1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng ở việt nam

100 626 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 815,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế khung pháp lý quản trị các công ty đại chúng nói chung hiện nay ở nước ta phần nhiều còn nhiều vấn đề bất cập, chưa thật sự bảo vệ được quyền và l

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN QUANG HUY

HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG

Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN QUANG HUY

HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ

VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Tài chính Ngân hàng

Mã số : 60 34 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN SƠN

Hà Nội – 2015

Trang 3

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, MÔ HÌNH

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Tổng quan nghiên cứu ……… 1

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới……… 1

1.1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam……… 2

1.2 Cơ sở lý luận khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng ……… 3

1.2.1 Khái quát về công ty đại chúng……… 3

1.2.2 Khái quát quản trị công ty đối với công ty đại chúng……… 12

1.2.3 Cơ sở pháp lý về quản trị công ty đại chúng ……… 20

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu ……… 24

2.1 Phương pháp thu thập thông tin ……… 24

2.1.1 Dữ liệu nghiên cứu ……… 24

2.1.2 Phương pháp phân tích ……… 24

2.2 Phương pháp chấm điểm ……… 26

Chương 3 Đánh giá thực thi khung pháp lý về quản trị công ty đối với công ty đại chúng ở Việt Nam ……….………… 29

3.1 Khái quát về khung pháp lý quản trị công ty đại chúng tại TTCK Việt Nam ……… 29

3.2 Luật Doanh nghiệp 2005 và Thông tư 121/BTC về quản trị công ty áp dụng cho công tyđại chúng ……… 32

3.2.1 Luật Doanh nghiệp 2005 ……… 32

3.2.2 Thông tư 121/2012/TT-BTC ……… 39

3.3 Những kết quả đạt được ……… 49

3.3.1 Tạo lập khung pháp lý cao, đồng bộ và thống nhất về quản trị công ty 49 3.3.2 Tăng cường sự minh bạch của TTCK Việt Nam ……… 51

3.4 Những điểm hạn chế ……… 52

3.4.1 Hoạt động của HĐQT chưa thực sự hiệu quả ……… 53

3.4.2 Hoạt động của Ban Kiểm soát còn mang tính hình thức và kém hiệu

quả

54

3.4.3 Các thông tin công bố còn chưa được đánh giá đúng kèm theo các

Trang 4

công ty đại chúng chưa thực sự tuân thủ chế độ CBTT theo quy định 56

3.4.4 Quyền lợi cổ đông nhỏ chưa thực sự được quan tâm ……… 56

3.4.5 Cổ đông nội bộ và người có liên quan còn ảnh hưởng đến tình hình

hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ……… 57

3.5 Nguyên nhân của những hạn chế khi thực thi khung pháp lý về

Chương 4 Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng ở

Việt Nam ……… 61 4.1

Định hướng về hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đại

4.1.3 Sửa đổi Thông tư 52/BTC/2012 về công bố thông tin công ty đại

4.2 Giải pháp hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng

4.2.2 Đối với Sở Giao dịch Chứng khoán……… 74

4.2.3 Đối với Chính phủ, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước… 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 80

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CTĐC : Công ty đại chúng

CTCP : Công ty cổ phần

QTCT : Quản trị công ty

TTCK : Thị trường chứng khoán

IFC : Tổ chức Tài chính Quốctế

OECD : Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế

WTO : Tổ chức thương mại thế giới

SGDCK : Sở Giao dịch chứng khoán

UBCKNN : Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

ĐHĐCĐ : Đại hội đồng cổ đông

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1 Bảng 1.1 So sánh công ty đại chúng và công ty cổ phần 11

2 Bảng 2.1 Xác định trọng số cho các lĩnh vực quản trị công

2 Hình 3.2 Mô hình không có (không bắt buộc) Ban kiểm

soát

33

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với yêu cầu phát triển của nền kinh tế, các công ty cổ phần đại chúng (CTĐC) ngày càng đóng góp vai trò lớn trong cộng đồng doanh nghiệp và trên thị trường vốn Cùng với sự ra đời và phát triển của TTCK, vấn đề quản trị công ty (QTCT) đối với công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam

đã cải thiện đáng kể so với những năm đầu nhưng nếu so với tình hình QTCT các nước trong khu vực và trên thế giới chưa thực sự có bước tiến đáng kể

Về khung pháp lý, có thể coi là thành công bước đầu trong QTCT ở Việt Nam khi Luật Doanh nghiệp 2005 là một bước tiến lớn tạo ra thay đổi căn bản trong quá trình hoàn thiện khung quản trị, cũng như quy định khá đầy đủ và cụ thể các nội dung hay yếu tố cấu thành của khung quản trị Ngoài ra, Thông tư 121/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản trị công ty đối với công ty đại chúng cũng đã tạo một hàng lang pháp lý đầy đủ cho các công ty đại chúng trên TTCK

Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế khung pháp lý quản trị các công ty đại chúng nói chung hiện nay ở nước ta phần nhiều còn nhiều vấn đề bất cập, chưa thật

sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông và hệ quả là sự phân hoá sâu sắc các nhóm cổ đông trong công ty làm nguồn cho các cuộc thâu tóm, sáp nhập có nguy cơ diễn ra trên diện rộng Điều này do nhiều nguyên nhân mà một trong số những nguyên nhân chính lại nằm trong khung quản trị của các công ty đại chúng trong việc ngăn ngừa các xung đột lợi ích một cách hiệu quả

Hàng loạt các bất cập liên quan đến cơ cấu tổ chức, đảm bảo quyền và lợi ích của cổ đông, công khai hoá thông tin và các lợi ích có liên quan, các quy định về kế toán và kiểm toán đã nảy sinh làm ảnh hưởng đến hoạt động của nhiều công ty; các nhóm cổ đông bị phân hoá quyền và lợi ích rất sâu sắc; quyền của cổ đông thiểu số

bị lạm dụng Điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà một trong các nguyên nhân chính là khung pháp lý về quản trị được ban hành và tuân thủ chưa đầy đủ làm

cơ sở để bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông và nhà đầu tư

Trang 8

Năm 2014, Luật Doanh nghiệp mới (thay thế cho Luật Doanh nghiệp 2005)

đã được Quốc hội thông qua và sẽ có hiệu lực thi hành từ tháng 7.2015 So với Luật Doanh nghiệp trước đây, các quy định mới tại luật này từng bước đã tiếp cận với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế trong vấn đề quản lý công ty Tuy nhiên, việc hướng dẫn thi hành vẫn chưa được triển khai cụ thể (Nghị định của Chính phủ và Thông tư của Bộ Tài chính), một số nội dung bất cập trước đây đã được điều chỉnh cần phải thể chế hóa vào các văn bản cụ thể, trong đó quan trọng nhất là việc sửa Thông tư 121/BTC theo tinh thần sửa đổi của Luật Doanh nghiệp mới

Chính vì vậy tôi đã quyết định chọn đề tài cho bản Luận văn của mình là :

"Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam" nhằm đánh giá những bất cập của khung pháp lý quản trị công ty trước đây và khuyến nghị một số nội dung cần điều chỉnh, nhằm nâng cao hiệu quả quy định pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu khung pháp lý về quản trị công ty đối với công ty đại chúng trên TTCK Việt Nam nhằm:

- Làm rõ cơ sở lý luận về khung pháp lý QTCT đại chúng: các nguyên tắc, mô hình và nội dung quản trị công ty đại chúng

- Làm rõ khung pháp lý và đặc trưng QTCT đối với công ty đại chúng tại Việt Nam

- Chỉ ra những mặt được và hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế của khung pháp lý về quản trị công ty đối với công ty đại chúng tại Việt Nam;

- Kiến nghị hướng để hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đối với công ty đại chúng tại Việt Nam theo tinh thần của Luật Doanh nghiệp 2014;

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Hệ thống pháp lý về quản trị công ty đối với công ty cổ phần đại chúng trên TTCK Việt Nam hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu:

Trang 9

 Về nội dung: Đề tài nghiên cứu thực quản trị công ty của 100 công ty đại

chúng niêm yết có vốn hóa thị trường lớn nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2014

 Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu, đề xuất các giải pháp để nhằm hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng tại Việt Nam

- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 đến năm 2014

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử của chủ nghĩa Mác Lê Nin, luận văn sử dụng phương pháp chính là thu thập thông tin và xử lý thông tin để tiến hành khảo sát, phân tích, đánh giá các đặc điểm nổi bật và chất lượng quản trị công ty của các công ty đại chúng tại Việt Nam và đề xuất giải pháp tính pháp lý nhằm nâng cao chất lượng quản trị công ty đại chúng tại Việt Nam

5 Kết cấu Luận văn

Kết cấu của Luận văn bao gồm 4 phần:

- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận

- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Đánh giá thực thi khung pháp lý về quản trị công ty đối với công ty đại chúng ở Việt Nam

- Chương 4: Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam

6 Những đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về quản trị công ty đại chúng theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế;

- Đánh giá hiện trạng khung pháp lý về quản trị công ty tại Việt nam và thực trạng áp dụng quản trị công ty đối với các công ty cổ phần niêm yết trên TTCK

- Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp để hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty tại Việt Nam

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan nghiên cứu khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng 1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Việt Nam vẫn là một quốc gia ít được nghiên cứu trong các công trình về quản trị công ty đại chúng

Trong giai đoạn từ đầu những năm 2000 trở về trước, sự thiếu vắng các nghiên cứu về Việt Nam là có thể hiểu được, bởi lẽ thời gian đó Việt Nam mới bắt đầu tiến trình hội nhập quốc tế, chưa chịu ảnh hưởng mạnh từ những “sự kiện quản trị công ty” quốc tế, bản thân hệ thống công ty cổ phần trong nước đang hình thành nên chưa tr ở thành mối quan tâm trong của các nhà nghiên cứu

Trong các nghiên cứu và báo cáo các năm sau này của Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD) như “Policy Brief on Corporate Governance of Banks in Asia” (2006);“Implementing the White Paper on Corporate Governance in Asia” (2006);

