1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Năng suất sinh sản, sinh trưởng của công thức lai nái f1 (landrace x yorkshire) phối với đức pidu và duroc tại trang trại chăn nuôi lợn huyện chương mỹ, hà nội

84 432 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 759,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ THANH THƠ NĂNG SUẤT SINH SẢN, SINH TRƯỞNG CỦA CÔNG THỨC LAI NÁI F1 LANDRACE × YORKSHIRE PHỐI VỚI ĐỰC PIDU VÀ DUROC TẠI TRANG TRẠI CHĂN NUÔI LỢN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI LUẬN V

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

o0o

NGUYỄN THỊ THANH THƠ

NĂNG SUẤT SINH SẢN, SINH TRƯỞNG CỦA CÔNG THỨC LAI NÁI F1 (LANDRACE × YORKSHIRE) PHỐI VỚI ĐỰC PIDU VÀ DUROC TẠI TRANG TRẠI CHĂN NUÔI LỢN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành : Chăn nuôi

Mã số : 60.62.40

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐINH VĂN CHỈNH

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, chưa từng được công bố cũng như sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Thơ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Đinh Văn Chỉnh, người hướng dẫn khoa học, luôn tận tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Bộ môn Di truyền giống vật nuôi, Khoa Chăn nuôi - Nuôi trồng thủy sản, Viện đào tạo sau đại học, Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Qua đây cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới trang trại chăn nuôi lợn siêu nạc của gia đình bà Bùi Thị Mai, xã Trần Phú, huyện Chương

Mỹ, Thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới nhà trường, các thầy cô, gia đình cùng bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian qua

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, Ngày16 tháng 05 Năm 2012

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Thơ

Trang 4

2.2 Cơ sở khoa học của sinh trưởng và phát dục 6 2.3 Các chỉ tiêu sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng 14 2.4 Các chỉ tiêu sinh trưởng và yếu tố ảnh hưởng 26

4.1 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(LY) phối với đực PiDu và Duroc 37 4.1.1 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(LY) phối với đực PiDu và Duroc 37

Trang 5

4.1.2 Năng suất sinh sản của các tổ hợp lai Du × F1(LY) và PiDu ×

4.2 Khả năng tăng trọng và tiêu tốn thức ăn của các tổ hợp lai Du ×

4.2.1 Khả năng tăng trọng và tiêu tốn thức ăn của các tổ hợp lai tính chung 60 4.2.2 Khả năng tăng trọng của các tổ hợp lai theo giới tính 64

Trang 6

PiDu Con lai của Pietrain × Duroc

Du×F1(LY) Tổ hợp lai [ Duroc × (Landrace × Yorkshire)]

PiDu×F1(LY) Tổ hợp lai [ PiDu × (Landrace × Yorkshire)]

LY Con lai giữa đực Landrace và nái Yorkshire

YL Con lai giữa đực Yorkshire và nái Landrace

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

4.1 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(LY) phối với đực PiDu và

4.8 Tăng trọng và tiêu tốn thức ăn của các tổ hợp lai Du ×

4.9 Khả năng tăng trọng của các tổ hợp lai theo giới tính 64

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

4.1 Số con/ổ của hai tổ hợp lai DuxF1(LY) và PiDuxF1(LY) 40 4.2 Khối lượng/con của hai tổ hợp lai DuxF1(LY) và PiDuxF1(LY) 42

4.7 Khả năng tăng trọng g/con/ngày của hai tổ hợp lai 62

4.9 Tăng trọng bình quân ở lợn đực và lợn cái của hai tổ hợp lai 65 4.10 Lợi nhuận của lợn thương phẩm ở hai tổ hợp lai Du × F1(LY) và

Trang 9

1 MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Hiện nay ở Việt Nam, nuôi lợn chiếm vị trí quan trọng nhất trong ngành chăn nuôi Sản lượng thịt lợn chiếm tới 76% trong tổng sản lượng thịt cả nước (Niên giám thống kê, 2009)[19], tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng Để giải quyết tình trạng này hiện nay chăn nuôi lợn ngoại đang được đẩy mạnh

ở các trang trại quốc doanh cũng như tư nhân, do chúng có tốc độ tăng trưởng nhanh và tỷ lệ nạc cao Lai kinh tế hai giống lợn ngoại giữa Landrace, Yorkshire và ngược lại đã tạo ra con lai (L × Y), (Y × L) để nuôi thịt và gây nái sinh sản Nái lai có ưu thế lai cao về nhiều chỉ tiêu sinh sản, việc sử dụng nái lai trong chương trình lai giống đã trở thành một tiến bộ trong thực tế sản xuất Sử dụng nái lai F1 (L × Y), F1 (Y × L) phối với đực giống Duroc đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu (Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình, 2006)[25]; Phùng Thị Vân và cộng sự, 2000[36]; Trương Hữu Dũng, 2004)[12] Các tác giả đã khẳng định các công thức lai này có tác dụng nâng cao năng suất sinh sản, sinh trưởng và năng suất thịt

Lợn Piétrain có nguồn gốc từ Bỉ là một giống lợn nổi tiếng trên thế giới

về tỷ lệ nạc cao, sử dụng lợn Piétrain phối giống với lợn nái F1 (Landrace × Yorkshire) đã được tiến hành rộng rãi để nâng cao năng suất và chất lượng

thịt ở nhiều nước châu Âu Hypor (2011)[44] PiDu là con lai giữa lợn

Piétrain và lợn Duroc, cho tỷ lệ nạc cao, hiện nay đang được sử dụng làm đực giống để phối với nái lai tại nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, nhằm nâng cao chất lượng thịt Tuy nhiên ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về việc sử dụng lợn PiDu trong công thức lai với lợn nái

Trang 10

F1(Landrace × Yorkshire), vì vậy việc sử dụng lợn đực giống PiDu phối giống với lợn nái F1(Landrace × Yorkshire) nhằm nâng cao năng suất sinh sản, nuôi thịt là một vấn đề cần được nghiên cứu Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài “Năng suất sinh sản, sinh trưởng của công thức lai nái F1 (Landrace × Yorkshire) phối với đực PiDu và Duroc tại trang trại

chăn nuôi lợn huyện Chương Mỹ, Hà Nội”

1.2 Mục đích, yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Đánh giá khả năng sinh sản, khả năng sản xuất của các công thức lai PiDu × F1 (Landrace × Yorkshire) và Duroc × F1(Landrace × Yorkshire)

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái F1(LY) khi lai với đực PiDu và Duroc

- Đánh giá khả năng sinh trưởng của các tổ hợp lai nói trên

- Tính hiệu quả kinh tế của lợn thương phẩm từ hai tổ hợp lai trên

Trang 11

2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của việc lai giống

Bản chất sinh học của mỗi giống vật nuôi được thể hiện qua kiểu hình đặc trưng riêng của nó Dưới tác động của nhân tố môi trường thì kiểu gen sẽ biểu hiện thành kiểu hình tương ứng Để công tác chọn lọc, nhân giống vật nuôi đạt kết quả tốt, trước hết cần có những kiến thức cơ bản về di truyền, đặc biệt là bản chất của di truyền và ưu thế lai của các tính trạng

2.1.1 Tính trạng số lượng và các yếu tố ảnh hưởng

Tính trạng số lượng được quy định bởi nhiều cặp gen có hiệu ứng nhỏ nhất định, tính trạng số lượng bị tác động lớn của các yếu tố môi trường Các tính trạng sản xuất của vật nuôi hầu hết là các tính trạng số lượng do nhiều gen điều khiển, mỗi gen đóng góp một mức độ khác nhau vào cấu thành năng suất của con vật (Đặng Vũ Bình, 2002)[7]

Giá trị kiểu hình của bất kỳ tính trạng số lượng nào cũng có thể phân chia thành giá trị kiểu gen (G) và sai lệch môi trường (E) Giá trị kiểu hình (P) được biểu thị như sau:

P = G + E

G: Giá trị kiểu gen E: Sai lệch môi trường

- Giá trị kiểu gen (G)

Giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều cặp gen quy định Giá trị kiểu gen bao gồm các thành phần khác nhau: Giá trị cộng gộp A ( hoặc giá trị giống), sai lệch trội D và sai lệch tương tác gen hoặc sai lệch kiểu gen I

G = A + D + I

* Giá trị cộng gộp (A): Mỗi một gen trong tập hợp các gen quy định một tính

trạng số lượng nào đó đều có một hiệu ứng nhất định đối với tính trạng số lượng đó Tổng hiệu ứng mà các gen nó mang được gọi là giá trị cộng gộp

Trang 12

hay giá trị giống của cá thể

Giá trị giống của một cá thể là giá trị được đánh giá thông qua giá trị trung bình của đời con của cá thể đó Tác động của các gen được gọi là cộng gộp khi giá trị kiểu hình của kiểu gen đồng hợp, bố mẹ luôn truyền một nửa giá trị cộng gộp của mỗi tính trạng của chúng cho đời con Tiềm năng di truyền do tác động cộng gộp của gen bố và mẹ tạo nên gọi là giá trị di truyền

của con vật hay giá trị giống

* Sai lệch trội (D): là sai lệch được sản sinh ra do sự tác động qua lại giữa các

cặp alen ở cùng một locus, đặc biệt là các cặp alen dị hợp tử Sai lệch trội cũng là một phần thuộc tính của quần thể, quan hệ trội của bố mẹ không được

truyền qua con cái

* Sai lệch át gen (I): Sai lệch kiểu gen là sai lệch được sản sinh ra do sự tác

động qua lại giữa các gen thuộc các locus khác nhau Sai lệch kiểu gen không

có khả năng di truyền cho thế hệ sau

- Sai lệch môi trường (E)

