Hồng, Yên Chính, Yên Nghĩa, Mỹ Hưng, còn lại chủ yếu là bố trí TĐC phân tán, đồng thời hỗ trợ kinh phí để hộ được TĐC đầu tư cơ sở hạ tầng đảm bảo nơi ở TĐC có điều kiện hạ tầng tốt hơn vị trí đất bị thu hồi

Kết quả trong 5 năm đã bố trí giao đất TĐC cho 2.317 hộ thuộc diện TĐC với diện tích đất 32,3 ha

Các hộ được bố trí TĐC đều có đủ điều kiện nhanh chóng ổn định nơi ở mới, ổn định đời sống, sản xuất

Trang 32

Công tác GPMB 5 năm qua đã đáp ứng nhu cầu sử dụng đất cho các công trình hạ tầng Những công trình kết cấu hạ tầng được xây dựng và đưa vào sử dụng đã thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần làm thay đổi diện mạo đô thị và nông thôn Nam Định

Tuy nhiên tiến độ lập, thực hiện phương án BTHT và TĐC, GPMB còn một số công trình vẫn bị kéo dài chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là các công trình thực hiện bồi thường hỗ trợ theo Nghị định 197/2004/NĐ-CP, Nghị định 84/2007/NĐ-CP chuyển tiếp sang thực hiện sau khi Nghị định 69/2009/NĐ-CP

có hiệu lực gây khó khăn cho nhà đầu tư, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đầu tư (như dự án Khu công nghiệp Bảo Minh, dự án Văn hóa Trần, dự án Cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình)

Hội đồng BTHT và TĐC ở một số dự án thực hiện một số thủ tục chưa kịp thời, trình tự các bước chưa chặt chẽ, chưa đúng quy hoạch; tuy không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người có đất bị thu hồi nhưng một số đối tượng thiếu tinh thần xây dựng, lợi dụng khiếu kiện gây khó khăn cho công tác GPMB

Kiến nghị, thắc mắc, khiếu kiện của công dân liên quan đến GPMB tuy

đã được các cấp, các ngành tập trung giải quyết nhưng hiệu quả chưa cao, một

số vụ việc còn kéo dài, một số nơi vẫn còn biểu hiện đùn đẩy, né tránh trong giải quyết, gây bức xúc đối với một bộ phận người bị thu hồi đất

Chính sách hỗ trợ ổn định đời sống, việc làm đã được thực hiện nhưng chủ yếu hỗ trợ bằng tiền; vấn đề hỗ trợ đối với hộ nghèo, vấn đề lao động, đời sống, việc làm và thu nhập của người dân sau khi bị thu hồi đất chưa được quan tâm đúng mức [38]

Trang 33

3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hai dự án nghiên cứu về bồi thường, hỗ trợ GPMB khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Xuân Trường, đó là Dự án mở đường 32m (thuộc quần thể khu lưu niệm cố Tổng bí thư Trường Chinh) và Dự án kiên cố hóa kênh Đồng Nê-Chợ đê

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Những vấn đề liên quan đến việc thực hiện chính sách bồi thường GPMB của hai dự án:

- Tổ chức thực hiện, tiền bồi thường, hỗ trợ và vấn đề tái định cư

- Vấn đề giải quyết công ăn việc làm và những vấn đề ảnh hưởng đến đời sống, xã hội của người dân trong vùng dự án

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội và tình hình phát triển của huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định

- Tình hình quản lý, sử dụng đất đai của huyện Xuân Trường và mối quan

hệ của nó đến công tác bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất Kết quả tổng hợp công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn huyện Xuân Trường giai đoạn 2006-2011

- Điều tra, đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng của hai dự án nghiên cứu (Giới thiệu về dự án; các chính sách, cơ sở pháp lý của việc thực hiện dự án; tình hình thực hiện thu hồi đất, bồi thường GPMB; nhận xét chung về công tác bồi thường, GPMB của dự án)

- Đề xuất giải pháp dựa trên các vấn đề nảy sinh nhằm cải thiện việc bồi thường giải phóng mặt bằng cho vùng nghiên cứu