“Asia: Overview of Corporate Governance Frameworks” (2007); “Enforcement of Corporate Governance in Asia” (2007); and “Guide on Fighting Abusive Related Party Transactions in Asia” (2009) và “Corporate Governance in Asia 2011: Progress and Challenges” (OECD 2011 ), cái tên Việt Nam được nhắc tới thường xuyên hơn với tư cách là một trong những quốc gia tham gia khảo sát Đây là các khảo sát tình hình tiến bộ của các quốc gia dựa trên 6 nhóm yếu tố QTCT được OECD khuyến nghị (đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ QTCT hiệu quả; quyền của

cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản; đối xử bình đẳng đối với cổ đông; vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty; công bố thông tin và tính minh bạch; trách nhiệm của HĐQT) Tuy nhiên, đó không phải là những nghiên cứu được thiết kế riêng cho Việt Nam

Vì sao lại có hiện tượng này? Hầu hết các nghiên cứu quốc tế đều dựa trên các nghiên cứu trước đó, được công bố trong những tạp chí, hội thảo hay những

Trang 11

cuốn sách và báo cáo có ảnh hưởng và được công nhận rộng rãi Nhưng những những bài báo khoa học như vậy về Việt Nam hiện hay còn quá ít

Tuy nhiên, vẫn có những nghiên cứu của các tác giả Việt Nam được công bố trên một số tạp chí quốc tế ít có ảnh hưởng hơn Các nghiên cứu này đa phần về khía cạnh pháp lý của QTCT tại Việt Nam, một bài về mức độ công bố thông tin và một bài mối kiểm định mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và QTCT sử dụng dữ liệu của các công ty Việt Nam

Nhìn lại những phân tích trên, có thể nói rằng chưa có một nghiên cứu toàn diện nào về QTCT tại Việt Nam được công bố trên các tạp chí khoa học bằng tiếng Anh

1.1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng ở cấp độ doanh nghiệp cũng đang trong giai đoạn phát triển Nghiên cứu nổi bật nhất phải kể đến Báo cáo thẻ điểm QTCT của Công ty tài chính Quốc tế (IFC) được thực hiện hàng năm kể từ năm 2010; cho đến này đã có báo cáo 2010, 2011 và

2012 Dựa vào hệ thống 6 nguyên tắc QTCT mà OECD khuyến cáo, IFC đã tiến hành đánh giá tình hình thực thi các nguyên tắc này ở 100 công ty niêm yết lớn nhất trên hai sở giao dịch HSX và HNX Kết quả ba năm đều cho thấy mức điểm QTCT của các công ty đại chúng lớn nhất Việt Nam chưa vượt qua mức 50% (Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) 2011, 2012)

Nghiên cứu của tác giả Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Anh Tuấn đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, Tập 29, Số 1 (2013) 1-10 về Vấn đề đại diện của các công ty đại chúng ở Việt Nam đã cho thấy sự suy giảm trong kết quả áp dụng những nguyên tắc quản trị công ty hiệu quả, sự hạn chế hoạt động giám sát thực thi của các cơ quan quản lý, Ủy ban chứng khoán Nhà nước và

Sở giao dịch chứng khoán đối với các công ty đại chúng Qua đó, kết luận bản thân

Trang 12

các công ty đại chúng chưa làm tròn các trách nhiệm của mình trong việc xây dựng môi trường đầu tư có chất lượng ở Việt Nam

Trong năm 2011, một số thành viên nhóm nghiên cứu đã tiến hành đánh giá chất lượng QTCT của các CTĐC niêm yết tại Sở giao dịch Hà Nội Kết quả đánh giá được đưa ra sau một khảo sát gồm hai bước cho thấy chất lượng QTCT của doanh nghiệp HNX đang ở mức trung bình (25,73/51), đáp ứng ở mức tối thiểu yêu cầu của các quy định QTCT hiện hành, tuy nhiên đã xuất hiện một số sự thực thi tiến bộ nhỏ ở vài doanh nghiệp Dựa vào phân tích đó, các tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp chính để cải thiện chất lượng QTCT đó là sử dụng cải cách khung khổ làm đòn bẩy và tăng cường đào tạo kiến thức QTCT cho các nhóm liên quan

Kết quả nghiên cứu này vừa có sự thống nhất, vừa có những điểm khác biệt

so với kết quả của IFC do hai hệ thống chỉ tiêu khác nhau Điểm thống nhất là cả hai nghiên cứu đều chỉ ra chất lượng QTCT ở mức trung bình của các công ty niêm yết tại Việt Nam; còn điểm khác biệt là mỗi nghiên cứu có những phân tích bên lề riêng biệt Tuy nhiên cả hai nghiên cứu này đều mới chỉ dừng lại ở đánh giá và giải thích thực trạng khung pháp lý quản trị công ty đại chúng thông qua những diễn biến kinh tế vĩ mô đương thời

Một phân tích đầy đủ hơn về khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng tại Việt Nam bên cạnh chất lượng hiện tại còn đang bị bỏ ngỏ, và đó chính là mục tiêu nghiên cứu hướng tới khi thực hiện đề tài nghiên cứu này

1.2 Cơ sở lý luận khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng

1.2.1 Khái quát về công ty đại chúng

1.2.1.1 Nguồn gốc hình thành công ty đại chúng

Dưới ống kính lịch sử, các nhà nghiên cứu trên Thế giới đã cho rằng cách đây 3.000 năm trước Công nguyên, từ người Assyria, Phoenecia rồi người Hy Lạp, đến những societas, corpora của người La Mã chính là mầm mống hình thành nên

Trang 13

những ý tưởng như: Một nhóm có thể người hợp lại với nhau tạo nên một thực thể tách rời khỏi họ để hội họp làm ăn, sau này gọi là pháp nhân để phân biệt cá nhân.Từ cá nhân và chịu hoàn toàn trách nhiệm đến hùm hạp với giới hạn trách nhiệm… tương ứng với những ý tưởng độc đáo hình thành các loại hình doanh nghiệp ngày nay Và công ty cổ phần (CTCP) không phải là ngoại lệ

Dưới góc độ kinh tế, quan sát từ vị trí của người bỏ vốn đầu tư, khi khởi nghiệp vẫn dựa vào mô hình doanh nghiệp gia đình, do một vài cá nhân hoặc gia đình làm chủ, tự bỏ vốn, tự điều hành công việc kinh doanh Qua thời gian công ty

cổ phần được coi là sản phẩm của một chuỗi quá trình đầu tư, nó đi từ nhu cầu, tâm

lí nhà đầu tư muốn mở rộng việc kinh doanh, hùm hạp làm ăn đến việc gọi vốn từ các chủ thể khác mà không cần mối quan hệ thân hữu gắn bó như trước kia Sự phát triển mạnh mẽ của Chủ nghĩa Tư bản đòi hỏi sản xuất kinh doanh phải có quy mô ngày càng to lớn, cạnh tranh và độc quyền có mức độ ngày càng gay gắt Các chủ tư bản đi đến thoả hiệp với nhau nhằm thu được lợi nhuận tối đa và bành trướng hơn nữa thế lực kinh tế của mình CTCP là hình thức kinh doanh thoả mãn được những nhu cầu này, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và tập trung tư bản, như nhận định của Các Mác “Qua các công ty cổ phần, sự tập trung đã thực hiện được việc đó trong nháy mắt”

Dưới sự quản lý cơ quan hành chính CTCP ra đời sau các loại hình công ty đối nhân nhưng là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn Khác với sự ra đời của hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn – là sản phẩm của các nhà lập pháp xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn kinh doanh, CTCP được hình thành trong hoạt động kinh doanh và do nhu cầu của các nhà kinh doanh rồi sau đó mới được pháp luật thừa nhận và được hoàn thiện thành một chế định pháp lý

Kể từ sau Luật doanh nghiệp 1999, bên cạnh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước cùng việc thay đổi cơ chế cấp phép sang cơ chế đăng ký kinh doanh và hậu kiểm đã tạo ra làn sóng thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư tư nhân Năm 2003, với định hướng xây dựng pháp luật doanh nghiệp thống nhất cho các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế, cùng mục tiêu nỗ lực tham gia Tổ chức thương mại

Trang 14

thế giới (WTO) thực hiện các cam kết quốc tế trong quá trình hội nhập Luật Doanh nghiệp 2005 được thông qua tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa 9 (11/2005) đưa ra những quy định đầy đủ chi tiết về loại hình CTCP (53 điều) và tiếp tục được ghi nhận theo hướng tiếp cận dần đến các chuẩn mực quốc tế về quản trị công ty cũng như tạo sân chơi bình đẳng cho tất cả nhà đầu tư tư nhân

Cùng trong thời gian này, sự ra đời thị trường chứng khoán tại Việt Nam đã góp phần gia tăng lợi thế so sánh giữa công ty cổ phần so các loại hình doanh nghiệp khác với đặc điểm đại chúng hóa công ty cổ phần thu hút vốn đầu tư bên ngoài Luật chứng khoán 2006 ban hành và lần đầu tiên văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận loại hình công ty cổ phần với tên gọi “công ty đại chúng”

1.2.1.2 Khái niệm về công ty đại chúng

a Tại các nước phương Tây

Thuật ngữ “công ty đại chúng” có nguồn gốc sâu xa từ triết lý pháp luật phương Tây, họ lấy cá nhân (người) làm chủ thể pháp luật trong các giao dịch để quy nạp mọi tổ chức kinh doanh dưới tiêu chí “pháp nhân” Tùy theo pháp luật từng quốc gia mà các tổ chức kinh doanh định hình ba loại chính: công ty, hợp danh và

cá nhân kinh doanh Sau đó, các học giả phương Tây tiếp tục chia công ty thành hai hình thức công ty nội bộ và công ty đại chúng:

 Theo Điều 112 đạo luật công ty của Úc, hướng dẫn các nhà đầu tư có thể lựa chọn hình thức công ty nội bộ gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi) cổ phiếu và công ty trách nhiệm vô hạn (hoặc công ty công cộng) Điểm khác biệt cơ bản giữa hai loại hình này chính là bộ máy quản lý điều hành, nếu như công ty nội

bộ chỉ cần phải có ít nhất một giám đốc và không bắt buộc phải có thư ký công ty, thì các công ty công cộng phải có ít nhất ba giám đốc và ít nhất một thư ký công ty Hơn nữa, chỉ có công ty công cộng mới có quyền huy động vốn bằng việc phát hành

cổ phiếu ra công chúng Tuy nhiên, một công ty công cộng ở Úc muốn phát hành cổ phiếu huy động vốn hoặc niêm yết trên thị trường chứng khoán phải tuân thủ thêm một số điều kiện nhất định qui định của pháp luật chứng khoán nhằm mục đích bảo

Trang 15

vệ các cổ đông công chúng cũng như hoạt động lành mạnh của thị trường chứng khoán Tương tự như pháp luật Anh, Úc, theo pháp luật Mỹ công ty đại chúng có tên gọi C Corporation nhằm phân biệt S Corporation là hình thứccông ty chỉ phát hành loại cổ phần duy nhất, số cổ đông không vượt quá 100, cổ đông phải là cá nhân và mang quốc tịch Mỹ

Điểm chung từ thuật ngữ “công ty chứng khoán” trong pháp luật Anh, Mỹ và

Úc đều quy định trong Luật Công ty Tuy nhiên, đối với những nước mà Luật Công

ty không đề cập thì Luật Chứng khoán đương nhiên quy định cụ thể:

 Điều 110 Luật Chứng khoán Bugari quy định: “Công ty đại chúng là công ty: đã phát hành cổ phần của công ty theo các điều kiện của việc phát hành ra công chúng lần đầu, hoặc đã đăng ký với Ủy ban chứng khoán về việc phát hành chứng khoán với mục đích tham gia giao dịch tại thị trường chứng khoán được quản lý”

 Theo Luật Chứng khoán Ba Lan (Khoản 4 Điều 4): “Công ty đại chúng là công ty có cổ phiếu của ít nhất một lần phát hành được chấp thuận cho giao dịch nơi công chúng”

Qua các quy định trên, người viết cho rằng, thuật ngữ “công ty đại chúng” là thuật ngữ mang tính ước lệ, là tình trạng pháp lý mà doanh nghiệp chạm đến hay rơi vào, sau khi tiến hành bước “chuyển mình về quy mô vốn và cách thức quản trị”, ngoài ra, một công ty cũng có thể tổ chức với tình trạng công ty đại chúng ngay từ khi mới thành lập Mặt khác, pháp luật các nước đã mở đường “bước chuyển” này chính những quy định loại hình công ty nội bộ được xem giai đoạn để tích lũy dọn đường bước qua sân chơi đại chúng “Bước chuyển” này trong hoạt động thị trường chứng khoán là thủ tục IPO (initial public offering)

b Tại Việt Nam

Trước khi Luật Chứng khoán 2006 được ban hành, tại Việt Nam, pháp luật

về chứng khoán và thị trường chứng khoán chưa đặt ra cơ sở pháp lý (định nghĩa)

Trang 16

về thuật ngữ “công ty đại chúng” Tuy nhiên thực tế đã xuất hiện mô hình công ty đại chúng dưới dạng:

- Các công ty niêm yết phát hành chứng khoán số lượng lớn ra công chúng, từ

trước khi Luật Chứng khoán 2006 có hiệu lực (Quyết định VPCP về việc ban hành Điều lệ Mẫu áp dụng công ty niêm yết)

07/2002/QĐ Công ty cổ phần phát hành riêng lẻ nhiều lần có số lượng cổ đông lớn, theo

Luật Doanh Nghiệp 1990, 1999

- Doanh nghiệp Nhà nước thực hiện cổ phần hóa

Điều bất cập giữa cả 3 mô hình trên chính là nghĩa vụ minh bạch, công khai hóa thông tin, đây là quy định bắt buộc đối các công ty niêm yết trong thời kỳ đó

Về vốn lẫn quy mô thì cả ba mô hình trên đều tương đồng, trong khi đó các công ty niêm yết phải thực hiện nghĩa vụ trên một cách chặt chẽ và đó chính là một trở ngại chủ yếu khiến các mô hình Công ty cổ phần và Doanh nghiệp Nhà nước ngại đưa chứng khoán ra niêm yết

Chính vì vậy pháp luật Việt Nam đã du nhập và tiếp nhận quy định pháp luật tiến bộ của các nước đi trước, Luật Chứng khoán 2006 đã xây dựng một chương riêng về công ty đại chúng Theo điều 25 Luật Chứng khoán 2006 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật chứng khoán 2010 quy định công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc ba loại hình sau đây:

 Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng; đây là hoạt động phát hành cổ phiếu ra công chúng và được thực hiện theo một trong ba cách thức: Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả Internet; Chào bán chứng khoán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định

 Công ty có cổ phần được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán; tức công ty đưa chứng khoán có đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán

Trang 17

 Công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không

kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và vốn đều lệ đã góp từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên

1.2.1.3 Đặc điểm công ty đại chúng

a Là công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2005

Đây là đặc điểm đầu tiên được ghi nhận tại điều 25 Luật chứng khoán sửa đổi bổ sung 2010 Theo đó, công ty đại chúng mang đầy đủ các đặc điểm cơ bản công ty cổ phần, gồm:

Vốn điều lệ của CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần

và được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Các cổ phần có giá trị bằng nhau và một

cổ đông có thể sở hữu nhiều cổ phần Pháp luật không hạn chế số lượng tối đa cổ phần mà một cổ đông sở hữu Mặt khác, Luật doanh nghiệp 2005 không quy định vốn điều lệ phải chia thành bao nhiêu phần, mỗi phần có giá trị bao nhiêu Tuy nhiên, theo Luật chứng khoán sửa đổi bổ sung 2011 quy định mệnh giá cổ phiếu chào bán lần đầu ra công chúng là 10.000 đồng Chính vì vậy, một CTCP muốn chào bán cổ phiếu ra công chúng thì trước đó phải thực hiện việc quy mệnh giá cổ phiếu về 10.000 đồng, việc chia vốn điều lệ của công ty cổ phần thành các phần nhỏ như ý tứ các nhà lập pháp đã làm hoạt động của CTCP mang tính xã hội hóa cao Bất kỳ cá nhân, tổ chức nếu không thuộc trường hợp cấm sở hữu cổ phần (mua cổ phiếu) đều có thể đầu tư vào CTCP

Luật doanh nghiệp 2005 không quy định mức vốn điều lệ tối thiểu (vốn pháp định) Tuy nhiên, CTCP kinh doanh một số nghành nghề nhất định mà pháp luật quy định vốn pháp định, thì vốn điều lệ không được thấp hơn vốn pháp định

Khái niệm “cổ phần” trong vốn điều lệ chỉ tồn tại ở công ty cổ phần mà không tồn tại ở bất kỳ một loại hình doanh nghiệp nào khác, đây là đặc điểm chính

để phân biệt CTCP và công ty trách nhiệm hữu hạn từ 2 thành viên trở lên, theo đó

Trang 18

vốn điều lệ được các thành viên góp hoặc cam kết và không bắt buộc chia thành các phần bằng nhau, phần góp vốn được biểu hiện Giấy chứng nhận góp vốn Tuy nhiên khác hoàn toàn cổ phiếu của cổ đông, Giấy chứng nhận này không được xem loại giấy tờ và không được chuyển nhượng trên thị trường chứng khoán như cổ phiếu của các cổ đông CTCP

Chủ sở hữu CTCP là các cổ đông – người sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty Số lượng cổ đông tối thiểu 3 và không hạn chế số lượng tối đa Cổ đông công ty có thể là cá nhân không thuộc phạm vi điều 39 luật doanh nghiệp 2005 Đối với tổ chức phải có tư cách chủ thể của pháp luật sở hữu mới có thể trở thành cổ đông, vì cổ đông là đồng chủ sở hữu công ty Như vậy, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, hợp tác xã và công ty cổ phần đều có thể trở thành cổ đông CTCP Tuy nhiên, doanh nghiệp tư nhân không thể trở thành cổ đông công ty vì chủ doanh nghiệp tư nhân sở hữu tài sản đầu tư vào doanh nghiệp tư nhân và tài sản có được từ hoạt động kinh doanh, còn bản thân doanh nghiệp tư nhân không sở hữu tài sản này

Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn cổ phần đã góp vào công ty – tính chịu trách nhiệm hữu hạn cổ đông theo người viết được lý giải bởi CTCP là một pháp nhân độc lập chính cổ đông thể hiện: CTCP là một chủ thể kinh doanh có sự tách bạch

về tài sản, hoàn toàn độc lập tài sản cổ đông và có cơ cấu tổ chức độc lập được sự thừa nhận pháp luật qua Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, CTCP phải tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của mình trong phạm vi

số tài sản quyền sở hữu tài sản công ty, là nguyên đơn, bị đơn trong các quan hệ tố tụng mà công ty là một bên trong tranh chấp Như vậy, các cổ đông chỉ có quyền

“sở hữu kinh tế” đối với phần vốn mà họ đã góp vào công ty bằng việc mua cổ phần thông qua quy chế cổ đông, được quyền chia lợi nhuận và phần tài sản còn lại khi công ty giải thể, quyền ưu tiên mua cổ phần khi công ty phát hành thêm cổ phần Với đặc trưng tính chịu trách nhiệm hữu hạn của cổ đông, pháp luật gián tiếp

Trang 19

khuyến khích nhà đầu tư với tâm lý an toàn nhất định về vốn, đầu tư vào những lĩnh vực có độ rủi ro cao đi đôi với nguyên tắc phân tán rủi ro trong kinh doanh

Các qui luật kinh tế thị trường chỉ ra rằng cùng với sự lưu thông hàng hóa là

sự lưu thông tiền tệ, tức là sự chu chuyển các nguồn vốn Sự phát triển của công ty

cổ phần tỷ lệ thuận với sự luân chuyển các nguồn vốn trong nền kinh tế Sự vận động của vốn trong công ty cổ phần vừa chịu sự chi phối khách quan của các qui luật kinh tế, vừa bị ảnh hưởng bởi ý chí chủ quan của con người So sánh các đặc điểm khác, vốn trong CTCP mang yếu tố năng động nhất, bởi lẻ:

- Theo qui định của Luật Doanh nghiệp thì công ty cổ phần ở Việt Nam

có thể qui định và phát hành nhiều loại cổ phiếu khác nhau như: cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi (trong cổ phiếu ưu đãi có: cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi hoàn lại và các loại cổ phiếu ưu đãi khác…) và các loại trái phiếu Đây sẽ là những loại chứng khoán được phát hành rộng rãi ra công chúng nhằm tăng khả năng thu hút vốn đầu tư cho kinh doanh của công ty

- Cổ động công ty có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần, trừ hai ngoại

lệ Khả năng tự do chuyển nhượng cổ phần giúp các nhà đầu tư dễ dàng tham gia vào và rút vốn ra khỏi công ty bằng cách mua hay chuyển nhượng cổ phần, đồng thời giúp công ty thu hút vốn đầu tư một cách thuận lợi so các loại hình doanh nghiệp khác

b Là tổ chức kinh tế cơ chế quản lý tập trung cao

Với tư cách là một pháp nhân độc lập, trong công ty đại chúng có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và cơ chế quản lý Sự tách biệt triệt để này chính điểm khác biệt giữa công ty đại chúng và công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2005 Theo

đó, cơ cấu tổ chức nội bộ của công ty đại chúng theo quy định pháp luật như chủ tịch hội đồng quản trị không được kiêm nhiệm chức danh Tổng giám đốc điều hành, trừ khi được phê chuẩn tại Đại hội đồng cổ đông thường niên hoặc công ty đại chúng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khóan (Trung tâm giao dịch chức khoán)

Trang 20

bắt buộc quy định chức danh Thư ký công ty Rõ ràng việc quy định pháp luật như vậy nhằm tạo sự giám sát trong mối quan hệ nội bộ công ty cũng sự tạo sự kiểm soát thuận tiện từ phía cơ quan Nhà nước Để có thể phân biệt cụ thể hơn, mình trích bản so sánh công ty đại chúng và công ty cổ phần, dưới đây:

Bảng 1.1: So sánh công ty đại chúng và công ty cổ phần tư nhân

Đặc trưng

+ Chào bán cổ phần ra công chúng + Niêm yết cổ phiếu trên SGDCK

- Có ít nhất một trăm cổ đông và có vốn điều lệ đã góp từ 10 tỷ động Việt Nam trở lên

+ Không + Không + Có ít nhất ba cổ đông

+Không hạn chế (trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết Không cần phải có sự đồng ý của các cổ đông khác hoặc của công ty

+ Phát hành nội bộ ( chỉ giới hạn trong các cổ đông sáng lập và những nhóm người được xác định trước) Không được phát hành cổ phiếu một cách công khai

+ Khả năng chuyển nhượng cổ phần là không hạn chế, ngoại trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần của các cổ đông sáng lập và một vài hạn chế cụ thể khác được thể hiện trong Điều lệ công ty Thư ký

+ Không bắt buộc phải công bố thông tin ra công chúng

Trang 21

c Có lượng cổ đông nhiều

Bản thân tên gọi “đại chúng” đã cho thấy số lượng cổ đông công ty, cổ đông công ty đại chúng không giới hạn và có khả năng thay đổi thường xuyên Đây được xem là ưu điểm và cũng là nhược điểm của loại hình này

Ưu điểm là do tính đại chúng, công ty được đặt dưới sự kiểm soát của xã hội thông qua việc công khai các thông tin về hoạt động kinh doanh, trách nhiệm Hội đồng quản trị và Ban điều hành và người quản lý phải chăm lo cho sự phát triển công ty Từ ưu điểm này, cổ đông đặt ra vấn đề nghĩa vụ minh bạch thông tin và bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty đại chúng (vấn đề này chúng tôi sẽ đề cập phần quản trị công ty) Ngược lại, do quá nhiều cổ đông cũng như số lượng cổ đông thường xuyên thay đổi dẫn đến tình trạng khó quản lý cổ đông cũng như mất tính ổn định trong quản trị công ty khi có sự thay đổi các cổ đông lớn

d Mối liên hệ chặt chẽ thị trường chứng khoán

Công ty đại chúng là loại hình công ty được thiết kế phù hợp để huy động vốn từ công chúng đầu tư thì thị trường chứng khoán chính là phương tiện để loại hình công ty này thực hiện điều đó Ngoài sự điều chỉnh Luật doanh nghiệp 2005, công ty đại chúng còn chịu sự điều chỉnh của Luật chứng khoán 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành, với tư cách luật chuyên nghành Ngoài ra trong một số lĩnh vực đặc biệt như ngân hàng, bảo hiểm… còn phải chịu sự điều chỉnh luật chuyên nghành đó

Tóm lại, hiểu nắm bắt thuật ngữ “công ty đại chúng” chính là tiền đề quan trọng để chúng ta có thể thực thi quản trị công ty hiệu quả

1.2.2 Khái quát quản trị công ty đối với công ty đại chúng

1.2.2.1 Đặc điểm của QTCT tại các công ty đại chúng

Khái niệm về quản trị công ty

Thế nào là QTCT là một vấn đề được nhìn nhận từ nhiều phía Từ góc độ cá nhân công ty, QTCT là phương thức tối đa hóa mọi giá trị của công ty nhằm đáp

Trang 22

ứng những nghĩa vụ pháp lý, trách nhiệm tài chính và trách nhiệm hợp đồng của công ty Định nghĩa này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc HĐQT cần phải cần cân đối được lợi ích của các cổ đông với những người có lợi ích liên quan khác với công ty nhưu là các nhân viên, các khách hàng, người cung cấp, nhà đầu tư và cộng đồng nhằm đạt được những giá trị bền vững lâu dài Xét trên phương diện chính sách vĩ mô, QTCT là việc thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp và đảm bảo tính trách nhiệm trong việc thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp và đảm bảo tính trách nhiệm trong việc thực thi các quyền lực của họ Vai trò các chính sách của nhà nước là tạo ra cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp và thực thi một kỷ luật nhằm giảm thiểu sự xung đột giữa lợi ích xã hội và lợi tích tư nhân, đông thời bảo vệ được lợi ích của những người có quyền lợi liên quan với doanh nghiệp

Mô hình quản trị công ty đại chúng

Có thể nói mô hình QTCT trong CTĐC phụ thuộc chủ yếu vào cơ cấu tổ chức và hoạt động của mỗi công ty Hệ thống QTCT bao gồm một hệ thống các luật

lệ quy định mối quan hệ giữa các cổ đông, ban quản lý công ty, các chủ nợ, chính phủ và những người khác có quyền lợi tài chính trong công ty Nó cũng bao gồm một hệ thống các cơ chế trực tiếp hoặc gián tiếp cưỡng chế thi hành các quy định này Các quy định cũng như các cơ chế thực thi các quy định này ở các nước thì khác nhau, thậm chí đối lập với nhau Đó là do ảnh hưởng của các yếu tố như chính trị, kinh tế, pháp luật, văn hóa và lịch sử Vì lý do này nên các nước khác nhau sẽ có những mô hình QTCT đối với các CTĐC khác nhau

Việc lựa chọn mô hình QTCT của các CTĐC phụ thuộc vào ba nhân tố: cơ

cấu sở hữu, hình thức huy động vốn và cơ cấu quản lý điều hành của công ty

Tuy nhiên, trong đó hai nhân tố chiếm vai trò chủ đạo là cơ cấu sở hữu và hình thức huy động vốn của công ty

Cơ cấu sở hữu

Đây là nhân tố quan trọng nhất trong việc hình thành một mô hình QTCT ở bất cứ quốc gia nào Cơ cấu sở hữu của một CTĐC là mấu chốt để quyết định bản chất của hệ thống QTCT Việc “ai là người sở hữu của công ty” quyết định những

Trang 23

vấn đề căn bản của một hệ thống QTCT như ai là người là ra quyết định trong công

ty, các biện pháp nào được áp dụng để điều chỉnh quyền lợi giữa những người có quyền lợi tài chính trong công ty và cơ chế giám sát mà cổ động thự chiện đối với

ban lãnh đạo ccông ty Cơ cấu sở hữu bao gồm hai khía cạnh chủ yêu là Mức độ tập

trung quyền sở hữu và thành phần sở hữu

Mức độ tập trung quyền sở hữu

Mức độ tập trung quyền sở hữu trong công ty quyết định sự phân chia quyền lực giữa các nhà quản lý và các cổ đông Việc tập trung hay phân tán sở hữu quyết định công ty được kiểm soát chặt chẽ bởi một nhóm những cổ đông chính hay bởi những cổ đông nhỏ lẻ Mức độ tập trung quyền sở hữu cũng quyết định cơ chế phân

bổ quyền lực và lợi ích giữa những người có quyền lợi tài chính trong công ty và cơ chế giám sát của các cổ đông

Sở hữu phân tán trong CTĐC: Khi quyền sở hữu được phân bổ cho một số lượng lớn các cổ đông nhỏ lẻ thì có nghĩa công ty có một cơ cấu sở hữu phân tán CTĐC như đã phân tích ở tren có đặc điểm là sở hữu phân tán Trong cơ cấu sở hữu mang tính chất phân tán, việc giám sát của các cổ đông đối với ban lãnh đạo công ty

có khuynh hướng yếu đi Những cổ đông nhỏ lẻ thường có xu hướng gánh chi phí quan tấm đến việc giám sát hoạt động của ban lãnh đạo công ty do họ phải gánh chi phí giám sát rất lớn trong khi phần lợi nhuận được chia sẻ lại nhỏ Các công ty của Anh và Mỹ thường có cơ cấu sở hữu phân tán, việc thực thi các quyền của cổ đông

và của các chủ nợ, ngoài việc thông qua các công cụ pháp luật còn được thực hiện thông qua các thị trường điều hành công ty như thị trường thâu tóm và thị trường sát nhập