Sai lệch môi trường được thể hiện thông qua sai lệch môi trường chung

(Eg) và sai lệch môi trường riêng (Es)

* Sai lệch môi trường chung (Eg): là sai lệch do loại môi trường tác động lên

toàn bộ con vật trong suốt đời của nó

* Sai lệch môi trường riêng (Es): là sai lệch do loại môi trường chỉ tác động

lên một số con vật trong một giai đoạn nào đó trong đời sống của chúng

Như vậy, kiểu hình của một cá thể được cấu tạo từ hai locus trở lên có giá trị kiểu hình chi tiết như sau:

Trang 13

+ Tác động vào các hiệu ứng trội (D) và kiểu gen (I) bằng cách lai giống

- Tác động về mặt môi trường (E) bằng cách cải tiến điều kiện chăn nuôi: thức

ăn, chuồng trại, quản lý, thú y,

2.1.2 Lai giống và ưu thế lai

- Lai giống

Lai giống là cho giao phối giữa những động vật thuộc hai hay nhiều giống khác nhau Lai khác dòng là cho giao phối giữa những động vật thuộc các dòng khác nhau trong cùng một giống

Lai giống làm cho kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ sau giảm đi, còn tần

số kiểu gen dị hợp tử ở thế hệ sau tăng lên

Lai giống là phương pháp chủ yếu nhằm khai thác biến đổi di truyền của quần thể gia súc Lai giống có những ưu việt vì con lai thường có ưu thế

lai đối với một số tính trạng nhất định

- Ưu thế lai

Ưu thế lai do tác động trội lặn và át gen sinh ra, đó là phần sai lệch của con lai so với trung bình của bố mẹ Ưu thế lai làm cho sức sống của con vật tăng lên, có sức đề kháng với bệnh tật và nâng cao sức sản xuất của chúng

+ Các yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai

* Tính trạng nghiên cứu:

Ưu thế lai phụ thuộc vào tính trạng, có những tính trạng có khả năng di truyền cao nhưng cũng có những tính trạng có khả năng di truyền thấp Những tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản có

ưu thế lai cao nhất Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao, vì vậy để cải tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, lai giống là một biện pháp nhanh hơn, hiệu quả hơn

* Công thức lai:

Ưu thế lai phụ thuộc vào công thức lai và việc sử dụng cá thể nào làm bố,

Trang 14

các thể nào làm mẹ Trong lai tạo, thậm chí nên sử dụng tổ hợp lai nào làm bố hay mẹ để có ưu thế lai của mẹ hay của bố cao trong các tổ hợp lai Theo Trần Đình Miên và cs (1997)[21], mức độ ưu thế lai đạt được có tính cách riêng biệt cho từng cặp lai cụ thể Theo Trần Kim Anh (2000)[2], ưu thế lai của mẹ có lợi cho đời con, ưu thế lai của lợn nái ảnh hưởng đến số con/ổ và tốc độ sinh trưởng của lợn con Ưu thế lai cá thể ảnh hưởng đến sinh trưởng và sức sống của lợn con, đặc biệt ở giai đoạn sau cai sữa Ưu thế lai của bố thể hiện tính hăng của con đực, kết quả phối giống, tỷ lệ thụ thai Khi lai hai giống, số lợn con cai sữa/nái/năm tăng 5 - 10%, khi lai 3 giống hoặc lai trở ngược số lợn con cai sữa /nái /năm tăng tới 10 - 15%, số con cai sữa/ổ nhiều hơn 1,0 - 1,5 con và khối lượng cai sữa/con tăng được 1 kg ở 28 ngày tuổi so với giống thuần

* Nguồn gốc di truyền của bố và mẹ:

Ưu thế lai phụ thuộc vào sự khác biệt giữa hai giống đem lai, hai giống càng khác biệt với nhau về di truyền bao nhiêu thì ưu thế lai thu được khi lai giữa chúng càng lớn bấy nhiêu, nếu các giống hay các dòng đồng hợp tử đối với một tính trạng nào đó thì mức dị hợp tử cao nhất ở F1, với sự phân li của các gen trong các thế hệ sau mức độ dị hợp tử sẽ giảm dần

Các giống càng xa nhau về điều kiện địa lý thì ưu thế lai càng cao Ưu thế lai của một tính trạng nhất định phụ thuộc đáng kể vào ngoại cảnh Có nhiều yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến giống, cũng như ảnh hưởng đến biểu hiện của ưu thế lai

* Điều kiện nuôi dưỡng:

Nếu điều kiện nuôi dưỡng kém thì mức độ thể hiện ưu thế lai thường thấp và ngược lại

2.2 Cơ sở khoa học của sinh trưởng và phát dục

Trong chăn nuôi lợn, đặc biệt là chăn nuôi lợn thịt, muốn đạt được năng suất cao, phẩm chất thịt tốt cần phải nắm vững đặc điểm phát triển của lợn gồm có sinh trưởng và phát dục

Trang 15

2.2.1 Khái niệm sinh trưởng và phát dục

Theo Trần Đình Miên và cs (1997)[21], thì sinh trưởng là quá trình tích lũy chất hữu cơ nhờ đồng hóa và dị hóa, là sự tăng về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật, trên cơ sở vật chất di truyền từ đời trước Thực chất của sinh trưởng chính là sự tăng trưởng

và sự phân chia của các tế bào trong cơ thể vật nuôi (Đặng Vũ Bình, 2000)[6]

Phát dục là quá trình hình thành những tổ chức, bộ phận mới trong cơ thể ngay từ giai đoạn đầu tiên của bào thai và trong cả quá trình phát triển của

cả cơ thể sinh vật, hay có thể hiểu phát dục là quá trình thay đổi về chất, tức là

sự tăng thêm, hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các bộ phận trong cơ thể gia súc

Sinh trưởng và phát dục là sự phát triển chung của cơ thể sống, có sinh trưởng thì có phát dục và ngược lại Ở bộ phận này có sự phát dục thì ở bộ phận kia có thể có sự sinh trưởng, hoặc sinh trưởng và phát dục đều thực hiện song song trong cùng một bộ phận cơ thể Giữa sinh trưởng và phát dục có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu phát triển không đầy đủ thì sẽ trở nên dị tật và nếu sinh trưởng không đầy đủ thì sẽ còi cọc, gầy yếu

2.2.2 Các quy luật sinh trưởng

Sự phát triển của cơ thể gia súc tuân theo 3 quy luật: quy luật phát triển theo giai đoạn, quy luật phát triển không đồng đều và quy luật có tính chu kỳ Hiểu biết về các quy luật phát triển của gia súc cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển sẽ giúp chúng ta tác động đúng vào quy luật sinh trưởng và phát dục để gia súc thể hiện hết tiềm năng di truyền của chúng nhằm đem lại lợi ích nhiều hơn cho con người

- Quy luật phát triển theo giai đoạn

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng sự phát triển của cơ thể động vật

có tính giai đoạn, mỗi giai đoạn phát triển khác nhau thì quá trình sinh trưởng phát dục cũng khác nhau Gia súc non sinh trưởng mạnh nhất trong thời gian

Trang 16

sau khi sinh, sau đó mức sinh trưởng giảm dần theo từng tháng Tính giai đoạn không chỉ đặc trưng cho cả cơ thể sống nói chung mà còn đặc trưng cho từng bộ phận, hệ thống

- Quy luật phát triển không đồng đều

Quy luật này nói lên trong cùng một cơ thể, tại cùng một thời điểm quá trình phát triển là không giống nhau ở các cơ quan, bộ phận khác nhau Có cơ quan bộ phận phát triển mạnh, có cơ quan bộ phận phát triển bình thường và

có thể là chậm Ví dụ như trong giai đoạn lợn mang thai kì 2, bào thai phát triển mạnh mẽ, nhưng các cơ quan vận động thì phát triển chậm Quy luật này cũng phản ánh trong cùng một cơ quan bộ phận, trong những giai đoạn khác nhau thì quá trình phát triển cũng khác nhau, ví dụ như giai đoạn lợn con thì

hệ thống sinh dục phát triển chậm hơn giai đoạn bước vào thành thục tính

- Quy luật phát triển theo chu kì

Quy luật này nói lên quá trình phát trển của các cơ quan bộ phận có tính chu kì, ví dụ như cứ sau 21 ngày thì trứng rụng ở lợn cái

Hiểu biết quá trình sinh trưởng và phát dục của lợn, giúp ta biết cách can thiệp để cải thiện các chỉ tiêu sinh sản, sinh trưởng, và đem lại hiệu quả kinh tế của việc chăn nuôi lợn

2.2.3 Tuổi thành thục về tính và các nhân tố ảnh hưởng

- Tuổi thành thục về tính

Tuổi thành thục về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Con vật đến tuổi thành thục về tính có những biểu hiện sau: + Bộ máy sinh dục đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, con cái rụng trứng lần đầu, con đực sinh tinh trùng, tinh trùng và trứng gặp nhau có khả năng thụ thai

+ Các đặc điểm sinh dục thứ cấp xuất hiện

+ Các phản xạ sinh dục xuất hiện như con cái thì có biểu hiện động dục, con đực có phản xạ giao phối

Trang 17

Ở lợn cái sự thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu Tuy vậy trong lần động dục này hầu như lợn cái không chửa đẻ mà nó chỉ báo hiệu cho khả năng có thể sinh sản của lợn cái Tuổi thành thục về tính có hệ số

di truyền rất thấp Theo Banne Bonadona (1995)[3] cho biết : lợn cái thường thành thục về tính lúc 6 tháng tuổi Sau khi thành thục về tính thì biểu hiện động dục lần thứ nhất thường không rõ ràng và tiếp sau đó ở vào thời kì sau, dần đi vào qui luật bình thường, đây là một quá trình sinh lý đặc biệt của lợn cái

Tác giả Sechegel và Sklener (1979)[23] thì cho rằng lợn Yorkshire có tuổi thành thục về tính là 250 ngày, đạt khối lượng 90 kg và tương ứng với lợn Polan China, loại nhỏ thì tuổi thành thục về tính là 207 ngày, đạt khối lượng 85 kg

- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính

+ Các yếu tố di truyền

Giống khác nhau thì sự thành thục về tính dục cũng khác nhau Sự thành thục về tính của gia súc nhỏ sớm hơn gia súc lớn Sự thành thục về tính

ở lợn cái được định nghĩa là thời điểm rụng trứng lần đầu tiên và xảy ra lúc 3

- 4 tháng tuổi đối với các giống lợn thành thục sớm (các giống lợn nội và một

số giống lợn Trung Quốc) và 6 - 7 tháng tuổi đối với hầu hết các giống lợn

phổ biến ở các nước phát triển (Rothschild và Bidanel, 1998)[54]

Đánh giá ảnh hưởng của giống đối với năng suất sinh sản, nhiều tác giả cho biết lợn nái lai có tuổi thành thục về tính sớm hơn (11,3 ngày), tỷ lệ thụ thai cao hơn (2 - 4%), số trứng rụng lớn hơn (0,5 trứng), số con đẻ ra/ổ (0,6 - 0,7 con)

và số con cai sữa/ổ (0,8 con) nhiều hơn so với nái thuần chủng Tỷ lệ nuôi sống lợn con ở nái lai cao hơn (5%) và khối lượng sơ sinh/ổ (1 kg), khối lượng 21 ngày/ổ (4,2 kg) cao hơn so với giống thuần

+ Các yếu tố ngoại cảnh

Ngoài các yếu tố di truyền, các yếu tố ngoại cảnh cũng ảnh hưởng rất

rõ ràng và rất có ý nghĩa đến tuổi thành thục về tính

Trang 18

* Chế độ nuôi dưỡng: chế độ nuôi dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính dục Nguyễn Tấn Anh (1998)[1] cho biết, để duy trì năng suất sinh sản cao thì nhu cầu dinh dưỡng đối với lợn cái hậu bị cần lưu ý đến cách thức nuôi dưỡng Cho ăn tự do đến khi đạt khối lượng 80 – 90 kg, sau đó cho ăn hạn chế đến lúc phối giống (chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3) 2 kg/ngày (khẩu phần 14% protein thô) Điều chỉnh mức ăn để khối lượng đạt

120 – 140 kg ở chu kỳ động dục thứ 3 và được phối giống Trước khi phối giống 14 ngày cho ăn chế độ Flushing, tăng lượng thức ăn từ 1 - 2,5 kg, có bổ sung khoáng và sinh tố thì sẽ giúp cho lợn nái ăn được nhiều hơn và tăng số trứng rụng từ 2 - 2,1 trứng/nái/lần động dục

* Ảnh hưởng của mùa vụ và thời gian chiếu sáng tới tuổi động dục John R Diehl, 1996 [20] cho biết: ở những lợn cái hậu bị được sinh ra trong mùa đông và mùa xuân thì động dục lần đầu chậm hơn lợn cái hậu bị được sinh ra trong các mùa khác trong năm Ngoài ra sự thành thục về tính bị chậm

là do nhiệt độ trong ngày cao hay thấp hoặc ngày quá ngắn Do vậy cần tạo điều kiện để lợn cái hậu bị được sống trong điều kiện nhiệt độ không quá cao hoặc quá thấp Thời gian chiếu sáng là một phần ảnh hưởng của mùa vụ tới tuổi thành thục về tính Bóng tối hoàn toàn làm chậm thành thục so với ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày

* Ảnh hưởng của việc nuôi nhốt đến tính phát dục

Mật độ nuôi nhốt ảnh hưởng đến sự thành thục về tính dục Những lợn cái hậu bị nuôi nhốt đông trên một đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Tuy nhiên việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển cũng làm chậm sự thành thục về tính Như vậy đối với lợn cái hậu bị cần được nuôi theo nhóm ở mật độ thích hợp thì sẽ không ảnh hưởng đến sự phát triển tính dục Theo Phùng Thị Vân (2004)[39] thường xuyên dịch chuyển và xáo trộn các nhóm lợn cái có thể ảnh hưởng đến

sự phát dục của lợn cái

Trang 19

* Ảnh hưởng của con đực: Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính dục của lợn cái hậu bị Nếu cách ly lợn cái hậu bị (ngoài 5 tháng tuổi) khỏi lợn đực sẽ dẫn đến làm chậm sự thành thục về tính dục so với những cái hậu bị cùng lứa tuổi được tiếp xúc với lợn đực Tuy nhiên, việc định thời gian tiếp xúc với lợn đực, tuổi lợn cái hậu bị lúc bắt đầu cho tiếp xúc hoặc tuổi đực giống cho tiếp xúc với lợn cái có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Vấn đề này cũng có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng trong một nhóm nhỏ của đàn nái hậu bị chỉ cần cho lợn đực tiếp xúc 10 - 15 phút/ngày, ý kiến khác lại cho rằng nếu cho tiếp xúc hạn chế với lợn đực thì động dục lần đầu chậm hơn so với lợn nái được tiếp xúc hàng ngày

- Chu kỳ động dục

Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể cái đặc biệt là cơ quan sinh dục

có biến đổi kèm theo sự rụng trứng Sự phát triển của trứng dưới sự điều tiết của hormon thuỳ trước tuyến yên làm cho trứng chín và rụng một cách có chu kỳ

và biểu hiện bằng những triệu chứng động dục có chu kỳ được gọi là chu kỳ tính

Thời gian một chu kỳ động dục, tính từ lần rụng trứng trước đến lần rụng trứng sau Lợn có chu kỳ sinh dục là 18 - 23 ngày, trung bình là 21 ngày Thời gian động dục kéo dài khoảng 3 - 7 ngày, trung bình là 5 ngày và chia làm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn trước động dục (kéo dài 1 - 2 ngày)

Là giai đoạn từ khi thể vàng tiêu huỷ tới lần động dục tiếp theo, chuẩn

bị cho đường sinh dục cái và trứng tiếp nhận tinh trùng, đón trứng rụng và thụ tinh Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục, nó xuất hiện đầy đủ các hoạt động về sinh lý, tính thành thục, trong đó có sự phát triển của bao noãn Bao noãn thành thục nổi rõ lên trên bề mặt buồng trứng, buồng trứng to hơn bình thường Đường sinh dục xung huyết, nhu động tử cung tăng cường, âm đạo xuất hiện niêm dịch, cổ tử cung hé mở Những biến đổi này chuẩn bị cho tế bào trứng tách khỏi buồng trứng

Trang 20

Các biểu hiện đặc trưng trong giai đoạn này là âm đạo sưng, con vật bồn chồn không yên, biếng ăn hoặc bỏ ăn, thích nhảy lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lưng mình

Giai đoạn này cần chú ý không nên dẫn tinh, phối ép vì trứng chưa rụng

do đó không có khả năng thụ thai

+ Giai đoạn động dục (kéo dài 2 - 3 ngày)

Giai đoạn này tế bào trứng tách khỏi noãn bao Toàn bộ cơ thể và cơ quan sinh dục biểu hiện hàng loạt biến đổi sinh lý

Lợn ở giai đoạn này có các biểu hiện:

Các biểu hiện ở cơ quan sinh dục: âm hộ xung huyết, tấy sưng lên, chuyển từ màu hồng đỏ sang màu mận chín, tử cung hé mở rồi mở rộng, âm đạo tiết dịch nhiều chuyển từ trong suốt và loãng sang đặc dần keo dính có tác dụng làm trơn đường sinh dục và ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn

Các biểu hiện về thần kinh: thần kinh hưng phấn, con vật ít ăn hoặc bỏ

ăn, bồn chồn không yên tĩnh, hoặc kêu rít lên phá chuồng, nhảy lên lưng con khác Lúc đầu chưa cho con đực nhảy, sau đó mới chịu đực, mắt đờ đẫn đứng yên cho con đực nhảy

Trứng rụng: ở lợn sau khi động dục 24-30 giờ thì trứng rụng và thời gian trứng rụng kéo dài 10-15 giờ Vì vậy nên phối 2 lần cho lợn sẽ có hiệu quả thụ thai cao

Nếu khi trứng rụng mà được thụ tinh thì lợn cái chuyển sang giai đoạn chửa, nếu trứng rụng mà không được thụ tinh thì chuyển sang giai đoạn sau động dục

+ Giai đoạn yên tĩnh

Là giai đoạn dài nhất, thường bắt đầu từ ngày cuối cùng sau khi trứng rụng và không thụ tinh, kết thúc khi thể vàng tiêu hủy không có các biểu hiện

Trang 21

về hành vi sinh dục Đây là giai đoạn nghỉ ngơi yên tĩnh để khôi phục lại cấu tạo chức năng cũng như năng lượng cho chu kỳ tiếp theo

Thời gian động dục của lợn nái phụ thuộc vào giống và điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc Thời gian động dục của lợn nái ngoại trung bình 5 ngày, lợn Ỉ

là 5, 6 ngày

- Cơ chế điều hoà thần kinh thể dịch đối với chu kỳ tính ở lợn

Hoạt động của chu kỳ tính được điều khiển bởi cơ chế thần kinh và thể dịch của vùng dưới đồi, các tuyến yên và buồng trứng theo cơ chế điều hòa ngược

Khi gia súc thành thục về tính, dưới sự kích thích hay ức chế của các nhân

tố như: Phermon của lợn đực, ánh sáng, nhiệt độ, chế độ dinh dưỡng thì vùng dưới đồi tiết (hay không tiết) hocmon GSH Hocmon này gồm hai loại:

FSH (Follicuto Stimulin Hormon) có tác dụng kích thích bao noãn phát triển và gây tiết Oestrogen

LH (Lutein Hormon): có tác dụng thúc đẩy bao noãn chín và rụng hình thành thể vàng

Hai loại hocmon này luôn có tỷ lệ ổn định và FSH được tiết ra trước, LH được tiết ra sau Trứng rụng khi tỷ lệ LH/FSH = 2/1- 3/1

Khi bao noãn chín thì tế bào hoạt động biểu mô bao noãn tăng cường tiết oestrogen làm cho hàm lượng hocmon này trong máu tăng, lúc này con vật hưng phấn và bắt đầu có biểu hiện động dục

Dưới tác dụng của Oestrogen, cơ thể và cơ quan sinh dục có nhiều biến đổi phức tạp để đảm bảo cho sự làm tổ của hợp tử sau này Các biểu hiện như âm đạo sưng và chuyển sang màu mận chín, tử cung hé mở rồi mở rộng, âm đạo tiết chất nhầy keo đặc làm trơn đường sinh dục và ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn Lợn cái bồn chồn không yên, bỏ ăn, bên trong có hiện tượng rụng trứng Đồng thời Oestrogen làm ngưng tiết FSH, tăng tiết LH và Prolactin Hai

Trang 22

loại hocmon này kích thích trứng chín và rụng Bình thường mỗi lần động dục có khoảng 15-20 trứng rụng, đối với lợn nái hậu bị thì số trứng rụng thường ít hơn (8-14 trứng) Tuy nhiên số trứng rụng biến đổi nhiều và tuỳ thuộc vào từng giống, điều kiện thời tiết, khí hậu và mùa vụ, dinh dưỡng, nồng độ hocmon trong máu…do hệ số di truyền về số trứng rụng rất thấp, h2 = 0,3 Sự rụng trứng thường xảy ra sau khi con cái bắt đầu chịu đực 25-30 giờ và kéo dài 10-12giờ

Số trứng rụng trong một chu kỳ động dục ở hai bên buồng trứng thường không đều nhau tạo điều kiện tốt cho quá trình phát triển của bào thai

Ở mỗi lần động dục thì thời gian chịu đực và thời gian rụng trứng không cùng thời điểm, do đó việc phát hiện lợn cái động dục kịp thời và xác định thời điểm phối giống thích hợp là biện pháp quan trọng nâng cao năng suất sinhh sản của lợn cái Thời gian rụng trứng thường kéo dài từ 25-30 giờ nên người ta thường dùng phương thức phối lặp và phối kép sẽ giúp nâng cao tỷ lệ thụ thai, từ

đó nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái

Tuy nhiên, để gia súc có thai thì trong thời gian động dục gia súc phải được phối giống Việc phối giống cho lợn cái hậu bị giống ngoại bắt đầu từ chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3 để đảm bảo sự hình thành về tính và thành thục về thể vóc của lợn cái Sau khi thụ tinh, hợp tử làm tổ ở hai bên sừng tử cung và phát triển thành bào thai Thời gian mang thai của lợn nái thường kéo dài từ 112-121 ngày và trung bình khoảng 114 ngày

Sau khi lợn con cai sữa 6-7 ngày thì lợn mẹ bắt đầu động dục trở lại, thời gian có thể dao động từ 5-12 ngày tuỳ thuộc vào thời gian cai sữa lợn con sớm hay muộn và tuỳ thuộc vào tỷ lệ hao hụt khối lượng của lợn mẹ trong giai đoạn

nuôi con

2.3 Các chỉ tiêu sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng

2.3.1 Các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái

Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, hiệu quả của chăn nuôi được đánh giá bằng số lợn con cai sữa/nái/năm và tổng khối lượng lợn con cai sữa/nái/năm

Trang 23

Hai chỉ tiêu này phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ

ra, số lứa đẻ/năm, tỷ lệ nuôi sống lợn con theo mẹ, sản lượng sữa của mẹ, kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc Do vậy việc cải tiến để nâng cao số lợn con cai sữa, khối lượng lợn con lúc cai sữa là một trong những biện pháp làm tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản nói chung và sản xuất lợn con nói riêng Bên cạnh đó nhất thiết phải làm giảm khoảng cách giữa 2 lứa

đẻ bằng cách cai sữa sớm lợn con và làm giảm số ngày động dục lại sau cai sữa của lợn mẹ ở những lứa kế tiếp

Các tác giả Nguyễn Thiện, Hoàng Kim Giao (1996)[27] cho rằng, trong các trang trại chăn nuôi lợn hiện đại, số lợn con cai sữa do một nái sản xuất ra trong 1 năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất năng suất sinh sản của lợn nái, chỉ tiêu này được tính chung trong toàn bộ thời gian sử dụng lợn nái (từ lứa

đẻ 1 đến lứa đẻ cuối cùng)

Trần Đình Miên (1997)[21] cho biết việc tính toán khả năng sinh sản của lợn nái cần xét đến các chỉ tiêu như chu kỳ động dục, tuổi thành thục về tính, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian chửa và số con đẻ ra/lứa

Đỗ Thị Thoa (1998)[29] (dịch từ báo cáo của Harman, 1994) thì cho biết các đặc tính sinh sản cần ở lợn nái gồm: tuổi đẻ lứa đầu, số con đẻ ra còn sống, số con cai sữa, khoảng cách lứa đẻ, thời gian cai sữa và theo tác giả số con cai sữa/nái/năm của lợn Large White là 21,2, lợn Landrace Pháp 21,2 và lợn Landrace Bỉ nuôi tại Pháp là 17,9 con

Theo tiêu chuẩn nhà nước (TCVN - 1280 - 81, 3879 - 54, 3900 - 84, ngày 1/1/1995)[32], các chỉ tiêu giám định về khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại các cơ sở công nghiệp lợn giống nhà nước như sau:

- Số con đẻ ra sống/lứa (con)

- Khối lượng 21 ngày tuổi/lứa (kg)

- Khối lượng con sữa /lứa (kg)

- Tuổi đẻ lứa đầu (với lợn đẻ lứa 1) (ngày)

Trang 24

- Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (ngày)

Thông thường các chỉ tiêu sau thường được đề cập tới để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái:

- Tuổi phối giống lần đầu đối với lợn nái đẻ lứa đầu (ngày)

- Số con đẻ ra/ổ (con)

- Số con đẻ ra còn sống/ổ (con)

- Số con đẻ ra chết/ổ (con)

- Khối lượng sơ sinh/ổ (kg)

- Khối lượng sơ sinh/con (kg)

- Số con để nuôi/ổ (con)

- Số con 21 ngày tuổi/ổ (con)

- Khối lượng 21 ngày/ổ (kg)

- Khối lượng 21 ngày/ con (kg)

- Số con cai sữa/ổ (con)

- Khối lượng cai sữa/ổ (kg)

- Khối lượng cai sữa/con (kg)

- Thời gian cai sữa (ngày)

- Thời gian phối giống có chửa sau cai sữa (ngày)

- Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (ngày)

- Số lứa đẻ/nái/năm (lứa)

- Số con cai sữa/nái/năm (con)

Như vậy năng suất sinh sản của lợn nái bao gồm nhiều yếu tố tạo thành

Để đánh giá năng suất sinh sản của vật nuôi có rất nhiều chỉ tiêu, nhưng người

ta thường quan tâm đến các chi tiêu quan trọng sau:

Trang 25

Tuổi động dục lần đầu sớm hay muộn còn phụ thuộc vào các yếu tố như: + Chế độ nuôi dưỡng: khẩu phần ăn thiếu nhiều protein sẽ làm rối loạn chức năng nội tiết, mất cân đối các cặp hocmon FSH – LH, Oestrogen – Progesteron làm cho gia súc cái chậm động dục, chậm sinh

Quá thừa protein và năng lượng cũng làm cho tỷ lệ thụ thai thấp do gan, thận, buồng trứng tích quá nhiều mỡ

Thiếu hoặc thừa các nguyên tố đa, vi lượng (photpho, canxi, đồng, kẽm, coban ) đều ảnh hưởng đến động dục lần đầu Photpho quy định chức năng nội tiết của tuyến yên, thiếu photpho gia súc cái không động dục Mangan, kẽm giúp cho việc sản sinh các hocmon sinh dục tuyến yên Vì thế thiếu chúng đều làm giảm tuổi động dục lần đầu

+ Trình độ quản lý và tay nghề: trong chăn nuôi hộ gia đình do điều kiện chuồng trại chật chội, gia súc chen lấn nhau làm cho người chăn nuôi không phát kịp thời động dục lần đầu

- Tuổi phối giống lần đầu

Thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta thường bỏ qua không phối vì thời điểm này con vật chưa phát triển hoàn chỉnh về thể vóc và số lần rụng trứng đầu tiên còn ít, do vậy người ta thường phối giống ở lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3 Với thời điểm này, lợn ngoại có trọng lợn trên 90kg thì có thể phối được

Với số ngày động dục lần đầu cộng thêm thời gian của 1 hoặc 2 chu kỳ động dục nữa ta sẽ có tuổi phối giống lần đầu

- Tỷ lệ thụ thai

Phụ thuộc rất lớn vào kĩ thuật phối, phối trực tiếp hay thụ tinh nhân tạo Ngoài ra tỷ lệ thụ thai còn bị ảnh hưởng bởi điều kiện khí hậu, thời tiết (nhiệt

độ, độ ẩm, ánh sáng…) đặc biệt đối với lợn ngoại

- Thời gian mang thai

Sự sai khác về thời gian mang thai của các dòng lợn khác nhau là

không đáng kể và biến động trong khoảng 113 – 115 ngày

Trang 26

- Số con đẻ ra/ổ

Tính cả số con đẻ ra sống, số con chết và cả số thai chết được đẻ ra Chỉ tiêu này đánh giá được tính sai con và khả năng thụ thai của nái, đồng thời đánh giá được kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái của người chăn nuôi

- Số con còn sống đến 24 giờ/ổ

Đây là chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật rất quan trọng Nó nói lên khả năng đẻ nhiều con hay ít con của con giống, đánh giá được chất lượng đàn con, khả năng nuôi thai của lợn nái, kỹ thuật thụ thai và chăm sóc nuôi dưỡng của người chăn nuôi

- Khối lượng sơ sinh/ ổ

Là chỉ tiêu đánh giá khả năng nuôi thai của lợn mẹ và khả năng sinh trưởng của thai cũng như sức sống của thai ở thời kỳ trong bụng mẹ

Khối lượng sơ sinh/ổ phụ thuộc vào yếu tố giống Các lợn giống ngoại

có khối lượng sơ sinh/ổ cao hơn so với các giống lợn nội ở nước ta

- Số con cai sữa / ổ

Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất vì năng suất sinh sản của nghành chăn nuôi lợn phụ thuộc vào số con cai sữa/lứa được phát triển đến khi xuất chuồng Chỉ tiêu này có liên qua đến kỹ thuật chăn nuôi lợn con bú sữa, khả năng tiết sữa và khả năng nuôi con của lợn mẹ

- Khối lượng cai sữa/ổ

Chỉ tiêu này do số con cai sữa, khả năng nuôi con và tiết sữa của nái và

kĩ thuật tập ăn cho heo con quyết định

- Thời gian cai sữa

Là thời gian lợn con tại thời điểm tách mẹ để nuôi riêng Nếu chăm sóc

nuôi dưỡng tốt thì thời gian cai sữa được rút ngắn Khi đó lợn mẹ sẽ nhanh chóng được cho phối chửa lứa tiếp theo, như vậy sẽ làm giảm khoảng cách

lứa đẻ và tăng số lứa đẻ/nái/năm

Trang 27

- Thời gian động dục trở lại sau cai sữa (thời gian chờ phối)

Là khoảng thời gian được tính từ khi lợn con được cai sữa và tách khỏi mẹ đến khi con mẹ có những biểu hiện động dục, bắt đầu cho một chu kỳ tính mới Chỉ tiêu này phụ thuộc rất nhiều vào kỹ thuật và chế độ nuôi dưỡng, số lợn con để nuôi và

thời gian cai sữa…

- Khoảng cách lứa đẻ

Là khoảng thời gian từ ngày đẻ lứa trước đến ngày đẻ lứa sau Do đó được tính bằng tổng của thời gian mang thai, thời gian nuôi con và thời gian không sản xuất cộng lại (thời gian chờ phối hay thời gian không mang thai, không nuôi con) Chỉ tiêu này phụ thuộc chủ yếu vào thời gian nuôi con hay thời gian cai sữa và thời gian không sản xuất vì thời gian mang thai luôn không đổi và nếu có thì chỉ biến động trong vài ngày Vì vậy biện pháp để tăng thời gian sử dụng nái, tăng hiệu quả chăn nuôi lợn nái là rút ngắn thời gian cai sữa và thời gian không sản xuất Nếu khoảng cách lứa đẻ càng ngắn thì càng làm tăng số lứa đẻ/nái/năm

2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái

2.3.2.1 Yếu tố di truyền

Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Theo Legault (1985)[48] căn cứ vào khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt, các giống lợn được chia làm bốn nhóm chính như sau:

- Các giống đa dụng như Yorkshire, Landrace và một số dòng nguyên chủng được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khó

- Các giống chuyên dụng "Dòng bố" như Pietrain, Landrace của Bỉ, Hampshire, Poland China có khả năng sinh sản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao

- Các giống chuyên dụng "Dòng mẹ", đặc biệt một số giống chuyên sản của Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có khả năng sinh sản đặc biệt cao nhưng khả năng cho thịt kém

Trang 28

- Các giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt kém, song có khả năng thích nghi tốt với môi trường

Giống Meishan (Trung Quốc) có khả năng sinh sản rất cao, đạt 14-18 lợn sơ sinh, trên 12 lợn con cai sữa /ổ ở lứa để thức 3 đến lứa đẻ 10 (Vũ Kính Trực, 1998)[35] Người ta không phát hiện thấy trong quần thể lợn Meishan

có kiểu gen halothan nn Trong khi đó, các giống chuyên dụng "Dòng bố" như Pietrain và Landrace của Bỉ có khả năng sinh sản bình thường, song rất nhạy cảm với stress do tần số gen halothan nn cao

2.3.2.2 Các yếu tố ngoại cảnh

- Chế độ nuôi dưỡng

Để đảm bảo khả năng sinh sản của lợn nái thì một trong những yếu tố quan trọng đó là dinh dưỡng Lợn nái và lợn cái hậu bị có chửa cần được cung cấp đủ về số và chất lượng các chất dinh dưỡng để có kết quả sinh sản tốt

Các mức ăn khác nhau trong giai đoạn từ cai sữa đến phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai Nuôi dưỡng hạn chế lợn cái trong giai đoạn hậu bị sẽ làm tăng tuổi động dục lần đầu, tăng tỷ lệ loại thải so với nuôi dưỡng đầy đủ Nuôi dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng rụng, tăng số phôi sống

+ Ảnh hưởng của protein

Lợn nái ngoại khẩu phần ăn thường chiếm từ 15 - 17% protein, tùy thuộc vào thể trạng và các giai đoạn Nếu cung cấp thừa hay thiếu protein đều ảnh hưởng tới sinh sản của lợn nái Nếu thiếu ở giai đoạn mang thai sẽ làm khối lượng sơ sinh thấp, số con đẻ ra ít, thể trạng yếu ớt Ở giai đoạn nuôi con

sẽ ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng sữa từ đó ảnh hưởng đến khả năng nuôi con của lợn mẹ Nếu cung cấp protein thừa ở giai đoạn mang thai sẽ làm tăng tỷ lệ thai chết, gây lãng phí protein, không đem lại hiệu quả kinh tế Hàm lượng protein có trong khẩu phần thức ăn tùy thuộc vào từng giai đoạn nuôi dưỡng của lợn nái

Trang 29

+ Ảnh hưởng của năng lượng

Việc cung cấp năng lượng theo nhu cầu của lợn nái cho từng giai đoạn

có ý nghĩa rất quan trọng, vừa đảm bảo cho sinh lý bình thường và nâng cao được năng suất sinh sản Cung cấp thừa năng lượng trong thời gian mang thai

sẽ làm cho lợn nái béo gây chết phôi, đẻ khó và sau khi đẻ sẽ kém ăn làm giảm khả năng tiết sữa đặc biệt là sữa đầu, từ đó ảnh hưởng đến sức sống cũng như sự phát triển của đàn con Mặt khác làm cho lợn con có tỷ lệ ỉa chảy cao do sữa nhiễm mỡ Nếu cung cấp thiếu năng lượng cho lợn nái trong giai đoạn mang thai sẽ làm cho lợn nái quá gầy, không đảm bảo cho quá trình sinh trưởng, phát triển của thai Nếu thiếu trầm trọng có thể dẫn đến tiêu thai, sẩy thai Nhu cầu năng lượng phù hợp cho nái ngoại và lợn nái lai ngoại là 3000 -

3100 Kcal/kg thức ăn hỗn hợp Khẩu phần ăn cho lợn nái chửa kỳ I là 1,8 - 2,5 kg/nái/ngày Lợn nái chửa kỳ II là 2,5 - 3 kg/con/ngày Nái nuôi con trung bình là từ 4,5 - 5 kg/con/ngày

+ Ảnh hưởng của khoáng chất

Khoáng chất cũng là yếu tố cần thiết đảm bảo sự sống bình thường cho lợn mẹ Lợn nái thiếu Ca, P, nguyên nhân là do trong khẩu phần ăn thiếu Ca, hoặc thiếu Vitamin D Trong khẩu phần thức ăn của lợn nái không những phải cung cấp đầy đủ Ca và P mà phải cung cấp đầy đủ Vitamin D và có sự cân bằng giữa Ca và P, điều này rất cần thiết cho quá trình hấp thu Ca và P Thiếu Ca và P ảnh hưởng rất lớn tới lợn nái, đặc biệt trong giai đoạn mang thai, trong giai đoạn mang thai lợn mẹ cần rất nhiều Ca và P để cung cấp cho quá trình tạo mô xương của bào thai, khi bị thiếu cơ thể mẹ huy động Ca và P trong các mô xương ra, do

đó hệ xương của cơ thể mẹ bị loãng và yếu dẫn đến lúc đẻ và sau đẻ lợn nái dễ bị bại liệt Ngược lại nếu thừa Ca và P cũng ảnh hưởng đến lợn nái và gây ra một

số bệnh như sỏi thận, gây lắng đọng Ca ở phủ tạng,

+ Ảnh hưởng của khoáng vi lượng (Cu, Fe, Zn )

Theo tiêu chuẩn Nhật Bản (1993) thì lợn nái cần 150 mg Fe, 99 mg Zn

Trang 30

và 9,9 mg Cu, còn lợn nái nuôi con cần một lượng tương ứng là 443 mg Fe;

271 mg Zn; 27,1 mg Mn

+ Ảnh hưởng của vitamin

Các vitamin A, D, B1, C, E … sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe đàn lợn như: hiện tượng chết phôi, chết thai, trứng rụng ít dẫn đến số con đẻ ra ít, lợn con đẻ ra còi cọc, lợn nái sẽ bị bại liệt trước và sau đẻ, chất lượng sữa và

số lượng sữa cũng kém

Nếu bổ sung vitamin thừa cũng là liều thuốc độc cho cơ thể Ví dụ, thừa vitamin A sẽ gây ảnh hưởng hấp thu vitamin E làm cho lợn không động dục hay động dục kém, thai phát triển kém

2.3.2.3 Ảnh hưởng của yếu tố tuổi và khối lượng phối giống lần đầu

Để tiến hành phối giống lần đầu thì lợn cái hậu bị phải thành thục cả về tính và thể vóc Tuổi đẻ lứa đầu và khối lượng phối giống lần đầu quá sớm hay quá muộn, quá thấp hay quá cao đều ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái Nếu lợn hậu bị đưa vào khai thác quá sớm có thể cơ thể phát triển chưa hoàn thiện nên số trứng rụng ít, tỷ lệ thụ thai kém Hơn nữa nó còn ảnh hưởng đến phát triển thể chất, thể vóc sau này Nếu lợn hậu bị đưa vào khai thác muộn

sẽ làm giảm thời gian sử dụng con nái dẫn đến giảm hiệu quả kinh tế

2.3.2.4 Ảnh hưởng của số trứng rụng

Trứng được sản xuất ra từ buồng trứng sau khi rụng xuống trứng sẽ đến

tử cung chờ thụ tinh, số trứng rụng nhiều hay ít sẽ ảnh hưởng số con sinh ra Như vậy, số trứng rụng trong một chu kỳ động dục là giới hạn cao nhất của số con đẻ ra trong một lứa, trong thực tế mỗi lợn nái đẻ trên dưới 10 con điều đó chứng tỏ số trứng rụng sẽ nhiều hơn số con đẻ ra

Rapael, Dioz Motila, (1971)[22] cho biết: sự rụng trứng ở lợn nái trưởng thành xảy ra sau 20 - 29 giờ tính từ khi bắt đầu động dục, còn ở lợn hậu bị thời điểm này chậm hơn 25 - 32 giờ

Tác giả Perry (1954)[51] cho thấy số trứng rụng của nái tơ là 13,5 và nái trưởng thành là 21,4 trung bình số trứng rụng của lợn nái là 15 - 20 Mỗi chu

Trang 31

kỳ động dục của lợn có thể rụng 15 - 20 trứng có khi đến 40 trứng, trong đó buồng trứng bên trái thường rụng nhiều trứng hơn (Trần Cừ và cs 1975)[10]

Hệ số cận huyết cũng ảnh hưởng đến số trứng rụng, theo Sterward (1975)[57], khi hệ số cận huyết tăng lên 10% thì số trứng rụng sẽ giảm đi 0,6

- 1,7

2.3.2.5 Ảnh hưởng của thời điểm phối và phương thức phối giống

Tỷ lệ thụ tinh của các trứng rụng trong chu kỳ động dục của lợn nái chủ yếu phụ thuộc vào thời điểm phối giống Trong điều kiện bình thường tỷ lệ thụ tinh là 90 - 100% nếu số trứng rụng ở mức bình thường và tỷ lệ thụ tinh sẽ không ảnh hưởng gì tới sự phát triển của các trứng đã được thụ tinh, Self (1956)[55]; Hancock (1961)[43] Song nếu số trứng rụng quá mức bình thường thì tỷ lệ trứng phát triển bình thường ngay sau khi thụ tinh sẽ giảm đi, tức là tỷ lệ con đẻ ra/số trứng rụng sẽ giảm thấp khi số trứng rụng tăng lên

Thời điểm phối giống thích hợp nhất không có khoảng cách dài mà chỉ

ở một biên độ thời gian nhất định Thời gian động dục kéo dài 5-7 ngày, nhưng thời gian chịu đực chỉ khoảng 2,5 ngày Muốn nâng tỷ lệ thụ thai phải nắm được thời điểm rụng trứng và quãng thời gian trứng rụng, phối tinh quá sớm hoặc quá muộn đều dẫn đến kết quả thụ tinh không cao

Thời điểm phối giống từ 24 - 30 giờ kể từ khi con cái chịu đực là thích hợp nhất, Schlegel và Sklener, (1979)[23]

Nguyễn Thiện (1998)[28] đã tổng kết công trình nghiên cứu xác định thời điểm rụng trứng và thụ tinh thích hợp nhất: phối giống tại các thời điểm:

18, 24, 30, 36 và 42 giờ kể từ khi con vật bắt đầu chịu đực tỷ lệ thụ thai lần lượt là 80%, 100%, 100%, 80%, 70% và số con đẻ ra tương ứng là: 8,20; 11,80; 10,50; 9,80; 7,80 con và tác giả đã đi đến kết luận thời điểm phối giống thích hợp nhất vào lúc 24 - 30 tính từ giờ chịu đực đầu tiên, giao động từ 15 -

45 giờ Để có kết quả cao, cần phối giống cho lợn nái bằng phương thức phối kép (2 lần), lần sau cách lần trước 10 - 12 giờ trong ngày hoặc cuối ngày hôm

Trang 32

trước và đầu ngày hôm sau, Phạm Hữu Doanh, Đinh Hồng Luận (1985)[11]

Phương pháp phối giống cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai, có 2 phương pháp phối giống là phương pháp phối giống trực tiếp và thụ tinh nhân tạo Theo một số tác giả tỷ lệ thụ thai của lợn thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp là 92,3 và 94,4% Số con đẻ ra của lợn thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp

là 10,64 và 11,48 con

2.3.2.6 Ảnh hưởng của lứa đẻ

Lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái vì có sự khác nhau về chức năng theo tuổi của lợn nái Khả năng sinh sản của lợn nái thường thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất, đạt cao nhất ở lứa đẻ thứ 3, 4,

5 và sau đó gần như là ổn định hoặc hơi giảm khi lứa đẻ tăng lên Số con đẻ ra/ổ có quan hệ chặt chẽ đến tuổi của lợn nái và giảm nhanh sau 4, 5 tuổi Lợn

đẻ lứa đầu tiên thường có số con đẻ ra, khối lượng sơ sinh nhỏ hơn so với những lứa đẻ sau

2.3.2.7 Ảnh hưởng của thời gian nuôi con của lợn nái

Thời gian nuôi con của lợn mẹ có ảnh hưởng tới khoảng cách giữa 2 lứa đẻ và qua đó ảnh hưởng tới số lợn con/nái/năm

Theo Hughes và cs (1980)[45] nhận định rằng mặc dù cai sữa ở 8 tuần tuổi là tốt nhất cho cả mẹ và con nhưng nó sẽ ảnh hưởng đến số lứa đẻ/nái/năm Trong trường hợp này số lứa đẻ chỉ đạt 1,8 - 2,0 lứa, nhưng nếu cai sữa ở 3 tuần tuổi có thể đạt 2,5 lứa/nái/năm với chi phí rất rẻ, lợn con ít bệnh

Để rút ngắn thời gian nuôi con của lợn mẹ không còn con đường sinh học nào khác ngoài biện pháp cai sữa sớm lợn con Muốn vậy vấn đề quan trọng là phải tập cho lợn con ăn sớm từ 7 ngày tuổi để đến ngày thứ 30 lợn con có thể sống độc lập không cần sữa mẹ (Lê Hải, 1981)[16]

Hiện nay trên thế giới, lợn con được cai sữa ở 23 - 28 ngày tuổi Ở Úc thời gian cai sữa trung bình hiện nay 23,6 ngày tuổi

Trang 33

2.3.2.8 Ảnh hưởng của số lần phối giống

Số lần phối giống trong một lần động dục ở lợn nái ảnh hưởng tới số con đẻ ra/ổ Phối đơn trong một chu kỳ động dục ở lúc động dục cao nhất có thể đạt được số con đẻ ra/ổ cao, nhưng phối hai lần trong một chu kỳ động dục làm tăng số con đẻ ra/ổ

2.3.2.9 Ảnh hưởng của số con trong ổ

Năng suất của đàn lợn nái được xác định bởi chỉ tiêu số lợn con được cai sữa/nái/năm Do đó, số con trên ổ là tính trạng năng suất sinh sản rất quan trọng, (Lê Xuân Cương, 1986)[9] Người ta thường quan tâm đến các chỉ tiêu

số con trong ổ là:

- Số con đẻ ra

- Số con đẻ ra còn sống

- Số con cai sữa

Trương Văn Đa, Lê Thanh Hải (1987)[13] nghiên cứu ở Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh: số con sơ sinh của lợn nái Yorkshire là 9,12 - 9,88 con, số con cai sữa là 8,88 - 9,64 con/lứa, có khoảng 3 - 5% lợn con chết khi

sơ sinh bao gồm do khó đẻ và lợn con chết trong giai đoạn chửa đẻ cuối cùng

Tác giả Ridgcon (1974)[53] đưa ra mục tiêu phấn đấu cho mỗi ổ đẻ là 10 -

12 lợn con còn sống và 9,6 - 10,5 lợn con cai sữa Tỷ lệ chết dưới 10 - 13%

2.3.2.10 Ảnh hưởng của thời gian động dục trở lại sau cai sữa

Thời gian động dục trở lại sau cai sữa không giống nhau giữa các giống Theo Nguyễn Thiện, Hoàng Kim Giao (1996)[27], cai sữa sớm không

đi liền với động dục sớm và ngược lại, cai sữa càng sớm thì khoảng cách từ cai sữa tới ngày động dục càng dài, rụng trứng ít Cai sữa vào 10 ngày có thời gian động dục trở lại là 14,7 ngày; cai sữa 28 ngày động dục trở lại sau 12,20 ngày, cai sữa 50 ngày thì động dục trở lại 6 ngày và số trứng rụng 15 - 16 trứng Tác giả cho rằng tốt nhất là cai sữa lợn con từ 21 - 28 ngày tuổi

Trang 34

2.3.2.11 Ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ

Đối với lợn ngoại, điều kiện khí hậu thời tiết mùa vụ (nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng ) ảnh hưởng rất lớn đến sức sinh sản của lợn nái Nhiệt độ thích hợp cho sinh sản là 18 - 200C Nếu nhiệt độ lớn hơn 300C thì sẽ làm giảm tỷ

lệ thụ thai và tăng tỷ lệ chết phôi Do đó vào mùa hè tỷ lệ thụ thai thấp và số con đẻ ra/lứa thường thấp hơn các mùa khác Nếu nhiệt độ thấp quá (dưới

180C) thì tỷ lệ lợn con chết do lạnh và tiêu chảy cao hơn Như vậy tỷ lệ nuôi sống lợn con sẽ thấp hơn bình thường

Ngoài những yếu tố cơ bản trên làm ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái thì còn có một số yếu tố khác như: chăm sóc lợn mẹ sau cai sữa, công tác thú y, kiểu chuồng trại

2.4 Các chỉ tiêu sinh trưởng và yếu tố ảnh hưởng

2.4.1 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng và khả năng cho thịt

Các chỉ tiêu quan trọng của khả năng nuôi vỗ béo bao gồm: tăng trọng ngày đêm, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng, thu nhận thức ăn/ngày và khối lượng đạt được lúc giết thịt

- Tăng trọng ngày đêm trên con

Chỉ số này nói lên mức độ sinh trưởng trong khoảng thời gian ngày đêm Lợn con thì tăng trọng bình quân thấp, lợn càng lớn thì tăng trọng bình quân càng cao Tuy nhiên nếu lợn bước vào thời kì sinh sản thì tăng trọng bình quân càng ngày càng thấp Chính vì vậy, trong chăn nuôi lợn, việc xác định tại thời điểm nào, tăng trọng bình quân vào giá trị nào thì tiến hành xuất chuồng rất quan trọng

- Tiêu tốn thức ăn trên kg tăng trọng

Chỉ số này nói lên khả năng chuyển hóa dinh dưỡng của thức ăn Tiêu tốn thức ăn phụ thuộc vào giống rất lớn, giống nội tiêu tốn thức ăn cao hơn giống lợn ngoại Tiêu tốn thức ăn cũng phụ thuộc vào thành phần dinh dưỡng

Trang 35

của thức ăn, nếu thức ăn tốt, cân đối thì tiêu tốn thức ăn thấp Thường thì thức

ăn cho giai đoạn lợn nhỏ thì protein cao hơn, năng lượng cũng cao hơn, bổ sung nhiều nguyến tố đa vi lượng hơn so với lợn lớn Thực tế cùng 1 loại thức

ăn nhưng nếu lợn càng nhỏ thì tiêu tốn thức ăn càng thấp, nguyên nhân là khả năng hấp thụ dinh dưỡng để tạo thành các mô của lợn ở các giai đoạn khác nhau là khác nhau

- Khối lượng lúc giết thịt

Chỉ số này phụ thuộc vào tăng trọng bình quân và số ngày nuôi Khối lượng giết thịt càng cao thì thịt lợn càng ít mất nước, pH càng ổn định và mỡ càng nhiều Nếu khối lượng thấp thì tỉ lệ mất nước cao, màu nhạt tỉ lệ nạc cao

Hiện nay trong chăn nuôi công nghiệp lợn thường được giết thịt ở 5 tháng tuổi

2.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và khả năng cho thịt

Các tính trạng về khả năng sinh trưởng và cho thịt ở lợn hầu hết là tính trạng số lượng và chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền và ngoại cảnh

Các tính trạng sinh trưởng như tăng trọng trong một ngày đêm, tiêu tốn thức ăn /kg tăng trọng, thu nhận thức ăn có hệ số di truyền ở mức trung bình (h2 =0,31)

- Các yếu tố ngoại cảnh

+Tính biệt

Tính biệt có ảnh hưởng rõ rệt đối với tăng khối lượng Lợn cái, lợn đực

Trang 36

hay đực thiến đều có tốc độ phát triển và cấu thành của cơ thể khác nhau Tuy nhiên, nhu cầu về năng lượng cho duy trì của lợn đực cũng cao hơn lợn cái và lợn đực thiến

+Dinh dưỡng

Phương thức cho ăn và giá trị dinh dưỡng trong khẩu phần ăn là chìa khóa ảnh hưởng lên tăng khối lượng Mối quan hệ giữa năng lượng và protein trong khẩu phần là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng khối lượng

Lợn nuôi bằng khẩu phần dinh dưỡng cao (protein, năng lượng) có sự phát triển mạnh mẽ về thịt nạc, mỡ và tỷ lệ mỡ trong cơ thấp hơn, tỷ lệ xương cao hơn so với nuôi lợn bằng khẩu phần dinh dưỡng thấp

+ Ảnh hưởng của cơ sở chăn nuôi và chuồng trại

Cơ sở chăn nuôi và chuồng trại cũng ảnh hưởng đến khả năng sản xuất

và chất lượng thịt Nuôi lợn ở mật độ cao sẽ ảnh hưởng đến tăng trọng hàng ngày của lợn

Các yếu tố stress ảnh hưởng xấu tới quá trình trao đổi chất và sức sản xuất của lợn bao gồm thay đổi nhiệt độ chuồng nuôi, tiểu khí hậu, khẩu phần ăn không đảm bảo, phân đàn, chuyển chỗ ở, thay đổi khẩu phần ăn đột ngột,…

và hiệu quả kinh tế kém

2.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.5.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Từ năm 1994 nước ta có chủ trương “nạc hoá đàn lợn” ở các tỉnh phía Bắc, từ đó bắt đầu phát triển chăn nuôi lợn ngoại rộng khắp cả nước Hai giống lợn Landrace và Yorkshire có khả năng sinh sản tốt, vì vậy được nghiên

Trang 37

cứu chọn lọc theo định hướng năng suất sinh sản cao tạo ra con lai F1(LY) và F1(YL) Hiện nay việc nhân giống thuần và lai tạo giống đã sử dụng nhiều ở các trang trại chăn nuôi lợn

Nghiên cứu của Đinh Văn Chỉnh và cs (1995)[8] cho biết năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire nuôi tại Trung tâm Giống gia súc Hà Tây, khối lượng phối giống lần đầu của hai giống này là 99,3 và 100,2 kg; tuổi phối giống lứa đầu của hai giống này là 254,1 và 282,0 ngày; tuổi đẻ lứa đầu 367,0 và 396,3 ngày Số con đẻ ra còn sống là 8,2 và 8,3 con/ổ; khối lượng sơ sinh/ổ là 9,12 và 10,89 kg; khối lượng 21 ngày tuổi/ổ là 40,7 và 42,1 kg

Kết quả nghiên cứu về năng suất sinh sản thể hiện ở thông báo của Đặng Vũ Bình (1999)[5] Ở lợn Yorkshire tuổi đẻ lứa đầu 418 ngày tuổi; số con đẻ ra còn sống 9,77 con/ổ; số con 21 ngày tuổi là 8,61 con/ổ Số con 35 ngày tuổi là 8,15 con/ổ và khối lượng lúc 35 ngày tuổi là 8,09 con Ở lợn Landrace các chỉ tiêu tương ứng là 9,86 con/ổ; 8,68 con/ổ; 8,22 con/ổ và 6,2 kg

Đoàn Xuân Trúc và cs (2000)[33] thông báo lợn Landrace có tuổi đẻ lứa đầu là 373,42 ngày

Lê Thanh Hải và cs (2001)[14] thông báo nái lai F1(LY) và F1(YL) có các chỉ tiêu sinh sản cao hơn nái thuần Landrace, Yorkshire Số con cai sữa của lợn nái F1(LY), F1(YL), Landrace, Yorkshire lần lượt là 9,27; 9,25; 8,55 và 8,6 con với khối lượng toàn ổ tương ứng là 78,90; 83,10; 75,00 và 67,20 kg

Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009)[17] có kết quả về số con cai sữa/ổ với tổ hợp Du×F1(LY) là 10,09 con Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010)[26] cho kết quả về số con cai sữa/ổ với tổ hợp Du×F1(LY) là 10,05 con, PiDu×F1(LY) là 10,15 con

Kết quả nghiên cứu của Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009)[17] cho biết khoảng cách lứa đẻ ở Landrace, Yorkshire, F1(LY) tương ứng là: 158,49; 160,11 và 159,02 ngày

Trang 38

2.5.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Trong nhiều thập kỷ trở lại đây, lai giống là một trong những biện pháp quan trọng để sản xuất lợn thịt có năng suất chất lượng cao ở nhiều nước trên thế giới Lúc đầu mới chỉ áp dụng các tổ hợp lai kinh tế đơn giản như lai giữa hai giống lợn, về sau có nhiều tổ hợp lai kinh tế phức tạp 3, 4, 5 giống lợn

White và cs (1997)[60] đã nghiên cứu trên lợn Yorkshire cho thấy: tuổi động dục lần đầu là 201 ngày số con đẻ ra còn sống của 20 ổ ở lứa 1 trung bình là 7,2 con/ổ, cũng với chỉ tiêu tuổi động dục lần đầu L.A.Kuehn và cộng

sự (2008)[47] cho biết tuổi động dục lần đầu của nái lai (Duroc × YL) là 206,7 ngày, nái (Landrace × YL) là 208,1 ngày

Stoikov và cs (1996)[58] đã tiến hành nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn Yorkshire và Landrace có nguồn gốc khác nhau được nuôi ở Bungari cho biết số con đẻ ra/ổ ở các giống là khác nhau Cụ thể là lợn Yorkshire Anh 9,7 con/ổ, Yorkshire Thụy Điển 10,6 con/ổ, Yorkshire Balan 10,5 con, Landrace Anh là 9,8 con, Landrace Bungari,10 con, Landrace Bỉ là 8,5 con/ổ White và cs (1997)[60] nhận thấy nái lai F1 (Yorkshire × Meishan) có

số trứng rụng, số thai và số con đẻ ra/ổ nhiều hơn giống thuần Khi cho lợn đực Pietrain phối với lợn nái F1 (Landrace ×Yorkshire), tỷ lệ nạc đạt 52-55%

và đạt khối lượng 100kg ở 161 ngày tuổi Kết quả của một số tác giả cho thấy lai ba giống Du×(LW × L) có tốc sinh trưởng, chất lượng thân thịt tốt Do đó việc sử dụng lai hai, ba giống là phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản và sản xuất lợn thịt thương phẩm

Buczyncki và cộng sự (1998)[40] tiến hành lai giữa lợn đực Pietrain với lợn nái Polish LW, Zlotnicka Spotted và nái lai (Zlotnicka Spotted × Polish LW)

Close và cs (2000)[41], cho kết quả, nếu cai sữa lợn con ở 24 ngày tuổi,

số lứa đẻ/nái/năm đạt 2,27 đến 2,42 lứa còn nếu cai sữa lợn con ở 28 ngày tuổi thì số lứa đẻ/nái/năm chỉ đạt 2,20 đến 2,35 lứa

Trang 39

Littman và cs(2010)[49] cho kết quả về khả năng tăng trọng ở tổ hợp lai Pi×(DE×DL) và Pi×(DL×DE) lần lượt là 844 và 818g/con/ngày, tác giả cũng cho biết tiêu tốn thức ăn ở hai tổ hợp lần lượt là 2,31kg/kgTT ở Pi×(DE×DL) và 2,33kg/kgTT ở Pi×(DL×DE)

DanBred (2011)[42] tến hành lai giữa đực Duroc và nái Hampshire cho

ra tổ hợp lai Danline HD và lai giữa đực Landrace với nái Yorkshire cho ra tổ hợp lai Danhybrid LY

Hypor (2011)[44]đã tiến hành lai giữa lợn đực Duroc và đực Pietrain với nái lai (Landrace × Yorkshire) và (Yorkshire × Landrace) và cho kết quả con lai bốn giống cho tốc độ sinh trưởng g/con/ngày cao hơn con lai ba giống, con lai ba giống có mức tăng trọng, tỷ lệ nạc cao hơn con lai hai giống

Trang 40

3 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Lợn nái

Lợn nái F1 (Landrace × Yorkshire) phối giống với lợn đực PiDu và Duroc, nuôi tại trang trại chăn nuôi lợn của gia đình bà Bùi Thị Mai, xã Trần Phú, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội Số lượng khảo sát ở mỗi công thức là 50 nái Lứa đẻ theo dõi trong nghiên cứu từ lứa thứ 1 đến lứa thứ 6

3.1.2 Lợn nuôi thịt

Đàn lợn thương phẩm được tạo ra từ công thức lai lợn đực PiDu và đực Duroc phối với nái F1(Landrace × Yorkshire) Số lượng khảo sát ở mỗi công thức là 100 con ( 50 đực và 50 cái)

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Đề tài được thực hiện tại trang trại chăn nuôi lợn của gia đình bà Bùi Thị Mai, xã Trần Phú, huyện Chương Mỹ, Hà Nội

- Thời gian nghiên cứu từ 15/7/2011 đến 15/2/2012

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Đánh giá năng suất sinh sản của hai tổ hợp lai PiDu × (LY) và Du × (LY)

- Tuổi đẻ lứa đầu (ngày): là tuổi mà lợn nái đẻ lứa đầu tiên

- Số con đẻ ra/ổ: Tổng số con đẻ ra bao gồm cả con còn sống và con đã chết

- Số con đẻ ra còn sống/ổ: Là số con đẻ ra còn sống sau khi lợn mẹ đẻ xong

- Tỷ lệ nuôi sống: Là phần trăm giữa số lợn con sinh ra còn sống/ số lợn con đẻ ra

- Số con để nuôi/ổ: Số con do lợn nái đẻ ra để lại nuôi (chỉ loại bỏ

Ngày đăng: 13/11/2015, 20:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Chế độ dinh dưỡng cho lợn nái và lợn con theo mẹ - Năng suất sinh sản, sinh trưởng của công thức lai nái f1 (landrace x yorkshire) phối với đức pidu và duroc tại trang trại chăn nuôi lợn huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 3.1. Chế độ dinh dưỡng cho lợn nái và lợn con theo mẹ (Trang 42)
Bảng 3.2. Chế độ dinh dưỡng cho lợn thịt - Năng suất sinh sản, sinh trưởng của công thức lai nái f1 (landrace x yorkshire) phối với đức pidu và duroc tại trang trại chăn nuôi lợn huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 3.2. Chế độ dinh dưỡng cho lợn thịt (Trang 43)
Bảng 4.1. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(LY) phối với đực PiDu và Duroc - Năng suất sinh sản, sinh trưởng của công thức lai nái f1 (landrace x yorkshire) phối với đức pidu và duroc tại trang trại chăn nuôi lợn huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 4.1. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(LY) phối với đực PiDu và Duroc (Trang 46)
Bảng 4.2. Năng suất sinh sản của lợn nái F 1 (LY) phối với đực Duroc và PiDu ở lứa đẻ 1 - Năng suất sinh sản, sinh trưởng của công thức lai nái f1 (landrace x yorkshire) phối với đức pidu và duroc tại trang trại chăn nuôi lợn huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 4.2. Năng suất sinh sản của lợn nái F 1 (LY) phối với đực Duroc và PiDu ở lứa đẻ 1 (Trang 55)
Bảng 4.3.  Năng suất sinh sản của lợn nái F 1 (LY) phối với đực Duroc và PiDu ở lứa đẻ 2 - Năng suất sinh sản, sinh trưởng của công thức lai nái f1 (landrace x yorkshire) phối với đức pidu và duroc tại trang trại chăn nuôi lợn huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 4.3. Năng suất sinh sản của lợn nái F 1 (LY) phối với đực Duroc và PiDu ở lứa đẻ 2 (Trang 56)
Bảng 4.4.  Năng suất sinh sản của lợn nái F 1 (LY) phối với đực Duroc và PiDu ở lứa đẻ 3 - Năng suất sinh sản, sinh trưởng của công thức lai nái f1 (landrace x yorkshire) phối với đức pidu và duroc tại trang trại chăn nuôi lợn huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 4.4. Năng suất sinh sản của lợn nái F 1 (LY) phối với đực Duroc và PiDu ở lứa đẻ 3 (Trang 57)
Bảng 4.5. Năng suất sinh sản của lợn nái F 1 (LY) phối với đực Duroc và PiDu ở lứa đẻ 4 - Năng suất sinh sản, sinh trưởng của công thức lai nái f1 (landrace x yorkshire) phối với đức pidu và duroc tại trang trại chăn nuôi lợn huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 4.5. Năng suất sinh sản của lợn nái F 1 (LY) phối với đực Duroc và PiDu ở lứa đẻ 4 (Trang 58)
Bảng 4.6. Năng suất sinh sản của lợn nái F 1 (LY) phối với đực Duroc và PiDu ở lứa đẻ 5 - Năng suất sinh sản, sinh trưởng của công thức lai nái f1 (landrace x yorkshire) phối với đức pidu và duroc tại trang trại chăn nuôi lợn huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 4.6. Năng suất sinh sản của lợn nái F 1 (LY) phối với đực Duroc và PiDu ở lứa đẻ 5 (Trang 59)
Bảng 4.8. Tăng trọng và tiêu tốn thức ăn của các tổ hợp lai - Năng suất sinh sản, sinh trưởng của công thức lai nái f1 (landrace x yorkshire) phối với đức pidu và duroc tại trang trại chăn nuôi lợn huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 4.8. Tăng trọng và tiêu tốn thức ăn của các tổ hợp lai (Trang 68)
Bảng 4.10. Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt - Năng suất sinh sản, sinh trưởng của công thức lai nái f1 (landrace x yorkshire) phối với đức pidu và duroc tại trang trại chăn nuôi lợn huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 4.10. Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w