Trang 34

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu

- Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp (thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội, tình hình triển khai dự án bồi thường giải phóng mặt bằng từ các phòng ban chuyên môn, ban quản lý các dự án, )

- Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp và lập phiếu điều tra đối với những hộ dân có liên quan đến việc bồi thường giải phóng mặt bằng thuộc hai dự án theo mẫu phiếu điều tra (điều tra 108 hộ dân, trong đó dự án 1 điều tra 67 hộ, dự án 2 điều tra 41 hộ)

3.4.2 Phương pháp lựa chọn dự án nghiên cứu

Nghiên cứu hai dự án bồi thường, giải phóng mặt bằng tại hai thời điểm

áp dụng chính sách khác nhau: Dự án 1 áp dụng chế độ chính sách theo Nghị

định 197/2004/NĐ-CP và Nghị định 84/2007/NĐ-CP, Dự án 2 áp dụng theo

Nghị định số 69/2009/NĐ-CP

3.4.3 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu điều tra

Dùng phần mềm Excel để tổng hợp số liệu phân tích và xử lý số liệu

để làm rõ mặt những ưu điểm cũng như những tồn tại của công tác bồi thường GPMB trên địa bàn huyện Các phương pháp xử lý số liệu gồm: Phương pháp thống kê: Tổng hợp số liệu theo những mục đích cụ thể Phương pháp so sánh: Dùng để so sánh các số liệu thu thập được, từ đó thấy được sự giống và khác nhau trong công tác bồi thường GPMB ở các dự

án

3.4.4 Phương pháp chuyên gia

Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các chuyên viên và lãnh đạo các phòng ban về lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng để đề xuất các giải pháp đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng

Trang 35

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội và tình hình phát triển của huyện Xuân Trường

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Xuân Trường là huyện đồng bằng nằm ở phía Đông Nam tỉnh Nam Định,

có tọa độ địa lý từ 20015' đến 20024' vĩ độ Bắc và từ 106017' đến 108025' kinh độ Đông

Phía Bắc giáp với tỉnh Thái Bình

Phía Nam giáp huyện Hải Hậu

Phía Tây giáp huyện Trực Ninh

Phía Đông giáp huyện Giao Thủy

Xuân Trường có mạng lưới giao thông đường bộ, đường sông thuận lợi Quốc lộ 21, tỉnh lộ 489, tỉnh lộ 481 chạy qua huyện tạo sự liên hoàn hệ thống giao thông cùng với hệ thống các sông Hồng, sông Ninh Cơ, sông Sò tạo thành hệ thống giao thông thuận tiện cho phát triển, giao lưu kinh tế với các huyện trong tỉnh và trong toàn quốc

Với vị trí địa lý khá thuận lợi, đó là điều kiện quan trọng để Xuân Trường phát triển kinh tế năng động, đa dạng và hòa nhập với việc phát triển kinh tế - xã hội, khoa học kỹ thuật trong vùng, trong tỉnh

4.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Địa hình Xuân Trường mang đặc điểm địa hình đồng bằng, địa hình khá bằng phẳng, thấp dần về giữa huyện trong đó thấp nhất là các xã Xuân Ngọc, Xuân Thủy và một phần xã Xuân Bắc, Xuân Phong Đất đai ở đây được chia thành 2 vùng: Vùng đất bãi hàng năm được bù đắp bởi lượng phù

sa sông Hồng và sông Ninh Cơ, có thành phần cơ giới cát, cát pha thịt nhẹ

Trang 36

phù hợp với cây công nghiệp và rau màu các loại Vùng trong đê có thành phần cơ giới thịt nhẹ, thịt nặng phù hợp với trồng lúa, là vùng đồng bằng có địa hình bằng phẳng với hệ thống kênh mương tự chảy hàng năm cung cấp nước cho trồng trọt và sinh hoạt

Đất đai phì nhiêu, tạo điều kiện phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng trọt, ở một số vùng đất ven sông trong và ngoài đê có thể phát triển mạnh trồng màu và cây công nghiệp Nhìn chung điều kiện địa hình của Xuân Trường tạo ra hệ sinh thái động, thực vật khá đa dạng, phong phú đồng thời thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, xã hội