Trong cơ cấu sở hữu này, vai trò của QTCT đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các cổ đông nhỏ lẻ Đối với một cơ cấu sở hữu magn tính chất phân tán, có chế chủ yếu để bảo vệ các cổ đông là hành lang pháp lý Các công ty có cơ cấu sở hữu phân tán được quản trị bằng HĐQT Các thành viên của HĐQT được bổ nhiệm thông qua Đại hội cổ đông và nắm toàn quyền liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty Các chức năng của HĐQT

Trang 24

là giữ vai trò của người giám sát các hoạt động của công ty vì quyền lợi của các cổ đông Các cổ đông có thể tham dự vào việc thảo luận, quyết định thành phần của HĐQT và việc trả thù lao cho các nhà quản lý thông qua việc bỏ phiếu tại Đại hội

cổ đông Nói một cách khác, việc QTCT được thực hiện thông qua sự thực thi các quyền đề nghị và bỏ phiểu của các cổ đông

Sở hữu tập trung: Khi một nhóm các cổ đông nắm trong tay phần lớn cổ phần của công ty thì có nghĩa việc sở hữu mang tính tập trung Khi mức độ tập trung quyền sở hữu cao, các cổ đông lớn đóng một vai trò quan trọng trong việc giám sát hoạt động của ban lãnh đạo công ty Do đó, vấn đề lớn đặt ra đối với QTCT khi cơ cấu sở hữu mang tính chất tập trung là làm thế nào để bảo vệ quyền lợi của các cổ đông thiểu số, tránh việc các cổ đông lớn nắm quyền kiểm soát lạm dùng quyền để hành động vì lợi ích của bản thân mình Sự lạm dụng này có thể diễn

ra dưới hình thức đặt ra một số khoản chi trả cổ tức đặc biệt, buộc công ty phải thiết lập những mối quan hệ giao dịch bất lợi với những công ty khác nhau mà họ điều hành hoặc có quyền lợi lớn hơn, hay tham gia vào những dự án đầy rủi ro mà họ có thể kiếm lợi trong khi các nhà đầu tư khác, có thể bao gồm cả các chủ nợ, phải gánh chịu phần thua lỗ

Thành phần sở hữu

Khía cạnh thứ hai rất đáng lưu tâm trong cơ cấu quyền sở hữu là thành phần

sở hữu, nghĩa là những cổ đông của CTĐC là ai và những ai trong số họ tạo thành nhóm cổ đông nắm quyền kiểm soát Một cổ đông có thể là một cá nhân, một gia đình hoặc một nhóm gia đình, một công ty mẹ, một ngân hàng hoặc một nhà đầu tư

tổ chức (như là công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty đầu tư hay quỹ đầu tư), hoặc là một công ty phi tài chính Mỗi một thành phần sở hữu khác nhau sẽ tạo ra những vấn đề liên quan đến QTCT khác nhau Một gia đình hoặc một nhóm gia đình nếu có phần đầu tư đáng kể vào công ty thì chắc chắn sẽ có mối quan tâm lớn đến việc đồng thời nắm quyền kiểm soát và sở hữu công ty Một nhà đầu tư tổ chức thì lại chỉ thường quan tâm đến lợi nhuận của công ty hơn là quyền kiểm soát Một ngân hàng khi đóng vai trò là cổ đông lớn của một công ty cũng dễ rơi vào tình

Trang 25

huống đưa ra những ưu đãi khi cung cấp các khoản vay., không có được những quyết định dứt khoát trong việc chấm dứt những dự án không sinh lời và thanh lý công ty Tình trạng này xuất phát từ sự xung đột quyền lợi sẽ phát sinh khi ngân hàng vừa là người sở hữu vừa là chủ nợ của công ty

Các hình thức huy động vốn

Một nhân tố quan trọng nữa ảnh hưởng đến mô hình QTCT là hính thức huy động vốn của CTĐC Công ty có thể có nhiều cách để huy động vốn, và đối với mỗi cách thức huy động vốn, mô hình quản trị của công ty phải có những cơ chế phù hợp nhằm đảm bảo việc kiểm soát của người cấp vốn đối với các khoản đầu tư cũng như thực hiện tốt các quyền của mình Hình thức huy động vốn của công ty chủ yếu tập trung vào hai dạng chính là huy động vốn từ ngân hàng và từ TTCK là vô vùng quan trọng và có ý nghĩa sống còn Việc huy động vốn từ TTCK được thực hiện dưới hai hình thức là phát hành trái phiếu công ty và phát hành cổ phiếu Trái phiếu công ty là những thỏa thuận cho vay có thu nhập cố định giữa một công ty phát hành và những người nắm giữ trái phiếu (trái chủ) Giống như hình thức huy động vốn từ ngân hàng, những ngượi phát hành trái phiếu có những nghĩa vụ nhất định theo hợp đồng như cam kết thanh toán một khoản tiền được xác định trước cho người cho vay Đối với những công ty áp dụng hình thức huy động vốn từ thị trường vốn, vấn đề mấu chốt của QTCT là giải quyết những rắc tối phát sinh giữa ban điều hành và các cổ đông cũng như trái chủ của công ty QTCT được thực hiện bởi các nhà đầu tư theo danh mục thông qua việc cướng chế thực thi các quyền của

cổ đông và trái chủ, và thông qua thị trường thâu tóm và sát nhập công ty

Trong các CTĐC có mô hình tài chính dựa vào thị trường vốn, QTCT đòi hỏi

sự công khai hơn đối với các hoạt động của công ty, thực hiện đầy đủ việc công bố thông tin, giải thích quá trình và kết quả của sự quản lý điều hành sao cho các nhà đầu tư có đầy đủ thông tin để đánh giá đúng về công ty trên thị trường vốn Mô hình QTCT này đặt thị trường vào vị trí quan trọng vì công ty được điều chỉnh bởi các cơ chế thị trường nhiều hơn là các luật lệ và do đó việc công khai hóa thông tin được coi trọng QTCT tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất là cơ chế ra quyết định,

Trang 26

việc ngăn ngừa các hành động phi pháp và không công bằng, giải trình cho các cổ đông và công khai hóa đối với tất cả những người quyền lợi tài chính trong công ty

Cơ cấu quản lý của công ty

Tuy không có ảnh hưởng lớn như hai nhân tố cơ cấu sở hữu và hính thức huy động vốn, cơ cấu quản lý cũng là một yếu tố khiến cho CTĐC mang một đặc thù riêng trong việc thực hiện QTCT Cơ cấu quản lý một cấp dẫn đến mô hình QTCT một cấp Các doanh nghiệp tại Mỹ và Anh hầu hết chỉ duy trì một bộ máy lãnh đạo,

đó là HĐQT Trong khi đó, mô hình QTCT hai cấp ở Đức lại xuất phát từ cơ cấu quản lý với hai cấp là BKS và Ban Giám đốc điều hành Cơ cấu quản lý các doanh nghiệp tại mỗi nước chịu sự điều chỉnh của hệ thống phát luật về công ty ở nước đó Chính vì vậy, khi nhìn vào hệ thống pháp luật và văn bản pháp quy liên quan đến doanh nghiệp của mỗi nước, người ta có thể thấy ngay mô hình QTCT của các doanh nghiệp tại nước này Cơ cấu quản lý một cấp và hai cấp có những ưu điểm và nhược điểm riêng của mình Do vậy, các mô hình QTCT dựa trên những cấu trúc quản lý nêu trên cũng kế thừa các ưu điểm và nhược điểm đó Mô hình quản lý một cấp với các thành viên HĐQT độc lập đôi khi gặp phải sự hạn chế trong vai trò kiểm soát với các thành viên độc lập Trong khi đó, mô hình quản lý hai cấp lại gặp một số trở ngại về vấn đề phân chia quyền lực, do đó có thể làm giảm hiệu quả trong QTCT

1.2.2.2 Tầm quan trọng của QTCT đối với các CTĐC

Trong một nền kinh tế thị trường, các CTCP ra đời một cách tự nguyện chứ không phải do ý muốn và sự ép buộc của Nhà nước Lý do để thiết lập một CTCP là

ở chỗ việc sử dụng cơ chế giá cả của thị trường để làm phát sinh những chi phí nhất định Những chi phí này bao gồm: chi phí phát hiện các mức giá thị trường khác nhau và chi phí trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đông với những người cung cấp hàng hóa và dịch vụ Các CTCP ra đời bởi vì chi phí tiến hành một giao dịch của một công ty sẽ thấp hơn một giao dịch trực tiếp trên thị trường cùng cho một kết quả tương tự

Trang 27

Trong một CTCP, những người quản lý ra các mệnh lệnh cho nhân viên Những mệnh lệnh này sẽ không có hiệu quả trừ khi người quản lý có được những thông tin về sự mẫn cán của nhân viên Nhân viên này, do tính tư lợi cá nhân tất nhiên sẽ mong muốn có một cuộc sống dễ chịu mà không phải làm việc, vì thế anh

ta có thể lẩn tránh công việc và dự dấm vào những người khác trong công ty Nhà quản lý sẽ phải giám sát quán trình làm việc của nhân viên này để giảm bớt tình trạng lười nhác nêu ở trên Các thành viên của một công ty tham gia vào một đội ngũ để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ Làm thế nào để khuyến khích từng thành viên này hoạt động một cách có hiệu quả nhất Người ta phải sử dụng một hình thức giám sát nào đó để giảm thiều tình trạng lười nhác Trong một CTCP có cơ cấu sở hữu tập trung và một ty hợp danh thì việc thiết lập một cơ chế để mỗi cá nhân có thể

tự giám sát mình và giám sát các thành viên khác của nhóm làm việc khác dễ dàng Tuy nhiên, ở những công ty lớn, có nhiều thành viên thị việc giám sát này rất khó thực hiện Phương thức tốt nhất là thiết lập một nhóm nhỏ chuyên làm nhiệm vụ giám sát sự nổ lwục làm việc của những thành viên khác trong công ty Để nhóm giám sát này hoạt động có hiệu quả, họ cần có những thẩm quyền nhất định đối với công ty, nguồn nhân lực và nguồn vốn của công ty Họ cần phải có quyền thuê nhân công, áp dụng kỷ luật và sa thải các nhân viên Họ cần có quyền th hút các nuồn vốn với các điều khoản có lợi nhất, có quyền lựa chọn địa điểm dặt các chinh nhanh và đặt ra những chiến lược và chiến thuật kinh doanh Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để giám sát hoạt động của nhóm giám sát này? Biện pháp tốt nhất là tạo ra những cơ chế khuyến khích sự tự nguyện để thực hiện tốt việc giám sát Như vậy, vấn đề giám sát để hạn chế tình trạng lười nhác, đảm bảo rằng mọi thành viên trong công ty đều nỗ lực vì hoạt động của công ty là một vấn đề mà bất cứ công ty nào cũng phải nghĩ đến và phải tốn một chi phí đáng kể cho hoạt động này Đối với các CTCP có cơ cấu hữu tập trung, nơi mà các cổ đông vừa sở hữu, vừa kiểm soát công

ty thì ban giám đốc điều hành, những ngượi cũng chính là các cổ đông tích cực của công ty có thể kiểm tra nỗ lực làm việc của các nhân viên công ty dễ dàng hơn so với các cổ đông thụ động của một CTĐC khi mà quyền sở hữu phân tán trong công

Trang 28

chúng đầu tư Các cổ đông của một CTCP có cơ cấu sở hữu tập trung sẽ tích cực và đạt hiệu quả hơn trong việc thực hiện giám sát bởi nếu như việc giám sát này bị buông lỏng thì họ chính là người bị mất nhiều nhất Trong khi đó, các cổ đông nhỏ của một CTĐC chỉ sở hữu một phần rất nhỏ trong công ty nên họ ít quan tâm hơn

và thường thị việc giám sát của họ không mấy hiệu quả Có thể thấy rằng, ở mọi loại hình công ty đều phát sinh một loại chi phí trung gian nhằm giám sát và đảm bảo nỗ lực làm việc của các thành viên công ty Việc giảm thiểu tối da chi phí trung gian là một những vấn đề của QTCT

Lý thuyết hiện đại về công ty đối với các CTĐC cho rằng thị trường đại chúng không có nhiều ý nghĩa đối với các công ty hợp danh, doanh nghiệp nước ngoài và những CTCP có cơ cấu sở hữu tập trung Trường hợp các CTĐC lại khác hẳn, thị trường đại chúng là nơi chia sẻ quyền sở hữu và một thị trường đại chúng cạnh tranh giúp thự chiện chức năng giám sát một cách tốt nhất

Các CTĐC có cấu trúc quản trị đặc biệt bởi cấu trúc này là phương thức tốt nhất để thu hút những khối lượng vốn lớn trên thị trường với chi phí trung gian thấp nhất Các cổ đông của công ty là những nhà đầu tư sẵn sàng bỏ vốn Các thành viên HĐQT và ban giám đốc điều hành công ty thực hiện việc giám sát nỗ lực làm việc của tất cả các nhân viên và tập hợp mọi nguồn lực tài chính và nguồn lực con người vào công ty Nhà đầu tư – cổ đông của công ty tự nguyện ủy quyền quản lý cho những nhân viên cao cấp của công ty, do họ là những ngượi chuyên thực hiện chức năng giám sát Các cổ đông mong muốn ban giám đốc điều hành tối đa hóa các giá trị của công ty với nỗ lực cao nhất của mình Họ buộc phải thực hiện việc giám sát này một cách hiệu quả bởi TTCk đại chúng là một thị trường hiệu quả và luôn áp đặt những kỷ luật hà khắc đối với nhà điều hành

Lý thuyết hiện đại đã đi đến kết luận rằng CTĐC hiện đại với cơ cấu sở hữu phân tán là kết quả vô hình của ý chí và kỳ vọng của hàng nghìn cổ đông nho và những định chế đầu tư tín thác tiền bạc của mình vào những nhà quản lý chuyên nghiệp có trình độ và kỹ năng cao Sự tập trung quyền điều hành trong tay ban quản

lý cấp cao và một xu thế tự nhiên, xuất phát từ nhu cầu loại bỏ tính lười nhác và

Trang 29

giảm thiểu chi phí trung gian Sự tách biệt giữa quyền kiểm soát và quyền sở hữu công ty là kết quả mong muốn của tối đa hóa hiệu quả quản lý trong những CTĐC Đối với CTĐC, sự tách biệt giữa quyền kiểm soát và quyền sở hữu lại trở thành một

ưu thế chứ không phải là nhược điểm Sự tồn tại của thị trường đại chúng mang tính cạnh tranh cho phép thực hiện sự thâu tóm công ty, loại bỏ những nhân viên lười nhác, buộc các nhà quản lý phải hoạt động một cách hiệu quả Như vậy, có thể thấy rằng QTCT là một phương tiện hữu hiệu để các công ty cổ phần hiện thực hiện cơ chế quản trị phu hợp và bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư nhỏ lẻ

1.2.3 Cơ sở pháp lý về quản trị công ty đại chúng

Hệ thống các quy định về quản trị doanh nghiệp được đề cập tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật; bao gồm các Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành Trong đó, Luật Doanh nghiệp có vai trò trung tâm, chi phối hầu hết vấn đề quản trị doanh nghiệp cho các doanh nghiệp đang hoạt động

Về các quy định quản trị doanh nghiệp đặc thù, theo góc độ sở hữu vốn trong doanh nghiệp, hệ thống quy định đặc thù được chia thành hai nhóm là quy định liên quan đến doanh nghiệp có sở hữu vốn của Nhà nước và quy định liên quan đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài nhưng chưa đăng ký lại, quy định hiện nay cho phép doanh nghiệp tiếp tục được hoạt động theo khung quản trị trong Điều

lệ công ty khi nội dung Điều lệ không phù hợp với Luật Doanh nghiệp (chẳng hạn

“nguyên tắc nhất trí” khi thông qua quyết định của công ty) Đối với những doanh nghiệp có sở hữu vốn của Nhà nước, mặc dù đã tham gia “sân chơi chung” của Luật Doanh nghiệp, tuy nhiên, xuất phát từ nhu cầu quản lý nhà nước, hiện đang có khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề quản trị doanh nghiệp cho đối tượng này ên cạnh đó, các quy định quản trị doanh nghiệp đặc thù còn được quy định căn cứ theolĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp (như: tín dụng, bảo hiểm, chứng khoán, công chứng, luật sư…) Nhìn chung, các luật chuyên ngành thường quy định dẫn chiếu để áp dụng khung pháp lý về quản trị theo quy định của Luật Doanh nghiệp, đồng thời, có những quy định riêng về vấn đề này

Trang 30

Để đảm bảo sự hoạt động và giám sát các công ty đại chúng, khung pháp lý quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng bao gồm những nội dung sau đây:

Các quy định về Cổ đông và Đại hội đồng cổ đông

Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần đã được thanh toán đầy đủ

và được ghi trong sổ cổ đông của công ty, trừ một số trường hợp bị hạn chế chuyển nhượng; quyền được đối xử công bằng; được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần trong công ty và được thông báo đầy đủ thông tin định kỳ và thông tin bất thường về hoạt động công ty…

Cổ đông lớn không được lợi dụng ưu thế của mình gây tổn hại đến các quyền, lợi ích của công ty và của các cổ đông khác

Các công ty đại chúng phải xây dựng và công bố trên trang thông tin điện tử của mình các quy định liên quan đến cuộc họp ĐHĐCĐ như trình tự, thủ tục triệu tập, cách thức đăng ký tham dự, biểu quyết, các thức bỏ phiếu, kiểm phiếu…

Theo đó, quyền tham dự cuộc họp ĐHĐCĐ của các cổ đông cũng được nới rộng hơn thông qua việc cho phép cổ đông tham gia biểu quyết bằng thư đảm bảo,

bỏ phiếu từ xa hay biểu quyết thông qua cuộc họp ĐHĐCĐ trực tuyến

Các quy định về Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị

Quy định về thành phần HĐQT: thành viên HĐQT ít nhất là 03 người và nhiều nhất là 11 người Cơ cấu thành viên HĐQT cần đảm bảo sự cân đối giữa các thành viên kiêm điều hành và các thành viên không điều hành, trong đó tối thiểu 1/3 tổng số thành viên HĐQT phải là thành viên HĐQT không điều hành

HĐQT chịu trách nhiệm trước các cổ đông về hoạt động của công ty, đảm bảo hoạt động của công ty tuân thủ các quy định của pháp luật, Điều lệ và các quy định nội bộ của công ty, đối xử bình đẳng đối với tất cả cổ đông và tôn trọng lợi ích của người có quyền lợi đến công ty

Các quy định về Ban kiểm soát, thành viên Ban kiểm soát

Quy định về thành viên ban kiểm soát: Thành viên Ban kiểm soát là những người không thuộc đối tượng mà pháp luật và Điều lệ công ty cấm làm thành viên

Trang 31

Ban kiểm soát, phải là người có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm và có thể không phải là cổ đông của công ty

Số lượng thành viên Ban kiểm soát ít nhất là 03 người và nhiều nhất là 05 người Trong Ban kiểm soát có ít nhất một thành viên là kế toán viên hoặc kiểm toán viên

Thành viên Ban kiểm soát có quyền tiếp cận tất cá các thông tin và tài liệu liên quan đến tình hình hoạt động của công ty Thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng Giám đốc) điều hành và cán bộ quản lý khác có trách nhiệm cung cấp các thông tin theo yêu cầu của các thành viên Ban kiểm soát

Ban kiểm soát chịu trách nhiệm trước cổ đong của công ty về các hoạt động giám sát của mình Ban kiểm soát có trách nhiệm giám sát tình hình tài chính công

ty, tính hợp pháp trong các hoạt động của thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng Giám đốc) điều hành

Các quy định về Ngăn ngừa xung đột lợi ích giữa các thành viên, chế độ báo cáo và công bố thông tin:

Thành viên HĐQT, thành viên Ban kiểm soát, Giám đốc (Tống Giám đốc) điều hành, cán bộ quản lý khác và những người liên quan tới các thanh viên này không được phép sử dụng những cơ hội kinh doanh có thể mang lại lợi ích cho công

ty vì mục đích cá nhân; không được sử dụng những thông tin có được nhờ chức vụ của mình để tư lợi cá nhân hay để phục vụ lợi ích của tổ chức cá nhân khác;

Công ty không được cấp các khoản vay hoặc bảo lãnh cho các thành viên HĐQT, thành viên Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc) điều hành, cán bộ quản lý và những người có liên quan tới thành viên nêu trên, trừ khi Đại hội đồng

cổ đông có quyết định khác; đồng thời không đượ sử dụng các thông tin chưa được phép công bố của công ty hoặc tiết lộ cho người khác để thực hiện các giao dịch có liên quan

Công ty đại chúng phải công bố thông tin về tình hình quản trị công ty tại các

kỳ ĐHĐCĐ thường xuyên và trong Báo cáo thường niên của công ty theo quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Trang 32

Đồng thời, có nghĩa vụ báo cáo định kỳ 6 tháng và công bố thông tin về tình hình quản trị công ty theo quy định của pháp luật về chứng khoán

Về điều lệ, công ty đại chúng bắt buộc tham chiều Điều lệ mẫu để Điều lệ cho công ty mình Thông tư cũng quy định về giao dịch mà theo đó khi thực hiện các giao dịch này thành viên Hội quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc điều hành phải thực hiện báo cáo và công bố thông tin về giao dịch

Trang 33

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp thu thập thông tin

2.1.1 Dữ liệu nghiên cứu

Đứng trên quan điểm của “người được thông tin đầy đủ ở mức hợp lý” (tức

tổ chức/ cá nhân quan tâm đến công ty có thể tìm kiếm và thu thập thông tin được

dễ dàng, bất kể mục đích tiếp cận thông tin là gì), tác giả tiến hành đánh giá tình hình quản trị công ty của các doanh nghiệp được điều tra dựa trên các nguồn thông tin công bố tại thời điểm 31/12/2013, bao gồm các báo cáo định kỳ/ bất thường theo quy định tại Thông tư 52/2012/TT-BTC, Điều lệ công ty và các tài liệu khác được công bố trên website của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Hồ Chí Minh, các phương tiện công bố thông tin đại chúng khác

2.1.2 Phương pháp phân tích

Tác giả thực hiện nghiên cứu độc lập để đánh toàn diện về khung pháp lý quản trị công ty đại chúng Dựa trên bảng hỏi được IFC sử dụng trong điều tra khảo sát năm 2012, tác giả tự xây dựng bảng tổng hợp về quản trị công ty, bao gồm: thang điểm, tiêu chí chấm cho từng thang điểm ở mỗi câu hỏi, nguồn thu nhập thông tin để đánh giá, quy trình đánh giá và trọng số cho từng lĩnh vực trong năm lĩnh vực quản trị công ty của OECD:

- Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ quản trị công ty có hiệu quả: Khuôn khổ quản trị công ty phải thúc đẩy các thị trường minh bạch và hiệu quả, phù hợp với pháp luật và xác định rõ sự phân công trách nhiệm của các nhà giám sát, quản lý

Trang 34

nước ngoài Tất cả các cổ đông phải có cơ hội được bồi thường trong trường hợp quyền của họ bị vi phạm

- Vai trò của cổ đông trong quản trị công ty: Khuôn khổ quản trị công ty cần công nhận các quyền của cổ đông theo quy định pháp luật hoặc thông qua các thỏa thuận chung và khuyến khích sự hợp tác tích cực giữa công ty và cổ đông trong việc tạo ra của cải, việc làm và sự bền vững của các doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt

- Công khai và minh bạch: Khuôn khổ quản trị công ty cần đảm bảo việc thông tin kịp thời và chính xác tất cả các vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh, quyền sở hữu và quản trị công

ty

- Trách nhiệm của hội đồng quản trị: Khuôn khổ quản trị công ty cần đảm bảo định hướng chiến lược cho công ty, giám sát hiệu quả của hội đồng quản trị đối với ban giám đốc và trách nhiệm của hội đồng quản trị đối với công ty và cổ đông

Việc chấm điểm được thực hiện dựa hoàn toàn trên các thông tin doanh nghiệp công bố công khai ra bên ngoài thông qua phương tiện công bố thông tin như: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (ssc.gov.vn), Sở Giao dịch Chứng khoán HCM (hsx.vn), Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (hnx.vn), các website củacông

ty, các nguồn thông tin bao gồm: báo cáo thường niên của công ty, các báo cáo tài chính, báo cáo quản trị công ty, báo cáo kết quả của ĐHCĐ thường niên, biên bản họp ĐHCĐ thường niên, điều lệ công ty, các tài liệu, báo cáo nộp cho cơ quan quản

Cơ sở xây dựng thẻ điểm:

- Các nguyên tắc về quản trị công ty của OECD Đây là thước đo được công nhận toàn cầu về quản trị công ty

- Luật Doanh nghiệp năm 2005, Thông tư 121/2012/TT-BTC

- Những nội dung chính được sử dụng làm cơ sở đánh giá:

 Quyền cổ đông

 Đối xử bình bằng với cổ đông

Trang 35

 Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty

 Minh bạch và công bố thông tin

 Trách nhiệm của Hội đồng quản trị

Bảng 2.1 Xác định trọng số cho các lĩnh vực quản trị công ty

- Vai trò của các bên có quyền lợi liên

Tác giả điều chỉnh lĩnh vực minh bạch và công bố công tin có trọng số cao nhất: chất lượng minh bạch và công bố thông tin ở Việt Nam hiện đang rất thấp Đây là lĩnh vực đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả quản trị công

ty và được các nhà làm luật Việt Nam đặc biệt quan tâm, có nhiều quy định điều chỉnh lĩnh vực này nhất trong 5 lĩnh vực quản trị công ty

Cách thức tiến hành: Dựa trên tài liệu các công ty này công bố ra công chúng, tác giả tiến hành chấm điểm cho từng câu hỏi của từng lĩnh vực

Trang 36

- Tuân thủ một phần: 1 điểm

- Hoàn toàn không tuân thủ: 0 điểm

Trên cơ sở các thông tin được doanh nghiệp, Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

và Hồ Chí Minh công bố ra bên ngoài, tác giả thực hiện chấm điểm dựa trên bảng tổng hợp về quản trị công ty (Phụ lục 1 Bảng tổng hợp câu hỏi khảo sát về quản trị công ty đại chúng), nên một công ty có thực tiễn quản trị công ty tốt có thể bị đánh giá là “hoàn toàn không tuân thủ” nếu công ty không thể hiện được điều đó trong các thông tin công ty công khai ra bên ngoài

Một số câu hỏi yêu cầu phương án trả lời là có hay không, câu trả lời có sẽ nhận được 2 điểm và câu trả lời không sẽ nhận được 0 điểm Riêng với câu hỏi, Chủ tịch Hội đồng quản trị có kiêm Tổng Giám đốc không thì câu trả lời có sẽ nhận được 0 điểm, câu trả lời không sẽ nhận được 2 điểm

Chấm điểm và tổng số điểm gia quyền

Sau khi đã xác định được các yếu tố trên, để tính được mức tổng điểm gia quyền của từng công ty, các bước sau sẽ được thực hiện:

- Bước1: Mỗi câu hỏi trong từng lĩnh vực sẽ được đánh giá và điểm của từng lĩnh vực là tổng điểm của tất cả các câu hỏi trong lĩnh vực đó

- Bước 2: Điểm của từng lĩnh vực của bước 1 sẽ được chia cho tổng số điểm tối đa của các câu trong lĩnh vực đó để tìm tỷ lệ điểm của lĩnh vực đó

- Bước 3: Kết quả ở bước 2 được nhân với trọng số của lĩnh vực đó để tính tỷ

lệ % của công ty tương ứng với lĩnh vực

- Bước 4: Tính tổng mọi tỷ lệ điểm số gia quyền trong cả 5 lĩnh vực để ra điểm quản trị công ty của công ty được điều tra, khảo sát

Dựa trên điểm quản trị công ty, tác giả chi nhóm các công ty thành 3 nhóm: nhóm 25% công ty có điểm quản trị công ty cao nhất, nhóm 50% công ty có điểm quan trị trung bình và nhóm 25% công ty có điểm quản trị thấp nhất Tác giả sử dụng điểm quản trị công ty bình quân của từng nhóm để tiến hành phân tích, đánh giá, tìm ra mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu với chất lượng quản trị công ty, hiệu quả sản xuất kinh doanh, điểm mạnh/ điểm yếu trong quản trị công ty của các công ty

Trang 37

đại chúng Tuy nhiên, để xác định điểm manh/ điểm yếu trong từng lĩnh vực, tác giả

sử dụng thang điểm% công ty chấp hành thông lệ tốt, % công ty tuân thủ hoàn toàn pháp luật Việt Nam, % công ty tuân thủ một phần và % công ty hoàn toàn không tuân thủ tương ứng với từng câu hỏi của từng lĩnh vực

Trang 38

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ THỰC THI KHUNG PHÁP LÝ VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY

ĐỐI VỚI CÔNG TY ĐẠI CHÚNG Ở VIỆT NAM

3.1 Khái quát về khung pháp lý quản trị công ty đại chúng tại TTCK Việt Nam

Khung pháp lý tại Việt Nam có một số nét đặc trưng riêng bắt nguồn từ lịch sử

và quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam Trước năm 1987 với nền kinh tế mệnh lệnh, chỉ có các Doanh nghiệp nhà nước mới được quyền tồn tại theo mô hình công

ty Sự ra đời của Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 lần đầu tiên đã đưa khái niệm QTCT đầu tiên vào Việt Nam, tuy nhiên, Luật này chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Trong 10 năm sau đó, khung pháp lý của Việt Nam trong lĩnh vực QTCT đã được cải thiện một cách rõ nét – nhưng việc áp dụng

và tuân thủ các biện pháp QTCT của công ty tại Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn khởi đầu

Ảnh hưởng của những cam kết Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006, Việt Nam đẩy mạnh nỗ lực nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của mình để sẵn sàng cho việc gia nhập WTO Từ năm 2006 đến nay, Việt Nam luôn cố gắng hoàn thiện khung pháp lý để tuân thủ các cam kết của mình khi gia nhập WTO Trong bối cảnh đó, trong giai đoàn từ 01/1/2004 tới 01/12/2009, Quốc hội Việt Nam đã thông qua khoảng 90 Bộ Luật mới Những Bộ Luật này và lĩnh vực điều chỉnh của những Bộ Luật này rất đa dạng;

Sự phân tán: Với sự chuyển đổi kinh tế vào năm 1987 và lịch sử xây dựng Luật như đã đề cập ở trên, các bộ luật và các quy định của Việt Nam thường khá phân tán, Chẳng hạn, trước 01/7/2006, các doanh nghiệp có Vốn đầu tư nước ngoài được điều chỉnh bằng Luật Đầu tư nước ngoài, các công ty trong nước được điều chỉnh bằng Luật doanh nghiệp và Luật Đầu tư trong nước, các doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài không được phép chuyển đổi thành công ty cổ phần và phát hành cổ phiếu Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư đã thống nhất các khuôn khổ pháp lý

Trang 39

riêng rẽ trước kia, và được thông qua với mục đích là để tạo ra một sân chơi cho công chúng đầu tư trong và ngoài nước

Áp dụng những Bộ Luật và những quy định riêng cho từng ngành: Tại Việt Nam, các công ty phải tuân thủ cả Luật Doanh nghiệp lẫn các bộ luật và các quy định khá điều chỉnh ngành nghề và các hoạt động cụ thể của công ty

Luật Doanh nghiệp: Luật Doanh nghiệp cho phép ĐHĐCĐ của CTCP lựa chọn các thành viên của HĐQT và Ban Kiểm soát, và hoặc là ĐHĐCĐ hoặc là HĐQT lựa chọn Chủ tịch HĐQT Tuy nhiên, các quy chế trong hoạt động ngân hàng yêu cầu việc bổ nhiệm và miễn nhiệm Tổng Giám đốc, Chủ tịch HĐQT, các thành viên HĐQT, các thành viên Ban Kiểm soát được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phê chuẩn

Các Bộ Luật áp dụng và khuôn khổ pháp lý: Tính đến thời điểm năm 2009, tất

cả các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, cho dù thuộc loại hình tổ chức nào, đều phải tuân thủ một tập hợp đầy đủ các Bộ Luật, các quy định, các nghị định của Chính phủ Ngoài khung pháp lý chung, còn có sắc lệnh, nghị định, thông

tư, quyết định của Quốc hội, Chính phủ, các bộ ngành và cơ quan thực thi pháp luật khác với những quy định chi tiết hơn về các vấn đề cụ thể trong QTCT tại các công

ty cổ phần và các loại hình công ty khác

Có thể nói rằng, cho dù vẫn còn nhiều vấn đề cần phải được cải thiện, khung pháp lý về QTCT đã có nhiều thay đổi và đã được cải thiện một cách đáng kể trong những năm gần đây ở Việt Nam Việc thông qua Luật đầu tư nước ngoài năm 1987, những sửa đổi bổ sung của luật này năm 2000 và sự hợp nhất của luật này với Luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 1999 và những sửa đổi bổ sung của luật này năm 2005, Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997 và Luật các tổ chức tín dụng năm 1997; cùng những chỉnh sửa bổ sung của hai bộ luật này tương ứng vào các năm 2003 và năm 2004; và thay thế mới của cả hai bộ luật này vào năm 2010, Luật kinh doanh bảo hiểm vào năm 2000, Luật cạnh tranh vào năm 2004 và Luật chứng khoán vào năm 2006 là một vài ví dụ về những thay đổi tích cực trong khung pháp lý

Trang 40

Về khung pháp lý QTCT tại TTCK Việt Nam, có thể coi là một thành công bước đầu trong QTCT ở Việt Nam khi Luật Doanh nghiệp 2005 là một bước tiến lớn đầu tiên tạo ra thay đổi căn bản trong quá trình hoàn thiện khung quản trị, cũng như quy định khá đầy đủ và cụ thể các nội dung hay yếu tố cấu thành của khung QTCT Đến nay, các quy định tại Luật Chứng khoán, Thông tư số 121/2012/TT-BTC ngày 26/7/2012 của Bộ Tài chính quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng và Thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 05/4/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán đã hướng dẫn chi tiết hơn về QTCT đối với các công ty đại chúng trên TTCK Việt Nam đã được hoàn thiện hơn và đi vào thực tế hơn

Bảng 3.1 : Khung pháp lý về QTCT đối với công ty đại chúng

Luật/ Quy định Thời điểm có

2005

Tất cả các công ty và hoạt động của các công ty

Luật Doanh nghiệp Sửa đổi 2014 Tất cả các công ty và hoạt

Quy chế QTCT (Quyết định

Công ty niêm yết Bắt buộc áp dụng đối với các công ty niêm yết nhưng nên áp dụng đối với cả các công ty không niêm yết

Ngày đăng: 13/11/2015, 18:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nguyễn Minh Kiều, 2009. Quản trị rủi ro tài chính.Hà Nội : NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro tài chính
Nhà XB: NXB Thống kê
5. Nguyễn Thế Thọ, 2009.Giáo trình Pháp luật Chứng khoán và Thị trường chứng khoán.Hà Nội : NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Pháp luật Chứng khoán và Thị trường chứng khoán
Nhà XB: NXB Thống kê
6. TS Bạch Đức Hiển, 2010. Giáo trình thị trường chứng khoán.Hà Nội : NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thị trường chứng khoán
Tác giả: TS Bạch Đức Hiển
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2010
8. Tổ chức tài chính Quốc tế (IFC), 2011. Cẩm nang quản trị công ty.Hà Nội : NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang quản trị công ty
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
10. Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, 2014. Báo cáo đánh giá Công bố thông tin và minh bạch năm 2014 của các doanh nghiệp niêm yết trên HNX. Hà Nội : NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá Công bố thông tin và minh bạch năm 2014 của các doanh nghiệp niêm yết trên HNX
Nhà XB: NXB Tài chính
11. Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Anh Tuấn, 2013. Vấn đề đại diện của các công ty đại chúng ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, Tập 29, Số 1 (2013) 1-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh
12. Bùi Xuân Hải. Vài nét về các loại hình công ty theo luật công ty của Úc. Tạp chí Khoa học pháp luật số 6/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học pháp luật
13. OECD, 2006.Policy Brief on Corporate Governance of Banks in Asia. [pdf] Available at : <http://www.oecd.org/corporate/ca/corporategovernanceprinciples/37180641.pdf> [Accessed 01 June 2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Policy Brief on Corporate Governance of Banks in Asia
Tác giả: OECD
Năm: 2006
14. OECD, 2006.Implementing the White Paper on Corporate Governance in Asia. [pdf] Available at : <http://www.oecd.org/corporate/ca/corporategovernanceprinciples/38120678.pdf> [Accessed 09 June 2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Implementing the White Paper on Corporate Governance in Asia
15. OECD, 2007. Asia: Overview of Corporate Governance Frameworks. [pdf] Available at : <http://www.oecd.org/corporate/ca/corporategovernanceprinciples/40162910.pdf> [Accessed 10 July 2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asia: Overview of Corporate Governance Frameworks
16. OECD, 2007. Enforcement of Corporate Governance in Asia. [pdf] Available at : <http://www.oecd.org/corporate/ca/corporategovernanceprinciples/42365100.pdf.pdf> [Accessed 12 July 2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Enforcement of Corporate Governance in Asia
17. OECD, 2009. Guide on Fighting Abusive Related Party Transactions in Asia. [pdf] Available at : < http://www.oecd.org/daf/ca/corporategovernanceprinciples/43626507.pdf > [Accessed 13 July 2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guide on Fighting Abusive Related Party Transactions in Asia
Tác giả: OECD
Năm: 2009
18. OECD, 2011. Corporate Governance in Asia 2011: Progress and Challenges. [pdf] Available at : < http://www.oecd.org/publications/corporate-governance-in-asia-9789264096790-en.html> [Accessed 14 July 2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate Governance in Asia 2011: Progress and Challenges
Tác giả: OECD
Nhà XB: OECD
Năm: 2011
19. OECD, 2011. Corporate Governance in Asia: A Comparative Perspective. [pdf] Available at : < http://www.oecd.org/corporate/ca/corporategovernanceprinciples/1931524.pdf> [Accessed 15 July 2014]Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate Governance in Asia: A Comparative Perspective
22. www.hsx.vn – Sở giao dịch chứng khoán tp Hồ Chí Minh Link
3. Thông tư 121/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng Khác
7. Tổ chức tài chính Quốc tế (IFC), 2010. Các nguyên tắc Quản trị công ty của OECD Khác
9. Tổ chức tài chính Quốc tế (IFC), 2010,2011,2012. Báo cáo thẻ điểm quản trị công ty Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 1.1  So sánh công ty đại chúng và công ty cổ phần  11 - Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng ở việt nam
1 Bảng 1.1 So sánh công ty đại chúng và công ty cổ phần 11 (Trang 6)
2  Bảng 2.1  Xác định trọng số cho các lĩnh vực quản trị công - Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng ở việt nam
2 Bảng 2.1 Xác định trọng số cho các lĩnh vực quản trị công (Trang 6)
Bảng 1.1: So sánh công ty đại chúng và công ty cổ phần tư nhân - Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng ở việt nam
Bảng 1.1 So sánh công ty đại chúng và công ty cổ phần tư nhân (Trang 20)
Bảng 2.1. Xác định trọng số cho các lĩnh vực quản trị công ty - Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng ở việt nam
Bảng 2.1. Xác định trọng số cho các lĩnh vực quản trị công ty (Trang 35)
Bảng 3.1 : Khung pháp lý về QTCT đối với công ty đại chúng - Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng ở việt nam
Bảng 3.1 Khung pháp lý về QTCT đối với công ty đại chúng (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm