Tế bào sinh dục cái trứng Tế bào sinh dục cái của gà chính là trứng, nó có kích thước lớn hơn so với các lớp động vật khác.Trứng được bảo vệ bằng lớp vỏ trứng cứng bao bên ngoài.. Hiện t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Mã số : 60.62.40
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TÔN THẤT SƠN
HÀ NỘI - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu, thông tin chưa từng được sử dụng công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Các kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm về những số liệu trong bản luận văn này Các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bình
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Có được công trình nghiên cứu này, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ quý báu của nhà trường, các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS Tôn Thất Sơn đã động viên, hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và làm luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Dinh dưỡng - Thức ăn, Khoa Chăn nuôi – Nuôi trồng thuỷ sản, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã góp ý và chỉ bảo để luận văn của tôi được hoàn thành
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các kỹ thuật tại Xí nghiệp giống gia cầm Lạc Vệ - Tiên Du – Bắc Ninh đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp
Để hoàn thành luận văn này, tôi còn nhận được sự động viên khích lệ của những người thân trong gia đình và bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm cao quý đó
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bình
Trang 42.1 Cơ sở lý luận về đặc điểm tiêu hóa thức ăn của gia cầm 3
Trang 54.3 Khối lượng trứng của gà thí nghiệm 40
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 HQSDTA : Hiệu quả sử dụng thức ăn
2 NLTĐ : Năng lượng trao đổi
10 TTTA : Tiêu tốn thức ăn
11 TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
12 CS : Cộng sự
Trang 7DANH MỤC BẢNG
3.1 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp Dabaco cho gà sinh sản 28 3.2 Tiêu chuẩn ăn của gà giống sinh sản hướng thịt từ 21 đến 64 tuần tuổi 29
4.3 Khối lượng trứng của gà thí nghiệm từ 23-40 tuần tuổi 41
4.16 Hiệu quả bổ sung các mức vitamin D trên gà thí nghiệm từ 22-40
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Trang 91 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong mấy năm trở lại đây, ngành chăn nuôi nước ta đã phát triển mạnh
mẽ và ngày càng được chăn nuôi với quy mô lớn hơn Bên cạnh sự phát triển của chăn nuôi lợn thì chăn nuôi gia cầm cũng được mở rộng không ngừng Theo số liệu của Tổng cục thống kê (2012) [12], tại thời điểm 01/10/2011 nước ta có 322,6 triệu gia cầm, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2010 Sản lượng thịt gia cầm hơi tăng 13,1%, sản lượng trứng tăng 7,4% Điều này cho thấy, càng ngày nhu cầu về sản xuất thịt và trứng gia cầm ngày càng cao Theo đó nhu cầu về con giống cũng ngày càng lớn
Trong thời gian gần đây, phương thức chăn nuôi gà đẻ giống trên lồng, thụ tinh nhân tạo đã được một số xí nghiệp giống gia cầm áp dụng Phương thức chăn nuôi này đã tạo ra nhiều lợi ích như: chăm sóc, nuôi dưỡng, theo dõi và thu nhặt trứng dễ dàng hơn, cũng như giảm nhân công lao động Nhưng một hiện tượng khá phổ biến là có một tỷ lệ gà bị sã cánh cong lườn, giảm sản lượng trứng, chất lượng trứng và tỷ lệ ấp nở Điều này ảnh hưởng rất lớn đến năng suất chăn nuôi Theo Hybrid (2010) [25], khi gà sinh sản bị thiếu vitamin D3 làm tăng tỷ lệ trứng mỏng vỏ, dập vỡ, giảm sản lượng trứng, giảm tỷ lệ ấp nở Số gà bị sã cánh cong lườn tăng Do đó Hybrid đã khuyến cáo tăng nhu cầu vitamin D3 thêm 20% đối với gà nuôi trên lồng Tuy nhiên
để tìm được mức vitamin D3 thích hợp vẫn còn chưa thống nhất trong điều kiện nóng ẩm của Việt Nam Xuất phát từ thực tiễn này, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Bổ sung vitamin D cho gà sinh sản ISA-JA57 nuôi trên
lồng tại Xí nghiệp giống gia cầm Lạc Vệ- Tiên Du- Bắc Ninh”
Trang 101.2 Mục đích của đề tài
Xác định được mức bổ sung vitamin D3 thích hợp cho gà đẻ trứng
giống nuôi trên lồng thụ tinh nhân tạo
Trang 112 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận về đặc điểm tiêu hóa thức ăn của gia cầm
Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật
có vú Cường độ tiêu hóa mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hóa Ở gà con, tốc độ là 30-39cm/giờ; ở gà lớn hơn là 32-40cm/giờ và ở gà trưởng thành là 40-42cm/giờ Chiều dài của ống tiêu hóa gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong
đó không vượt quá 2-4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác (Nguyễn Thị Mai và CS (2009) [8]
Sơ đồ tiêu hóa chung của gà: Mỏ → Khoang miệng → Thực quản → Diều →Dạ dày tuyến → Dạ dày cơ (mề) → Lá lách → Túi mật → Gan → Các ống mật→ Tuyến tụy → Ruột hồi manh tràng → Ruột non → Ruột thừa
→ Ruột già → Ổ nhớp
2.1.1 Mỏ
Chia ra làm ba phần: đầu mỏ, thân mỏ, gốc mỏ
Là nơi thu nhận thức ăn, ở gà việc lấy thức ăn được thực hiện bằng thị giác và xúc giác
2.1.2 Khoang miệng
Chia làm hai phần: Phần trên có vòm miệng cứng ngắn, được phủ lớp màng nhầy, phần dưới có lưỡi Lưỡi gia cầm nằm ở đáy khoang miệng, có hình dạng và kích thước phù hợp với mỏ Trên bề mặt phía trên của lưỡi có những gai rất nhỏ hóa sừng hướng về cổ họng có tác dụng giữ khối thức ăn và đẩy chúng về thực quản
2.1.3 Thực quản
Nằm song song với khí quản, là một ống có 2 lớp cơ đàn hồi, trong thực quản tiết ra dịch nhầy có chức năng vận chuyển thức ăn từ khoang miệng
xuống diều
Trang 122.1.4 Diều
Diều là phần phình ra của thực quản nằm bên phải chỗ vào khoang ngực ngay trước chạc ba nối liền hai xương đòn phải trái, là nơi điều phối dự trữ thức ăn để cung cấp xuống dạ dày, thức ăn ở diều được làm mềm ra và được lên men phân giải
ăn xuống dạ dày cơ
2.1.7 Dạ dày cơ (mề)
Cấu tạo bởi những lớp cơ khỏe, thành dày, tiết mành hóa sừng có ý nghĩa cơ học ngoài ra còn giữ cho vách dạ dày khỏi bị tác động của những yếu tố bất lợi Dạ dày cơ có tác dụng nhào trộn, co bóp nghiền nát thức ăn
2.1.8 Ruột non
Ngắn, giống như ruột non của gia súc, có cấu tạo đầy đủ, có nhiều tuyến, nhiều nhung mao, có khả năng và tốc độ hấp thu thức ăn lớn Mặt khác, do tuyến ngoại tiết tương đối phát triển nên khả năng tiêu hóa tốt
2.1.9 Ruột già
Cuối ruột già có hai manh tràng, là cơ quan tiêu hóa xơ chính của gà nhờ vào sự hoạt động của vi sinh vật Phần cuối của trực tràng có lỗ huyệt
Trang 13cũng là nơi đổ ra của đường tiết niệu, thải phân, đồng thời thực hiện chức năng sinh dục
2.2 Một số đặc điểm sinh lý sinh sản của gà mái đẻ
2.2.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục cái
Ở gà, cơ quan sinh dục cái trong quá trình tiến hóa và phát triển, buồng trứng và ống dẫn trứng bên phải phần lớn đã bị thoái hóa hoàn toàn Nói chung cơ quan sinh dục cái của gà gồm một buồng trứng và một ống dẫn trứng
2.2.1.1 Buồng trứng
Nằm ở phía trái của khoang bụng là nơi tạo ra các tế bào trứng Kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào trạng thái chức năng và tuổi gia cầm Ở gà mái con 1 ngày tuổi, buồng trứng có dạng phiến mỏng 4 tháng tuổi phiến hình thoi Gà trong thới kỳ đẻ trứng mạnh, buồng trứng có dạng hình chùm nho Trong buồng trứng có miền vỏ và miền tủy Ở miền vỏ của buồng trứng gồm nhiều tế bào trứng ở các gia đoạn khác nhau Miền tủy của buồng trứng được cấu tạo từ mô liên kết, có nhiều mạch máu và dây thần kinh Trong chất tủy có những khoang được phủ bằng biểu mô dẹt và mô thần kinh
Trang 142.2.1.3 Tế bào sinh dục cái (trứng)
Tế bào sinh dục cái của gà chính là trứng, nó có kích thước lớn hơn so với các lớp động vật khác.Trứng được bảo vệ bằng lớp vỏ trứng cứng bao bên ngoài Bên trong trứng có chứa chất dinh dưỡng và chất khoáng Chất dinh dưỡng và chất khoáng đủ để đáp ứng cho nhu cầu sinh trưởng, phát triển một cách bình thường của phôi
Tùy theo giống gà và tuổi đẻ mà khối lượng trứng khác nhau, trung bình trứng nặng khoảng 56 -64 g Trứng được hình thành và tạo ra từ buồng trứng và ống dẫn trứng Trứng gà được cấu tạo bởi các thành phần và tỷ lệ như sau:
- Vỏ trứng: 9 -12%
- Lòng đỏ: 29 -33%
- Lòng trắng: 58 -60% (lớp ngoài lòng trắng lỏng 23%, lớp giữa lòng trắng đặc chiếm 57%, lớp trong lòng trắng lỏng 17%, lớp trong cùng lòng trắng xoắn đặc 3%) ( Nguyễn Tất Thắng, 2008) [10]
Trong trứng gà thành phần hóa học là ổn định, vì đó là nơi để bào thai tồn tại và phát triển Thành phần hóa học của trứng như sau:
- Vỏ trứng: 93% CaCO3, 3 -4% chất hữu cơ và 1% là nước
Trang 15trứng thì phôi gà tiếp tục phát triển, sử dụng chất dinh dưỡng cân đối trong trứng để hình thành gà con sau 490 -528 giờ (khoảng 17,5 -22 ngày ấp), tùy vào môi trường
2.2.2 Hiện tượng rụng trứng và quá trình hình thành trứng
Hiện tượng rụng trứng và sự hình thành trứng ở gà mái gắn liền với sự hình thành các chất dinh dưỡng để nuôi bào thai Quá trình thoát khỏi buồng trứng của tế bào trứng chín gọi là sự rụng trứng Tế bào trứng chín rơi vào túi lòng đỏ và nằm trên bề mặt lòng đỏ đạt độ chín trong phạm vi 9 -10 ngày
Khối lượng trứng tăng 16 lần trong thời gian 7 ngày ở thời kỳ trước rụng trứng (Nguyễn Tất Thắng, 2008) [10] Hormon FSH, LH điều chỉnh theo một trình tự chặt chẽ trong quá trình phát triển và vỏ bao noãn Thùy trước tuyến yên tiết ra hormon FSH và LH là tác nhân kích thích bao noãn phát triển, vỡ ra và chín để giải phóng trứng Trứng sau khi rụng được rơi vào trong phễu (loa kèn) của ống dẫn trứng và phễu nhu động liên tục Tế bào trứng rơi vào phễu dừng lại ở đây 20 phút, nếu có tinh trùng thì việc thụ tinh
tế bào trứng sẽ xảy ra ở trên thành phễu Sự rụng trứng ở gà xảy ra một lần trong ngày, thường là sau khi gà đẻ trứng 30 phút Nếu gà đẻ sau 16 giờ thì sự rụng trứng sẽ chuyển đến buổi sáng ngày hôm sau Trứng bị ngưng trệ sự rụng trứng tiếp theo Nếu lấy trứng ra khỏi tử cung thì cũng không làm tăng nhanh sự rụng trứng được Sự rụng trứng ở gà thường xảy ra trong thời gian
từ 2-14 giờ hàng ngày
Tế bào trứng di chuyển đầu tiên là phần tiết lòng trắng (2,5 -3 giờ) Ở đây các phần của lòng trắng được hình thành và tiếp tục di chuyển xuống phần eo khoảng 10 phút bắt đầu hình thành màng lòng trắng, sau đó xuống tử cung, qua
tử cung mất 19 giờ Ở đây nó hình thành vỏ, sau đó trứng qua âm đạo rất nhanh
ra ngoài Trứng qua phần tiết lòng trắng với tốc độ 2 -3m/phút, qua eo còn 1,4m/phút, đến tử cung thì gần như dừng lại Trứng qua âm đạo rất nhanh, toàn
Trang 16bộ quá trình hết 20 -24 giờ Trong quá trình di chuyển các đoạn của ống dẫn trứng, thì tế bào trứng vừa chuyển động tịnh tiến, vừa chuyển động cuộn tròn Hiện tượng rụng trứng xảy ra 15 -75 phút sau khi gà đẻ trứng ra ngoài, bình thường thì thường xảy ra sau 30 phút (Nguyễn Tất Thắng, 2008) [10]
Thời kỳ đầu của quá trình đẻ trứng, từ khi rụng quả trứng đầu tiên, đến khi gà bắt đầu đẻ bình thường về sinh lý Giai đoạn này kéo dài 1 -2 tuần, thậm chí đến 1 tháng Trong thời kỳ này, gà mái đẻ trứng thất thường với biểu hiện như 2 trứng/ngày, trứng dị hình vỏ, thiếu vỏ cứng, không vỏ, trứng 2 lòng, khoảng cách giữa các lần đẻ thất thường (Nguyễn Tất Thắng, 2008) [10] Sở dĩ có hiện tượng đó là do 2 trứng trong tử cung hoặc 2 trứng cùng chín và rơi vào ống dẫn trứng
2.3 Dinh dưỡng vitamin, đặc điểm và vai trò của vitamin
2.3.1 Vài nét về dinh dưỡng vitamin
Vitamin còn gọi là sinh tố, đó là những hợp chất hữu cơ có trọng lượng phân tử bé, có cấu tạo hóa học rất khác nhau và đều có hoạt tính sinh học nhằm đảm bảo cho các quá trình hóa sinh và sinh lý trong cơ thể tiến hành được bình thường và do đó ảnh hưởng rất lớn đến quá trình trao đổi chất Đây chính là yếu tố dinh dưỡng không thể thiếu được của mọi sinh vật Đa số các vitamin được tổng hợp từ thực vật mà động vật thu được trong khẩu phần ăn hàng ngày Do đó, nếu trong thức ăn thiếu vitamin sẽ gây những rối loạn nghiêm trọng trong quá trình trao đổi chất Gia cầm rất nhạy cảm với sự thiếu vitamin, thậm chí chỉ thiếu một ít cũng làm giảm sức sản xuất của chúng Vitamin cần thiết cho mọi động vật ở các lứa tuổi khác nhau nhưng chỉ với một liều lượng nhỏ, vì thế đơn vị tính của nó thường là γ, UI hay mg Các vitamin được chia làm hai nhóm:
- Nhóm vitamin hòa tan trong mỡ :
+ Vitamin A
Trang 172.3.2 Đặc điểm của vitamin
Mặc dù cấu trúc hóa học, vai trò và cách thức hoạt động khác nhau nhưng tất cả các vitamin đều có chung 6 tính chất cơ bản:
- Không mang năng lượng
Đó là những chất hữu cơ, không cung cấp năng lượng, không protein
- Hoạt động với một lượng rất nhỏ
Liều tối thiểu hàng ngày đủ cho nhu cầu của các tổ chức trong cơ thể thay đổi theo từng vitamin, từ vài microgam (µg) (vitamin B12) đến vài chục milligram (mg) (vitamin C)
- Phần lớn không được tổng hợp trong cơ thể người và động vật nuôi
Trong mọi trường hợp, vitamin được cung cấp bởi thức ăn Cơ thể con người và động vật không tự tổng hợp được, ngay cả khi cung cấp đủ các yếu
tố cần thiết cho cơ thể
- Không thay thế lẫn nhau
Thiếu một loại vitamin này không thể dùng vitamin khác để thay thế
- Cần thiết cho hoạt động và quá trình phát triển của cơ thể
Vitamin đóng vai trò chính xác của chất xúc tác, bằng cách hoạt hóa quá trình oxy hóa của thức ăn và hoạt động chuyển hóa, tức là tất cả những quá trình mà nhờ đó thức ăn được biến đổi và đồng hóa bởi các tổ chức
Trang 18Người ta nói rằng đó là những tia sáng khởi động ngọn lửa, vitamin tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và sử dụng năng lượng Nó tham gia tích cực vào hoạt động của tế bào
Ngoài ra, vitamin còn bảo vệ tế bào, các tổ chức cơ thể khỏi bị tấn công nhờ đặc tính chống lại quá trình oxy hóa, chống nhiễm trùng, trung hòa chất độc, hồi phục các cấu trúc của các tổ chức bị thương
- Thiếu vitamin gây ra những rối loạn
Thiếu vitamin sẽ gây ra những triệu chứng thiếu hoặc bệnh đặc hiệu
2.3.3 Vai trò chung của vitamin
Vitamin với những lượng nhỏ giúp cho sinh vật phát triển, sinh sản bình thường và nâng cao khả năng chống đỡ của cơ thể Vitamin tham gia cấu tạo các hệ enzyme đóng vai trò xúc tác các phản ứng oxy hóa khử, khử carboxyl, chuyển amin, giúp chuyển hóa tế bào trong sinh vật Nếu thiếu vitamin hệ enzyme tương ứng không hình thành, chuyển hóa rối loạn và gia cầm bị bệnh Có thể nói hầu hết các vitamin là nguyên liệu để cấu tạo enzyme Thí dụ, vitamin B1 là nguyên liệu để cấu tạo men carboxylaza, vitamin B2 – dehydrogenaza, vitamin B6 – aminopferoza Hệ thống các phản ứng sinh hóa học liên quan chặt chẽ với nhau như một chuỗi dây chuyền, do
đó chỉ cần một phản ứng (một mắt xích) bị trục trặc cũng làm ảnh hưởng đến hoạt động của nhiều khâu khác Chức năng xúc tác của vitamin trong cơ thể giúp cho các phản ứng có hiệu suất (năng suất) cao, tốc độ lớn trong điều kiện bình thường, bảo đảm duy trì sự sống ở trạng thái cân bằng nội môi, đáp ứng với sự thay đổi đa dạng ở trong và ngoài cơ thể
Tác động của vitamin còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố Giữa vitamin và hoocmon có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Nhiều thí nghiệm cho thấy khi thiếu vitamin B6 thì hoocmon buồng trứng tổng hợp ít đi, hoặc khi thiếu vitamin C thì hoạt lực của tuyến yên và tuyến thượng thận bị giảm sút
Trang 19Trái lại, hoocmon tăng thì nhu cầu vitamin cũng tăng Thí dụ Thyroxin của tuyến giáp trạng sản sinh nhiều sẽ làm cơ thể đòi hỏi nhiều vitamin B1 Lại có những trường hợp vitamin đối lập với tuyến nội tiết như : vitamin A với Thyroxin, vitamin D tăng làm canxi máu tăng gây ức chế hoocmon cận giáp
Giữa các vitamin với nhau cũng có mối quan hệ qua lại Ví dụ nếu cơ thể đủ vitamin B12 thì quá trình chuyển hóa caroten thành vitamin A ở gan hoặc tổng hợp axit pholic tiến hành thuận lợi Đầy đủ vitamin C làm giảm mức độ trầm trọng của bệnh thiếu vitamin B2
2.4 Vitamin D
2.4.1 Vài nét về vitamin D
Vitamin D còn gọi là Canxiferol hay vitamin chống bệnh còi xương Theo Russel (2000) [38] vitamin D còn được gọi là vitamin “ánh sáng” Vitamin D gồm có 6 loại: D2, D3, D4, D5, D6 và D7 có công thức hóa học gần giống nhau, trong đó vitamin D2 và D3 có hoạt tính sinh học mạnh nhất Vitamin D2 (Ergocanxiferol) có nguồn gốc thực vật, được tạo thành khi tia cực tím chiếu vào chất Ergosterol Vitamin D3 (Colecanxiferol) có nguồn gốc động vật Đối với gia cầm vitamin D3 có vai trò đặc biệt quan trọng Provitamin D3 – 7 dehydrocholesterol (tiền vitamin D3) dưới tác dụng của tia
tử ngoại nó chuyển hóa thành vitamin D3 Hiện nay, vitamin D3 được chiết xuất từ dầu gan cá dưới tác dụng của tia cực tím Colecanxiferol kết tinh màu trắng, bị phá hủy bởi ánh sáng và dầu mỡ bị ôi, đặc biệt khi hỗn hợp vitamin
D với các chất khoáng vi lượng Vitamin E là chất bảo vệ vitamin D
2.4.2 Vai trò của vitamin D
- Vitamin D làm tăng hàm lượng Ca++ trong máu (có mặt đầy đủ của photpho) giúp cho sự hấp thu canxi và photpho tốt nhất từ thức ăn, điều hòa
sự cân đối của chúng trong máu Do tăng canxi huyết nên canxi lắng đọng vào xương tốt hơn Quá trình lắng đọng canxi vào xương có vai trò của các
Trang 20enzyme photphataza Phối hợp vitamin D và vitamin A, quá trình này càng tốt hơn Vì vitamin D giúp cho canxi lắng đọng hoàn chỉnh xương; còn vitamin
A giúp cho bộ xương phát triển
- Vitamin D làm tăng quá trình thở và trao đổi chất ở mức độ tế bào, tăng cường chức năng gan và đường tiêu hóa
- Vitamin D có tác dụng chống dị ứng
- Do vitamin D trực tiếp điều chỉnh quá trình trao đổi canxi và photpho cho nên trong thức ăn phải giữ đúng nguyên tắc tỷ lệ hàm lượng canxi : photpho (2:1) nhằm tránh những rối loạn trao đổi khác mà vitamin tham gia
Nếu dùng quá liều vitamin D sẽ gây ra một loạt những hậu quả xấu như: tăng canxi huyết, tích tụ các muối của canxi lên thành mạch gây cứng mạch, lắng đọng vôi trong mạch máu, trong tim, hoại tử và sau đó lắng đọng vôi ở trong các tổ chức nhu mô, giảm sự ngon miệng, buồn nôn, trong nước tiểu có hàm lượng albumin và các tế bào trụ cao
Các vitamin hòa tan trong chất béo, đặc biệt là vitamin D tích lũy trong
cơ thể lâu hơn, có thể gây chứng thừa vitamin Song liều lượng hàng ngày phải gấp ngàn lần liều bình thường mới gây tình trạng thừa
Thức ăn nếu thiếu vitamin D thì có khoảng 20% canxi được hấp thu Nếu có vitamin D thì lượng hấp thu lên đến 50- 80% Mức độ hấp thu photpho cũng tùy thuộc vào canxi Canxi được dự trữ trong các mô mềm dưới dạng kết hợp với protein thành một chất gọi là protein liên kết với canxi Canxi rất có ái lực với protein này, do đó mức độ hấp thu canxi liên hệ rất chặt chẽ với loại protein này vì có hệ số liên hệ lớn (r = 0,99) Sự hấp thu và
sử dụng vitamin D2 và D3 gần như nhau ở bò, lợn, riêng ở gà chỉ sử dụng được vitamin D3 (vitamin D2 chỉ sử dụng được 1/35 vitamin D3)
2.4.3 Một số vấn đề về chuyển hóa và hấp thu vitamin D
Vitamin D3 phải trải qua hai phản ứng hydroxyl - hóa ở gan và thận để trở thành chất có hoạt tính sinh học Tại tế bào gan, enzim 25 - hydroxylaza
Trang 21gắn một OH vào vị trí cacbon 25 và tại tế bào thận enzim 1 - α - hydroxylaza gắn thêm một OH vào cacbon 1 α để cho ra 1,25 (OH)2 - colecanxiferol, có hoạt tính hormon:
Đối với chất vitamin D2, còn gọi là ergocanxiferol có nguồn gốc từ men bia, các thực vật, sự chuyển hóa trong cơ thể động vật để trở thành hoạt chất á
- hormon cũng diễn ra theo cách tương tự
Ergorcanxiferol (Vitamin D2)
Hợp chất 1,25 - dehydroxycanxiferol
Trang 22Tuy nhiên đối với việc phòng trị chứng còi xương ở gia cầm non, hiệu lực của colecanxiferol (vitamin D3) cao gấp 10 lần so với ergocanxiferol (vitamin D2)
Nhờ những nghiên cứu của Ousterhout (1980) [33] cơ chế hoạt động điều tiết hàm lượng canxi - photpho ở động vật được thể hiện qua sơ đồ sau:
Vitamin D chỉ đạo sự thay đổi canxi và photpho trong cơ thể và do đó nó cần thiết cho sự lớn lên của xương cũng như sự tạo thành vỏ trứng Vitamin D làm vách ruột tăng hấp thu canxi, dưới dạng vitamin D+, Ca++ tham gia chuyển vận canxi và photpho ở ruột, xương và thận Vitamin D còn kích thích tái hấp thu các photphat ở ống thận, duy trì cân bằng Ca/P trong cơ thể Từ đó vitamin
D điều hòa việc hóa xương Tỷ lệ Ca/P bình thường 1/1 – 2/1 Nếu thiếu vitamin D tỷ lệ này lớn, gia cầm non dễ bị còi xương, nhất là khi hàm lượng canxi lớn mà hàm lượng photpho vẫn bình thường thì còi xương càng nhanh Điều này là do thiếu sự vững chắc của tế bào sụn mà các tế bào hóa xương của
mô sụn ở các xương ống bị phá hoại Ở gà mái đẻ trước hết là giảm số trứng đẻ
ra và chất lượng trứng ấp do đó làm tỷ lệ nở cũng giảm xuống
XƯƠNG
Ca3(PO4)2
THẬN 1,25 – (OH)2 – Colecanxiferol (canxitriol)
RUỘT NON
GAN
25 – Colecanxiferol
(OH)-Ca3(PO4)2
Ca++
PO4 -
Vitamin D3 Da
Trang 23Quá nhiều vitamin D3 cũng gây ảnh hưởng có hại, nó gây sự tích lũy không bình thường của canxi bên ngoài mô xương
Vitamin D2, D4, D5 ảnh hưởng đến gia cầm ít hơn D3 Nói chung nhóm vitamin D nhạy cảm với tác động của các chất khoáng
Một đơn vị quốc tế (UI) của vitamin D3 tương đương 0,025µg vitamin nguyên chất 1mg D2 hay D3 có giá trị 40.000UI trên động vật có vú Đối với gia cầm 1mg D3= 40.000UI, còn 1mg D2 chỉ có giá trị 1000UI
2.4.4 Biểu hiện thiếu hụt vitamin D
Thiếu vitamin D gia cầm non dễ mắc bệnh còi xương, giảm sinh trưởng
và lượng thức ăn thu nhận, gà mái đẻ sẽ bị giảm số lượng trứng và chất lượng trứng ấp dẫn đến giảm tỷ lệ nở (Hybrid, 2010) [26] Ngoài ra những biểu hiện khác khi thiếu vitamin D đó là xương chân và xương lưỡi hái cong, dị dạng;
gà đẻ bị bệnh xốp xương, xương dễ gẫy, bại liệt chân, lòng trắng trứng loãng,
vỏ trứng mỏng, dễ vỡ, tỷ lệ ấp nở thấp, phôi chết nhiều ở ngày thứ 19-20
2.4.5 Một số trạng thái bệnh lý do thiếu hụt Vitamin D
+ Chứng xốp xương ở gà mái đẻ
Gà mái đẻ cần khoảng 2g canxi cho việc tạo nên 1 vỏ trứng với thành phần chính là canxicacbonat (CaCO3), do đó hàm lượng canxi huyết phải bảo đảm mức cao (18 – 25 mg% hoặc cao hơn nữa) Vào thời kỳ chuẩn bị đẻ, sự hấp thu và tích lũy canxi được đẩy mạnh, trong xương xuất hiện những bọt xương hoặc gai xương mà người ta gọi chung là xương phần tủy (Medullary bones) Đây là dạng canxi dự trữ rất linh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu sinh sản
ở gà mái đẻ So với gà giò hoặc gà mái tơ thì mức độ hấp thu canxi ở gà mái
đẻ cao hơn gấp 2 - 3 lần
Trang 24Thời kỳ phát triển Tỷ lệ hấp thu %
(Theo tài liệu của tạp chí Poultry Science, 1982) [34]
Khi thiếu vitamin D quá trình hấp thu canxi bị hạn chế gà mái đẻ dễ mắc bệnh xốp xương Chứng xốp xương của gà mái đẻ được Konchen miêu tả đầu tiên năm 1955 và được gọi là bệnh mệt mỏi tế bào, hay bệnh liệt tế bào
Nó xuất hiện khi gia cầm không sử dụng được canxi để phục hồi lại sự thiếu hụt của nó trong cơ thể Chứng xốp xương làm giảm sút nhanh chóng năng suất đẻ trứng gây liệt ở gà, làm cho gà đẻ trứng không bình thường, vỏ trứng mỏng hoặc hoàn toàn không cò vỏ trứng Theo Issebacherm, 1981[27] thì khi thiếu hụt canxi sự bài tiết hormon sinh dục gonadotropin cũng bị ức chế
+ Chứng co giật cơ và cứng cơ (tetania)
Khi bị thiếu vitamin D hoặc do thiểu năng tuyến phó giáp trạng làm giảm thấp canxi huyết (hypocalcemia) là nguyên nhân gây chứng co giật cơ
và cứng cơ Tuy nhiên rối loạn tiêu hóa, nôn mửa nhiều nên mất H+ dẫn tới trạng thái kiềm huyết cũng có thể gây thấp canxi huyết
+ Bệnh còi xương ở gà con
Gà con đặc biệt nhạy cảm với khẩu phần thiếu canxi hoặc thiếu vitamin
D Chỉ cần 3 - 4 ngày là đã có biểu hiện bệnh lý của chứng còi xương (rachitis) Khi khẩu phần ăn thiếu vitamin D và thiếu tác động ánh sáng tia tử ngoại thì gà con ngay từ tháng đầu sau khi nở đã có biểu hiện chậm phát triển
và mắc chứng còi xương: chúng kém vận động, lông xơ xác, màu xỉn, mỏ không cứng, bị vẹo và hay dính thức ăn Mức độ trầm trọng của chứng còi xương lệ thuộc rất nhiều vào thành phần thức ăn Trong nghiên cứu Carver,
Trang 25Evans, McGinmis (1946) trên 45 đàn gà thí nghiệm với khẩu phần có tỷ lệ canxi và photpho khác nhau, đã xác nhận rằng gà bị còi xương nặng khi ăn 0,5% canxi và 0,5% photpho và cần 60UI vitamin D3 cho 100g thức ăn để phòng ngừa còi xương
Nếu khẩu phần chứa 1,6% canxi và 0,8% photpho thì gà phát triển bình thường ngay cả khi không có vitamin và chỉ cần thêm 20UI vitamin D3, tức là
ít hơn thí nghiệm trước 3 lần để phòng ngừa chứng còi xương Nhiều nghiên cứu đã xác định rằng tỷ lệ Ca/P tối ưu của khẩu phần gà con nằm trong giới hạn 1,3 - 1,7 (Issebacherm, 1981) [27]
Thức ăn khoáng chứa nhiều fluo cũng dễ gây ra chứng còi xương ở gà con, vì nguyên tố này ở nồng độ cao có tác dụng ức chế hệ thống enzyme tổng hợp chất nền mucopolysacarit, do đó cản trở quá trình lắng đọng canxi ở xương (Neumeister, 1978) [32]
Như vậy để phòng ngừa bệnh còi xương ở gà con và xốp xương ở gà mái đẻ thì ngoài yếu tố khẩu phần đảm bảo tỷ lệ Ca/P thích hợp cần bổ sung thêm vitamin D mà đặc biệt là vitamin D3 với hàm lượng phù hợp
2.4.6 Nguồn cung cấp và cách bổ sung vitamin D
+ Nguồn cung cấp vitamin D
Vitamin D thường có trong dầu gan cá, sữa, lòng đỏ trứng Trong lá, rễ,
củ, quả, nấm và men bia có tiền vitamin D2 Tuy nhiên, vitamin D3 chỉ có trong dầu gan cá và vitamin D3 tổng hợp
+ Cách bổ sung vitamin D
Trong chăn nuôi tự nhiên, con vật được chăn thả ngoài trời, nhờ tác dụng của ánh sáng mặt trời mà chất 7-dehydrocholesterol biến đổi thành vitamin D3, thỏamãn được nhu cầu của chúng Trái lại trong chăn nuôi công nghiệp, con vật bị nuôi nhốt, khả năng tự tổng hợp vitamin D3 không thực hiện được Vì vậy cần bảo đảm chế độ chiếu sáng và bổ sung vitamin D3 tổng hợp vào thức ăn cho gia cầm
Trang 262.4.7 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về vitamin D 3 trong chăn nuôi gia cầm
Trong chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà mái đẻ nói riêng, vitamin D là một trong những vitamin đóng vai trò quan trọng nhất Vitamin
D tham gia vào quá trình trao đổi chất khoáng, protein và lipid Giúp điều hòa quá trình gắn kết Ca, P và Mg vào xương, kích thích các phản ứng oxy hóa khử Nhu cầu vitamin D tùy thuộc vào giống gà, gà có sức sinh trưởng và năng suất trứng cao thì nhu cầu vitamin D cao, gà nuôi nhốt trong chuồng thiếu ánh sáng thì nhu cầu vitamin D cũng cao, khẩu phần không cân đối canxi và photpho cũng khiến gà cần nhiều vitamin D (Dinh dưỡng trong chăn nuôi gia cầm, 2011) [1]
* Tình hình nghiên cứu trong nước
So với vitamin A, vitamin D được khuyến cáo rằng chỉ nên cung cấp với tỷ lệ: D/A = 1/8-1/10, không nên cung cấp dư vitamin A và D (quá 25000UI/kg thức ăn đối với vitamin A; 5000UI/kg thức ăn đối với vitamin D3) vì sẽ gây vôi hóa ở thận, nếu kèm với dư protein thì tình trạng dư thừa sẽ nguy hiểm dễ gây chết (Dinh dưỡng trong chăn nuôi gia cầm, 2011) [1] Còn theo Lê Hồng Mận và Nguyễn Thanh Sơn (2011) [5] cho rằng nuôi gà nhốt thường bị thiếu D3 nhất là ở chuồng tối bị thiếu ánh sáng mặt trời sẽ không có tác động của tia cực tím lên gà để tạo vitamin D3 Vì vậy, cần phải bổ sung vitamin D3 vào thức ăn, thường có trong thành phần premix vitamin gia cầm Hàm lượng D3 trong thức ăn gà con 2000-2200, gà đẻ 1500UI/kg Trong thức
ăn men bia, bột cá, lòng đỏ trứng, nhất là dầu cá có nhiều vitamin D Theo một khuyến cáo khác của Nguyễn Xuân Bình (2001) [11] mức bổ sung vitamin D3 vào thức ăn theo tỷ lệ: Gà con từ 1500-2000UI/kg thức ăn; Gà giò
từ 1200-2000UI/kg thức ăn; Gà đẻ từ 2000-3000UI/kg thức ăn
Trang 27* Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vitamin D3
hay 25-OH-D3 cho gia cầm nói chung và cho gà mái sinh sản nói riêng Theo Albers và CS (2002) [17] tác động khi bổ sung vitamin D3 là ảnh hưởng tốt đến trao đổi chuyển hóa canxi, photpho, ngoài ra còn tăng sức đề kháng Mức bổ sung vitamin D3 thích hợp cho gà đẻ giống là từ 2500-3500UI/kg thức ăn Lazaro và CS (2008) [29], Hellwig (2010) [24] thì đều cho rằng nhu cầu vitamin D3 thích hợp cho gà đẻ giống thịt nuôi nền là 3000UI/kg thức ăn Còn Hybrid (2010) [26] thì cho rằng nhu cầu vitamin
D3 cho gà đẻ giống thịt 6-30 tuần tuổi phải tăng 20% so với mức quy định năm 2000 từ 3000 lên 3600UI/kg thức ăn mới thích hợp Vì khi thiếu vitamin D3 sẽ làm giảm sinh trưởng và lượng thức ăn thu nhận, tỷ lệ sã cánh cong lườn tăng, tăng tỷ lệ trứng mỏng vỏ, dập vỡ Giảm sản lượng trứng, tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ ấp nở
Nghiên cứu của Atencio và CS (2006) [19] trên gà mái sinh sản Ross hướng thịt từ 25-66 tuần tuổi với 3 mức bổ sung vitamin D3 (1000; 2000 và 4000UI/kg thức ăn) đã cho kết quả tăng tỷ lệ đẻ rõ rệt ở lô bổ sung 2000 và 4000UI/kg thức ăn (lần lượt là: 62,6 và 63,2%) so với lô chỉ bổ sung 1000UI/kg thức ăn (58,8%) Ngoài ra tỷ lệ ấp nở cũng bị ảnh hưởng rõ rệt, lô
2000 và 4000UI/kg thức ăn cho tỷ lệ ấp nở đạt 92,0 và 93,1%, trong khi lô sử dụng 1000UI/kg thức ăn chỉ đạt 88,2% Tỷ lệ chết phôi kỳ 1, 2 và 3 ở lô sử dụng mức 4000UI/kg thức ăn cũng giảm hơn rất nhiều so với lô sử dụng mức
1000 và 2000UI/kg thức ăn
Còn theo Mohammad và CS (2010) [31] nghiên cứu ảnh hưởng của các mức canxi (3 mức: 3,13; 2,85; 2,56%), photpho (3 mức: 0,41; 0,37; 0,33%) và vitamin D3 (2 mức: 3000 và 3300UI) đến hàm lượng canxi, photpho và magie trong máu, tỷ lệ nở và năng suất của gà mái sinh sản hướng thịt Ross 308 từ
Trang 2820-50 tuần tuổi Kết thúc thí nghiệm phân tích thống kê cho thấy tất cả các chỉ tiêu theo dõi (chất lượng vỏ trứng; tỷ lệ đẻ; tỷ lệ ấp nở; khối lượng trứng; FCR) đều bị ảnh hưởng bởi yếu tố thí nghiệm trong đó tỷ lệ đẻ và FCR, tỷ lệ
ấp nở là bị ảnh hưởng rõ rệt (P<0,05) Còn khối lượng trứng thì bị ảnh hưởng không đáng kể
3000UI/kg TA
Thí nghiệm 3300UI/kg TA
(Mohammad và CS, 2010) [31]
Với 25(OH)D3, Torres và CS (2009) [41] đã nghiên cứu ảnh hưởng của
25(OH)D3 đến sức sản xuất của gà mái sinh sản hướng thịt Cobb Thí nghiệm được tiến hành trên 500 con gà với 4 lô thí nghiệm là: 2000; 3400UI vitamin
D3/kg thức ăn và 2000UI D3+35mg 25(OH)D3/tấn thức ăn; 2000UI D3+69mg 25(OH)D3/tấn thức ăn Kết quả cho thấy 25(OH)D3 không ảnh hưởng đáng kể đến sức sản xuất trứng của gà từ 32-67 tuần tuổi Tuy nhiên bổ sung 25(OH)D3 cho chất lượng vỏ trứng tốt hơn (đánh giá ở 60 tuần tuổi) Và không có sự khác biệt đáng kể khi quan sát trên tỷ lệ nở của trứng có phôi ở thời điểm 54 và 64 tuần tuổi Mức bổ sung 2000UI D3/kg thức ăn làm giảm tỷ
lệ chết phôi kỳ 3 ở 64 tuần tuổi và giảm tỷ lệ chết phôi kỳ 2 ở 67 tuần tuổi Ngoài ra mức bổ sung 2000UI D3+69mg 25(OH)D3 cũng làm giảm tỷ lệ chết phôi kỳ 2 ở 67 tuần tuổi Thí nghiệm cũng chỉ ra rằng bổ sung 25(OH)D3 kết hợp vitamin D3 cho ảnh hưởng tương tự đến sức sản xuất của gà mái sinh sản với khẩu phần chỉ bổ sung vitamin D3
Trang 29Một nghiên cứu khác bổ sung 6000UI/kg thức ăn và 15000UI/kg thức
ăn (so với khẩu phần đối chứng là 2500UI vitamin D3/kg thức ăn của Mattila
và CS (2004) [30] trên gà đẻ thương phẩm chỉ ra rằng bổ sung vitamin D3 đã làm tăng hàm lượng vitamin D trong lòng đỏ trứng một cách rõ rệt Và ở các nhóm gà mái được bổ sung là 6000 và 15000UI vitamin D3/kg thức ăn thì hàm lượng vitamin D trong lòng đỏ trứng đạt lần lượt là: 9,1- 13,6 và 25,3-
33,7 µg/100g trứng, cao hơn hẳn so với lô đối chứng từ 2,5- 5 µg/100g trứng
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng bổ sung vitamin D3 đã làm cải thiện rõ rệt độ chắc khỏe của xương (P<0,05) và cho hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn McCormack và CS (2002) và Whitehead (2002) (dẫn theo Mattila và CS, 2004) [30] cũng chỉ ra rằng khi sử dụng mức vitamin D3 5000UI/kg thức ăn cho gà đã làm cho quá trình tích lũy khoáng ở xương tốt hơn
Theo DSM (2006) [22] mức vitamin D3 bổ sung tối ưu cho gà đẻ trứng
là từ 2500- 3500UI/kg thức ăn nhưng năm 2011[23] đã nâng mức vitamin D3
cho gà đẻ giống thịt 3000-5000UI/kg thức ăn Ngoài ra còn rất nhiều nghiên cứu khác về vitamin D3 trên gia cầm như của Atencio và CS (2005) [18] thí nghiệm trên gà mái sinh sản, Rama Rao và CS (2009) [36] thí nghiệm trên gà broiler Trong đó mức bổ sung 3600UI D3/kg thức ăn được cho là tốt nhất cho sinh trưởng và phát triển xương của gà broiler, với khẩu phần có tỷ lệ Ca:P là
0,5 và 0,25% (Rama Rao và CS, 2009) [36]
2.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sức đẻ trứng của gia cầm
Sức đẻ trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, mỗi yếu tố ảnh hưởng đến sức đẻ trứng ở mức độ nhất định Một số yếu tố chính ảnh hưởng đến sức đẻ trứng của gia cầm như các yếu tố di truyền cá thể, giống, dòng gia cầm, tuổi, chế độ dinh dưỡng, điều kiện ngoại cảnh (Nguyễn Thị Mai và CS, 2009) [8]
Trang 30+ Các yếu tố di truyền cá thể :
Sức đẻ trứng: Là một tính trạng số lượng có lợi ích kinh tế quan trọng của gia cầm với con người Có 5 yếu tố di truyền ảnh hưởng đến sức đẻ trứng của gia cầm: tuổi thành thục sinh dục, cường độ đẻ trứng, tính nghỉ đẻ, thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học và tính ấp bóng
Tuổi thành thục sinh dục là một yếu tố năng suất trứng và có liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm Thành thục sớm cũng là một tính trạng mong muốn, tuy nhiên cần phải chú ý đến khối lượng cơ thể Tuổi bắt đầu đẻ và kích thước cơ thể có tương quan nghịch Chọn lọc theo hướng tăng khối lượng trứng sẽ làm tăng khối lượng cơ thể gà và làm tăng tuổi thành thục sinh dục Tuổi thành thục sinh dục của cá thể được xác định thông qua tuổi đẻ quả trứng đầu tiên Tuổi thành thục của một nhóm hay một đàn gia cầm được xác định theo tuổi đạt tỷ lệ đẻ 5%
Thể trạng và độ dài ngày chiếu sáng ảnh hưởng đến khả năng thành thục sinh dục, những gà thuộc giống có tầm vóc nhỏ thì phần lớn bắt đầu đẻ trứng sớm hơn những giống gà có tầm vóc lớn
Ngoài ra, tuổi thành thục sinh dục sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, loài, giới tính, thời gian nở ra trong năm… Gà hướng trứng tuổi thành thục sớm hơn gà hướng thịt Thời gian gà đẻ mạnh là vào những ngày ngắn của mùa thu đông, điều đó cũng nói lên rằng thời gian chiếu sáng trong ngày ảnh hưởng đến tuổi thành thục sinh dục Theo Đặng Hữu Lanh và CS (1999) [3] cho biết, hệ số di truyền của tính trạng này là h2 =32 Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn Theo Dale và CS (2003) [21] cho rằng, cường độ đẻ trứng thường được xác định theo khoảng thời gian 30- 60 ngày
và 100 ngày Các tác giả này còn cho biết, đối với các giống gà chuyên trứng cao sản thường có cường độ đẻ trứng lớn nhất vào tháng thứ hai và ba sau đó giảm dần đến hết năm đẻ Nguyễn Mạnh Hùng và CS (1994) [9] cùng nhiều
Trang 31tác giả khác cho biết, sự tương quan rất chặt chẽ giữa cường độ đẻ trứng của 3-4 tháng đầu tiên với sức đẻ trứng cả năm Vì vậy, người ta thường dùng cường độ đẻ trứng ở 3-4 tháng tuổi đầu tiên để dự đoán sức đẻ trứng của gia cầm mà ghép đôi và chọn lọc giống Cường độ đẻ trứng còn liên quan mật thiết với thời gian hình thành trứng và chu kỳ đẻ trứng,
Thời gian nghỉ đẻ: Ở gà, thường có hiện tượng nghỉ đẻ trong một thời gian, có thể kéo dài trong năm đầu đẻ trứng, từ vài ngày tới vài tuần, thậm chí kéo dài 1-2 tháng
Tính ấp bóng hay bản năng đòi ấp trứng: Đây là phản xạ không điều kiện có liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm
Các yếu tố di truyền cá thể phụ thuộc vào các gen khác nhau và ảnh hưởng ở mức độ khác nhau đến sức đẻ trứng Muốn nâng cao sức đẻ trứng qua một số ít thế hệ phải bắt đầu chọn lọc trên cả 5 yếu tố nói trên
+ Giống, dòng gia cầm
Giống, dòng gia cầm có ảnh hưởng rất lớn đến sức sản xuất trứng của gia cầm Các giống khác nhau có khả năng đẻ trứng là khác nhau: giống gà nội thường có sản lượng trứng thấp hơn so với các giống gà nhập ngoại
+ Tuổi gia cầm
Tuổi gia cầm cũng liên quan đến năng suất trứng Sản lượng trứng của
gà giảm dần theo tuổi Thường thì sản lượng năm thứ 2 giảm 15-20% so với năm thứ nhất (Nguyễn Thị Mai và CS, 2009) [8] Một số loại gia cầm như vịt
và ngỗng thì sản lượng trứng năm thứ 2 cao hơn năm thứ nhất
+ Chế độ dinh dưỡng
Thức ăn và dinh dưỡng có quan hệ chặt chẽ với khả năng để trứng Muốn gia cầm có sản lượng trứng cao, chất lượng trứng tốt thì phải đảm bảo một khẩu phần ăn đầy đủ và cân bằng chất dinh dưỡng theo nhu cầu Quan trọng nhất là cân bằng giữa năng lượng và protein, cân bằng các axit amin,
Trang 32cân bằng các chất khoáng và vitamin Thức ăn có chất lượng kém sẽ không thể cho năng suất cao, thậm chí còn gây bệnh cho gia cầm Các loại thức ăn bảo quản không tốt bị nhiễm nấm mốc, các loại thức ăn bị nhiễm độc kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật Thậm chí các loại thức ăn bảo đảm đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng nhưng bảo quản không tốt cũng sẽ không phát huy được tác dụng trong chăn nuôi gia cầm (Nguyễn Thị Mai và CS, 2009) [8]
+ Điều kiện ngoài cảnh
Các yếu tố ngoại cảnh như: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, mùa vụ ảnh hưởng rất lớn tới sức để trứng của gia cầm
Nhiệt độ môi trường cao làm giảm lượng thức ăn thu nhận, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn từ đó làm giảm năng suất trứng và chất lượng trứng (Nguyễn Thị Mai và CS, 2009) [8] Vỏ trứng mỏng hơn bình thường nếu kết hợp với dinh dưỡng không hợp lý thì gia cầm đẻ trứng không có vỏ
Liên quan chặt chẽ với nhiệt độ là độ ẩm không khí của chuồng nuôi Độ
ẩm thích hợp từ 65-70%
Ngoài nhiệt độ và độ ẩm, chế độ chiếu sáng cực kỳ quan trọng trong chăn nuôi gia cầm nói chung và gà đẻ trứng nói riêng Gia cầm không chỉ cần ánh sáng để nhìn và tìm thức ăn, nước uống, nơi ở mà nó còn khởi động cơ quan sinh dục Theo Nguyễn Thị mai và CS (2009) [8] võng mạc và não bộ của gia cầm rất nhạy cảm với kích thích của ánh sáng Cơ chế dẫn truyền kích thích của ánh sáng là cơ chế thần kinh - thể dịch mà tuyến yên là trung tâm truyền dẫn, chỉ những ánh sáng có bước sóng dài mới đi qua được Vì vậy muốn kích thích cơ quan sinh dục, cần sử dụng ánh sáng ấm với nhiều màu đỏ
và cam Trong chăn nuôi gà đẻ, có thể sử dụng ánh sáng tự nhiên hoặc nhân tạo để chiếu sáng cho gà với cường độ chiếu sáng từ 3-3,5W/m2, (Ron Meijerhof, 2006) [37] Thời gian chiếu sáng thích hợp là 14-16giờ/ngày đối với gà mái đẻ trong giai đoạn đẻ trứng
Trang 332.6 Giới thiệu giống gà ISA-JA57
ISA-JA57 là dòng gà mái sinh sản kiêm dụng lông màu được nhập nội
từ Pháp Với khả năng ưu việt là vừa cho thịt và cho trứng Theo các số liệu của công ty sản xuất gà ISA-JA57 đưa ra thì gà mái sinh sản ISA-JA57 có tỷ
lệ đẻ khá cao, thời gian đẻ dài và tiêu tốn thức ăn thấp Tại Pháp, ở 64 tuần tuổi, 75% gà mái đẻ ISA-JA57 cho tổng trứng đẻ ra/chuồng gà mái đạt 233,1 quả; số trứng nở/chuồng gà mái đạt 226,5 quả; tỷ lệ nở trung bình đạt 84,3%; gà con loại 1/chuồng gà mái đạt 191,0 con Và 25% tốt nhất cho tổng trứng đẻ ra/chuồng gà mái đạt 238,0 quả; số trứng nở/chuồng gà mái đạt 232,1 quả; tỷ lệ nở trung bình đạt 84,5%; gà con loại 1/chuồng gà mái đạt 196,1 con Thu nhận thức ăn 119-122g/con/ngày (đối với thức ăn năng lượng cao: 2800-2850kcal/kg thức ăn) và 125-128g/con/ngày (đối với thức
ăn năng lượng thấp: 2700-2750kcal/kg thức ăn ở 23-30 tuần tuổi
(www.hubbardbreeders.com) [42]
Hiện nay, tại Xí nghiệp giống gia cầm Lạc Vệ - Tiên Du - Bắc Ninh,
gà mái sinh sản ISA-JA57 được nuôi trên lồng (2con/lồng) trong chuồng kín
và được thụ tinh nhân tạo (5 ngày/lần) với con trống là gà Mía Mục đích là tạo ra con lai thương phẩm hướng thịt
Trang 343 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Gà thí nghiệm: Thí nghiệm được tiến hành trên gà mái sinh sản
ISA-JA57 là giống gà lông màu nhập nội từ Pháp từ 22 đến 40 tuần tuổi
Hình 3.1: Gà thí nghiệm
- Vitamin D: là vitamin thuộc nhóm tan trong dầu mỡ có màu trắng,
dạng bột mịn Hàm lượng vitamin D3 : 500.000UI/g, do hãng Basf sản xuất
và cung cấp
3.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành tại Xí nghiệp giống gia cầm Lạc Vệ - Tiên
Du – Bắc Ninh
3.2.2 Thời gian
Thí nghiệm được tiến hành trong 19 tuần, từ tháng 9/2011 đến tháng 01/2012
Trang 353.3 Nội dung nghiên cứu
- Ảnh hưởng của các mức vitamin D bổ sung vào thức ăn đến lượng thức ăn thu nhận và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà thí nghiệm
- Ảnh hưởng của các mức vitamin D bổ sung vào thức ăn đến tỷ lệ đẻ
và năng suất trứng của gà thí nghiệm
- Ảnh hưởng của các mức vitamin D bổ sung vào thức ăn đến một số chỉ tiêu chất lượng trứng gà ISA-JA57 (khối lượng trứng, tỷ lệ trứng dập vỡ
và tỷ lệ trứng dị hình)
- Ảnh hưởng của các mức vitamin D bổ sung vào thức ăn đến khả năng
ấp nở của trứng gà giống ISA-JA57
- Hiệu quả của việc bổ sung các mức vitamin D khác nhau trong thức
ăn của gà thí nghiệm
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh theo mô hình một nhân tố Giữa các lô đảm bảo sự đồng đều về giống và tuổi gà thí nghiệm, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quy trình phòng bệnh và vệ sinh thú y, chỉ khác nhau về yếu tố thí nghiệm: Mức bổ sung vitamin D trong thức ăn
Gà thí nghiệm được nuôi trên lồng (2 con/lồng) trong chuồng kín Trong chuồng có hệ thống quạt gió, hệ thống làm mát, có trần nhựa và hệ thống đèn chiếu sáng
Chọn gà thí nghiệm: Lựa chọn 192 gà mái đẻ ISA-JA57 ở 22 tuần tuổi,
có khối lượng trung bình của giống và khoẻ mạnh Gà được chia làm 4 lô: 1 lô đối chứng (ĐC) và 3 lô thí nghiệm (TN) với các mức bổ sung lần lượt là 3000; 3500; 4000 và 4500UI vitamin D/kg thức ăn trong khẩu phần cơ sở Giữa các
lô được đánh dấu rõ ràng Thí nghiệm được lặp lại 3 lần (16 con/lần lặp/lô) Bố trí thí nghiệm được trình bày theo sơ đồ 1:
Trang 36TĂ cơ sở TAHH Dabaco TAHH Dabaco TAHH Dabaco TAHH Dabaco Vitamin D bổ
Gà thí nghiệm được nuôi theo quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc của Xí nghiệp giống gia cầm Lạc Vệ - Tiên Du - Bắc Ninh Khẩu phần cơ sở là thức
ăn hỗn hợp Dabaco theo tiêu chuẩn cho gà ISA-JA57 Thức ăn dạng bột Thành phần dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp Dabaco và tiêu chuẩn ăn cho gà
đẻ lông màu sau 18 tuần tuổi được trình bày ở bảng 3.1 và bảng 3.2:
Bảng 3.1 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp Dabaco
cho gà sinh sản ISA-JA57
Trang 37Bảng 3.2 Tiêu chuẩn ăn của gà giống sinh sản hướng thịt từ 21 đến 64
tuần tuổi (Tiêu chuẩn Việt Nam – 2007) [14]
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi
- Lượng thức ăn thu nhận (g/con/ngày)
- Hiệu quả sử dụng thức ăn (kg thức ăn/10 quả trứng và kg thức ăn/10 trứng giống)
- Tỷ lệ đẻ của gà trong thời gian thí nghiệm (%)
- Năng suất trứng (quả/mái/tuần)
- Năng suất trứng giống (quả/mái/tuần)
- Khối lượng trứng (g/quả)
Trang 38- Tỷ lệ nở (%)
- Tỷ lệ gà con loại 1 (%)
- Tình hình bệnh tật của gà trong thời gian thí nghiệm
- Khối lượng gà thí nghiệm tại các thời điểm: bắt đầu thí nghiệm; khi tỷ
lệ đẻ đạt 50%; khi tỷ lệ đẻ đạt đỉnh cao và thời điểm kết thúc thí nghiệm
3.4.3 Phương pháp trộn vitamin D vào thức ăn
Sử dụng phương pháp trộn tăng dần về khối lượng, trộn thủ công bằng tay, cứ 3 ngày trộn một lần để đảm bảo không ảnh hưởng đến chất lượng thức
ăn Thời gian trộn đều vào buổi chiều, thức ăn trộn xong được bảo quản trong bao tải có hai lớp
3.4.4 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu
- Tỷ lệ đẻ trứng: Hàng ngày đếm chính xác số trứng đẻ ra và số gà ở mỗi lô
thí nghiệm Tỷ lệ đẻ được tính theo công thức (1):
Số trứng đẻ ra (quả)
Tỷ lệ đẻ (%) =
Số gà có mặt trong tuần (con) x 100 (1)
- Năng suất trứng (NST): Là số trứng đẻ ra trên số mái nuôi cho đẻ trong
khoảng thời gian quy định Năng suất trứng được tính theo công thức (2):
Số trứng đẻ ra trong tuần (quả) NST (quả/mái/tuần) =
Số gà trung bình trong tuần (con) (2)
- Tỷ lệ trứng dập vỡ: Hàng ngày, đếm chính xác số trứng đẻ ra bị dập, vỡ vỏ,
vỏ mềm, mỏng… Tỷ lệ trứng dập vỡ được tính theo công thức (3):
Số trứng dập vỡ trong tuần (quả)
Trang 39đỏ…) Hàng ngày đếm chính xác số lượng trứng này Tỷ lệ trứng dị hình
được tính theo công thức (4):
Số trứng dị hình trong tuần (quả)
Tỷ lệ trứng dị hình (%) =
Số trứng đẻ ra trong tuần (quả) x 100 (4)
- Khối lượng trứng (g/quả):
Cân trứng qua các tuần tuổi, mỗi tuần cân 3 ngày liên tiếp, cân toàn bộ
số trứng đẻ ra Cân từng quả một, bằng cân kỹ thuật có độ chính xác ± 0,01g
(cân điện tử của Nhật Bản)
- Tỷ lệ trứng giống: Hàng ngày đếm chính xác số trứng được chọn làm giống
(là số trứng đạt yêu cầu được chọn đưa vào ấp), tỷ lệ trứng giống được tính theo công thức (5):
Số trứng giống được chọn (quả)
Tỷ lệ trứng giống (%) =
Số trứng đẻ ra (quả) x 100 (5)
- Năng suất trứng giống (NSTG): Là số trứng giống đã được chọn trên số
mái nuôi cho đẻ trong khoảng thời gian quy định Năng suất trứng giống được
tính theo công thức (6):
Số trứng giống trong tuần (quả) NSTG (quả/mái/tuần) =
Số gà trung bình trong tuần (con) (6)
- Tỷ lệ trứng có phôi: Sau 6 ngày ấp soi trứng sinh học lần 1 để xác định tỷ lệ
trứng có phôi Đếm chính xác số trứng kiểm tra là có phôi Tỷ lệ trứng có phôi được tính theo công thức (7):
Số trứng giống có phôi (quả)
Tỷ lệ trứng có phôi (%) =
Số trứng đưa vào ấp (quả) x 100 (7)
Trang 40- Tỷ lệ trứng chết phôi kỳ 1 và 2: Sau 18 ngày ấp trước khi chuyển sang máy
nở soi trứng sinh học lần 2 để tính tỷ lệ trứng chết phôi kỳ 1 và 2 Đếm chính xác số trứng chết phôi Tỷ lệ trứng chết phôi kỳ 1 và 2 được tính theo công thức (8):
Số trứng chết phôi (quả)
Tỷ lệ trứng chết phôi kỳ1, 2(%) =
Số trứng có phôi (quả) x 100 (8)
- Tỷ lệ trứng chết phôi kỳ 3(tỷ lệ trứng tắc): Sau 21 ngày khi gà con nở ra,
đếm số lượng trứng không nở được để xác định tỷ lệ trứng chết phôi kỳ 3 Tỷ lệ trứng chết phôi kỳ 3 được tính theo công thức (9):
Số trứng đưa vào ấp (quả) x 100 (10)
- Tỷ lệ gà con loại 1: Đếm chính xác số gà con nở ra được xếp loại 1 Tỷ lệ gà
con loại 1 được tính theo công thức (11):
Số gà con loại 1 (con)
Tỷ lệ gà con loại 1 (%) =
Số trứng đưa vào ấp (quả) x 100 (11)
- Lượng thức ăn thu nhận:
Trong giai đoạn gà sinh sản, lượng thức ăn (TA) cho ăn phụ thuộc vào
tỷ lệ đẻ Hàng ngày vét sạch thức ăn trong máng và vào một giờ nhất định, cân chính xác lượng thức ăn cho ăn của mỗi lô thí nghiệm, vào giờ đó ngày hôm sau, cân lại thức ăn thừa trước khi cho ăn thức ăn mới Lượng thức ăn thu nhận (TATN) hàng ngày được tính theo công thức (12):