1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của hoạt động khu công nghiệp đại an, thành phố hải dương, tỉnh hải dương đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm

107 958 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 19,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên với sự mở rộng không ngừng quy mô của các khu công nghiệp và các hệ thống giám sát, hướng dẫn môi trường như hiện này thì việc kiểm soát ô nhiễm đôi khi còn chưa đáp ứng được h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

= = = = = = = = =

NGUYỄN KIỀU OANH

ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG KHU CÔNG NGHIỆP ĐẠI AN, THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP GIẢM

THIỂU Ô NHIỄM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Người hướng dẫn khoa học : TS Mai Văn Trịnh

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là

trung thực và chưa từng đăng báo hay công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin

đại chúng

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã

được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Mai Văn

Trịnh - Viện Môi trường Nông nghiệp, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi rất

tận tình, chu đáo trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo Khoa Tài nguyên

Môi trường, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã dành nhiều tâm huyết

để truyền đạt những kiến thức quí báu về chuyên ngành khoa học môi

trường cho chúng tôi

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ, chuyên viên Trung tâm

Quan trắc và Phân tích Môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường thuộc Sở

TNMT tỉnh Hải Dương; BQL Khu công nghiệp tỉnh Hải Dương đã tạo mọi

điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát, thu thập thông tin và tài liệu

liên quan để xây dựng luận văn

Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè tôi, những

người đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện

tại trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội

Hà Nội, ngày 15 tháng 04 năm 2012

Học viên

NGUYỄN KIỀU OANH

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN I MỞ ĐẦU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

PHẦN II TỔNG QUAN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG 3

2.1 Các hình thức tồn tại và phát sinh của các Khu công nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam 3

2.1.1 Trên thế giới 3

2.1.2 Việt Nam 5

2.2 Sự phát triển của khu công nghiệp và tác động của chúng đến môi trường 6

2.2.1 Sự phát triển KCN ở Việt Nam 6

2.2.2 Sự phát triển khu công nghiệp ở Hải Dương 8

2.2.3 Ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống kinh tế, xã hội và môi trường 11

2.3 Các kinh nghiệm xử lý, điều chỉnh khi có tồn tại, phát sinh và sự cố môi trường 19

2.3.1 Trên thế giới 19

2.3.2 Việt Nam 23

PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 26

3.2 Nội dung nghiên cứu 26

3.3 Phương pháp nghiên cứu 26

3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 26

3.3.2 Phương pháp lấy mẫu và phân tích 26

3.3.3 Phương pháp so sánh, đánh giá 29

3.3.4 Phương pháp xử lý 29

Trang 5

3.3.5 Phương pháp đánh giá và xếp loại theo chỉ số chất lượng nước WQI 30

3.3.6 Phương pháp xử lý thống kê 31

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở địa bàn khu công nghiệp Đại An 32

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 32

4.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 35

4.1.2.1 Hiện trạng dân số - xã hội thành phố Hải Dương 35

4.1.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội phường Tứ Minh, thành phố Hải Dương 36

4.1.2.3 Hiện trạng sử dụng đất phường Tứ Minh, thành phố Hải Dương 36

4.2 Sự phát triển của khu công nghiệp Đại An 37

4.2.1 Về không gian 37

4.2.2 Quy mô khu công nghiệp 40

4.2.3 Ảnh hưởng của hoạt động KCN Đại An đến môi trường 41

4.3 Hiện trạng môi trường nước khu công nghiệp Đại An 41

4.3.1 Hiện trạng chất lượng nước tại điểm tiếp nhận 42

4.3.2 Hiện trạng chất lượng nước tại điểm quan trắc nước thải trong các doanh nghiệp 47

4.4 Diễn biến chất lượng nước tại các điểm quan trắc cố định 53

4.4.1 Nước mặt và nước thải 53

4.4.2 Nước ngầm 62

4.5 Hiện trạng môi trường không khí khu công nghiệp Đại An 64

4.5.1 Điều kiện vi khí hậu 64

4.5.2 Môi trường không khí 65

4.5.3 Diễn biến chất lượng môi trường không khí tại các điểm quan trắc cố định 68

4.6 Ảnh hưởng của sự thay đổi của chất lượng môi trường nước 71

4.6.1 Chất lượng nước và sự phát triển của KCN 71

4.6.2 Chỉ số chất lượng nước 74

4.7 Giải pháp Bảo vệ môi trường 76

Trang 6

4.7.1 Các biện pháp bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp Đại An 76

4.7.2 Đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường 78

4.7.2.1 Giải pháp quản lý 78

4.7.2.2 Giải pháp kỹ thuật 80

PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82

5.1 Kết luận 82

5.2 Kiến nghị 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Lý lịch lấy mẫu khí trong và ngoài công ty 27

Bảng 3.2 Lý lịch mẫu nước 27

Bảng 3.3 Phương pháp và thiết bị quan trắc 28

Bảng 3.4 Phân loại chất lượng nước mặt theo chỉ số chất lượng nước 30

Bảng 4.1 Tổng hợp hiện trạng sử dụng đất năm 2009 37

Bảng 4.2 Sự phát triển của khu công nghiệp Đại An qua các năm [3] 38

Bảng 4.3 Kết quả phân tích nước thải KCN Đại An trước và sau khi xử lý 43

Bảng 4.4 Kết quả phân tích nước mặt 45

Bảng 4.5 Kết quả phân tích mẫu bùn thải của của hệ thống xử lý nước thải 46

Bảng 4.6 Chất lượng nước mặt và nước thải tại các doanh nghiệp trong KCN Đại An 48

Bảng 4.7 Đánh giá bằng điểm số các thông số quan trắc tại từng vị trí quan trắc 51

Bảng 4.8 Diễn biến chất lượng nước thải một số doanh nghiệp 54

Bảng 4.9 Diễn biến chất lượng nước tại nơi tiếp nhận nguồn nước thải sau xử lý (sông Sặt): 61

Bảng 4.10 Diễn biến nước ngầm khu dân cư Nhật Tân 63

Bảng 4.11 Đặc điểm vi khí hậu và tiếng ồn (11/7/2011) 65

Bảng 4.12 Loại và lượng nhiên liệu sử dụng cho nồi hơi của một số công ty trong KCN Đại An 66

Bảng 4.13 Kết quả phân tích môi trường không khí làm việc tại KCN Đại An (11/7/2011) 67

Bảng 4.14 Biến động các thông số không khí tại một số vị trí trong khu công nghiệp 68

Bảng 4.15 Chất lượng nước và sự phát triển của khu công nghiệp 72

Bảng 4.16 Bảng tính chỉ số WQI của các mẫu nước thải.……… … 74

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Tình hình phát triển KCN qua các năm 8

Hình 2.2 Nồng độ khí SO2 trong không khí xung quanh một số KCN miền Bắc từ năm 2006 – 2008 19

Hình 4.1 Sơ đồ quy hoạch sử dụng đất 32

Hình 4.2 Diễn biến nhiệt độ trung bình năm 2011 của tỉnh Hải Dương 33

Hình 4.3 Diễn biến lượng mưa năm 2011 của thành phố Hải Dương 34

Hình 4.4 Diễn biến phát triển dân số từ năm 2000 – 2011 35

Hình 4.5 Khu dân cư Đại An 39

Hình 4.6 Tỷ lệ lấp đầy trong khu công nghiệp Đại An qua các năm 40

Hình 4.7 Sự thay đổi cơ cấu các ngành nghề trong KCN Đại An qua các năm 41 Hình 4.8 Biến động hàm lượng TSS tại các vị trí qua các năm 56

Hình 4.9 Biến động hàm lượng BOD5 tại các vị trí qua các năm 57

Hình 4.10 Biến động hàm lượng COD tại các vị trí qua các năm 58

Hình 4.11 Biến động hàm lượng NH4+ tại các vị trí qua các năm 58

Hình 4.12 Biến động hàm lượng Coliform tại các vị trí qua các năm 59

Hình 4.13 Biến động hàm lượng Fe tại các vị trí qua các năm 59

Hình 4.14 Biến động hàm lượng Cd tại các vị trí qua các năm 60

Hình 4.15 Biến động hàm lượng CO, SO2 qua mỗi vị trí 70

Hình 4.16 Biến động hàm lượng NO2, bụi tổng qua mỗi vị trí 70

Hình 4.17 Diễn biến WQI nước thải trong KCN Đại An 75

Trang 10

PHẦN I MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Môi trường sống đã và đang trở thành một trong những vấn đề được quan tâm nhất và cũng là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại

Sự thay đổi của môi trường dù là rất nhỏ đều ảnh hưởng tới các sinh vật sống theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực Khai thác, sử dụng tối đa nguồn tài nguyên; không có biện pháp bảo vệ môi trường hợp lý là nguyên nhân dẫn đến môi trường đang ngày một xuống cấp nghiêm trọng

Hoà nhập với sự phát triển chung của thế giới, nền kinh tế Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ Nhiều dự án kinh tế được triển khai, mở rộng; các khu công nghiệp, cụm công nghiệp hình thành Bên cạnh những lợi ích to lớn

về mặt kinh tế xã hội thì lại phát sinh ra nhiều vấn đề môi trường

Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm của vùng châu thổ sông Hồng,

có nhiều tiềm năng về đất đai, con người và khả năng phát triển kinh tế - xã hội Hiện tại Hải Dương có 18 KCN được Chính phủ phê duyệt và bổ sung vào Quy hoạch phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, với tổng diện tích là 3.789 ha Sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương những năm qua đã góp phần tích cực trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, đóng góp đáng kể vào quá trình tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên với sự mở rộng không ngừng quy mô của các khu công nghiệp và các hệ thống giám sát, hướng dẫn môi trường như hiện này thì việc kiểm soát ô nhiễm đôi khi còn chưa đáp ứng được hoặc tốc độ phát triển của các khu công nghiệp đôi khi đi quá xa so với

hệ thống giám sát và quản lý môi trường hiện tại Những trường hợp đó đã gây không ít hậu quả cho môi trường và con người ở vùng dự án hoặc các vùng lân cận

ĐTM, hướng dẫn và cam kết bảo vệ môi trường là các công việc hết sức cần thiết giúp cho các hoạt động kinh tế được bền vững Trong suốt giai đoạn

Trang 11

phát triển những đánh giá, dự báo mà ĐTM đưa ra cần được các chủ thể sản xuất kinh doanh cam kết tuân theo và các đơn vị giám sát môi trường điều chỉnh hoạt động sản xuất phù hợp với quy mô của cơ sở hạ tầng về môi trường tại khu công nghiệp Tuy nhiên tốc độ và quy mô phát triển của sản xuất kinh doanh và hệ thống xử lý bảo vệ môi trường có thể không đồng bộ dẫn đến xuất hiện các sự cố ô nhiễm, tác động về mặt kinh tế, xã hội và môi trường xung quanh Để giải đáp được thắc mắc này và để tìm ra những tồn tại của một khu công nghiệp đang hoạt động, từ đó khắc phục và giúp cho họ có những điều chỉnh hợp lí đảm bảo sản xuất bền vững thì tôi xin tiến hành

nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của hoạt động khu công nghiệp Đại An, thành

phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu

ô nhiễm”

1.2 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU

1.2.1 Mục đích

- Xác định chất lượng môi trường tham chiếu của khu công nghiệp và

hiện trạng chất lượng môi trường sau nhiều năm hoạt động

- Nghiên cứu sử biến đổi chất lượng môi trường theo thời gian và quy

mô phát triển khu công nghiệp so với kết quả dự báo của đánh giá tác động môi trường (ĐTM)

- Đề xuất các phương án điều chỉnh sản xuất, hoạt động bảo vệ môi trường 1.2.2 Yêu cầu

- Số liệu thu thập đảm bảo chính xác

- Xác định được mức độ ảnh hưởng đến môi trường của hoạt động khu

công nghiệp

- Từ đó có những nhận xét, đánh giá và đề xuất được phương án khắc

phục, giảm nhẹ có tính khoa học và phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương

Trang 12

PHẦN II TỔNG QUAN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG

NGHIỆP VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG

2.1 Các hình thức tồn tại và phát sinh của các Khu công nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam

có thế kể ra bốn thế hệ của khu công nghiệp; gọi chung là Business Park [21]

Thế hệ đầu tiên của khu công nghiệp, được xây dựng vào những năm

1970, có thể được phân biệt với các thế hệ khác bởi cách sắp xếp văn phòng, kho tàng, kiến trúc khá đơn giản Các khu vực của các tòa nhà hành chính chiếm 10 - 15% tổng diện tích của công viên, công trình theo mẫu và cho thuê [38] Mặc dù hoàn hảo trong ý tưởng nhưng nhìn chung, tiêu chuẩn về quy hoạch và kiến trúc là thấp Với chức năng cơ bản là công nghiệp và tỷ lệ các bộ phận chức năng, đặc biệt là cây xanh chưa hợp lý; KCN thế hệ thứ nhất luôn biệt lập vào ban ngày, vắng vẻ vào ban đêm và khó có thể đạt được một chất lượng môi trường, dịch vụ và hạ tầng cao [21]

Trong giai đoạn từ năm 1975 và 1985, các khu công nghiệp văn phòng,

đã được sử dụng bởi các công ty kinh doanh với khoa học, công nghệ và kinh doanh chiếm không gian lớn hơn nhiều Đặc điểm khu công nghiệp thế hệ thứ hai này là một kiến trúc phức tạp hơn [32] Các KCN thế hệ thứ hai có xu hướng lấp đầy các khoảng trống còn lại ở vành đai đô thị, nhằm khôi phục và tiếp thêm sức sống cho các khu vực ngoại ô và nhằm xoá bỏ ấn tượng xấu về

Trang 13

kiến trúc và cảnh quan của các khu vực công nghiệp Ví dụ khu Chiswick (London, Anh), Irvine Spectrum (California, Hoa Kỳ) [21]

Kể từ nửa cuối những năm 1980, thế hệ thứ ba khu công nghiệp được xây dựng Các Business Park thế hệ thứ ba tuân thủ các nguyên tắc quy hoạch tổng thể và xây dựng cơ sở hạ tầng của một đô thị nhỏ mới Các công trình phục vụ công cộng được hợp thành một địa điểm nổi bật hay một trung tâm

đô thị nhỏ phục vụ các đơn vị phát triển Các đơn vị phát triển này với mật độ

và kích thước lô đất khác nhau tạo ra sự đa dạng cho mọi đối tượng sử dụng trong KCN Đại diện trong số này là một vài KCN thế hệ thứ ba như khu Stockley (Heathrow, Anh), Meridian (Carolina, Hoa Kỳ) [21]

Các tòa nhà hành chính và danh mục đầu tư các dịch vụ đặc trưng cho thế hệ thứ tư của khu công nghiệp đó bắt đầu phát sinh từ giữa những năm

1990 [38] Kể từ nửa cuối những năm 1990, khu công nghiệp đã là một phần của một mạng lưới quốc tế các khu hợp tác Tất cả Business Park thế hệ thứ

tư đều đạt được một trình độ tổ chức kỹ thuật, xã hội rất cao và có thể trở thành địa điểm nổi bật, có giá trị và quan trọng của toàn vùng Ví dụ khu Marina Village (California, Hoa Kỳ), Edinburgh (Edinburgh, Scotland) [21] Nền tảng của các khu công nghiệp được tìm thấy tại Anh, là nơi có hệ thống nhà máy và khu công nghiệp đầu tiên được thành lập Đây là những thiết lập bởi nhiều đơn vị sản xuất, các nhà máy đầu tiên xuất hiện ngẫu nhiên, tuy nhiên, sự xuất hiện sau đó lại đại diện cho một hành động có tổ chức theo ý tưởng nhất định về quy hoạch đô thị và chính sách khu vực Khu công nghiệp đầu tiên, Trafford Park, được thành lập bởi một công ty tên là Shipcanal và Docks gần Manchester vào năm 1896 [38]

Các khu công nghiệp được thành lập ở Đức, cũng vậy Khu công nghiệp đầu tiên được thành lập năm 1963 (Euro-Industriepark Munchen) Số lượng lớn khu công nghiệp và công viên với các công ty công nghiệp vừa và nhỏ xuất hiện sớm hơn trong nửa cuối của năm 1980 và cơ bản là một sáng kiến của nhà đầu tư

Trang 14

tự do Có 22 khu công nghiệp và đầu tư xuất hiện ở Tây Đức vào năm 1984 Bên cạnh đó, các khu tư nhân được thành lập Có sự xuất hiện ở khu vực đông dân

cư, diện tích khá nhỏ và tập trung vào các lĩnh vực thị trường khác nhau Khu vực với nhiều loại hình khác nhau có thế kể đến khu Dussseldorf (23 dự án hoàn thành vào năm 1992) và Frankfurt am Mein (19 dự án hoàn thành vào năm 1992), vẫn còn tồn tại và phát triển đến ngày nay [38]

Năm 1995, Liên Hiệp Quốc đã thống kê thế giới có khoảng 12.000 KCN với diện tích nhỏ nhất là 1ha, lớn nhất đến 10.000ha [23] Theo chương trình môi trường Liên Hợp Quốc có thể phân các khu công nghiệp trên thế giới thành các loại hình sau đây: Khu công nghiệp tập trung; khu chế xuất; khu tự do; khu chế biến công nghiệp; trung tâm công nghệ cao; khu công nghệ sinh học; khu công nghệ sinh thái

Hiện nay, các KCN được phát triển ở hầu hết tất cả các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, để phục vụ các hoạt động công nghiệp hơn là nghiên cứu hay theo hướng thương mại.

2.1.2 Việt Nam

Tại Việt Nam cũng đã có nhiều loại hình khu công nghiệp đang được xây dựng, bao gồm: Khu công nghiệp; khu chế xuất; khu công nghệ sinh học; khu công nghiệp sinh thái; khu kinh tế mở hay khu kinh tế thương mại khác Tuy nhiên hiện tại vẫn phổ biến loại hình khu công nghiệp truyền thống, khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất Về bản chất, đây là các KCN thuộc thế

hệ đầu tiên với tiêu chuẩn và chất lượng thấp

Có thể phân loại khu công nghiệp nằm trong phạm vi, đối tượng điều tiết của Nghị định 36-CP thành ba nhóm chính sau [17] :

Các khu công nghiệp mang tính truyền thống, được thành lập một cách phổ biến ở Việt Nam Ban đầu, các KCN hình thành từ những năm 1960 và

1970 theo mô hình công nghiệp của Liên Xô cũ, tập trung ở một số thành phố khu vực phía Bắc: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Phú Thọ, Việc hình

Trang 15

thành và phát triển các KCN này chưa có sự định hình, qui hoạch như hiện nay, còn bộc lộ nhiều thiếu sót mà cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn giải quyết được Về sau thì các KCN được xây dựng theo mô hình mới Đây là những khu vực được quy hoạch mang tính liên vùng, liên lãnh thổ và có phạm vi ảnh hưởng không chỉ ở một khu vực địa phương Trong khu công nghiệp không

có dân cư sinh sống, nhưng ngoài khu công nghiệp phải có hệ thống dịch vụ phục vụ nguồn nhân lực làm việc ở khu công nghiệp

Khu chế xuất (KCX): Ngoài những đặc điểm chung giống như các khu công nghiệp truyền thống, các KCX còn có một số đặc điểm riêng, đó là: Được quy hoạch phân tách khỏi phần nội địa bằng tường rào kiên cố, việc ra vào khu phải thông qua sự kiểm soát của hải quan và các cơ quan chức năng Quan hệ thương mại giữa các doanh nghiệp trong KCX và nội địa được điều chỉnh bằng hợp đồng ngoại thương, theo các thủ tục xuất, nhập khẩu; các doanh nghiệp trong khu chế xuất chỉ được bán tối đa 20% giá trị sản phẩm của mình vào thị trường nội địa và được hưởng những ưu đãi đặc biệt Ngày 25/1/1991 KCX Tân Thuận được thành lập, đây được xem như là khu công

nghiệp tập trung đầu tiên ở Việt Nam [19]

Các khu công nghệ cao (KCNC) Tại Việt Nam hiện có khu công nghệ cao Hòa Lạc, KCNC Sài Gòn Trong khu công nghệ cao có thể có doanh nghiệp chế xuất Công nghệ sử dụng trong khu công nghệ cao mang tính tiên phong đi trước thời đại, phát triển kinh doanh của doanh nghiệp trong nhiều trường hợp được coi là mạo hiểm và có khả năng được bù đắp cao Trong khu công nghệ cao, còn tiến hành các dịch vụ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao

2.2 Sự phát triển của khu công nghiệp và tác động của chúng đến môi trường

2.2.1 Sự phát triển KCN ở Việt Nam

Những cụm sản xuất công nghiệp được hình thành trước năm 1975 chủ yếu tập trung ở miền Nam Trong giai đoạn này, các cơ sở sản xuất công nghiệp

Trang 16

còn mang tính tự phát, phân tán rời rạc Một số nhà máy, xí nghiệp tập hợp lại và cùng hoạt động trong một phạm vi địa lý nhất định cũng được gọi là “khu công nghiệp” Công nghệ sản xuất của các cơ sở này còn lạc hậu, không có quy hoạch tổng thể và lâu dài, không quan tâm đúng mức đến vấn đề môi trường [10] Năm 2008 là năm đầu tiên thực hiện Nghị định số 29/2008/NĐ-CP quy định về việc thành lập, hoạt động, chính sách và quản lý của nhà nước đối với KCN, KCX và KKT [1] Tình hình thế giới có nhiều đổi mới sâu sắc về thể chất, môi trường đầu tư kinh doanh và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh

mẽ Bên cạnh đó, công tác quản lý của nhà nước cũng như hoạt động của các KCN, KKT ở Việt Nam đã có những điều chỉnh về cơ cấu tổ chức, năng lực, chương trình và trọng tâm công tác để thích nghi với điều kiện mới Vì vậy, trong năm 2008 nước ta đã có những bước phát triển mới mang tính đột phá

và đạt được nhiều thành tựu quan trọng

Sau 20 năm (1991 - 2011) xây dựng và phát triển, kể từ khi KCX đầu

tiên - KCX Tân Thuận được hình thành tại TP.HCM đến nay hệ thống các KCN, KCX đã có mặt ở hầu hết các tỉnh thành trên cả nước và có những đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 12/2011 cả nước đã có 283 KCN, KCX được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên hơn 76.000ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt gần 46.000ha, chiếm 61% tổng diện tích đất tự nhiên, 15 khu kinh tế ven biển trải đều trên 58 tỉnh, thành phố Các KCN, KCX được phân bố trên cơ sở phát huy lợi thế địa kinh

tế, tiềm năng của các địa phương và của các vùng kinh tế trọng điểm [24] Theo Quyết định 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2015, dự kiến thành lập mới 115 KCN và mở rộng 27 KCN với tổng diện tích gần 32.000 ha Sau một thời gian thực hiện Quyết định nêu trên, một số KCN đã được thành lập và một số KCN đã được bổ sung vào quy

Trang 17

hoạch phát triển các KCN đến năm 2020 Tính chung từ nay đến năm 2020,

số KCN quy hoạch thành lập sẽ là 249 KCN với tổng diện tích 81.100 ha [1]

65

223 179

283

11964 2360

80000

Số lượng KCN

Diện tích KCN

Hình 2.1 Tình hình phát triển KCN qua các năm [1,24]

2.2.2 Sự phát triển khu công nghiệp ở Hải Dương

Hải Dương là khu vực có nhiều tiềm năng phù hợp với việc xây dựng khu công nghiệp tập trung Trong những năm qua tình hình đầu tư vào Hải Dương hằng năm tăng đáng kể Toàn bộ dự án hiện đang trong giai đoạn xây dựng và được triển khai khá tốt

 Quy hoạch phát triển khu công nghiệp

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là phát triển mạnh ở lĩnh vực công nghiệp, Hải Dương phải tiếp tục huy động vốn đầu tư của các thành phần kinh tế, nhất là đầu tư trực tiếp nước ngoài; việc tiếp tục quy hoạch phát triển và mở rộng các KCN tạo điều kiện thu hút đầu tư vẫn được coi là một giải pháp chính

Theo quy hoạch phát triển các KCN của cả nước đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, tỉnh có 21 KCN với tổng diện tích khoảng 7.130ha Tính đến thời điểm hiện tại đã có 10 KCN đã được thành lập với tổng diện tích đất quy hoạch 2.087ha Trong số 10 KCN được thành lập, có 6 KCN cơ

Trang 18

bản hoàn thành đầu tư xây dựng hạ tầng và có nhà máy đi vào hoạt động, gồm: KCN Nam Sách, KCN Đại An, KCN Phúc Điền, KCN Tân Trường,

KCN Tàu thuỷ Lai Vu, KCN Việt Hòa - Kenmark

Bên cạnh phát triển quy hoạch các khu công nghiệp, tỉnh đã quy hoạch và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 38 cụm công nghiệp (33 cụm đã đi vào hoạt động) với tổng diện tích 1.402,6 ha Các cụm công nghiệp đã thu hút hàng chục nghìn lao động, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho lao động tại các khu vực nông thôn [4]

 Thu hút đầu tư

Đến nay đã có 100 dự án FDI đầu tư vào các KCN với tổng số vốn đầu

tư đăng ký 1.661,5 triệu USD, chiếm tỉ lệ khoảng 75% so với tổng vốn đầu tư vào KCN Hầu hết các dự án đến từ các quốc gia và vùng lãnh thổ có nền công nghiệp tiên tiến: Nhật Bản 37 dự án, Hàn Quốc 13 dự án, Đài Loan 12

dự án, Trung Quốc 9 dự án, Thái Lan 5 dự án, Quốc đảo Samoa (thuộc Hoa Kỳ) 11 dự án, số dự án đầu tư của các quốc gia khác như Malaysia, Singapo,

Mỹ, Đan Mạch… là 13 dự án Có 32 dự án đầu tư trong nước [4]

Tổng số dự án thuộc loại hình công nghệ điện tử, công nghệ kỹ thuật cao

môi trường (Các dự án này đều đang xây dựng hoặc chưa tiến hành xây dựng)

 Nguồn nhân lực [4]

Ước tính năm 2010 Hải Dương có dân số trên 1,7 triệu người; trong đó

có đến 60% là trong độ tuổi lao động Đó là nguồn lực dồi dào cung cấp cho thị trường lao động trong tỉnh Tại thời điểm 31/12/2008, các KCN tại Hải Dương đã thu hút trên 816 nghìn lao động trực tiếp (chiếm khoảng 80% số lao động trên toàn tỉnh); nếu tính cả số lao động gián tiếp thì số lao động được thu

Trang 19

hút vào các hoạt động của KCN còn lớn hơn rất nhiều Tính bình quân 1ha đất công nghiệp đã cho thuê thu hút 70 lao động trực tiếp (trong khi 1ha đất nông nghiệp chỉ thu hút được được từ 10 - 12 lao động)

Tổng số lao động trong các KCN đã thành lập hiện nay khoảng 50.000 người Trong đó các KCN nhiều lao động gồm: KCN Nam Sách 13.500 lao động, KCN Đại An 10.400 lao động, KCN Tân Trường 19.000 lao động, KCN Phúc Điền 6.000 lao động

 Biện pháp bảo vệ môi trường [4]

- Đối với hệ thống xử lý nước thải tập trung:

Trong 6 KCN nói trên, 5 KCN có trạm xử lý nước thải tập trung đã hoạt động và xử lý nước thải đầu ra đạt tiêu chuẩn theo quyết định phê duyệt ĐTM của dự án, 1 KCN đang xây dựng trạm xử lý nước thải Mặc dù được đầu tư kinh phí xây dựng hệ thống xử lý song không đồng bộ hoặc quy mô hệ thống không tương xứng với lượng nước thải của các doanh nghiệp thải ra nên hoạt động của hệ thống kém

- Hệ thống thoát nước mưa và nước thải:

Tất cả 6 KCN đã cơ bản hoàn thành đầu tư xây dựng hạ tầng và có nhà máy đi vào hoạt động đều cơ bản hoàn thiện hệ thống thoát nước mưa và nước thải riêng biệt Tuy nhiên trong giai đoạn khi trạm xử lý nước thải chưa

vận hành còn có doanh nghiệp (nhà máy) chưa tách riêng nước mưa và nước

thải mà vẫn đấu nối vào hệ thống thoát nước mặt KCN Đến nay hầu hết cơ sở

đã tách riêng nước mưa và nước thải theo đúng quy định

- Về hệ thống cây xanh: Các KCN có nhà máy đi vào hoạt động đã cơ

bản trồng cây xanh theo quy hoạch được duyệt Tuy nhiên phần lớn các KCN hình thành trong thời gian chưa lâu nên cây xanh còn thấp

- Về quản lý chất thải rắn:

Các KCN đã bố trí bãi tập kết chất thải của KCN và của các doanh nghiệp trong KCN Tuy nhiên hầu hết các cơ sở trong KCN đều tự hợp đồng với những đơn vị trực tiếp thu gom chất thải của nhà máy mà không thông

Trang 20

- Công tác quan trắc môi trường của các công ty hạ tầng khu công

nghiệp, các Doanh nghiệp trong khu công nghiệp:

Trừ các công ty hạ tầng, phần lớn cơ sở khác trong KCN chưa thực hiện đúng tần suất quan trắc môi trường định kỳ theo nội dung bản báo cáo ĐTM, bản cam kết bảo vệ môi trường, bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường và chưa nộp đầy đủ về các cơ quan chức năng theo quy định nên việc theo dõi và tổng hợp gặp rất nhiều khó khăn [4]

2.2.3 Ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống kinh tế, xã hội và môi trường

a Khu công nghiệp trong phát triển kinh tế và giải quyết lao động việc làm

Qua hơn 20 năm phát triển, đến nay cả nước đã có 283 KCN được thành lập Các KCN đóng góp quan trọng vào những thành tựu phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước Tại các vùng hay địa phương có các KCN hoạt động mạnh thì mức độ tăng trưởng kinh tế ở đó cao hơn những nơi KCN chưa phát triển

Khu công nghiệp ra đời đã tạo nên mảnh đất thuận lợi cho các doanh nghiệp công nghiệp trong và ngoài nước có điều kiện đầu tư phát triển sản xuất Lũy kế đến cuối tháng 6/2011 các KCN trong cả nước đã thu hút được

4045 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký 56.835 triệu USD, tổng vốn đầu tư đã thực hiện đạt hơn 22.000 triệu USD, bằng 38

% tổng vốn đầu tư đăng ký Hiện nay đã có hơn 3.078 dự án đang sản xuất kinh doanh và 450 dự án đang trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản Về tình hình đầu tư trong nước các KCN cả nước đã thu hút được 4.456 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký gần 360.000 tỷ đồng, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 176.000 tỷ đồng, xấp xỉ 50% tổng vốn đăng ký Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, thì các khu, cụm công nghiệp đều đã đẩy nhanh tiến trình Công nghiệp hóa đất nước Mặt khác, sự ra đời của Khu công nghiệp còn tác động mạnh mẽ tới việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng công nghiệp [14]

Trang 21

KCN đã góp phần quan trọng giải quyết việc làm, là nơi thu hút không ít lao động địa phương Tính bình quân 1ha đất nông nghiệp đã cho thuê thu hút trên 70 lao động trực tiếp (trong khi 1ha đất nông nghiệp chỉ thu hút được từ

10 - 12 lao động) Đến thời điểm 31/12/2008, các khu công nghiệp đã thu hút

trên 1,17 triệu lao động trực tiếp Chất lượng, trình độ đội ngũ lao động cũng tăng lên Thống kê cho thấy, phần lớn lao động làm việc trong các KCN là lao động trẻ, có khả năng nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật, công nghệ mới, hiện đại, phương thức tổ chức và quản lý sản xuất tiên tiến Các khu công nghiệp phát triển, kéo theo tốc độ đô thị hóa cũng diễn ra khá nhanh, với cơ sở hạ tầng được nâng cấp mọi mặt Như vậy, các KCN với vai trò, tiền năng, sức hút đầu tư, thực sự đã có những đóng góp không nhỏ trong phát triển KT-XH [1]

b Tác động đến đời sống người dân

Sự ra đời của KCN đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã

hội của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả thu được từ Khu công nghiệp thì cũng có không ít những vấn đề phát sinh và nếu chúng ta không sớm nhận ra, không có những giải pháp thích hợp thì hậu quả là rất lớn

Xét về mặt xã hội:

 Chuyển đổi mục đích sử dụng đất và ảnh hưởng đến người dân

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa càng diễn ra mạnh mẽ thì diện tích đất nông nghiệp càng bị thu hẹp Điều này nếu thực sự không tính toán kỹ lưỡng thì sẽ ảnh hưởng đến an ninh lương thực

Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, chỉ tính trong

3 năm (2008 - 2009), tổng diện tích đất chuyên dùng đã tăng lên 104.422ha,

dẫn đến một lượng lớn đất nông nghiệp, trong đó có không ít đất trồng lúa đã được chuyển đổi mục đích [18]

Trên thực tế nhiều địa phương phát triển khu đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp một cách ồ ạt, dàn trải, kém hiệu quả Đặc biệt nhiều địa phương dành những phần đất canh tác màu mỡ phì nhiêu ở ven quốc lộ để đổ

Trang 22

cát xây dựng khu công nghiệp Ví dụ như ở ven quốc lộ 5, khu vực Văn Lâm - Hưng Yên, Cẩm Giàng - Hải Dương

Theo thống kê sơ bộ, có đến 20% diện tích đất thu hồi xây dựng KCN là đất nông nghiệp (khoảng trến 10.000ha) Tổng diện tích đất trồng lúa được chuyển đổi để phát triển các KCN đến năm 2015 từ 18.000 đến 20.000ha, chiếm khoảng 0,5% tổng diện tích đất trồng lúa trong cả nước [1]

Việc thu hồi đất nông nghiệp đã tác động tới đời sống của các hộ dân vì

họ không được chuyển đổi cơ cấu ngành nghề hợp lý, thiếu phương tiện lao động và kế sinh nhai truyền thống, trong đó có nhiều hộ rơi vào tình trạng bần cùng hóa Theo Nguyễn Lân Dũng, vùng đồng bằng sông Hồng có số hộ

bị ảnh hưởng do thu hồi đất lớn nhất: khoảng 300.000 hộ; Đông Nam Bộ: khoảng 108.000 hộ [15]

 Điều kiện lao động và đời sống vật chất của người lao động còn khó khăn

Nhiều doanh nghiệp trong KCN chưa tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật về lao động, không đảm bảo quyền lợi của người lao động Điển hình như vi phạm thời gian ký kết hợp đồng, vi phạm về thẩm quyền và nội dung hợp đồng Việc kỷ luật, sa thải người lao động còn tùy tiện không tuân theo quy định của Nhà nước Công tác an toàn vệ sinh môi trường và phòng tránh cháy nổ trong doanh nghiệp còn chưa được quan tâm đúng mức Việc phải làm chế độ tăng ca, tăng giờ đã làm cho người lao động có ít thời gian nghỉ ngơi phục hồi sức khoẻ, kiệt sức và dễ mắc tai nạn lao động [1]

Chế độ bảo hiểm xã hội và chính sách tiền lương còn nhiều vi phạm Qua khảo sát, TPHCM hiện có 16 KCX-KCN với 1.062 doanh nghiệp (DN) đang hoạt động đã có đã có 731 DN đăng ký thang, bảng lương, song tỉ lệ DN

áp dụng tiền lương tối thiểu cao hơn luật định chỉ chiếm 32,3%.[30]

Trong chính sách đào tạo người lao động có hạn chế ở chỗ hiện chưa có các cơ chế mang tính “bắt buộc” đối với doanh nghiệp để yêu cầu họ phải tham gia và đóng góp vào quá trình đào tạo người lao động; mức chi phí cho

Trang 23

học nghề ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp vẫn còn cao; nội dung đào tạo chưa phù hợp với nhu cầu về kỹ năng lao động của doanh nghiệp

Báo cáo tổng kết 15 năm xây dựng và phát triển KCN và KCX ở Việt Nam (Bộ KH&ĐT, 2006) cho thấy, đến 70% lao động trong các KCN là lao động nhập cư và 60% là lao động nữ làm việc trong các KCN [1]

Sự tập trung cao của lao động tại các Khu công nghiệp đang khiến cho vấn đề xã hội ngày càng trở thành áp lực đối với chính quyền địa phương và người dân xung quanh KCN Đó là tình trạng thiếu nhà ở, điều kiện sinh hoạt khó khăn, giá cả hàng hóa tiêu dùng tăng và đáng lo ngại nhất vẫn là nảy sinh

tệ nạn xã hội

 Các vấn đề xã hội khác

Do chỉ quan tâm thúc đẩy tăng trưởng nhanh các khu công nghiệp mà chưa thực sự quan tâm đúng mức từ đầu những yếu tố hạ tầng xã hội hỗ trợ thiết yếu như giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, Điều kiện sinh hoạt, môi trường sống không đảm bảo, thiếu các hoạt động văn hóa, tinh thần là nguyên nhân phát sinh ra nhiều tệ nạn xã hội Như vậy cần phải xây dựng một môi trường sống tốt xung quanh KCN Đẩy mạnh cung ứng các dịch vụ xã hội phục vụ đời sống người lao động KCN, KKT [1]

c Tác động đến môi trường

Khu công nghiệp là nơi tập trung các cơ sở sản xuất thuộc nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau Tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng của các KCN, KCX sẽ kéo theo nhiều tác động tiêu cực đối với môi trường nếu như các biện pháp xử lý, công tác phòng ngừa, ứng phó ô nhiễm môi trường không kịp thời

 Chất thải rắn

Hoạt động sản xuất tại các khu công nghiệp làm phát sinh một lượng lớn chất thải, trong đó có một tỷ lệ không nhỏ là rác thải nguy hại Theo báo cáo của Vụ Quản lý KCN&KCX (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tổng lượng rác thải

Trang 24

ước tính bình quân một ngày đêm của cả nước hiện đã tăng từ 25.000 tấn (năm 1999) lên khoảng 30.000 tấn; trong đó, lượng rác thải công nghiệp chiếm khoảng 20%, phần lớn tập trung tại các KCN, KCX ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam (chiếm khoảng 50%) [26]

Thành phần, khối lượng chất thải rắn phát sinh tại mỗi KCN tùy thuộc vào loại hình công nghiệp đầu tư, quy mô đầu tư và công suất của các cơ sở công nghiệp trong KCN Qua khảo sát một số KCN cho thấy, trong thành phần chất thải rắn của các KCN, tỷ lệ chất thải nguy hại chiếm dưới 20% nếu được phân loại tốt, trong đó tỷ lệ các chất có thể tái chế cao Tại địa bàn tỉnh Hải Dương, lượng chất thải công nghiệp trên điạ bàn tỉnh phát sinh ước tính khoảng 450 tấn/ngày, trong đó chất thải nguy hại khoảng 48 tấn/ngày (chiếm 10,7%) Hầu hết các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh đều không xây dựng khu vực tập kết, trung chuyển chất thải rắn tập trung [4]

Nhiều doanh nghiệp có chức năng thu gom và xử lý chất thải nguy hại đã triển khai các hoạt động tái chế thu lại tài nguyên có giá trị sử dụng nhưng do công nghệ chưa hoàn chỉnh, phù hợp nên hiệu quả thu hồi, tái chế kém gây ra những ô nhiễm thứ cấp đặc biệt là đối với dầu và dung môi Nghiêm trọng hơn một số doanh nghiệp không thực hiện xử lý chất thải nguy hại mà sau khi thu gom lại đổ lẫn vào cùng chất thải thông thường hoặc đổ xả ra môi trường Bên cạnh đó, có một thực tế trong việc quản lý chất thải rắn là trong một số trường hợp, chất thải rắn phát sinh trong quá trình sản xuất có tỷ lệ chất thải nguy hại thấp (nước thải lẫn dầu mỡ, giẻ lau nhiễm dầu, bóng đèn huỳnh quang, pin, ắc quy ) nên nhiều nhà máy thường để lẫn với chất thải sinh hoạt, nếu có phân loại thì với khối lượng nhỏ không đủ để hợp đồng với đơn

vị có chức năng xử lý chất thải nguy hại [4]

 Môi trường nước

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết năm 2010 Việt Nam có 260 KCN Hiện có 105 KCN đã xây dựng xong hệ thống xử lý nước thải tập

Trang 25

trung, chiếm 61% tổng số KCN đã vận hành; 34 KCN đang xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung Tại các KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung thì sau khi xử lý cục bộ đều thải trực tiếp ra sông với tải lượng ô nhiễm cao Ngay cả tại các KCN đã có nhà máy xử lý nước thải thì hiệu quả hoạt động không cao; trên thực tế là không hoạt động hoặc chỉ hoạt động đối phó khi có các đoàn về thanh tra, kiểm tra để tiết kiệm chi phí vận hành Khoảng 70% trong số hơn một triệu m3 nước thải/ngày từ các khu công nghiệp (KCN) được xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường [27] Điển hình như vụ công ty Vedan xả thải ra sông Thị Vải (Đồng Nai) tới 5.000m3 chất thải/ngày trong nhiều năm; nhà máy Tung Kuang xả nước thải đầu độc sông Cầu Ghẽ Nếu không xử lý nhiều hóa chất độc hại như chrome 6 (cao gấp 10 lần tiêu chuẩn cho phép), mangan, sắt, đều có nồng độ vượt quy định sẽ xâm nhập nguồn nước [16,28]

Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2009 do Bộ tài nguyên và môi

trường công bố ngày 1/6/2010 thì tình trạng ô nhiễm không chỉ dừng lại ở hạ lưu các con sông mà lan lên tới cả phần thượng lưu Kết quả quan trắc chất

lượng cả 3 lưu vực sông Đồng Nai, Nhuệ - Đáy và sông Cầu đều cho thấy bên

cạnh nguyên nhân do tiếp nhận nước thải sinh hoạt, những khu vực chịu tác động của nước thải KCN có chất lượng nước sông bị suy giảm mạnh, nhiều

chỉ tiêu cao hơn quy định nhiều lần [1]

Tại Hải Dương, trung bình mỗi ngày các KCN thải ra khoảng 23.806

m3/ngày đêm chiếm 15% tổng lượng nước thải các KCN vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Nước thải tại các nhà máy chỉ được xử lý sơ bộ rồi thải vào hệ thống thoát nước thải của các khu công nghiệp và được xả thải vào các sông, kênh mương trong khu vực, gây ô nhiễm nguồn nước Dọc theo tuyến kênh thuộc hệ thống Bắc Hưng Hải từ Thạch Khôi đến Gia Lộc (khu vực liên quan

trực tiếp đến Cụm công nghiệp Thạch Khôi - Gia Xuyên) cũng như kênh thoát

nước phía sau cụm công nghiệp An Đông (Nam Sách) hay cụm công nghiệp

Trang 26

Bình Giang ven đường 20 tình trạng ô nhiễm nguồn nước thực sự đáng báo động Toàn bộ lượng nước trong kênh đều có màu đen đặc, được tô điểm thêm

với các mảng bọt và côn trùng dày đặc phía trên bề mặt, bốc mùi xú uế [36]

Trang 27

 Môi trường không khí

Tại không ít khu công nghiệp, hệ thống lọc khí, bụi và hạn chế tiếng ồn tại các cơ sở sản xuất còn nhiều hạn chế, mang tính hình thức Khí thải không thể xử lý tập trung như nước thải cần phải được xử lý ngay tại nguồn Khí thải

do các cơ sở sản xuất thải ra chứa nhiều chất độc hại đều được xả trực tiếp vào môi trường ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân quanh khu công nghiệp cũng như lao động trong KCN Kết quả quan trắc nồng độ SO2, CO, NO2 gần hoặc trong các KCN, KCX đang có chiều hướng gia tăng cục bộ Nồng độ bụi tại ven các trục giao thông chính đều đã vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2-6 lần Trong KCN nồng độ bụi và khí độc hại (điển hình là các khí SO2) trong không khí xung quanh đã quá trị số tiêu chuẩn cho phép từ 2-5 lần [29]

Theo số liệu ước tính tải lượng các chất ô nhiễm không khí từ các KCN, tại Hải Dương tải lượng các chất ô nhiễm như bụi: 3.404 kg/ngày; NO2: 6.390 kg/ngày; CO: 986 kg/ngày; SO2: 61.086 kg/ngày [6]

- Ô nhiễm bụi: diễn ra rất phổ biến, đặc biệt là mùa khô đối với các KCN

đang trong quá trình xây dựng Số liệu đo đạc hàm lượng bụi lơ lửng tại KCN Đại An và KCN Nam Sách qua các năm 2006, 2007, 2008 đều vượt QCVN [1]

- Các khí ô nhiễm CO, SO2, NO2: Kết quả quan trắc tại các KCN của nhiều năm không thay đổi nhiều Tại KCN Đại An thành phố Hải Dương nồng

độ khí SO2 năm 2006 là 0,092 mg/m3 xuống còn 0,048 mg/m3 trong năm 2008

Trang 28

Hình 2.2 Nồng độ khí SO 2 trong không khí xung quanh một số KCN

miền Bắc từ năm 2006 – 2008 [1]

- Ô nhiễm các khí khác: các khí này phát sinh do đặc thù của loại hình

sản xuất như hơi axit, hơi kiềm, NH3, H2S, VOC, Nhìn chung các khí này vẫn nằm trong ngưỡng cho phép tuy nhiên cũng vẫn phải lưu ý đến việc kiểm soát các hơi khí độc trong KCN

Cùng với sự ô nhiễm nước, không khí là sự ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, suy thoái đất đai, do những chất độc từ khu công nghiệp

Như vậy, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn về ô nhiễm môi trường do chất thải, nước thải và khí thải công nghiệp, nếu không được giải quyết tốt sẽ gây ra thảm họa về môi trường và biến đổi khí hậu, tác động nghiêm trọng đến đời sống, sức khỏe cộng đồng hiện tại và tương lai, phá hỏng những thành tựu công nghiệp nói riêng và triển kinh tế, tiến bộ xã

hội nói chung ở Việt Nam

2.3 Các kinh nghiệm xử lý, điều chỉnh khi có tồn tại, phát sinh và sự cố môi trường

2.3.1 Trên thế giới

Kinh tế càng phát triển thì nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên càng tăng cao Vấn đề là làm thế nào duy trì được mối quan hệ hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền đang được nhiều nước áp dụng có thể hạn chế được một cách hợp lý tình trạng ô nhiễm môi trường trong quá trình phát triển

Đã có nhiều nỗ lực ở các nước đang phát triển nhằm giảm thiểu mức độ

ô nhiễm không khí, các quốc gia Bắc Âu, Ấn Độ đang tăng tỷ trọng nguồn năng lượng mới như năng lượng gió trong tổng sản lượng của ngành năng lượng Công nghệ sạch, công nghệ thân thiện với môi trường càng được sử dụng nhiều Tỷ lệ các chất thải được tái chế, đưa vào sử dụng ngày càng tăng lên Tại các quốc gia đang phát triển, ngoài việc áp dụng công nghệ sạch để giảm thiểu ô nhiễm, các nước này đã tập trung nhiều nỗ lực bảo vệ rừng, bảo

Trang 29

vệ đa dạng sinh học, kiểm soát sự gia tăng dân số, cải thiện điều kiện sinh hoạt cho nhân dân, tạo việc làm và nâng cao mức sống xã hội Một số kinh nghiệm của các quốc gia trong việc khắc phục sự cố môi trường:

 Nhật Bản

Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, các nhà hoạt động chính sách của Nhật Bản đã ưu tiên cho mục đích phát triển kinh tế mà không chú ý tới hậu quả môi trường Các thành phố lớn như Osaka, Tokyo, Yokoham bị

ô nhiễm nặng Nhiều nhà máy công nghiệp như hóa dầu, công nghiệp dệt, cơ khí cũng được xây dựng tại các địa phương Ô nhiễm môi trường lan rộng tới khu vực kém phát triển hơn Trước làn sóng phản ứng của cộng đồng, chính quyền địa phương đã thông qua các đạo luật về bảo vệ môi trường năm 1958

Cụ thể là luật bảo vệ chất lượng nước, luật kiểm soát chất thải nhà máy, luật điều chỉnh lượng khói bụi thoát ra Tuy nhiên biện pháp này kém hiệu quả Vào cuối những năm 1960 có một số sự kiện đáng chú ý là 4 trường hợp

Minamata (nhiễm độc thủy ngân), Niigata Minamata Disease, Itai - Itai

Disease (nhiếm độc Catmi) và Yokkaichi Ashma (ô nhiễm không khí gây ra bởi các cơ sở công nghiệp) Trong trường hợp Minamata có rất nhiều các biện pháp đã được tiến hành để giải quyết bệnh Minamata như: Kiểm soát ô nhiễm môi trường; trợ giúp bệnh nhân (bồi thường thu nhập bị mất đi, hỗ trợ chi phí

y tế ); thúc đẩy các hoạt động điều tra, nghiên cứu liên quan đến bệnh và khảo sát ảnh hưởng sức khỏe tiềm tàng đối với người dân quanh khu vực bị ô nhiễm; nạo vét cặn lắng ô nhiễm từ vịnh Minamata và sông Agano Với sự

nỗ lực và nhiều biện pháp kết hợp kết quả là đến tháng 7/1997, mức độ an toàn trong vịnh Minamata đã được đảm bảo [30]

Để nhằm kiểm soát ô nhiễm, một số Luật và quy định đã được ban hành

ví dụ như Luật về Kiểm soát Ô nhiễm môi trường (1967,1970), Luật Kiểm soát Ô nhiễm nước (1970) Trong đó, Luật Kiểm soát ô nhiễm nước đã quy định đối với việc quan trắc ô nhiễm, xả thải đối với các chất như thủy ngân, cadmium và các chất hóa học khác [30]

Trang 30

Năm 1971 cơ quan môi trường được thành lập, cơ quan này đã đưa ra kế hoạch về chính sách môi trường để ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường đang thời kỳ tăng trưởng cao Những năm sau đó, các quy định về luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đã được nâng cấp, bao gồm những điều luật về ô nhiễm không khí và tiếng ồn ô tô xe máy

Để bắt kịp với sự thay đổi của luật môi trường, các chính quyền địa phương và chính phủ đã huy động mọi nguồn đầu tư kiểm soát môi trường Nhờ các biện pháp kiểm soát môi trường mạnh mẽ ở cả hai khu vực tư nhân

và nhà nước, một mặt do quá trình chuyển dịch cơ cấu các ngành công nghiệp, mức độ ô nhiễm môi trường nhanh chóng giảm đi từ giữa thập kỷ

1970 Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều vấn đề chưa thể giải quyết được, đặc biệt

là việc quản lý chất độc hại, chất thải rắn và chất thải nguy hiểm đối với sức khỏe cộng đồng Thay vì việc hạn chế chất thải công nghiệp, nhà nước khuyến khích các công ty tìm mọi cách xử lý chất thải trước khi thoát ra ngoài

cơ sở sản xuất công nghiệp Như vậy kinh nghiệm của Nhật Bản đã khẳng định phòng ngừa tốt hơn khắc phục hậu quả, chính sách đặt mục tiêu tăng trưởng lên trên bảo vệ môi trường là sai lầm

 Italia

Là một quốc gia phát triển với khoảng gần 60 triệu người trên lãnh thổ nhỏ Mật độ dân số cao dẫn đến áp lực mạnh mẽ lên môi trường

Giữa thế kỷ 20 là thời kỳ phép lạ kinh tế, tại Italia người ta coi việc làm

và lợi nhuận quan trọng hơn là bảo vệ môi trường Chính điều này đã dẫn đến một sự kiện ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất tại đây Vào năm 1976 xảy ra vụ nổ lớn tại nhà máy hóa chất ICMESA tại Seveso, miền Bắc Italia làm thải ra môi trường chung quanh khoảng 30 kg dioxin, một hóa chất độc hại vào hàng số một mà con người biết đến Cư dân trong vùng và các vùng phụ cận bị phơi nhiễm độc chất Ngay trong ngày đó, hàng ngàn cư dân bị các triệu chứng như ói mửa, nhức đầu, và đau mắt Một số trẻ em phải nhập bệnh viện vì các triệu chứng liên quan đến da Sau đó người dân được khẩn trương

Trang 31

sơ tán khỏi Seveso, cơ quan chức năng vào cuộc và tiến hành tẩy uế môi trường cũng như dọn dẹp lại khu vực này Tháng 1 năm 1977, một kế hoạch hành động bao gồm các phân tích khoa học, viện trợ kinh tế, giám sát y tế và phục hồi/khử trùng đã được hoàn thành Chương trình giám sát dịch tễ học được thành lập như sau: phá thai (1982); dị tật (1982); khối u (1997), tử vong (1997) Theo dõi sức khỏe của người lao động tại công ty ICMESA và các dự

án tẩy độc, và bị chloracne (1985) [41]

Ngay sau khi tai nạn xảy ra, ý thức được tiềm năng độc hại của dioxin, và với sự hỗ trợ của chính phủ Ý, các nhà nghiên cứu khoa học và bác sĩ đã thiết lập ngay một chương trình nghiên cứu qui mô về tác hại của dioxin đến sức khỏe cư dân trong vùng [31] Và trong nhiều năm tiếp theo có rất nhiều công trình nghiên cứu tác hại của dioxin Kinh nghiệm từ công trình nghiên cứu Seveso cho thấy nghiên cứu tác hại lâu dài của độc chất da cam hay dioxin là một việc làm hoàn toàn khả dĩ Việc nghiên cứu sử dụng các mẫu tại Seveso được thực hiện trong hơn hai thập kỷ qua có thể giúp xác định mức độ dioxin rất nguy hiểm, và giúp

đỡ trong việc đánh giá rủi ro chính xác hơn trong các quốc gia khác [41]

Italia quan tâm đến môi trường rất lâu trước khi có sự ra đời của một chính sách môi trường Trong mười năm qua, Italy đã đạt hoặc gần như đáp ứng một số mục tiêu trong nước và cam kết quốc tế Góp phần đáng kể củng cố các tổ chức môi trường quốc gia, ban hành pháp luật mới về môi trường, và tiếp tục phân cấp trách nhiệm môi trường cho các cơ quan khu vực và địa phương trong khi giữ trách nhiệm lập kế hoạch chiến lược và pháp lý phối hợp

ở Trung ương Đánh giá tác động môi trường dự án, thực hiện ở cấp quốc gia

từ năm 1989, đã được một hiệu quả đáng kể Những năm 1990 chứng kiến sự phát triển của công cụ kinh tế và thỏa thuận tự nguyện: Các biện pháp được áp dụng để hạn chế không khí ô nhiễm, thuế các-bon đã được giới thiệu vào tháng 1/1999, Eco-kiểm toán đề án, nhãn sinh thái cũng đã được phát triển [40] Trong cam kết quốc tế, Italia đã tiếp tục hỗ trợ môi trường hợp tác quốc

Trang 32

các chỉ thị của EU, bao gồm cả cho sự biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí Phát triển môi trường hợp tác với các nước láng giềng: Italia, Pháp và Monaco dành ra 100 000 km2 cho khu bảo tồn bảo vệ các loài động vật biển

có vú, đặc biệt là cá voi Italy cũng đã được rất tích cực trong việc thúc đẩy hợp tác quốc tế ở khu vực hạn hán và sa mạc hóa và phê chuẩn công ước quốc

tế liên quan đến bảo tồn và đa dạng sinh học [39]

2.3.2 Việt Nam

Phát triển không hợp lý là điều tất yếu dẫn đến suy thoái môi trường Hiện nay ở Việt Nam, các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường Các chính sách pháp luật này tuy còn thiếu sót nhưng nếu thực hiện tốt thì việc bảo vệ môi trường là khá hiệu quả Trách nhiệm thực thi pháp luật còn yếu kém, còn nhiều lỗ hổng nên việc

ngăn chặn sự ô nhiễm, bảo vệ cuộc sống của cộng đồng không thực hiện được

Những vụ ô nhiễm môi trường do các công ty và nhà máy gây ra đang ngày càng gióng lên hồi chuông cảnh báo về cách thức các công ty xử lý rác thải từ quá trình sản xuất, cũng như cách họ chịu trách nhiệm trong việc bảo tồn hệ sinh thái và môi trường Nhiều cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng tạo nên các điểm nóng về môi trường hiện nay như sông Thị Vải, tỉnh Khánh Hoà, lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy Những vụ sai phạm rất điển hình như vụ Công ty Vedan Việt Nam, vụ Công ty Hyundai - Vinashin, vụ Nhà máy Miwon ở Phú Thọ, Công ty Tung kuang đều đã không bị xử lý hình sự Trong vụ việc Cty Vedan làm ô nhiễm môi trường sông Thị Vải biện pháp xử phạt đưa ra là xử phạt hành chính, truy thu phí, bồi thường thiệt hại đối với những hộ dân bị ảnh hưởng Công ty Vedan bị đình chỉ hoạt động xả thải để khắc phục ô nhiễm môi trường, phải cải tạo toàn bộ hệ thống thu gom, xử lý nước thải đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật về chất thải theo quy định thì mới cho phép hoạt động trở lại [16] Như vậy, Việt Nam mới chỉ đưa ra một số liệu pháp chữa cháy mỗi khi

có điểm nóng bùng lên Trong khi đó, bản thân vấn đề môi trường không thể giải quyết bằng cách chữa cháy Việc này đòi những giải pháp mang tính lâu

Trang 33

dài, có độ chính xác kỹ thuật, sự cân nhắc kỹ lưỡng chính sách kinh tế tài chính và điều vô cùng quan trọng là một bộ luật nghiêm khắc, kỹ lưỡng, thấu đáo làm sao tất cả mọi người, mọi ngành có thể thực hiện được Điều quan trọng là không nên vì theo lợi nhuận kinh tế trước mắt, đi theo tốc độ tăng trưởng mà quên nhiệm vụ chính là bảo vệ môi trường

Trang 35

PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nước và không khí

Phạm vi nghiên cứu: Môi trường trong KCN Đại An kể từ khi thành lập

và đi vào hoạt động

3.2 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu bao gồm các nội dung sau đây:

- Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khu vực thực hiện dự án

- Hiện trạng phát triển khu công nghiệp

- Hiện trạng môi trường khu công nghiệp

- Phân tích kết quả giám sát chất lượng môi trường và nguyên nhân tồn

tại, phát sinh

- Phân tích đa chiều biến động chất lượng môi trường của khu công nghiệp theo thời gian và đánh giá tác động của hoạt động công nghiệp

đến chất lượng môi trường

- Biện pháp điều chỉnh sản xuất, hoạt động bảo vệ môi trường

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin

+ Thu thập thông tin thứ cấp: thông qua việc thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở cấp xã; kế thừa các tài liệu điều tra cơ bản sẵn có + Thu thập thông tin về ĐTM và các hoạt động giám sát, BVMT

+ Thu thập tài liệu sơ bộ về khu vực thực hiện dự án, tình hình sản xuất

và loại hình sản xuất của các nhà máy hoạt động trong KCN

3.3.2 Phương pháp lấy mẫu và phân tích

- Phương pháp lựa chọn điểm lấy mẫu: Khảo sát toàn bộ khu vực lựa

chọn vị trí điểm lấy mẫu, lập sơ đồ tổng thể vị trí các điểm lấy mẫu, trong đó thể hiện được điểm đo ngoài khu vực nhà máy theo nguồn thải, chiều hướng gió chính trong ngày Xác định vị trí điểm lấy mẫu nước theo nguồn thải

Trang 36

Bảng 3.1 Lý lịch lấy mẫu khí trong và ngoài công ty

1 Kk1 Khu vực sân ban quản lý KCN

4 K3 Khu vực trạm xử lý nước thải

5 Kk5 Phía tây gần cổng Công ty cổ

1 Nt 5 Nước thải trước xử lý

2 Nt 6 Nước thải sau xử lý

pH, TSS, COD, BOD5, Ntổng, Ptổng,

NH4+-N, Fe, Mn, Cd, Cu, Pb, As, Hg, Ni,Cr(VI), dầu mỡ khoáng, Coliform

3 Nm 1 Nước sông sặt trước cửa xả

4 Nm 2 Nước sông sặt sau cửa xả

pH, TSS, COD, BOD5, N - NO3, NH4+

-N, NO2 -N, Zn, Fe, Mn, Cd, Cu, Pb,

As, Hg, Ni,Cr, dầu mỡ tổng, Coliform

- Thời gian lấy mẫu: Mẫu nước và mẫu khí được lấy vào buổi sáng

ngày 11/07/2011

- Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu:

Nồng độ bụi trong không khí được xác định bằng phương pháp khối lượng và lấy mẫu bằng thiết bị bơm hút Airsempler, lưu lượng 4 lít/phút, thời gian lấy mẫu liên tục trong 30 phút để hút không khí chứa bụi đi qua thiết bị đầu đo chứa giấy lọc bụi

Hàm lượng các chỉ tiêu: SO2, NO2, HC được hấp thụ trong bình chứa dung dịch hấp thụ tương ứng đối với từng chất cần xác định, thể tích không khí lấy 15 lít không khí, vị trí lấy mẫu ở độ cao 1,5m Đối với hàm lượng CO được lấy bằng các chai thể tích 1lít có chứa dung dịch hấp thụ, thời gian bảo quản trong 24 giờ

Trang 37

Các mẫu nước mặt được lấy và bảo quản mẫu bằng hoá chất theo TCVN 5992:1995, TCVN 5993:1995, TCVN 5996:1995 dùng bình có lắp đậy lựa chọn vị trí tối ưu ở độ sâu 20 – 40 m Mẫu nước ngầm được lấy và bảo quản mẫu bằng hoá chất theo tiêu chuẩn 5992:1995, TCVN 5993:1995, TCVN 6000:1995 Mẫu nước thải được lấy và bảo quản mẫu theo TCVN 6663-1:2011, TCVN 6663-3:2008, TCVN 5999:1995 Thời gian bảo quản mẫu từ 20 giờ đến 28 ngày

- Phương pháp phân tích nước:

pH được đo trực tiếp tại hiện trường bằng máy đo cầm tay hiệu Horiba Các thông số thuỷ hoá khác được phân tích tại phòng thí nghiệm Trung tâm quan trắc môi trường, Sở TNMT Hải Dương

Bảng 3.3 Phương pháp và thiết bị quan trắc

TT Chỉ tiêu Phương pháp phân tích Thiết bị

1 TSS St Method 2540 -D Cân phân tích Model: AP-250D

2 COD Chuẩn độ theo Hach

8 NO

3-

phương pháp đo quang theo hướng dẫn trong Hach Method 8039

Trang 38

18 Dầu mỡ St Method 5520 Cân phân tích Model: AP-250D –

Từ đó đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nền tại khu vực nghiên cứu,

dự báo ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm tới môi trường

do các hoạt động của dự án Hệ thống quan trắc chất lượng môi trường:

3.3.4 Phương pháp xử lý

Tính độ phân bố của mẫu, phân nhóm các giá trị

Trang 39

Xử lý sự phân bố theo không gian và thời gian để tính toán xu thế của các yếu tố môi trường theo các biến kinh tế xã hội để rút ra các yếu tố tác động đến chất lượng môi trường và các biện pháp bảo vệ môi trường kèm theo

3.3.5 Phương pháp đánh giá và xếp loại theo chỉ số chất lượng nước WQI

Chỉ số chất lượng nước tính bằng cách sử dụng các phương pháp được

đề xuất bởi Tiwari và Mishra [Tiwari, 1985]:

- Chất lượng đánh giá hoặc chỉ số phụ: qn= 100 (Vn- Vio) / (Sn- Vio)

Trong đó:

n: chỉ số

Vn : Giá trị chỉ số n thực tế

qn : Đánh giá chất lượng cho chỉ số n

Sn = tiêu chuẩn giá trị cho phép của chỉ số n

Vio: Các giá trị lý tưởng của chỉ số chất lượng nước, Vio = 0 ngoại trừ Vio

= 7.0 mg / lit cho pH và Vio= 14,6 mg/l cho DO

- Trọng số (Wn): Wn = K / Sn

Trong đó:

Wn = Trọng số chỉ số n

Sn = Giá trị tiêu chuẩn chỉ số n

K = Hằng số tỷ lệ tương ứng Tại đây để đơn giản hóa cho K = 1

- Chỉ số chất lượng nước : WQI = Σ qn Wn/ ΣWn

Từ kết quả quan trắc nguồn thải ta xác định được chỉ số chất lượng nước tương ứng với tình trạng chất lượng nước:

Bảng 3.4 Phân loại chất lượng nước mặt theo chỉ số chất lượng nước

Trang 40

3.3.6 Phương pháp xử lý thống kê

Các số liệu thu được từ điều tra sơ cấp và thứ cấp được xử lý trên máy tính bằng phần mềm Excel

Ngày đăng: 13/11/2015, 20:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Lý lịch lấy mẫu khí trong và ngoài công ty - Ảnh hưởng của hoạt động khu công nghiệp đại an, thành phố hải dương, tỉnh hải dương đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Bảng 3.1. Lý lịch lấy mẫu khí trong và ngoài công ty (Trang 36)
Hình 4.3. Diễn biến lượng mưa năm 2011 của thành phố Hải Dương - Ảnh hưởng của hoạt động khu công nghiệp đại an, thành phố hải dương, tỉnh hải dương đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Hình 4.3. Diễn biến lượng mưa năm 2011 của thành phố Hải Dương (Trang 43)
Hình 4.4. Diễn biến phát triển dân số từ năm 2000 – 2011 - Ảnh hưởng của hoạt động khu công nghiệp đại an, thành phố hải dương, tỉnh hải dương đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Hình 4.4. Diễn biến phát triển dân số từ năm 2000 – 2011 (Trang 44)
Hình 4.5. Khu dân cư Đại An - Ảnh hưởng của hoạt động khu công nghiệp đại an, thành phố hải dương, tỉnh hải dương đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Hình 4.5. Khu dân cư Đại An (Trang 48)
Hình 4.6. Tỷ lệ lấp đầy trong khu công nghiệp Đại An qua các năm - Ảnh hưởng của hoạt động khu công nghiệp đại an, thành phố hải dương, tỉnh hải dương đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Hình 4.6. Tỷ lệ lấp đầy trong khu công nghiệp Đại An qua các năm (Trang 49)
Bảng 4.8. Diễn biến chất lượng nước thải một số doanh nghiệp - Ảnh hưởng của hoạt động khu công nghiệp đại an, thành phố hải dương, tỉnh hải dương đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Bảng 4.8. Diễn biến chất lượng nước thải một số doanh nghiệp (Trang 63)
Hình 4.10. Biến động hàm lượng COD tại các vị trí qua các năm - Ảnh hưởng của hoạt động khu công nghiệp đại an, thành phố hải dương, tỉnh hải dương đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Hình 4.10. Biến động hàm lượng COD tại các vị trí qua các năm (Trang 67)
Hình 4.14. Biến động hàm lượng Cd tại các vị trí qua các năm - Ảnh hưởng của hoạt động khu công nghiệp đại an, thành phố hải dương, tỉnh hải dương đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Hình 4.14. Biến động hàm lượng Cd tại các vị trí qua các năm (Trang 69)
Bảng 4.10. Diễn biến nước ngầm khu dân cư Nhật Tân - Ảnh hưởng của hoạt động khu công nghiệp đại an, thành phố hải dương, tỉnh hải dương đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Bảng 4.10. Diễn biến nước ngầm khu dân cư Nhật Tân (Trang 72)
Hình 4.15. Biến động hàm lượng CO, SO 2  qua mỗi vị trí - Ảnh hưởng của hoạt động khu công nghiệp đại an, thành phố hải dương, tỉnh hải dương đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Hình 4.15. Biến động hàm lượng CO, SO 2 qua mỗi vị trí (Trang 79)
Hình 1. Mương thoát của khu công nghiệp - Ảnh hưởng của hoạt động khu công nghiệp đại an, thành phố hải dương, tỉnh hải dương đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Hình 1. Mương thoát của khu công nghiệp (Trang 106)
Hình 2: Trạm xử lý nước thải KCN - Ảnh hưởng của hoạt động khu công nghiệp đại an, thành phố hải dương, tỉnh hải dương đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Hình 2 Trạm xử lý nước thải KCN (Trang 106)
Hình 3. Nguồn nước tiếp nhận chất thải (sông Sặt) - Ảnh hưởng của hoạt động khu công nghiệp đại an, thành phố hải dương, tỉnh hải dương đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Hình 3. Nguồn nước tiếp nhận chất thải (sông Sặt) (Trang 107)
Hình 5. Khí thải từ ống khói nhà máy - Ảnh hưởng của hoạt động khu công nghiệp đại an, thành phố hải dương, tỉnh hải dương đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Hình 5. Khí thải từ ống khói nhà máy (Trang 107)
Hình 4. Chất thải được thu gom và tiêu hủy tại chỗ - Ảnh hưởng của hoạt động khu công nghiệp đại an, thành phố hải dương, tỉnh hải dương đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Hình 4. Chất thải được thu gom và tiêu hủy tại chỗ (Trang 107)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w