4.1.1.3 Khí hậu

Xuân Trường mang đầy đủ những đặc điểm của tiểu khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng, là khu vực nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, có 4

mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông)

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23-24°C, số tháng có nhiệt

độ trung bình lớn hơn 20°C từ 8-9 tháng, Mùa đông, nhiệt độ trung bình là 18,9°C, tháng lạnh nhất là tháng 1 và tháng 2 Mùa hạ, nhiệt độ trung bình là 27°C, tháng nóng nhất là tháng 7 và tháng 8

- Độ ẩm: Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình năm từ 80-85%,

giữa tháng có độ ẩm lớn nhất và nhỏ nhất không chênh lệch nhiều, tháng có

độ ẩm cao nhất là 90% (tháng 3), thấp nhất là 81% (tháng 11)

- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình trong năm từ 1.700-1.800 mm, phân

bố tương đối đồng đều trên toàn huyện Lượng mưa phân bố không đều trong năm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa

cả năm, các tháng mưa nhiều là tháng 7,8,9 Do lượng mưa nhiều, tập trung nên gây ngập úng, làm thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, nhất là khi mưa lớn kết hợp với triều cường, nước sông lên cao Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chiếm 20% lượng mưa cả năm Các tháng ít mưa nhất là tháng

12, 1, 2, có tháng hầu như không có mưa Tuy nhiên, có những năm mưa muộn

Trang 37

ảnh hưởng đến việc gieo trồng cây vụ đông và mưa sớm ảnh hưởng đến thu hoạch vụ chiêm xuân

- Nắng: Hàng năm trung bình có tới 250 ngày nắng, tổng số giờ nắng từ

1650-1700 giờ Vụ hè thu có số giờ nắng cao khoảng 1.100-1.200 giờ, chiếm 70% số giờ nắng trong năm

- Gió: Hướng gió thịnh hành thay đổi theo mùa, tốc độ trung bình cả năm

là 2-2,3 m/s Mùa đông hướng gió thịnh hành là gió Đông Bắc với tần suất 60-70%, tốc độ gió trung bình 2,4-2,6 m/s, những tháng cuối mùa đông, gió

có xu hướng chuyển dần về phía đông Mùa hè hướng gió thịnh hành là gió Đông Nam, với tần suất 50-70%, tốc độ gió trung bình 1,9-2,2 m/s, tốc độ gió

cực đại (khi có bão) là 40 m/s, đầu mùa hạ thường xuất hiện các đợt gió tây

khô nóng gây tác động xấu đến cây trồng

- Bão: Do nằm trong vùng vịnh Bắc Bộ, nên hàng năm thường chịu ảnh

hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 4-6 trận/năm

Nhìn chung khí hậu Xuân Trường rất thuận lợi cho môi trường sống của con người, sự phát triển của hệ sinh thái động, thực vật và các hoạt động du lịch

4.1.1.4 Thủy văn

Chế độ thủy văn của huyện chịu ảnh hưởng chính của các sông: Sông Hồng, sông Ninh Cơ, sông Sò và chế độ thủy triều Xuân Trường có hệ thống sông ngòi khá dày đặc với mật độ mạng lưới sông ngòi vào khoảng 0,7 - 0,9 km/km2 Các dòng chảy đều theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Hiện tại sông Hồng, sông Ninh Cơ, sông Sò là nguồn cung cấp nước chính phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh trên địa bàn toàn huyện qua các cống dưới đê như: cống chợ Đê- Hành Thiện, cống Hạ Miêu 1, Hạ Miêu 2 - Xuân Thành, cống Bùi (Xuân Hồng), cống Trung Linh (Xuân Ngọc), cống số 7 - Sa Cao, cống Trà Thượng - Xuân Trường Sông ngòi Xuân Trường được phân làm 2 loại là các sông chính và kênh mương nội đồng

