I – ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là nguồn tai nguyên vô cùng quý giá và thành phần quan trọng hàng đầu trong quá trình phát triển sản xuất hàng hóa PTSXHH đối với mỗ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
SOUPHONH XAYSANGA
KHAI THÁC TIỀM NĂNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP NHẰM PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HÀNG HÓATRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THATENG, TỈNH SEKONG – CHDCND LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN ĐÌNH THAO
Hà Nội - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi Toàn bộ Số liệu
và kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được sử dụng trong bất cứ luận văn, luận án nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đều đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2012
Souphonh XAYSANGA
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều cơ quan, cá nhân, cán bộ quản lý các địa phương, các thầy cô giáo và bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn:
- Thầy giáo hướng dẫn trực tiếp TS Trần Đình Thao đã hướng dẫn, giúp
đỡ tận tình để giúp tôi có thể hoàn thành đề tài này
- Phòng Nông-Lâm nghiệp, phòng công thương và các phòng khác huyện Thateng, tỉnh Sekong Các cán bộ các địa phương, phòng ban tại các cụm làng trên địa bàn huyện đã hỗ trợ và giúp đỡ cung cấp thông tin và điều tra trong quá trình thực hiện đề tài
- Tôi xin chân thành cảm ơn đến các hộ dân trên địa bàn huyện đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra và thu thập số liệu để tôi có thể hoàn thành tốt
đề tài
- Xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn và bộ môn phân tích định lượng cũng như Viện đào tạo sau đại học đã giúp tôi hoàn thành luận văn này
- Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đến bạn bè, gia đình luôn ở bên ủng
hộ và giúp đỡ tôi
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn đến tất cả mọi người!
Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2012
Souphonh XAYSANGA
Trang 4MỤC LỤC
I – ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.1 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
II – TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Đất nông nghiệp 5
2.1.2 Phát triển sản xuất hàng hóa 14
2.1.3 Nội dung khai thác tiềm năng đất 18
2.1.4 Những điều kiện cơ bản để khai thác tiềm năng đất nông nghiệp trong
phát triển sản xuất hóa 19
2.1.5 Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến khai thác tiềm năng đất nông nghiệp trong phát triển sản xuất hàng hóa 23
2.2 Cơ sở thực tiễn về khai thác đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 27
2.2.1 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới 27
2.2.2 Thực trạng về khai thác và sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 31
2.2.3 Các chính sách khai thác và sử dụng đất nông nghiệp ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào 34
III – ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 38
3.1.1 Vị trí địa lý 38
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 40
3.2 Phương pháp nghiên cứu 49
3.2.1 Các phương pháp nghiên cứu 49
3.2.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu 52
IV – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56
Trang 54 1 Thực trạng khai thác tiềm năng đất nông nghiệp của huyện Thateng 56
4.1.1 Thực trạng khai thác và sử dụng 56
4.1.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất hiện nay của huyện 71
4.1.3 Thực trạng phát triển sản xuất hàng hóa 78
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khai thác đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa của huyện 81
4.2.1 Đặc điểm diều kiện tự nhiên 83
4.2.2 Trình độ nhận thức của người dân 84
4.2.3 Khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp 85
4.2.4 Vốn cho sản xuất 86
4.2.5 Cơ sở hạ tầng 87
4.2.6 Yếu tố chính sách 89
4.2.7 Thị trường 91
4.3 Giải pháp khai thác tiềm năng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 92 4.3.1 Rà soát lại thực trạng khai thác và sử dụng đất hiện nay của huyện 92
4.3.2 Rà soát lại tình hình sản xuất hàng hóa nông nghiệp hiện nay 93
4.3.3 Quy hoạch và xây dựng kế hoạch phát triển toàn bộ trên toàn huyện về khai thác tiềm năng đất nông nghiệp 93
4.3.4 Nâng cao trình độ và nhận thức của người dân về kỹ thuật sử dụng đất 94
4.3.5 Nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ 95
4.3.6 Nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn sản xuất 97
4.3.7 Xây dựng hệ thống hỗ trợ khai thác tiềm năng đất nông nghiệp 97
4.3.8 Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường 98
V – KẾT LUẬN 99
5.1 Kết luận 99
5.2 Kiến nghị .101
TÀI LIỆU THAM KHẢO .102
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả sản xuất của huyện thateng qua 3 năm (2009-2011) 41
Bảng 3.2 Tình hình nhân khẩu, lao động và sử dụng lao động của huyện Thateng qua 3 năm (2009-2011) 44
Bảng 3.3 Tình hình xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng của huyện Thateng năm 2011 48
Bảng 3.4: Số hộ được lựa chọn phỏng vấn 50
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện qua 3 năm 2009 - 2011 57
Bảng 4.2: Cơ cấu đất canh tác của huyện Thateng năm 2011 58
Bảng 4.3: Phân loại đất canh tác trên địa bàn huyện năm 2009 - 2011 60
Bảng 4.4: Thực trạng sử dụng các loại đất và cây trồng theo từng nhóm hộ 61
Bảng 4.5: Một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp đặc trưng của huyện 62
Bảng 4.6: Biến động đàn gia súc gia cầm của huyện Thateng 63
Bảng 4.7: Mức độ đầu tư cho một số cây trồng hàng năm chính 65
Bảng 4.8: Kỹ thuật sản xuất nông nghiệp theo quy mô 66
Bảng 4.9: Ý kiến của các hộ nông dân về mức độ thâm canh cây trồng 67
Bảng 4.10: Tiềm năng đất nông nghiệp chưa sử dụng……… 69
Bảng 4.11: Hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính vùng 1 71
Bảng 4.12: Hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính vùng 2 72
Bảng 4.13: Hiệu quả kinh tế theo công thức luân canh 73
Bảng 4.14: Tỷ lệ hàng hóa và phương thức tiêu thụ nông thôn mới 79
Bảng 4.15: Mức độ vay vốn của các hộ ở các quy mô khác nhau 86
Trang 7Asia Southeast Association Nation Bình quân
Bảo vệ thực vật
Cơ cấu Cộng hòa dân chủ nhân dân Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp Dịch vụ - Thương mại
Đất nông nghiệp Food Agriculture Organization Giá trị
Giá trị sản xuất Nông nghiệp None Government Organization Phát triển nông nghiệp
Phát triển kinh tế Phát triển kinh tế-xã hội Phát triển sản xuất hàng hóa Sản xuất hàng hóa
Sản xuất nông nghiệp
Tư liệu sản xuất Vườn – ao – chuồng World Bank
Trang 8I – ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tai nguyên vô cùng quý giá và thành phần quan trọng hàng đầu trong quá trình phát triển sản xuất hàng hóa (PTSXHH) đối với mỗi quốc gia, bởi cho đến nay đó là điều kiện duy nhất sản xuất ra những sản phẩm nuôi sống con người Mặt khác, đất đai là một trong các yếu tố quan trọng nhất của môi trường sống và là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế - văn hoá - xã hội, an ninh quốc phòng… Do đó, việc sử dụng đất đai như thế nào là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia
Trong sản xuất nông nghiệp (SXNN), đất đai là tư liệu sản xuất (TLSX) đặc biệt không thể thay thế, vì đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động Đất đai chịu sự tác động của con người như cày, xới,… để có môi trường tốt cho sinh vật tồn tại và phát triển Ở mỗi vùng, ở mỗi khu vực có điều kiện địa hình khác nhau nên có những loại đất khác nhau Nhưng ở bất kỳ điều kiện địa hình nào thì đất đai vẫn có một đặc tính chung nhất đó là có độ phì Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND Lào) với hơn 25 năm đổi mới đã có những chủ trương, chính sách phù hợp và tích cực trong việc tổ chức, chỉ đạo khai thác tiềm năng đất đai, từ đó tạo ra nền nông nghiệp có bước phát triển vượt bậc, góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội (PTKT-XH) của đất nước
Do vai trò quan trọng của đất nông nghiệp (ĐNN) đối với PTKT-XH, chiến lược khai thác tiềm năng ĐNN bắt đầu từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IV (tháng 11/1986); Đại hội IV là điểm khởi đầu cho công cuộc đổi mới kinh tế nói chung về khai thác tiềm năng ĐNN và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nói riêng Chương trình mở rộng sử dụng đất đai (giao và tô nhượng ĐNN) được
ứng dụng phổ biến kể từ Chỉ thị số 03/CP ngày 16/06/1996 về: "Tiếp tục thực hiện việc quản lý hành chính đất đai và giao đất - phân bổ rừng” và Luật Đất
đai năm 1987
Trang 9Tỉnh Sekong cũng như các tỉnh khác đã chuyển khai những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Lào Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V (tháng 12/ 1999) đã nêu lên nhiệm vụ trọng tâm đối với ngành nông nghiệp của toàn
tỉnh trong những năm trước mắt là: “ Tập trung đầu tư, nhanh chóng tạo ra sản phẩm hàng hóa có hiệu quả cao trên một đơn vị diện tích,…chỉ đạo và khuyến khích phát triển kinh tế (PTKT) nông trại, lâm trại, coi đây là một trong những hướng cơ bản làm giàu từ đồi rừng, PTKT nông thôn miền núi” Tiếp đó, tỉnh ủy
Sekong có một số Nghị quyết chuyên đề về đẩy mạnh PTKT-XH miền núi, PTKT trang trại, trồng rừng và đẩy mạnh công tác khuyến nông… Vì vậy, đã động viên được các thành phần kinh tế đầu tư khai thác và sử dụng tiềm năng đất đai của tỉnh vào PTKT nông - lâm nghiệp, đem lại những kết quả nhất định
Huyện Thateng – Tỉnh Sekong, là huyện có nền SXNN là chủ yếu, từ khi thực hiện các chính sách giao và tô nhượng ĐNN ổn định lâu dài cho đến nay toàn huyện đã thực hiện chuyển giao và tô nhượng ĐNN cho các tổ chức trong và ngoài nước, hộ gia đình Thúc đẩy khai thác tiềm năng ĐNN nhằm PTSXHH của huyện Để kịp thời tổng kết đánh giá của chính sách chuyển giao
và tô nhượng ĐNN ổn định lâu dài và các quyền sử dụng đất, đáp ứng các yêu cầu của công tác quản lý đất đai và hiệu quả sử dụng đất đai của huyện để đẩy nhanh công tác giao ĐNN là vấn đề hết sức cấp thiết
Tuy nhiên, về nhận thức cũng như hành động của một bộ phận từ người trực tiếp sản xuất đến các tổ chức quản lý, lãnh đạo các cấp trong huyện chưa thấy hết tầm quan trọng của ĐNN đối với sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội Do đó, nhìn chung ĐNN trong huyện chưa được khai thác triệt để và hợp lý, nhất là một số địa bàn thuộc vùng sâu, vùng xa đất rộng, người thưa chưa có đủ những điều kiện cần thiết để khai thác tiềm năng đem lại hiệu quả cao Vì vậy,
để khai thác hết tiềm năng đất đai và tăng hiệu quả sử dụng đất trong nông nghiệp nhằm PTSXHH có năng suất, chất lượng ngày càng cao, sản phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế cần phải có biện pháp sử
Trang 10dụng một cách đầy đủ và hợp lý ĐNN Xuất phát từ tình hình thực tế trên tôi
chọn đề tài: “Khai thác tiềm năng đất nông nghiệp nhằm phát triển sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện Thateng, tỉnh Sekong - CHDCND Lào” để
nghiên cứu nhằm góp phần tìm ra những giải pháp giúp cho việc thúc đẩy nông nghiệp của địa phương tiếp tục phát triển hơn nữa
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng sử dụng và khai thác tiềm năng đất nông nghiệp của huyện Thateng, đề ra những giải pháp phù hợp nhằm khai thác có hiểu quả hơn tiềm năng đất đai, góp phần đẩy mạnh phát triển sản xuất hàng hóa ở địa phương
1.2.1 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về khai thác tiềm năng đất nông nghiệp và sử
dụng đất nông nghiệp để phát triển sản xuất hàng hóa
- Phân tích, đánh gía thực trạng khai thác tiềm năng đất nông nghiệp của huyện
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc khai thác tiềm năng đất nông nghiệp để phát triển sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện Thateng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác tiềm năng và sử dụng tốt hơn đất nông nghiệp để phát triển sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện Thateng
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
1 Tiềm nămg đất đai của huyện Thateng như thế nào?
2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Thateng như thế nào?
3 Đất nông nghiệp trên địa bàn có được sử dụng hiệu quả hay không? Tiềm năng đất đai nào của huyện chưa được khai thác?
4 Những nhân tố nào ảnh hưởng đến quá trình khai thác tiềm năng đất nông nghiệp ở địa phương?
Trang 115 Giải pháp nào để khai thác tiềm năng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện? Để phát triển sản xuất hàng hóa?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là nghiên cứu toàn bộ quỹ đất nông nghiệp, các kiểu sử dụng đất trong nông nghiệp phạm vi địa giới hành chính của huyện Thateng - tỉnh Sekong và các quan điểm, chính sách liên quan đến khai thác và sử dụng đất nông nghiệp để phát triển sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề về kinh tế, tổ chức và quản lý chủ
yếu có liên quan trực tiếp đến khai thác tiềm năng đất nông nghiệp để phát triển sản xuất hàng hóa
Về không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Thateng - tỉnh
Sekong
Về thời gian: Thông tin phục vụ cho nghiên cứu được thu thập từ năm
2002-2010, một số nội dung chuyên sâu được khảo sát vào năm 2011 (số liệu thứ cấp là số liệu được thu thập từ năm 2002-2011 và số liếu sơ cấp là số liệu điều tra năm 2011) Đưa ra các định hướng và giải pháp đến năm 2020
Trang 12II – TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Đất nông nghiệp
2.1.1.1 Khái niệm
Cho tới nay có nhiều khái niệm khác nhau về đất nhưng định nghĩa của Đacutraep (1879) – Nhà thổ nhưỡng học người Nga được thừa nhận rộng rãi nhất: “Đất là vật thể tự nhiên được hình thành qua một thời gian dài do kết quả tác động tổng hợp của 5 yếu tố: Đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời
gian.” (Đỗ Thị Lan, Đỗ Anh Tài, 2007)
Đất đai là môi trường sống cơ bản của hầu hết các loài sinh vật sống trên trái đất, trong đó có con người Nhận thức rõ vai trò quan trọng của đất nên từ xa xưa ông cha ta đã vì tấc đất tấc vàng Điều đó khẳng định đất đai là tài nguyên quý giá nhất của loài người, đặc biệt là với người nông dân Xét về
mặt giá trị sản xuất (GTSX) C Mác đã nói:" đất là TLSX cơ bản, phổ biến và quý báu nhất của SXNN" Loài người đã sử dụng đất để trồng trọt tạo ra lương
thực, thực phẩm, tận dụng đất đồi núi để chăn nuôi, trồng cây công nghiêp, cây ăn quả và khai thác lâm sản, sử dụng mặt nước để nuôi trồng thủy sản Như vậy, ĐNN tạo ra những điều kiện để con người sinh sống và phát triển
Luật đất dai năm 1993 và sửa đổi bổ sung năm 2003 của nước Cộng
hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là TLSX đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng kinh tế văn hóa xã hội, an ninh, quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như hiện nay”
Theo từng ngành sản xuất, từng lĩnh vực của đời sống xã hội, đất đai được phân thành các loại khác nhau và gọi theo ngành, lĩnh vực chung được
sử dụng Với ý nghĩa đó, ĐNN là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất của
Trang 13ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng để nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp
Khái niệm về đất nông nghiệp: Theo quan niệm truyền thống của
người Việt Nam thì ĐNN thường được hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như: ngô, khoai, sắn và những loại cây được coi là cây lương thực Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng ĐNN tương đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu mà còn dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản hay để trồng cây lâu năm
Trước đây Luật đất đai năm 1993 quy định về ĐNN tại Điều 42 như
sau: “ ĐNN là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào SXNN như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp.”
Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật đất đai năm 2003 nhóm ĐNN bao gồm các loại đất:
- Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác
- Đất trồng cây lâu năm
- Đất rừng sản xuất
- Đất rừng phòng hộ
- Đất rừng đặc dụng
- Đất nuôi trồng thuỷ sản
Khái niềm về tiềm năng đất đai
Để tạo ra những loại sản phẩm của từng ngành phải xuất phát từ một số lượng nhất định các yếu tố sản xuất nào đó như: đất đai, vốn, khoa học kĩ thuật… các yếu tố trên được kết hợp một qui trình sản xuất nhất định và được diễn ra trong phạm vi không gian và thời gian cụ thể Nếu các yếu tố đó được phát huy tác dụng trong quá trình sản xuất thì đó chính là khai thác tiềm năng
về đất đai
Trang 14Khai thác tiềm năng đất đai chính là những điều kiện và khả năng tiềm năng về mặt lý học, hóa học của ĐNN, nếu khai thác, sử dụng đất đai một cách đầy đủ, hợp lý sẽ tạo ra ngày càng nhiều lợi ích cho con người và xã hội
Tiềm năng đất đai gồm có tiềm năng tự nhiên và tiềm năng kinh tế:
Tiềm năng tự nhiên: Tức là chúng ta xét đến độ phì tự nhiên và những
điều kiện tự nhiên khác Nếu độ phì cao, độ bằng phẳng, mức độ thuận tiện gần hay xa, điều này quyết định đến viêc áp dụng các biện pháp canh tác để
sử dụng đất đai ngày càng hiệu quả
Tiềm năng kinh tế: Xem xét khả năng đem lại lợi ích kinh tế trên cơ sở
điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của mỗi vùng Tiềm năng kinh tế của đất đai phụ thuộc rất lớn vào môi trường, vào điều kiện sử dụng đất đai vào năng suất chất lượng sản phẩm nông nghiệp có thể thu hoạch được trên diện tích đất đai đang sử dụng
Khai thác tiềm năng ĐNN nhằm PTSXHH chính là việc đánh giá, phân tích tình hình khai thác tiềm năng, sử dụng đất theo hướng PTSXHH, từ đó có thể tìm ra những biện pháp nhằm PTSXHH có hiệu quả hơn tiềm năng không phải không thay đổi mà tùy thuộc vào trình độ khai thác
Điều này quyết định đến việc các biện pháp canh tác để sử dụng đất ngày càng hiệu quả
2.1.1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất là hết sức cần thiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại đất, vùng đất để trên cơ sở đó đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng ĐNN có thể chia thành 3 nhóm:
* Yếu tố tự nhiên
Theo Vũ Ngọc Hùng (2007) thì yếu tố tự nhiên bao gồm điều kiện khí hậu, đất trồng, cây trồng, môi trường sinh thái, nguồn nước Chúng có ảnh
Trang 15hưởng một cách rõ nét, thậm chí quyết định đến kết quả và hiệu quả sử dụng đất
- Yếu tố khí hậu
Thực vật nói chung và cây trồng nói riêng muốn sống, sinh trưởng và phát triển đòi hỏi phải có đầy đủ các yếu tố sinh trưởng là ánh sáng, nhiệt độ, không khí, nước và dinh dưỡng Trong đó, ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa và
độ ẩm không khí là các yếu tố khí hậu Chính vì thế, khí hậu là một trong
những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, năng suất và sản lượng cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng ĐNN
CHDCND Lào có khí hậu nhiệt đới gió mùa Tuy nhiên, vì sự khác biệt
về vĩ độ địa lý và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá
rõ nét theo từng vùng Miền Bắc có nhiệt độ trung bình 22,2 - 23,50C, lượng mưa trung bình từ 1.500 - 2.400 mm, tổng số giờ nắng từ 1.650 - 1.750 giờ/năm Trong khi đó, ở miền Nam, khí hậu mang tính chất xích đạo, nhiệt
độ trung bình 22,6 - 27,50C, lượng mưa trung bình 1.400 - 2.400 mm, nắng trên 2.000 giờ/năm Trải dài trên 15 vĩ độ, Lào có 5 tiểu vùng khí hậu khác nhau nên chúng ta có thể đa dạng hoá các loại cây trồng, vật nuôi Chính vì thế, sử dụng đất cũng đa dạng và giảm được rủi ro vì có thể trồng các loại cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới và cả ôn đới
Theo Tạp chí viện Nghiên cứu Nông - Lâm nghiệp Quốc gia Lào (2006), khí hậu là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến việc phân bố các loại cây trồng, cũng như thời vụ cây trồng trong SXNN Nếu như ở trung du
và miền núi phía Bắc có thể trồng mận, hồng, đào, chuối, đậu côve, súp lơ xanh ở đồng bằng ôn đới có thể trồng các loại rau vụ đông có nguồn gốc ôn đới thì ở đồng bằng nhiệt đới có thể trồng là những cây nhiệt đới điển hình
Yếu tố khí hậu nhiều khi ảnh hưởng rõ nét đến hiệu quả sử dụng ĐNN với các mức độ khác nhau Ở đồng bằng nhiệt độ thấp vào vụ đông và thời kỳ đầu vụ
hè kèm theo ẩm ướt, mưa phùn, thiếu ánh sáng làm hạn chế sinh trưởng và phát triển của cây trồng ưa nắng, ưa nhiệt nhưng lại phù hợp cho cây trồng ưa lạnh có
Trang 16nguồn gốc ôn đới Trời âm u thiếu ánh sáng cũng là điều kiện cho sâu bệnh phát triển phá hại mùa màng
- Yếu tố đất trồng
Cùng với khí hậu, đất tạo nên môi trường sống của cây trồng Đất trồng với các đặc tính như loại đất, thành phần cơ giới, chế độ nước, độ phì có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng ĐNN
Đất giữ cây đứng vững trong không gian, cung cấp cho cây các yếu tố
sinh trưởng như nước, dinh dưỡng và không khí Độ phì là một trong những
yếu tố quan trọng nhất của đất Vị trí từng mảnh đất có ảnh hưởng đến quá trình hình thành độ phì của đất Độ phì nhiêu của đất liên quan trực tiếp đến năng suất cây trồng Do vậy, tuỳ theo vị trí địa hình, chất đất mà lựa chọn, bố trí cây trồng thích hợp trên từng loại đất mới cho năng suất, hiệu quả sử dụng đất cao
- Yếu tố cây trồng
Cây trồng là yếu tố trung tâm trong quá trình SXNN và sử dụng ĐNN Con người hưởng lợi trực tiếp từ những sản phẩm của cây trồng Những sản phẩm này cung cấp lương thực, thực phẩm cho các nhu cầu thiết yếu cho con người và cho các hoạt động trao đổi hàng hóa, xuất khẩu
Việc bố trí cây trồng và kiểu sử dụng đất hợp lý trên đất sẽ đem lại những giá trị cao về mặt hiệu quả cho cả người sản xuất và tạo ra sự bền vững cho môi trường đất Ngược lại, nếu cây trồng được bố trí bất hợp lý, sử dụng đất bừa bãi không những gây thất thu cho người nông dân mà còn ảnh hưởng xấu đến đất
Báo cáo của Viện tài nguyên thế giới cho thấy gần 20% diện tích đất đai châu Á bị suy thoái do những hoạt động của con người Hoạt động SXNN
là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất thông qua quá trình thâm canh tăng vụ đã phá huỷ cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dýỡng
Trang 17Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học,
kỹ thuật trong quá trình SXNN cũng như trình độ của người nông dân ngày càng được nâng cao, các giống cây trồng mới với chất lượng và năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn xuất hiện ngày càng nhiều góp phần tạo tiền
đề mạnh mẽ cho quá trình SXNN trong sản xuất hàng hóa (SXHH) SXNN hàng hoá phát triển gắn với việc tăng hệ số sử dụng đất, gia tăng giá trị kinh tế cho một đơn vị diện tích đất
* Yếu tố kinh tế, xã hội
- Yếu tố con người
Con người là chủ thể của quá trình lao động, là nhân tố tác động trực tiếp tới đất và hưởng lợi từ đất Con người với bàn tay và khối óc của mình có thể tạo ra những phương thức sử dụng đất hợp lý, hiệu quả
Theo thông tin của Bộ Nông – Lâm nghiệp (CHDCND Lào) đưa ra: Khi dân số còn thấp, trình độ và nhu cầu thấp, việc khai thác quỹ ĐNN còn ở mức hạn chế, hiệu quả không cao nhưng sự bền vững trong sử dụng ĐNN được đảm bảo Ngược lại, ngày nay, khi dân số tăng nhanh kéo theo sự gia tăng các nhu cầu thì tài nguyên ĐNN bị khai thác nhiều, triệt để hơn nhằm đạt năng suất và hiệu quả cao hơn Vì vậy, quy luật sinh thái và tự nhiên bị xâm
phạm, tính bền vững tài nguyên đất kém hơn Việc đảm bảo cân bằng giữa sử
dụng và bảo vệ đất trở thành vấn đề cấp thiết
Đối với các hoạt động kinh tế nói chung, SXNN nói riêng, dân số vừa
là thị trường cầu của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, vừa là nguồn cung về lao động cho sản xuất Các hoạt động kinh tế sẽ không thể phát triển nếu không
có thị trường tiêu thụ các sản phẩm do chúng tạo ra Đặc biệt, đối với một nền
SXNN hàng hoá thì điều này lại càng trở nên quan trọng
- Yếu tố kinh tế
Đối với mỗi quốc gia, mức độ phát triển của nền kinh tế quốc dân có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất nói chung và sử dụng ĐNN nói riêng và
Trang 18ngược lại Nếu sử dụng đất có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Khi kinh tế phát triển, nó sẽ làm tiền đề cho quá trình sử dụng đất đạt được hiệu quả cao hơn, thông qua việc đầu tư, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ cao làm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng
Trong cuốn nguyên lý kinh tế nông nghiệp (1999) khẳng định phát triển nông nghiệp (PTNN) theo hướng SXNN cũng giống như ngành sản xuất vật chất khác của xã hội, nó chịu sự chi phối của quy luật cung cầu, chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố đầu vào, quy mô các nguồn lực như: đất, lao động, vốn sản xuất, thị trường, kiến thức và kinh nghiệm trong sản xuất và tiêu thụ nông sản
- Cơ chế chính sách
Trong hơn 15 năm qua, CHDCND Lào đã thực hiện chính sách đổi mới trong nông nghiệp, tập trung vào trọng tâm: làm rõ và giao cho nông dân nhiều quyền đối với ruộng đất; tự do hóa thương mại trong nước và xuất nhập khẩu; giao quyền quyết định sản xuất cho nông dân; đổi mới các hợp tác xã, doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích kinh tế tư nhân Đồng thời nhà nước tăng đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp tín dụng, chuyển giao khoa học công nghệ Những chính sách mới đã khuyến khích mạnh mẽ nhân dân đầu tư vào phát triển sản xuất Nông nghiệp CHDCND Lào đã phát triển nhanh, liên tục trong thời kỳ thực hiện chính sách đổi mới Các chính sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn, chính sách tín dụng nông thôn, chính sách về giải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo, khuyến nông thực sự đã giúp ích rất nhiều trong quá trình sử dụng ĐNN của những người nông dân
Theo Đặng Kim Sơn (Việt Nam) và cộng sự (2002) trong SXNN, đặc biệt là SXNN hàng hoá, người nông dân thường chịu thiệt thòi do hạn chế về kiến thức thị trường, thông tin thị trường, sức mua Hơn nữa, các hiệu ứng tràn ra ngoài trong SXNN cũng làm cho sản xuất không hiệu quả: việc sử dụng bừa bãi phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ có tác động tiêu cực
Trang 19đến môi trường, nguồn nước, không khí và đất Do vậy, việc Nhà nước can thiệp bằng các chính sách và pháp luật thích hợp đã tạo điều kiện, khuyến khích, hướng dẫn SXNN và đảm bảo tính bền vững của các yếu tố nguồn lực
trong SXNN, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng ĐNN
Cũng bằng các chính sách thích hợp, sử dụng ĐNN được đảm bảo ổn định và lâu dài Trong những năm qua, Chính phủ đã ban hành, sửa đổi và bổ sung những chủ trương, chính sách về đất đai nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển SXNN nông thôn Luật đất đai sửa đổi (chính thức có hiệu lực vào ngày 1/7/2003) đã thể chế hoá và mở rộng quyền của người sử dụng đất Đây
là một chính sách khuyến khích người nông dân đầu tư vào sản xuất dài hạn, thay đổi cơ cấu cây trồng nhằm phát triển SXHH một cách có hiệu quả
Mặc dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng Hiến pháp, pháp luật công nhận quyền sử dụng lâu dài đối với đất Người sử dụng đất không chỉ được quyền sử dụng lâu dài mà còn được quyền thừa kế những đầu tư trên đất Điều đó đã trở thành động lực quan trọng trong PTNN Nó làm cho người nông dân yên tâm đầu tư trên đất, sử dụng ĐNN một cách chủ động và hiệu quả, phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng, từng miền Thực tế cho thấy, chính sách về đất đai thông thoáng sẽ là cơ sở để hình thành các phương thức sản xuất mới như thâm canh, tăng vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác, đặc biệt là sử dụng để sản xuất cây trồng có giá trị hàng hoá cao
- Khoa học kỹ thuật
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của xã hội, những thành tựu và khoa học kỹ thuật ngày càng được ứng dụng nhiều trong các ngành kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng Các máy móc cơ giới liên tục được cải tiến cho phù hợp hơn với đồng ruộng ở Lào, các giống cây trồng mới tốt hơn, năng suất hơn thường xuyên được ứng dụng vào sản xuất Điều này góp phần không nhỏ vào việc giải phóng sức lao động cũng như nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng hay tạo ra những sản phẩm tốt hơn, sạch hơn
Trang 20cho xã hội
Theo báo cáo của Vũ Thị Thanh Tâm (2007), SXHH của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất Vì SXNN hàng hoá phát triển đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm
Theo Phạm Thị Mỹ Dung, khoa học kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Cải tiến kỹ thuật trước hết làm tăng cung về hàng hoá nông sản, cũng tức là làm PTKT
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ giữa người và đất đai Mục tiêu của con người là sử dụng đất khoa học và hợp
lý Vì vậy, sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả đã trở thành chiến lược quan trọng Theo Smyth và Dumanski sử dụng đất bền vững được xác định theo 5 nguyên tắc
- Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất (năng suất)
- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất (an toàn)
- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá chất lượng đất và nước (bảo vệ)
- Khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi)
Ngoài ra còn có các quan điểm sau:
- Tận dụng các nguồn lực, khai thác lợi thế so sánh về khoa học, kỹ thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỉ suất hàng hoá
Trang 21cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu
- Thực hiện sử dụng ĐNN theo hướng tập trung chuyên môn hoá, SXHH theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục
- Nâng cao hiệu quả sử dụng ĐNN trên cơ sở thực hiện đa dạng hoá hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng ĐNN, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường
- Nâng cao hiệu quả sử dụng ĐNN phù hợp và gắn liền với định hướng PTKT - XH của cả nước
2.1.2 Phát triển sản xuất hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán Hàng hóa có thể ở dạng hữu hình như: sắt, thép, lương thực, thực phẩm,… hoặc ở dạng vô hình như dịch vụ thương mại, vận tải hay dịch vụ của giáo viên, bác sĩ, nghệ sĩ…
Hàng hóa có 2 thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị:
- Giá trị sử dụng: Là công dụng hay tính có ích của hàng hóa nhằm thỏa
mãn nhu cầu nào đó của con người như nhu cầu cho tiêu dung, sinh hoạt, nhu cầu cho sản xuất, nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần…Ví dụ: Công dụng của gạo là để ăn, nấu rượu, chế ra cồn…; áo quần là để mặc…Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ thì giá trị sử dụng ngày càng được phát hiện ra nhiều hơn, chủng loại giá trị sử dụng ngày càng phong phú, chất lượng giá trị sử dụng ngày càng cao
- Giá trị: Giá trị của hàng hóa do lao động xã hội thuộc người SXHH kết
tinh trong hàng hóa đó Do đó, giá trị là cơ sở là nội dung bên trong, còn giá trị trao đổi là hình thức bên ngoài Giá trị hàng hóa biểu hiện mối quan hệ giữa người sản xuất hàng hóa (SXHH) và là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hóa
Trang 22Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật: hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Nhưng nếu hiểu sự vận động phát triển một cách biện chứng toàn diện, sâu sắc thì trong tự bản thân sự vận động phát triển đã bao hàm sự vận động thụt lùi, đi xuống với nghĩa là tiền đề, điều kiện cho sự vận động đi lên, hoàn thiện
Ý nghĩa của nguyên lí này đòi hỏi: trong khi xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng phải tôn trọng nguyên tắc phát triển của chúng, không được thành kiến định kiến Luôn lạc quan tin tưởng vào khuynh hướng vận động của sự vật, tạo mọi điều kiện để sự vật phát triển
Sản xuất hàng hóa: Sản xuất ra những vật phẩm để trao đổi thông qua thị trường trước khi đi vào lĩnh vực tiêu dùng Ra đời từ hai tiền đề: phân công lao động xã hội và sở hữu tư nhân về TLSX Tuy tồn tại từ rất lâu trong lịch sử, từ khi xã hội công xã nguyên thuỷ tan rã, nhưng chỉ đến khi xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi sức lao động trở thành hàng hoá thì SXHH mới trở thành phương thức thống trị trong xã hội SXHH là một hình thái sản xuất tiến bộ so với sản xuất tự cung, tự cấp, thể hiện trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, vẫn còn SXHH
Ở những nước đi từ một nền kinh tế lạc hậu, mang nặng tính tự cấp, tự túc, tiến lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, quá trình phát triển kinh tế nhất thiết phải là quá trình PTSXHH Ở Việt Nam, đường lối, chính sách xây dựng chủ nghĩa xã hội được xác định rõ là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường
có sự quản lí của Nhà nước, và theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Khi chuyển từ cuộc sống hái lượm, sử dụng thức ăn có sẵn trong tự nhiên sang cuộc sống biết trồng trọt thì con người đã bắt đầu biết sản xuất, sử dụng đất Thời buổi ban đầu việc trồng trọt chỉ mang tính tự cung, tự cấp và đáp ứng được các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của con người Sau này, cùng với
sự bùng nổ về dân số và phát triển của xã hội, nền sản xuất cũ không còn thỏa
Trang 23mãn nhu cầu ngày càng tăng Từ đó đặt ra một nền sản xuất mới và nền SXHH trong nông nghiệp đã hình thành
Theo học thuyết của Các Mác, hàng hoá là sản phẩm được sản xuất ra không phải để cho người sản xuất tiêu dùng mà nó được sản xuất ra để bán Hàng hoá được bán ở thị trường Như vậy, SXHH là sản xuất ra sản phẩm để bán Đó là hình thức tổ chức nền sản xuất xã hội trong đó mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất biểu hiện qua thị trường qua việc mua bán sản phẩm lao động của nhau Đối với hệ thống trồng trọt, nếu mức hàng hoá sản xuất được bán ra thị trường dưới 50% thì gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hoá một phần, nếu trên 50% thì gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hoá (sản xuất theo hướng hàng hoá)
Nông nghiệp là một hoạt động sản xuất cơ bản của mỗi quốc gia Nhiều nước trên thế giới có nền kinh tế phát triển, tỉ trọng của sản xuất công nghiệp
và dịch vụ trong thu nhập quốc dân chiếm phần lớn nhưng những khó khăn, trở ngại trong nông nghiệp đã gây ra không ít xáo động trong đời sống xã hội
và ảnh hưởng sâu sắc đến tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nói chung Đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển hơn thì nông nghiệp lại càng đóng vai trò thiết yếu Để nông nghiệp có thể thực hiện được vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế quốc dân đòi hỏi SXNN phải phát triển toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc Chuyển sang nền nông nghiệp SXHH
là sự tiến hóa hợp quy luật Đó là quá trình chuyển nền nông nghiệp truyền thống, manh mún, lạc hậu thành nền nông nghiệp hiện đại Nền SXHH có đặc trưng là dựa trên cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ văn hoá của người lao động cao Đó là nền SXNN có cơ cấu sản xuất hợp lý, được hình thành trên cơ sở khai thác tối đa thế mạnh SXNN từng vùng Vì thế, nó là nền nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao, khối lượng hàng hoá nhiều với nhiều chủng loại phong phú và có chất lượng cao Chuyển sang nền nông nghiệp SXHH là sự tiến hoá hợp quy luật, đó là quá trình chuyển
Trang 24nông nghiệp truyền thống, manh mún, lạc hậu thành nền nông nghiệp hiện đại SXHH là quy luật khách quan của mọi hình thái kinh tế xã hội, nó phản ánh trình độ phát triển sản xuất của xã hội đó
SXNN theo hướng hàng hóa có những ưu thế đặc biệt Nó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động xã hội Trong kinh tế hàng hóa có sự tác động của quy luật giá trị, sự nghiệt ngã của cạnh tranh, sự khắt khe của thị trường và quy luật cung cầu buộc người nông dân phải năng động và biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm, nâng cao chất lượng các sản phẩm nông nghiệp cho phù hợp với nhu cầu xã hội Khi có SXHH, quá trình xã hội hóa sản xuất nhanh chóng được thúc đẩy làm cho sự phân công chuyên môn hóa sản xuất ngày càng sâu sắc, hợp tác hóa chặt chẽ, hình thành các mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau, hình thành thị trường trong nước và thế giới, thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, thúc đẩy quá trình dân chủ hóa, bình đẳng và tiến bộ xã hội Vì vậy, SXNN theo hướng hàng hoá mang lại rất nhiều lợi ích
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng nhân dân cách
mạng Lào chỉ rõ: “Định hướng phát triển ngành kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp và kinh tế nông thôn là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo hướng đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu của thị trường và điều kiện sinh thái trên từng vùng” Định hướng phát triển các vùng đồng bằng lớn cũng thể hiện rõ: “Phát triển nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng, cùng với lương thực đưa vụ đông thành một thế mạnh, hình thành các vùng chuyên canh rau, cây ăn quả, chăn nuôi lấy thịt…” Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX cũng nêu rõ: “ Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao”
Trang 25Nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi phải đẩy mạnh sản xuất nông - lâm - thuỷ sản theo hướng hàng hoá với cơ cấu và chất lượng sản phẩm đa dạng nhằm nâng cao hơn nữa khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường trong nước và quốc tế Do vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng ĐNN, đẩy nhanh việc hình thành các vùng sản xuất tập trung và chuyên môn hoá nông sản hàng hoá cả về số lượng và quy mô diện tích với chất lượng sản phẩm đáp ứng được các yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước
là vấn đề cấp bách
2.1.3 Nội dung khai thác tiềm năng đất đai
* Đưa toàn bộ đất đai vào sản xuất
Đất đai được khai thác và sử dụng tốt khi toàn bộ diện tích đất canh tác được đưa vào sản xuất Hiện nay, có rất nhiều quỹ đất có tiềm năng sản xuất
đang bị bỏ trống, gây lãng phí lớn về mặt nguồn lực
* Bố trí hợp lý cây trồng, công thức luân canh
Hệ thống cây trồng là thành phần các loại cây trồng được bố trí theo không gian hay thời gian trong một cơ sở sản xuất hay một vùng SXNN Việc
bố trí cây trồng hợp lý là việc lựa chọn cấu trúc cây trồng hay lựa chọn hệ sinh thái để sử dụng một cách tốt nhất, hợp lý nhất các nguồn lực tự nhiên - kinh tế - xã hội của vùng nhằm đạt một năng suất cao nhất với hiệu quả kinh
tế tốt nhất
Luân canh cây trồng là luân phiên thay đổi cây trồng theo không gian
và thời gian trong một chu kỳ sử dụng nhất định
Luân canh không gian là trên cùng một loại cây trồng và cùng một vụ gieo trồng nhưng ở các năm khác nhau, chúng được trồng trên một thửa ruộng khác nhau
Luân canh theo thời gian là trên cùng một khu đất nhưng ở các thời vụ khác nhau người ta trồng những loại cây trồng khác nhau
Trang 26Luân canh được xem như là một biện pháp kỹ thuật hoàn chỉnh để áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và lợi dụng tốt các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng nhằm tăng năng suất, tăng sản lượng cây trồng với hiệu quả kinh tế
* Đầu tư thâm canh
Thâm canh là phương thức sản xuất tiên tiến nhằm mục đích tăng thêm sản phẩm trên một đơn vị diện tích đất đai với giá thành hạ bằng cách tăng thêm TLSX và lao động một cách hợp lý trên một đơn vị diện tích đất đai
Thâm canh là biện pháp nhằm nâng cao năng suất cây trồng không thông qua mở rộng diện tích mà bằng phương pháp khoa học
Mức độ đầu tư thâm canh chính là mức độ đầu tư chi phí vật chất và lao động cho từng loại cây trồng trên một đơn vị diện tích để đạt được một hiệu quả nhất định Đầu tư thâm canh có quan hệ chặt chẽ với năng suất của mỗi loại cây trồng, đầu tư tăng đi đôi với việc tăng năng suất Nên đầu tư ở điểm mà đồng vốn bỏ ra có hiệu quả cao nhất
2.1.4 Những điều kiện cơ bản để khai thác tiềm năng đất nông nghiệp trong phát triển sản xuất hàng hóa
2.1.4.1 Lao động và các hình thức tổ chức lao động
Lao động là yếu tố cơ bản nhất của mọi quá trình sản xuất Lao động là
sự hoạt động có mục đích của con người, là quá trình con người sử dụng tư liệu lao động tác động vào giới tự nhiên, làm thay đổi các vật tự nhiên cho thích ứng với nhu cầu của mình Đó là sự khác biệt giữa con người và các động vật khác, lao động là yêu cầu khách quan đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
Lao động có vai trò quyết định đối với sự PTKT-XH của mỗi quốc gia Ngày nay, tùy khoa học công nghệ đã phát triển cao chi phối mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhưng càng không thể thay thế vai trò của nguồn lực lao động Hơn nữa, nguồn lực lao động còn là nhân tố sáng tạo ra công nghệ, thiết
bị và sử dụng chúng vào quá trình phát triển kinh tế (PTKT)
Trang 27Lao động cũng chính là nhân tố quyết định việc tổ chức, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác, trong đó có nguồn lực đất đai Lao động luôn gắn liền với đất đai, nếu đất đai không có bàn tay lao động của con người thì đất đai cũng chỉ ở dạng tiềm năng Bởi vì đất đai là sản phẩm của tự nhiên, nếu không có lao động
và với tác động của thời tiết, mưa gió, đất đai sẽ trở thành khô cằn không có sự sống Điều này vì như máy móc mà thiếu bàn tay của con người thì sẽ trở thành cục sắt hoen gỉ dưới tác động thiên nhiên Từ đó có thể thấy vai trò của lao động đối với đất đai hết sức quan trọng Lao động làm có đất đai màu mỡ hơn và phát huy được tiềm năng vốn có của nó Lao động cùng với đất đai tạo ra những sản phẩm phục vụ cho mục đích con người
Nhưng nếu lao động chỉ đơn lẻ sẽ đem lại hiệu quả rất thấp, vì lao động của mỗi cá nhân chỉ có giới hạn Để tăng sức mạnh phải hợp sức lại, tức là hiệp tác lao động để tác động vào đất đai có hiệu quả hơn
Quá trình sản xuất sẽ không hiệu quả cao nếu không có sự phân công
và hiệp tác lao động Do đó, có thể thấy sự hiệp tác và phân công lao động luôn gắn bó với nhau
Ở từng giai đoạn phát triển của lịch sử loài người, lao động có những tiến bộ nhất định, biểu hiện rõ nhất ở trình độ tổ chức và phân công lao động
xã hội Trong hệ tư tưởng Đức, C.Mác viết: "Trình độ phát triển của những lực lượng sản xuất của một dân tộc biểu lộ ra rõ nhất ở trình độ phát triển của sự phân công lao động"
Phân công lao động xã hội nói chung và trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng là sự phân chia lao động và sản xuất xã hội thành những ngành, nghề khác nhau để sản xuất ra các hàng hóa khác nhau, nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội Từ đó cũng có thể hiểu rằng tổ chức và phân công lao động xã hội
là sự chuyên môn hóa lao động và sản xuất xã hội theo ngành, theo vùng lãnh thổ và sự hiệp tác, trao đổi lẫn nhau giữa các vùng, các ngành chuyên môn đó
Trang 28Việc phân công lại lao động xã hội trong nông nghiệp và nông thôn CHDCND Lào hiện nay là giải pháp cơ bản để có thể khai thác tốt nhất ĐNN nhằm phát triển theo hướng SXHH
2.1.4.2 Tư liệu sản xuất và các phương tiện vật chất kỹ thuật
ĐNN là TLSX đặc biệt, nó vừa là đối tượng lao động, đồng thời là tư liệu lao động Nhưng chỉ có đất đai thôi thì chưa đủ, mà cần có lao động và những công cụ lao động tác động vào đất đai mới tạo ra sản phẩm cho xã hội
Do đó, trong khai thác đất đai, TLSX và các phương tiện vật chất kỹ thuật là một trong những nhân tố quan trọng giúp con người tăng thêm sức mạnh chinh phục thiên nhiên TLSX càng hiện đại và công nghệ tiên tiến sẽ giúp cho người lao động nâng cao hiệu quả sản xuất
Đối tượng của việc áp dụng các phương tiện vật chất kỹ thuật đối với ĐNN là cây trồng vật nuôi Vì vậy, việc nâng cao chất lượng các loại sản phẩm này đòi hỏi phải vận dụng cả một tổ hợp các phương tiện cơ khí, sinh học và hóa học để chế ngự các yếu tố khí hậu, thời tiết, sâu bệnh, cỏ dại gây hại Đây cũng là đặc điểm riêng của các phương tiện vật chất kỹ thuật
Tóm lại, TLSX và các phương tiện vật chất kỹ thuật giúp cho con
người khai thác tốt hơn tiềm năng đất đai, không những thế nó còn tác động vào bản thân đất đai lam cho đất biến đổi theo mục đích của con người Đất đai được quay vòng sản xuất nhiều hơn, được bồi bổ màu mỡ hơn, từ đó đem lại lợi ích cho con người nhiều hơn
2.1.4.3 Vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh
Vốn là yếu tố không thể thiếu trong việc phát triển sản xuất Dưới dạng tiền tệ, vốn được định nghĩa là khoản tích lũy, tức là một bộ phận của thu nhập chưa được tiêu dùng Dưới hình thái vật chất, vốn bao gồm các loại máy móc thiết bị, nhà xưởng, các công trình hạ tầng, các loại nguyên liệu, nhiên liệu, các sản phẩm trung gian, các thành phẩm, Bên cạnh vốn tồn tại dưới dạng vật chất, còn có các loại vốn vô hình như bằng phát minh, sáng chế,
Trang 29không tồn tại dưới dạng vật chất nhưng có giá trị kinh tế và cũng là những yếu tố vốn cần thiết cho quá trình phát triển
Vốn là một loại nhân tố " đầu vào", đồng thời bản thân nó lại là kết
quả "đầu ra" của hoạt động kinh tế Trong quá trình hoạt động của nền kinh
tế, vốn luôn luôn vận động và chuyển hóa về hình thái vật chất, cũng như từ hình thái vật chất sang hình thái tiền tệ Đối với sản xuất thì vốn là một nguồn lực quan trọng, trong lĩnh vực SXNN, người nông dân rất cần vốn để đầu tư vào khai thác đất đai và phát triển một số ngành nghề
Như vậy, vốn là điều kiện vô cùng quan trọng cho sản xuất nói chung
và cho đầu tư khai thác đất đai nói riêng để đem lại hiệu quả ngày càng cao hơn Qua việc hỗ trợ vốn cho nông dân bằng nhiều hình thức, còn giúp chuyển dịch kinh tế hộ nông dân sang PTSXHH, thích ứng với cơ chế thị trường hiện nay
2.1.4.4 Về tổ chức và quản lý đất đai trong nông nghiệp
Đất đai là vốn quý vĩnh cửu của Quốc gia, nên không thể sử dụng một cách bừa bãi, vô ý thức dẫn đến hủy hoại đất đai, phải thường xuyên chăm sóc tu bổ làm cho đất đai ngày càng tốt hơn Quá trình PTNN gắn liền vói việc sử dụng thường xuyên đất đai, nguồn nước, các loại hóa chất, để gieo trồng các loại lương thực thực phẩm, trồng cây phủ xanh đất trống đồi núi trọc, đều có ảnh hưởng đến môi trường Do đó cần bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái là điều kiện cho quá trình tái SXNN diễn ra bình thường và có hiệu quả
Mặt khác, đất đai có gới hạn - là tài sản cố định không thể sinh sôi nảy
mổ thêm và cũng không dịch chuyển từ chỗ này sang chỗ khác Vì vậy, để bảo vệ tài nguyên quý giá này, Chính phủ cần có chính sách, biện pháp tăng cường công tác quản lý đất đai phù hợp
Đất đai ở mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi đơn vị kinh tế sử dụng đất đai có đặc điểm riêng, có điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, hoạt động xã
Trang 30hội khác nhau cho nên phải nghiên cứu, đánh giá đầy đủ, chi tiết, kết hợp với nghiên cứu phương hướng nhiệm vụ PTKT-XH của mỗi vùng, mỗi địa phương để tổ chức, quản lý và lập kế hoạch sử dụng đất đai hợp lý, sát với thực tế
2.1.5 Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến khai thác tiềm năng đất nông nghiệp trong phát triển sản xuất hàng hóa
2.1.5.1 Về điều kiện tự nhiên
Bao gồm: vị trí địa lý của vùng lãnh thổ, điều kiện đất đai và các tiềm năng khai thác của vùng Các nhân tố này tác động trực tiếp tới PTNN hàng hóa Do SXNN chịu ảnh hưởng rất lớn vào điều kiện tự nhiên, vì vậy nhân tố này có ảnh hưởng rất lớn đến SXNN hàng hóa Mỗi vùng có một số điều kiện thuận lợi để phát triển một số sản phẩm hàng hóa nông nghiệp, tạo thế so sánh với các vùng khác của huyện Đây là cơ sở tự nhiên để hình thành các vùng SXHH tập trung trong huyện
Đối tượng SXNN chủ yếu là các cây trồng, vật nuôi có quá trình sinh trưởng và phát triển theo quy luật tự nhiên, trải rộng theo một phạm vi không gian rộng lớn Cho nên các yếu tố tự nhiên như: đất, nước, thời tiết, khí hậu, địa hình,… tác động rất lớn, nó có thể thúc đẩy ức chế sự phát triển, sinh trưởng của các cây trồng, con gia súc
Đánh giá đúng các đặc điểm tự nhiên, xác định được các cây trồng vật nuôi có lợi thế tuyệt đối và lợi thế tương đối để lựa chọn phát triển thích hợp với từng địa phương là vấn đề có ý nghĩa kinh tế sinh thái to lớn
2.1.5.2 Tổ chức sản xuất
Tổ chức sản xuất có tác động rất to lớn đến SXHH nông nghiệp nhất là yếu tố đa dạng hóa, tập trung hóa và chuyên môn hóa sản xuất Đa dạng hóa sản xuất nhằm khai thác sử dụng các nguồn lực của nông nghiệp và hạn chế những rủi ro trong SXNN
Trang 31Sản xuất tập trung để hình thành các vùng SXNN tập trung với khối lượng sản phẩm to lớn, tạo điều kiện hình thành các vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến hoặc hình thành các tụ điểm thu gom, buôn bán, giảm bớt chi phí trong khâu lưu thông tiêu thụ sản phẩm, tăng lợi ích trong khâu lưu thông phân phối Chuyên môn hóa sản xuất nhằm nâng cao trình độ, tay nghề, kinh nghiệm sản xuất cho người lao động, để tăng năng suất chất lượng tạo ra nhiều sản phẩm ngày càng có chất lượng cao đáp ứng đòi hỏi của người tiêu dùng
Tổ chức sản xuất theo hướng tập trung hóa phải kết hợp chặt chẽ chuyên môn hóa nhằm vừa tạo ra khối lượng sản phẩm tốt nâng cao hiệu quả, tăng thế cạnh tranh của sản phẩm, có vậy mới đáp ứng được yêu cầu thị trường
Để thúc đẩy phát triển SXNN theo hướng tập trung hóa kết hợp với chuyên môn hóa cần phát triển mạnh kinh tế trang trại Bởi vì kinh tế trang trại là hình thức tổ chức SXHH trong nông nghiệp chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm
2.1.5.3 Kỹ thuật và công nghệ
Kỹ thuật và công nghệ chủ yếu là yếu tố sản xuất quan trọng, nó quyết định sự thay đổi năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Những phát minh, sáng chế mới được ứng dụng trong sản xuất đã giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho người lao động và tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự PTKTcủa xã hội hiện đại
Trong những năm thực hiện đổi mới kinh tế, nền nông nghiệp được tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học với thành tựu về gen và di truyền, trong nông nghiệp đã áp dụng nhiều giống lúa mới, lợn, bò, gà, cây ăn quả,… tạo ra bước phát triển nhảy vọt trong nông nghiệp Công nghệ sinh học đã góp phần làm cho SXNN phù hợp hơn với môi trường, công nghiệp hóa học gần như phân khoáng, thuốc bảo vệ thực vật và
Trang 32thức ăn chăn nuôi, góp phần thúc đẩy tăng năng suất cây trồng, vật nuôi Những tiến bộ và công nghệ mới đó thực sự mang lại hiệu quả thiết thực, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thay đổi cơ cấu sản xuất và cơ cấu kinh tế nhiều
vùng
2.1.5.4 Thị trường
Ngày nay, các nhà kinh tế học thống nhất với nhau về khái niệm thị trường như sau: Thị trường là một quá trình mà trong đó người bán và người mua tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và sản lượng
Thị trường có vai trò quan trọng trong PTSXHH nói chung và trong phát triển SXNN hàng hóa nói riêng Thị trường là điều kiện, là môi trường của SXHH
Thông qua thị trường các chủ thể của kinh tế mua bán các yếu tố điều kiện của sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, mua được các hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ Điều đó đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành bình thường thông suốt Vì vậy, không có thị trường thì sản xuất và trao đổi hàng hóa không thể tiến hành được
Thị trường là trung tâm của toàn bộ quá trình tái SXHH Những vấn đề
cơ bản của nền sản xuất xã hội là sản xuất mặt hàng gì? Số lượng bao nhiêu?
Và bằng phương pháp nào? Đều phải thông qua thị trường
Thị trường là nơi kiểm tra về chủng loại, số lượng và chất lượng hàng hóa điều tiết sản xuất và kinh doanh
Thông qua thị trường các chủ thể sản xuất kinh doanh lựa chọn phương
án hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt hiệu quả cao hơn Thị trường là nơi diễn ra sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế để xác định giá cả và sản lượng hàng hóa Vì vậy, đòi hỏi các chủ thể kinh tế phải năng động, sáng tạo trong sản xuất kinh doanh, thúc đẩy áp dụng khoa học kĩ thuật… để tạo ra sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường
Trang 33Với ý nghĩa và vai trò như vậy của thị trường, để PTNN theo hướng SXHH cần gắn thị trường trong nước với thị trường quốc tế, có chính sách bảo trợ khuyến khích sản xuất trong nước để tạo điều kiện hội nhập với thị trường khu vực và thế giới
2.1.5.5 Cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng
Cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của từng đơn vị kinh tế cũng như của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Sự phát triển của kết cấu hạ tầng sẽ là một trong những điều kiện vật chất quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế và các phúc lợi khác
Trong điều kiện kinh tế thị trường, thông tin đóng vai trò quan trọng cho cả người bán và người mua, cả người sản xuất và người tiêu dùng Vấn đề thông tin ở các vùng nông thôn hiện nay chưa được chú trọng và cũng là nguyên nhân làm cho thị trường ở nới ấy không phát triển Do không có thông tin hay thông tin không chính xác, người mua phải mua với giá đắt và người bán phải bán với giá rẻ Đây là một trong những nguyên nhân làm cho giá nông sản thấp và giá các hàng công nghiệp ở nông thôn cao, bất lợi cho nông dân, phải xây dựng được hệ thống cơ sở, vật chất kỹ thuật cho mạng lưới thông tin về các vùng nông thôn làm cho thị trường phát triển
Mặt khác, hệ thống đường xá giao thông, phương tiện vận chuyển được củng cố và nâng cao để vận chuyển hàng hóa đến mọi nơi, mọi thị trường một cách nhanh chóng là điều kiện tiên quyết Khối lượng hàng hóa nhập khẩu lớn đòi hỏi hệ thống kho tàng bảo quản, hệ thống bến bãi,với những thiết bị hiện đại có công suất lớn Ngày nay, nhu cầu đòi hỏi các sản phẩm hàng hóa có chất lượng, sử dụng tiện lợi, các sản phẩm đó được sản xuất trên những máy móc thiết bị hiện đại Chính vì vậy, nền SXHH và kinh tế thị trường không thể dựa trên nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, kết cấu hạ tầng non kém
Trang 342.1.5.6 Quản lý vĩ mô của Nhà nước
Quản lý vĩ mô của Nhà nước có vai trò rất quan trọng, bởi vì mọi thể chế quản lý vĩ mô ổn định và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện đổi mới liên tục cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện thực tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh
Ngược lại, một thể chế không phù hợp sẽ gây ra những cản trở mất ổn định, thậm chí dẫn đến chỗ phá vỡ những mối quan hệ cơ bản làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái
Nhà nước thực hiện các chức năng của mình bằng cách chịu trách nhiệm phần lớn sản xuất các hàng hóa công cộng, sử dụng công cụ thuế và ngân sách, điều tiết thu nhập và kiềm chế các hoạt động làm tổn hại đến môi trường Nhà nước sử dụng công cụ tài chính và tiền tệ tác động đến sản xuất, công ăn việc làm và giá cả của một nền kinh tế Trong các nhân tố tác động đến PTNN hàng hóa Mỗi một nhân tố tác động ở các khía cạnh khác nhau, trên các mức độ khác nhau, kết quả phát triển hàng hóa nông nghiệp là kết quả tác động tổng hợp và đồng bộ các nhân tố, đặc biệt là nhân tố thị trường
và nhân tố quản lý vĩ mô của nhà nước giữ vai trò quan trọng nhất Bởi vì có
cơ chế chính sách đúng đắn, xây dựng kết cấu hạ tầng vững mạnh và định hướng thì trường chính xác sẽ có tác dụng phát huy các nhân tố khác và sau
đó chúng đồng thời tác động để thúc đẩy SXHH phát triển
2.2 Cơ sở thực tiễn về khai thác tiềm năng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
2.2.1 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới
a Trung Quốc
Trung Quốc là một đất nước rất coi trọng việc phát triển sản xuất lương thực, trong suột quá trình điều chỉnh cơ cấu SXNN, sản xuất lương thực luôn được tập trung mọi nguồn lực để đạt được tăng trưởng ổn định Để đạt được mục tiêu đó, Trung Quốc đã thực hiện các biện pháp chủ yếu như: Xây dựng vùng
Trang 35lương thực hàng hóa trọng điểm, điều chỉnh hợp lý lợi ích giữa khu vực sản xuất lương thực và khu vực nhận lương thực Các đia phương căn cứ vào điều kiện cụ thể của mình mà đảm bảo sản xuất lương thực tăng trưởng vững chắc và điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông thôn hợp lý, phát triển lâm nghiệp, thủy sản cũng như các hoạt động chế biến và dịch vụ khác, tích cực mở mang phát triển cây nguyên liệu cho phát triển chế biến
Từ thực tiễn PTNN nông thôn Trung Quốc, thời gian qua có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
Thứ nhất: Thực hiện chính sách đa dạng hóa và chuyên môn hóa sản
xuất, phi tập thể hóa trong SXNN, thông qua việc áp dụng hình thức khoán sản phẩm
Thứ hai: Nhà nước tăng giá mua nông sản, do nhà nước thu mua một
cách hợp lý để giảm tỷ giá cánh kéo giữa hàng nông nghiệp và hàng công nghiệp, qua đó tăng thu nhập của người nông dân và nâng cao khả năng tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp ở nông thôn
b Việt Nam
Với kinh nghiệm chuyển từ nền nông nghiệp độc canh lương thực sang hàng hóa đa canh phù hợp với đặc điểm từng vùng của một số địa phương Ở vùng nông thôn ven đô thị diện tích gieo trồng cây lương thực chuyển sang cây có giá trị kinh tế cao như cây ăn quả, cây dược liệu, cây tinh dầu, cây cảnh, chăn nuôi lợn xuất khẩu, nuôi trồng thủy sản để đáp ứng nhu cầu thị trường
Đối với vùng trũng: đầu tư phát triển theo mô hình VAC Đối với vùng đất lúa nông dân bố trí lại giống cây lúa, cơ cấu mùa vụ, chọn giống có chất lượng, năng suất cao thị trường ưa chuộng Như vậy, cơ cấu sản xuất lương thực đã bố trí lại từ cơ cấu tiêu dùng thông qua tín hiệu thị trường Nhờ đó, hiệu quả của các vùng sản xuất lương thực được tăng lên
Trang 36c Một số bài học từ phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa ở một
số nước ASEAN
Về chính sách giá cả thị trường ở các nước ASEAN: thị trường các loại sản phẩm nông nghiệp được hình thành trên cơ sở cạnh tranh tự do, do quy luật cung cầu quyết định Mục tiêu chiến lược của chính sách giá nông nghiệp của chính phủ các nước này là:
- Khuyến khích người sản xuất, đảm bảo giá nơi sản xuất có lợi cho người sản xuất và giá bán lẻ thấp có lợi cho người tiêu dùng
- Ổn định giá cả thị trường trong nước, kìm hãm mức giá trong nước thấp hơn so với mức giá thị trường thế giới, khuyến khích xuất khẩu
- Hạn chế ảnh hưởng của sự biến động giá cả thị trường thế giới đối với giá cả thị trường nội địa
- Ở các nước ASEAN lúa gạo là sản phẩm nông nghiệp quan trọng nhất Vì vậy, ổn định giá gạo được coi là yếu tố quan trọng nhất để ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát là cơ sở để ổn định về chính trị Chính sách giá lúa gạo là nhân tố trung tâm trong chính sách giá cả ở các nước ASEAN
Về chính sách tín dụng nông nghiệp: nông dân ở các nước ASEAN có nhu cầu vay tín dụng cao Tuy nhiên, phần lớn nông dân nghèo thường không vay được từ các nguồn tài chính, tiền tệ chính thức, do không đủ tài sản thế chấp Hơn nữa, SXNN thường rất rủi ro và bấp bênh Chính sách tín dụng của các nước ASEAN:
- Tăng mức cho vay trực tiếp từ các nguồn tài chính chính thức tới các
hộ nông dân
- Cải tiến các điều kiện, hình thức cho vay, mở rộng cho vay trung hạn
và dài hạn
Cũng trong SXNN Ấn Độ đã thực hiện được “Cách mạng xanh” giúp
cho Ấn Độ giải quyết được vấn đề lương thực của đất nước Để đạt được những thành tựu nhảy vọt trong SXNN như vậy thì Ấn Độ không ngoài công
Trang 37tác nghiên cứu vấn đề sử dụng đất Một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc và ngay như Đài Loan trước đây từ 4 – 5 thập kỷ bước vào giai đoạn công nghiệp hóa cũng từ một nền nông nghiệp tiểu nông sản xuất nhỏ là phổ biến
mà đi lên, đâu có như các nước Tây Âu, Bắc Mỹ đã có đến hàng chục, hàng trăm ha ruộng đất trong từng hộ trang trại thế mà họ vẫn có thể phát triển đất nước phồn vinh và mau lẹ “Mang danh hiệu thần kỳ, chinh phục sự kính trọng của thiên hạ”
Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống hoá tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất đai thông qua hệ thống cây trồng trên đất Đó là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi, cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra và tính chất hàng hoá của sản phẩm Nói chung về việc sử dụng đất đai các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: Đối với các vùng nhiệt đới có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới, tiến bộ hơn, mang lại kết quả và hiệu quả cao hơn
Xu hướng chung các nhà khoa học trên thế giới đang nỗ lực nghiên cứu việc bố trí luân phiên các cây trồng hợp lý hơn thường sử dụng bằng cách đưa một số giống cây trồng mới vào hệ thống canh tác nhằm tăng sản lượng lương thực, thực phẩm trên một đơn vị diện tích Ở châu Á những năm đầu của thập
kỷ 70 nhiều vùng đã đưa cây trồng cạn vào hệ thống cây trồng trên đất lúa
Tóm lại: Các nước trên thế giới và trong khu vực có nhiều chính sách
điều tiết vĩ mô và giải pháp để thúc đẩy PTNN theo hướng SXHH Song chủ yếu các chính sách tập trung vào các vấn đề sau:
- Khuyến khích sản xuất ra nông sản hàng hóa
- Trợ giá đầu vào cho nông dân
- Tiêu thụ sản phẩm, giá cả thị trường: do các nước đang phát triển thì sản xuât nhỏ, phân tán và manh mún ở các hộ gia đình nên sản phẩm không đồng đều, gây khó khăn cho việc thu gom và tiêu thụ Hệ thống marketing do tư nhân
Trang 38đảm nhận chưa làm tốt chức năng phân phối lưu thông Để ổn định giá và lưu thông nông sản, chính phủ đã thực hiện chương trình đảm bảo giá tiêu thụ theo hợp đồng hoặc thu mua trực tiếp, điều chỉnh thị trường bán buôn, ổn định cung qua kế hoạch sản xuất và dự trữ - Về bảo quản chế biến: Chính phủ các nước đã
có chính sách hỗ trợ để hiện đại hóa trang thiết bị bảo quản, phát triển công nghệ sau thu hoạch và phát triển các cơ sở chế biến
- Về khuyến nông: nông dân không thể tiếp thu chính xác các tiến bộ
về kỹ thuật, canh tác nếu không có trình độ văn hóa và không có sự hướng dẫn thường xuyên của cơ quan khuyến nông
Tất cả những kinh nghiệm trên đều là những bài học hay, mô hình tốt Nếu CHDCND Lào biết học hỏi, áp dụng, kế thừa một cách có chọn lọc thì sẽ thu được nhiều kinh nghiệm tốt cho quá trình chuyển từ nền nông nghiệp tự cấp, tự túc sang nên nông nghiệp hàng hóa
2.2.2 Thực trạng về khai thác và sử dụng đất nông nghiệp nhằm phát triển sản xuất hàng hóa ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
2.2.2.1Trước đổi mới (trước năm 1986)
Theo mô hình trước đây CHDCND Lào, là kế hoạch hóa tập trung,
thực hiện pháp lệnh hành chính và phân phối trên cơ sở hiện vật, vốn là công
cụ chủ yếu, là đặc trưng của quản lý Nhà nước về kinh tế Kế hoạch hóa trong điều kiện trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất còn thấp kém, quan niệm
về sự tồn tại và PTSXHH, quan hệ hàng - tiền còn giản đơn do ảnh hưởng của
tư duy cũ, cộng vào đó năng lực điều hành của Nhà nước còn hạn chế cho nên
cơ chế kế hoạch có tính chất tập trung pháp lệnh không trở thành công cụ đắc lực quản lý mà trong chừng mực nào đó trở thành lực cản cho sự phát triển
Tình trạng sử dụng đất đai cho đến thời kỳ đầu hợp tác hóa - tập thể hóa nông nghiệp bậc cao Sau thời kỳ đó đất được tập thể hóa - chế độ tập thể hóa ruộng đất về cơ bản đã xóa bỏ các chủ thể kinh tế hộ nông dân, được thực hiện trên quy mô lớn hàng trăm hàng nghìn hà trong từng hợp tác xã nông
Trang 39nghiệp với sản xuất thủ công là chính trình độ kỹ thuật và quản lý còn rất thấp kém đã tỏ ra không có hiệu quả trong một thời gian dài, động lực của nền kinh tế của người lao động bị thủ tiêu, lợi ích của người lao động không được coi trọng, sản xuất không phát triển Kết quả là làm cho nền kinh tế trì trệ, kém hiệu quả và lâm vào tình trang khủng hoảng
2.2.2.2 Sau đổi mới (sau năm 1986)
Dựa trên Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV(tháng 11/
1986) ngay đã có quy hoạch của Chính phủ “ Chương trình chấm dứt nạn phá rừng làm nương rẫy” Chương trình này được thúc đẩy trồng trọt và
chăn nuôi để xóa đói giảm nghèo người nông dân, bảo vệ tài nguyên và môi trường, giao đất - phân bổ rừng, định canh, định cư và sản xuất lương thực thực phẩm Luật đất đai được Quốc hội khóa IV thông qua và có hiệu lực ngày 15/11/1987 Đây là bộ Luật quan trọng thể hiện chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Lào về đất đai, thể chế hóa đường lối cơ bản của Đảng, mà trực tiếp là Hội nghị lần thứ VIII của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (tháng 04/2005) Nghiên cứu tổng quát những sửa đổi bổ sung về chính sách đất đai được thể chế hóa trong luật đất đai có những vấn đề nổi bật đáng lưu ý:
- Củng cố và tăng cường quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai, tăng cường vai trò thống nhất của Nhà nước
- Chủ trương Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và các cá nhân sử dụng ổn định lâu dài
- Về việc khẳng định: đất có giá trị và Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi
- Các quyền sử dụng đất là các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất đã được luật xác định, tạo cơ sở pháp lý về những lợi ích cụ thể để người sử dụng đất thực
Trang 40sự làm chủ về sử dụng và kinh doanh trên đất được giao, từng bước khắc phục tình trạng manh mún, phân tán tạo điều kiện tích tụ ruộng đất phù hợp, thúc đẩy sản xuất lâm nghiệp phát triển nhanh chóng theo hướng SXHH, thâm canh đất đai, đổi mới cơ cấu sản xuât, đa dạng hóa cây trồng, sử dụng và bảo vệ tốt tài nguyên môi trường theo hướng sản xuất nông - lâm nghiệp bền vững
Chính sách đã ban hành nhiều sắc lệnh, nghị định về ruộng đất theo hướng “ người cày có ruộng ” đã được triệt để giải quyết đặc biệt là Nghị định
số 13/NĐ-CP ngày 16/05/2006 về “giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” Từ đó chế độ sở hữu ruộng đất được trao vào tay
nông dân, hình thành một giai cấp hầu như đồng nhất là các hộ tiểu nông được sản xuất tự túc là phổ biến, ngoại trừ một số dồn điền chuyển thành nông trường quốc doanh do Nhà nước quản lý và sau này có sự phát triển rộng thêm
Nghị định số 13/NĐ-CP, đảm bảo quan hệ pháp lý của người sử dụng đất,
là cơ sở để Nhà nước bảo hộ quyền hợp pháp của người sử dụng đất và hoạch định các chính sách liên quan đến PTNN nông thôn Về phía người sử dụng đất, quyền sử dụng đất lâu dài đã giúp họ được làm chủ thực sự quá trình sử dụng đất của mình trong thời hạn được giao, được chủ động trong kế hoạch sản xuất, mua bán vật tư và các sản phẩm nông nghiệp Cùng với quyền sử dụng đất, nông dân được đảm bảo các quyền đối với đất của họ được giao, đó là: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất theo luật định Trên thực tế, việc giao ĐNN theo Nghị định số 13/CP đã tạo nên động cơ cho người sử dụng đất như sau:
- Đầu tư tiền bạc và sức lao động vào sản xuất để đáp ứng các nhu cầu, sở thích của họ sao cho phù hợp với cơ chế thị trường và các điều kiện kinh tế-xã hội và môi trường nơi họ sống để đẩy mạnh sản xuất
- Duy trì sản xuất một cách bền vững cho mục đích sử dụng đất lâu dài đầu tư thâm canh để tận dụng tiềm năng đất đai