Trang 38

4.1.1.5 Tài nguyên đất

Đất đai Xuân Trường hầu hết có nguồn gốc từ đất phù sa của lưu vực sông Hồng Nhóm đất có diện tích lớn nhất là nhóm đất phù sa trẻ 96% (Fluvisols), tiếp đến là nhóm đất phèn 4%, đất cát 1%, đất mặn 1% Theo kết quả điều tra, khảo sát, phân loại đất theo tiêu chuẩn quốc tế (FAO-UNESCO) đất Xuân Trường bao gồm các loại như sau:

- Đất phù sa - Fluvisols (FL)

Hệ thống đê của các dòng sông chia đất phù sa thành 2 vùng: Vùng đất ngoài đê được bồi đáp phù sa hàng năm và vùng đất trong đê rộng lớn không được bồi hàng năm Nhóm đất phù sa có 4 đơn vị đất là đất phù sa trung tính

ít chua- Eutric Fluvisols (Fle); đất phù sa chua- Dystric Fluvisols (FLd); đất phù sa glây- Gleyic Fluvisols (FLg) và đất phù sa có tầng đốm rỉ- Cambic Fluvisols (FLb) trải khắp trên toàn huyện

Trong nông nghiệp đất phù sa phần lớn dùng trồng lúa, màu và một số cây công nghiệp ngắn ngày

- Đất phèn - Thionic Fluvisols (FLt)

Diện tích khoảng 500ha, chiếm 4% diện tích tự nhiên của huyện, phân

bổ ở các xã Xuân Vinh, Xuân Hòa nơi địa hình thấp

Nhóm đất phèn có một đơn vị đất là đất phèn tiềm tàng và chủ yếu đang được trồng lúa

- Đất cát - Arenosols (Arh-e)

Diện tích khoảng 100ha phân bố rải rác tại các xã ven sông

- Đất mặn – SaLic Fluvisols (FLs)

Diện tích khoảng 100 ha phân bố chủ yếu tại xã Xuân Vinh

4.1.1.6 Tài nguyên nhân văn

Xuân Trường là một huyện có truyền thống cách mạng, có Chi Bộ Đảng cộng sản Việt Nam từ đầu năm 1930 và có nhiều nhà hoạt động cách

Trang 39

mạng xuất sắc, giữ các cương vị trọng trách của Đảng, Nhà Nước, Quân đội Tiêu biểu là cố tổng bí thư – cố Chủ tịch nước Trường Chinh và 07 anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 02 anh hùng lao động Huyện Xuân Trường và

10 đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Pháp; Hợp tác xã nông nghiệp Xuân Phương được phong tặng danh hiệu “Anh hùng lao động” thời kỳ đổi mới

4.1.1.7 Tài nguyên du lịch

Xuân Trường là một vùng đất văn hiến, có nhiều người học đỗ đạt cao Toàn huyện có 17 di tích văn hóa lịch sử được nhà nước xếp hạng, trong đó có Nhà lưu niệm cố Tổng Bí Thư Trường Chinh, chùa Keo Hành Thiện là điểm

tham quan thu hút nhiều khách du lịch trong cả nước

4.1.1.8 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

Với điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên môi trường trên, huyện Xuân Trường có nhiều lợi thế và tiềm năng:

- Có vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu và phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của huyện, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế với thế giới, những lợi thế về địa lý và giao thông là yếu tố rất quan trọng

- Đất đai, nguồn tài nguyên thiên nhiên, điều kiện khí hậu, môi trường thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm sau này

- Là một vùng quê văn hiến, mảnh đất “địa linh nhân kiệt”, với nhiều di tích lịch sử, văn hoá, lễ hội truyền thống và các phong tục tập quán phong phú tạo ra cho huyện Xuân Trường có nhiều tiềm năng tham quan du lịch và phát triển văn hoá truyền thống

Tuy nhiên huyện Xuân Trường cũng vẫn còn có một số khó khăn và hạn chế:

Trang 40

- Do sức ép của sự phát triển về kinh tế, thương mại, của sự gia tăng dân số và tác động của con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn cùng với việc khai tác tài nguyên chưa hợp lý, thiếu khoa học đã tạo nên những biến đổi xấu đến môi trường đất, nguồn nước và điều kiện sinh thái

4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

4.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

a Tăng trưởng kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 10,8%

Năm 2011 tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế đạt 12,2%, thu nhập bình quân trên đầu người ước tính đạt 13,2 triệu đồng/người/năm Giá trị tổng sản xuất của các ngành kinh tế năm 2011 đạt 4.781.374 triệu đồng (theo giá hiện hành)

Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu năm 2012 như sau:

- Giá trị sản xuất/ha canh tác năm 2012 đạt 70 triệu đồng

- Tổng sản lượng thịt lơn hơi xuất chuồng năm 2012 đạt 9.500 tấn

- Giá trị hàng hóa xuất khẩu năm 2012 đạt 20 triệu USD

- Giá trị tổng sản xuất của các ngành kinh tế năm 2012 đạt 4.036.879 triệu đồng (giá hiện hành)

- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2012 đạt 215,2 tỷ đồng, trong đó thu từ kinh tế trên địa bàn là 78,1 tỷ đồng

b Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng nhóm ngành dịch vụ - thương mại và công nghiệp – xây dựng Năm 2012, ngành nông – lâm – thủy sản chiếm 27,53%, công nghiệp - xây dựng chiếm 42,31%; ngành dịch vụ - thương mại chiếm 30,16% trong cơ cấu kinh tế

Ngày đăng: 13/11/2015, 20:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000 - 2010 - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện xuân trường, tỉnh nam định
Bảng 4.1. Xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000 - 2010 (Trang 41)
Hình 4.2: Sơ đồ dự án đường 32m  Bảng 4.4. Thống kê diện tích đất thu hồi phục vụ dự án đường 32m - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện xuân trường, tỉnh nam định
Hình 4.2 Sơ đồ dự án đường 32m Bảng 4.4. Thống kê diện tích đất thu hồi phục vụ dự án đường 32m (Trang 61)
Bảng 4.5. Thống kê diện tích đất thu hồi phục vụ dự án kênh Đồng Nê - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện xuân trường, tỉnh nam định
Bảng 4.5. Thống kê diện tích đất thu hồi phục vụ dự án kênh Đồng Nê (Trang 62)
Hình 4.3: Sơ đồ dự án kiên cố hóa kênh Đồng Nê-Chợ Đê - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện xuân trường, tỉnh nam định
Hình 4.3 Sơ đồ dự án kiên cố hóa kênh Đồng Nê-Chợ Đê (Trang 63)
Bảng 4.6. Giá đất ở áp dụng tại dự án 1 - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện xuân trường, tỉnh nam định
Bảng 4.6. Giá đất ở áp dụng tại dự án 1 (Trang 66)
Bảng 4.9. Tổng hợp kết quả bồi thường về đất - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện xuân trường, tỉnh nam định
Bảng 4.9. Tổng hợp kết quả bồi thường về đất (Trang 68)
Bảng 4.8. Giá đất ở tại dự án 2 - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện xuân trường, tỉnh nam định
Bảng 4.8. Giá đất ở tại dự án 2 (Trang 68)
Bảng 4.15. Tổng hợp kết quả điều tra về thu hồi đất GPMB - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện xuân trường, tỉnh nam định
Bảng 4.15. Tổng hợp kết quả điều tra về thu hồi đất GPMB (Trang 77)
Hình 4.5: Hình thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ Dự án 1 - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện xuân trường, tỉnh nam định
Hình 4.5 Hình thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ Dự án 1 (Trang 78)
Hình 4.6: Hình thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ Dự án 2 - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện xuân trường, tỉnh nam định
Hình 4.6 Hình thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ Dự án 2 (Trang 79)
Hình 4.7: Đường 32m sau khi đã hoàn thành - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện xuân trường, tỉnh nam định
Hình 4.7 Đường 32m sau khi đã hoàn thành (Trang 81)
Hình 4.8: Kênh Đồng Nê-Chợ đê sau khi đã hoàn thành - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện xuân trường, tỉnh nam định
Hình 4.8 Kênh Đồng Nê-Chợ đê sau khi đã hoàn thành (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm