1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện lạng giang tỉnh bắc giang

106 760 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI ---***--- LÊ VĂN THUYẾT ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC MÔ HÌNH CHUYỂN ĐỔI TRỒNG LÚA SANG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẠI HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

-*** -

LÊ VĂN THUYẾT

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC MÔ HÌNH CHUYỂN ĐỔI TRỒNG LÚA SANG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẠI

HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN

Mã số: 60.62.70

Người hướng dẫn: PGS.TS HÀ XUÂN THÔNG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên kết quả nghiên cứu của bản thân tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Tác giả

LÊ VĂN THUYẾT

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo, Cố PGS.TS Lê Tiêu La

Tôi xin cảm ơn Thầy giáo PGS TS Hà Xuân Thông đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Tôi xin cảm ơn các cán bộ Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Giang, Chi cục thủy sản, Trạm Thuỷ sản giống cấp 1, cán bộ Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lạng Giang, các cán bộ khuyến nông xã Đại Lâm, Thái Đào đã giúp đỡ tôi trong việc thu thập tài liệu

Chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo cùng các anh chị cán bộ Phòng Quản lý khoa học - Thông tin - Hợp tác quốc tế và Đào tạo - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản I, Ban Giám hiệu Viện Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã luôn giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại Viện và trường

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vi

Danh mục hình vii

Danh mục viết tắt viii

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 3

1.2.1 Mục tiêu chung: 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể: 3

1.3 Nội dung nghiên cứu 4

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

2.1 Tình hình NTTS và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 5

2.1.1 Khái quát hiện trạng NTTS và chuyển dịch kinh tế nông nghiệp của Việt Nam 5

2.1.2 Tình hình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản tỉnh Bắc Giang 8

PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 14

3.1.1 Địa điểm nghiên cứu 14

3.1.2 Thời gian nghiên cứu: 14

3.2 Phương pháp nghiên cứu 14

3.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp 14

3.2.2 Điều tra phỏng vấn 14

3.2.3 Chọn mẫu điều tra 14

3.3 Phương pháp phân tích số liệu 15

Trang 5

3.3.1 Xử lý số liệu 15

3.3.2 Tính hiệu quả kinh tế 15

3.3.3 Phân tích số liệu 16

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 17

4.1 Thông tin chung về các hộ được khảo sát 17

4.1.1 Tuổi chủ hộ 17

4.1.2 Trình độ học vấn 18

4.1.3 Nghề chính 19

4.1.4 Nhân khẩu và lao động của hộ 20

4.1.5 Nguồn vốn đầu tư canh tác 21

4.1.6 Lý do chuyển sang NTTS 22

4.1.7 Tham gia tổ chức sản xuất, NTTS 23

4.2 Thông tin kinh tế - kỹ thuật canh tác 24

4.2.1 Mùa vụ 24

4.2.2 Kinh nghiệm NTTS 25

4.2.3 Mô tả về thiết kế và kỹ thuật 26

4.2.4 Vùng quy hoạch 30

4.2.5 Thị trường đầu vào, đầu ra, xuất khẩu (nhiều lựa chọn) 30

4.3 Phân tích hiệu quả kinh tế 31

4.3.1 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi cá truyền thống 31

4.3.2 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi cá giá trị kinh tế 34

4.3.3 So sánh giữa hai mô hình chuyển đổi 37

4.4 Phân tích tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế tại 2 mô hình điều tra 40

4.4.1 Mô hình nuôi cá truyền thống 40

4.4.2 Mô hình nuôi cá giá trị kinh tế 41

4.5 Hiệu quả xã hội 42

Trang 6

4.5.2 Tiếp cận dịch vụ xã hội: giáo dục, y tế 43

4.5.3 Giải trí 43

4.5.4 Tệ nạn xã hội 43

4.5.5 Hiểu biết và ý thức tuân thủ chính sách pháp luật 44

4.5.6 Mâu thuẫn 44

4.5.7 Môi trường 44

4.6 Đánh giá hiệu quả, các giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả kinh tế và nhân rộng mô hình chuyển đổi sang NTTS 45

4.6.1 Hiệu quả kinh tế các mô hình chuyển đổi 45

4.6.2 Các giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả kinh tế, nhân rộng mô hình chuyển đổi sang NTTS 46

PHẦN V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 57

5.1 Kết luận 57

5.2 Đề xuất 58

Trang 7

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 1: Diện tích nuôi và chuyển đổi sang NTTS tỉnh Bắc Giang 2006-2011 12

Bảng 2: Sản lượng nuôi và chuyển đổi sang NTTS tỉnh Bắc Giang 2006-2011 12

Bảng 4: Độ tuổi trung bình của chủ hộ ở địa bàn nghiên cứu 17

Bảng 6: Tình hình giới tính đảm nhiệm vai trò trong NTTS 21

Bảng 7: Cơ cấu sử dụng nguồn vốn đầu tư sản xuất của nông hộ (%) 21

Bảng 8: Lý do chuyển đổi sang kết hợp NTTS (%) 23

Bảng 9: Diện tích nuôi trung bình của hộ ở địa bàn nghiên cứu 27

Bảng 11 Tỷ lệ (%) các hộ mua giống để nuôi thủy sản 31

Bảng 12: Chi phí đầu tư cố định mô hình nuôi cá truyền thống 31

Bảng 13: Tổng chi phí đầu tư lưu động mô hình nuôi cá truyền thống 32

Bảng 14: Cơ cấu chi phí đầu tư lưu động nuôi cá mô hình nuôi cá truyền thống 33

Bảng 15: Cơ cấu doanh thu sau chuyển đổi mô hình nuôi cá truyền thống 33

Bảng 16: Thu nhập mô hình hình nuôi cá truyền thống 34

Bảng 17: Chi phí đầu tư cố định mô hình nuôi cá kinh tế 35

Bảng 18: Tổng chi phí đầu tư lưu động mô hình nuôi cá giá trị kinh tế 35

Bảng 19: Cơ cấu chi phí đầu tư lưu động nuôi cá mô hình nuôi cá giá trị

Bảng 20: Cơ cấu doanh thu sau chuyển đổi mô hình nuôi cá giá trị kinh tế 36

Bảng 21: Thu nhập mô hình hình nuôi cá kinh tế 37

Bảng 22: Đầu tư cố định của các mô hình Error! Bookmark not defined

Bảng 23: Đầu tư lưu động trước và sau chuyển đổi giữa các mô hìnhError! Bookmark not defined.

Bảng 24: Doanh thu trước và sau chuyển đổi của các mô hìnhError! Bookmark not defined.

Bảng 25: Thu nhập trước và sau chuyển đổi giữa các mô hìnhError! Bookmark not defined.

Bảng 26: Tương quan giữa thu nhập và các yếu tố ảnh hưởngError! Bookmark not defined.

Trang 8

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 1: Phân nhóm tuổi của người được phỏng vấn giữa 2 mô hình 17

Hình 2: Cơ cấu trình độ văn hoá của chủ hộ (%) 18

Hình 3: Tình hình nghề nghiệp của các hộ nông dân 2 mô hình nghiên cứu 19

Hình 4: Thời gian thả giống của các hộ nuôi cá trong vùng nghiên cứu 24

Hình 5: Số lần thả cá trong năm 25

Hình 6: Tỷ lệ hộ nuôi theo số năm kinh nghiệm nuôi 26

Hình 7: Đầu tư lưu động sau chuyển đổi của 2 mô hìnhError! Bookmark not defined

Hình 8: Doanh thu sau chuyển đổi của 2 mô hìnhError! Bookmark not defined

Hình 9: Lợi nhuận sau chuyển đổi của 2 mô hình 40

Trang 10

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ sau khi có Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ đất trồng lúa kém hiệu quả, đất vườn và đất hoang hoá khác sang nuôi trồng thủy sản (NTTS) đã diễn ra mạnh mẽ trên toàn quốc trong đó có tại tỉnh Bắc Giang

Bắc Giang là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc, có diện tích

tự nhiên là 3.827,4 km2, nằm liền kề với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh) Cách thủ đô Hà Nội khoảng 60 km và khu cửa khẩu Lạng Sơn 100 km là những thị trường tiêu thụ nhiều sản phẩm thủy sản tươi sống Mặt khác tỉnh Bắc Giang có hệ thống đường sắt và đường quốc

lộ 1A đi qua nên rất thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa, trao đổi khoa học

kỹ thuật với các tỉnh trong vùng, trong nước và quốc tế

Bắc Giang có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển nuôi thủy sản nước ngọt, tổng diện tích các loại hình mặt nước (mặt nước lớn, sông suối, ao hồ, ruộng trũng ) có khả năng đưa vào sử dụng để nuôi thủy khoảng 25.675ha Trong những năm qua, ngành thủy sản Bắc Giang đã và đang trên đà phát triển cùng với sự phát triển chung của ngành thuỷ sản cả nước, đã thu được những thành tựu đáng kể: Đến năm 2011, tổng diện tích mặt nước đưa vào nuôi thủy sản của tỉnh Bắc Giang đạt 12.009 ha và sản lượng nuôi đạt khoảng 23.100 tấn; nhiều vùng nuôi tập trung đã được hình thành, khoa học công nghệ tiên tiến và một số đối tượng có giá trị kinh tế cao đã được đưa vào sản xuất, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng nông thôn; giải quyết việc làm cho các vùng nông thôn, đời sống của người nuôi trồng thủy sản được cải thiện rõ rệt, góp phần thúc đấy phát triển kinh tế xã hội vùng nông thôn, miền núi

Trang 11

Hiện nay các đối tượng nuôi chủ yếu là đối tượng cá truyền thống, có năng suất và giá trị kinh tế không cao, dịch bệnh trong quá trình nuôi vẫn xuất hiện, dẫn đến hiệu quả kinh tế - xã hội mang lại vẫn còn thấp, chưa ổn định, phát triển biểu hiện thiếu bền vững

Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ các vùng đất kém hiệu quả sang NTTS thời gian qua của nước ta nói chung, ở tại tỉnh Bắc Giang nói riêng đã đem lại hiệu quả tác động tích cực to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều mô hình chưa hiệu quả, rủi ro cao và nảy sinh các tác động tiêu cực như phân hoá giàu nghèo, mâu thuẫn trong sử dụng đất, ô nhiễm môi trường

Từ trước tới nay, tuy trong ngành nông nghiệp cũng như ngành thuỷ sản đã có một số đề tài nghiên cứu đánh giá hoạt động của ngành thuỷ sản hoặc hoạt động của NTTS về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, kỹ thuật công nghệ nhưng chưa có đề tài nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể cho vùng chuyển đổi hoặc các mô hình chuyển đổi Đặc biệt là đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội các mô hình chuyển đổi sang NTTS riêng cho tỉnh Bắc Giang

Tại Bắc Giang, có các mô hình chuyển đổi trong nuôi trồng thủy sản như sau:

(1) Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang luân canh lúa – cá

(2) Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang kết hợp nuôi cá (xen canh) (3) Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang chuyên nuôi cá truyền thống (4) Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang chuyên nuôi cá giá trị kinh tế cao (chủ yếu là nuôi đơn cá rô phi đơn tính)

(5) Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang luân canh lúa – tôm càng xanh

Do thời gian có hạn và trong khuôn khổ thực hiện một luận văn thạc sĩ, tôi chọn việc nghiên cứu và đánh giá hiệu quả kinh tế của 2/5 mô hình nêu trên (mô hình 3, 4) Việc chọn 2 mô hình nói trên là 2 mô hình phổ biến tại

Trang 12

phong trào chuyển đổi, NTTS lớn của tỉnh, phù hợp với các hộ nghèo và trung bình, việc chuyển đổi hiệu quả sẽ giúp cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo

và vươn lên làm giàu của đại bộ phận những hộ vốn có thu nhập thấp và trung bình, phù hợp với mục tiêu định hướng chuyển đổi nuôi trồng thuỷ sản đã đặt

ra Tuy các mô hình chuyển đổi được chọn lựa để nghiên cứu trong đề tài nghiên cứu nghiên cứu này đã có kết quả nhất định nhưng cho đến nay chưa

có những đánh giá cụ thể về hiệu quả kinh tế xã hội từ đó góp phần định hướng và hoạch định những chính sách nhằm phát triển bền vững nghề nuôi

Vì vậy việc tiến hành đề tài nghiên cứu: “Đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi đất trồng lúa sang nuôi trồng thuỷ sản tại huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang” là một yêu cầu cần thiết Đề tài nghiên cứu sẽ làm rõ

được các hiệu quả tác động tích cực về kinh tế, xã hội, đồng thời cũng chỉ ra những điểm yếu kém, hạn chế cần khắc phục, các nguyên nhân, các bài học kinh nghiệm của việc chuyển đổi sang NTTS, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp để phát huy các hiệu quả tác động tích cực, giảm thiểu các yếu tố rủi ro của các mô hình chuyển đổi sang NTTS ở tại tỉnh Bắc Giang, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, chiến lược và quy hoạch, góp phần phát triển bền vững và nhân rộng các mô hình chuyển đổi ở các tỉnh miền núi phía Bắc đồng

thời góp phần phát triển bền vững ngành thuỷ sản ở các tỉnh miền núi

1.2 Mục tiêu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung:

Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của các mô hình chuyển đổi từ đất

trồng lúa NTTS nước ngọt ở Bắc Giang

Trang 13

+ Mô hình 2: Mô hình nuôi cá giá trị kinh tế (mô hình nuôi đơn cá rô phi đơn tính)

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản để góp phần nâng cao hiệu quả kinh

tế - xã hội của các mô hình chuyển đổi và khả năng nhân rộng các mô hình chuyển đổi NTTS tại tỉnh Bắc Giang

1.3 Nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:

- Phân tích và so sánh các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của các mô hình trước và sau chuyển đổi

- Đề xuất một số giải pháp phù hợp trong quá trình chuyển đổi, góp phần phát triển bền vững

Trang 14

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tình hình NTTS và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

2.1.1 Khái quát hiện trạng NTTS và chuyển dịch kinh tế nông nghiệp của Việt Nam

Việt Nam có tiềm năng lớn để NTTS với diện tích mặt nước hơn 1,7 triệu ha, cùng với lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, nghề cá nước ta đã hình thành hàng nghìn năm gắn liền với truyền thống chống thiên tai địch họa, chống ngoại xâm, bảo vệ non sông của toàn dân tộc, cung cấp chất đạm cho bữa ăn hàng ngày của nhân dân, đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước Ngày nay Kinh tế thủy sản đóng góp 30 - 35% GDP trong khối nông - lâm - ngư nghiệp, tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành thủy sản từ 8 - 10%/năm Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 6 tỷ USD (năm 2011) Tổng sản lượng thủy sản đạt >5 triệu tấn, trong đó nuôi trồng chiếm khoảng 60% tổng sản lượng Việc phát triển mạnh mẽ NTTS, tăng tỷ trọng sản lượng NTTS/tổng sản lượng thuỷ sản đã giảm áp lực cho khai thác trong khi nguồn lợi tự nhiên ngày càng cạn kiệt

Song song với sự phát triển của NTTS nước lợ, mặn thì sự phát triển NTTS nước ngọt cũng diễn ra mạnh mẽ trên khắp cả nước Các hình thức nuôi đa dạng như nuôi trong ao hồ nhỏ, nuôi lồng bè trên sông, hồ chứa, nuôi luân canh, xen canh lúa – cá, nuôi truyền thống, nuôi chuyên canh Đối tượng nuôi phong phú, trong đó nhiều đối tượng tạo sản phẩm hàng hoá lớn cho thị trường tiêu dùng nội địa và xuất khẩu như cá Tra, Rô phi, tôm Càng xanh Nhất là cá Tra từ năm 2007 đã trở thành đối tượng có giá trị kim ngạch xuất

khẩu cao nhất trong số các mặt hàng thủy sản xuất khẩu của nước ta (Bộ

NN&PTNT, 2007) và kim ngạch xuất khẩu của riêng mặt hàng này năm 2011

đã chiếm trên ¼ trên tổng số 6,15 tỷ USD ngoại tệ thu được từ xuất khẩu thủy sản Ngoài các đối tượng cá tra, tôm càng xanh, cá rô phi cũng vươn lên là

Trang 15

một đối tượng nuôi nước ngọt quan trọng Cá rô phi được nuôi ở hầu hết các tỉnh trong đó có các tỉnh miền núi và đối tượng này đang có xu hướng mở rộng mặt hàng xuất khẩu trong tương lai

Xu hướng chuyển đổi diện tích trồng kém hiệu quả như trồng lúa ruộng trũng 1 vụ bấp bênh, năng suất thấp, đất trồng cói, làm muối kém hiệu quả và đất cát, đất hoang hoá sang sử dụng có hiệu quả hơn cho ngành NTTS Nguyên nhân của hiện tượng này là do giá thuỷ sản trên thị trường thế giới những năm gần đây tăng đột biến, trong khi giá các loại nông sản xuất khẩu khác của Việt Nam lại bị giảm sút dẫn đến nhu cầu chuyển đổi cơ cấu diện tích giữa nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp càng trở nên cấp bách Quá trình chuyển đổi diện tích, chủ yếu từ lúa kém hiệu quả, sang nuôi trồng thuỷ sản diễn ra mạnh mẽ nhất vào các năm 2000-2002: hơn 200.000 ha diện tích được chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, từ 2003 đến nay ở nhiều vùng vẫn tiếp tục chuyển đổi mạnh, năm 2003 đạt 49.000 ha và năm 2004 đạt 65.400 ha Có thể nói NTTS đã phát triển với tốc độ nhanh, thu được hiệu quả kinh tế - xã hội đáng kể, từng bước góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng miền núi, nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo và làm giàu cho nông dân

Hơn nữa, NTTS cũng đã thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh

tế như Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân NTTS phát triển cũng kéo theo sự phát triển của các ngành Dịch vụ – Công nghiệp Vì vậy, phát triển NTSS đã góp phần đưa nền kinh tế VN ngày càng phát triển nhanh và bền vững

Bên cạnh cá tra, ba sa, nhiều đối tượng nuôi nước ngọt khác cũng đã được nuôi theo quy mô hàng hoá tập trung như tôm càng xanh, rô phi đơn tính, các loại cá truyền thống Tuy nhiên, các đối tượng này chủ yếu được

Trang 16

nhiên trong vùng nuôi và đáp ứng nhu cầu của thị trường Nhiều tỉnh có diện tích vùng nuôi tập trung nước ngọt lớn như Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang,

Hà Nam, Nam Định, Thái Bình là những tỉnh có quỹ đất hoang hoá, đất ruộng trũng sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả lớn

Việc chuyển đổi ruộng trũng, đất hoang hoá sang NTTS nước ngọt tại các tỉnh này được đánh giá là có hiệu quả cao gấp nhiều lần so với làm lúa Bởi vậy, phong trào nuôi cá nước ngọt và việc quy hoạch, thiết kế, xây dựng các vùng NTTS tập trung đã và đang được đẩy mạnh Nhiều địa phương đã tạo điều kiện cho các hộ nông dân thực hiện việc chuyển đổi ruộng trũng, bãi trũng sang đào ao NTTS Đối tượng và sản phẩm nuôi cũng đã được chú trọng đa dạng hoá và mở rộng Các đối tượng nuôi mới như rô phi đơn tính, chép lai, chim trắng cũng được đưa vào sản xuất và mở rộng quy mô để nâng cao giá trị sản xuất thuỷ sản, góp phần cải thiện đời sống nông dân và đổi mới bộ mặt nông thôn ở nhiều nơi

Theo kết quả điều tra của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản (VIFEP) (2008) tại Hải Dương đã có 23 vùng được chuyển đổi từ đất hoang hoá, đất ruộng trũng sang NTTS tập trung (quy mô 30-70ha/vùng) với tổng diện tích được chuyển đổi 1.020 ha (đến năm 2005), trong đó có 3 vùng đất trũng được

sử dụng nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước (ngân sách của tỉnh) để xây dựng

cơ sở hạ tầng, đường giao thông, đưa điện, đưa cơ giới, cơ khí hoá về nông thôn; còn lại 16 vùng (với tổng diện tích 1.288 ha) đang được trình các cấp ban ngành trong tỉnh để được tiếp tục chuyển đổi

Nhiều địa phương của tỉnh Hải Dương đã chuyển đổi sang phát triển theo mô hình trang trại như huyện Gia Lộc, Ninh Giang, Tứ Kỳ và Thanh Hà Hình thức thực hiện chuyển đổi và việc phát triển các vùng NTTS tập trung được tỉnh này thực hiện rất đa dạng Tỉnh đã vận động các cựu chiến binh, Hội nông dân, Hội phụ nữ, Thanh Niên vào hội VAC, giao cho hội VAC quản

lý và tổ chức đấu thầu đất cho NTTS tại các vùng nuôi tập trung

Trang 17

Các tỉnh, thành phố đã thực hiện rà soát các diện tích mặt nước, quy hoạch và triển khai tích cực chuyển đổi sang NTTS Từ năm 1999 – 2005, tổng diện tích chuyển đổi sang NTTS là 377.269 ha, trong đó chuyển đổi từ đất trồng lúa hiệu quả thấp 346.694 ha (91,9%) sang kết hợp NTTS nước ngọt diễn ra mạnh khắp cả nước

Việc chuyển dịch cơ cấu sang NTTS diễn ra mạnh nhất ở ĐBSCL với diện tích chiếm 82,4% diện tích chuyển đổi cả nước, trong đó lớn nhất là chuyển đổi từ đất trồng lúa với 297.187 ha .Quá trình chuyển đổi mạnh nhất xảy ra trong năm 2001 với 131.889 ha (42,43% cả thời kỳ 1999 – 2005) Đối tượng NTTS được lựa chọn là tôm Sú, cá Tra, Ba sa và các loại cá truyền thống, tôm Càng xanh

2.1.2 Tình hình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản tỉnh Bắc Giang

Bắc Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc về nông nghiệp còn kém phát triển, giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích chưa cao Các ngành nghề nông thôn chưa phát huy được nhiều do vậy đời sống nhân dân vẫn còn khó khăn Trong nông nghiệp một số ngành nghề có thể đem lại hiệu quả kinh tế, xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho người dân nông thôn gồm: Chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng rừng bên cạnh đó nghề nuôi trồng thủy sản cũng được phát triển trong những năm gần đây

Bắc Giang là tỉnh có tiềm năng về mặt nước tương đối lớn so với các tỉnh khu vực phía Bắc Theo số liệu thống kê năm 2011 của Cục Thống kê tỉnh Bắc Giang, toàn tỉnh có khoảng 25.675ha có khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản, trong đó diện tích ao hồ nhỏ là 5.664ha, diện tích mặt nước lớn là 5.664ha, diện tích ruộng trũng là 4.285ha, diện tích sông ngòi 10.573 ha

Để phát huy các lợi thế của mình, tỉnh Bắc Giang đã có Quyết định số: 205/2000/QĐ-UB ngày 2/11/2000 UBND tỉnh phê duyệt Chương trình phát

Trang 18

của Tỉnh uỷ (trong nội dung có phần phát triển sản xuất thuỷ sản) Nghị quyết

số 65/2002/NQ-HĐND ngày 1/8/2002 của HĐND tỉnh về hỗ trợ tài chính thực hiện chương trình phát triển cơ sở hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản Quyết định số 159/QĐ-UB ngày 6/9/2002 của UBND tỉnh về việc ban hành cơ chế tài chính phát triển cơ sở hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản với mức hỗ trợ:

+ 60 % cho các vùng nuôi trên 20 ha;

+ 50 % cho các vùng nuôi từ 10 ha đến dưới 20 ha;

+ 40 % cho các vùng nuôi từ 05 ha đến dưới 10 ha;

Năm 2005, UBND tỉnh trích kinh phí 1.000 triệu đồng cho 07 huyện, thành phố để hỗ trợ các dự án chuyển đổi cỡ nhỏ, tuỳ theo mức hỗ trợ của từng huyện

Tỉnh ủy Bắc Giang đã ban hành chương trình phát triển nông nghiệp hàng hóa giai đoạn 2006-2010 thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI tháng 05 năm 2006 Vừa qua, Tỉnh ủy đã có Nghị quyết số 43/NQ-

TU ngày 22 tháng 2 năm 2011 về ban hành 5 chương trình phát triển kinh tế

xã hội trong tâm, trong đó có Chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung gắn với xây dựng nông thôn mới cần tập trung vào những đối tượng giống cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao Thủy sản cũng là một trong những mục tiêu chiến lược của tỉnh Bằng nhiều hình thức đẩy mạnh tăng năng suất, sản lượng trên những diện tích hiện có mặt khác cho phép chuyển đổi những diện tích hoang hóa, diện tích trồng trọt kém hiệu quả

có khả năng chuyển sang nuôi trồng thủy sản

Điển hình trong chuyển dịch cơ cấu trong thủy sản là huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang

Huyện ủy huyện Lạng Giang trong nhiệm kỳ 2010 - 2015, cũng tiếp tục chỉ đạo tập trung xây dựng và chỉ đạo thực hiện 6 chương trình kinh tế xã hội

trọng tâm, trong đó bao gồm : “Chương trình nâng cao chất lượng, hiệu quả

sản xuất nông nghiệp hàng hoá” trong đó nêu rõ “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ

Trang 19

cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi” Phát

triển chăn nuôi trang trại thành khu vực lớn, tập trung, với quy mô công nghiệp hoặc bán công nghiệp; Mở rộng diện tích nuôi thuỷ sản thâm canh, tận dụng tối đa mặt nước hiện có vào thâm canh thuỷ sản theo hướng bền vững; bảo đảm an toàn dịch bệnh và vệ sinh môi trường

2.1.2.1 Hiện trạng nuôi trồng thủy sản tại Bắc Giang

Nuôi thủy sản tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn 2006-2011 đã đạt được những thành tích quan trọng, có những bước phát triển mạnh cả về diện tích, năng suất và sản lượng; từng bước phát triển thành một nghề sản xuất quy mô hàng hóa Trong đó:

- Tổng diện tích nuôi thủy sản năm 2011 đạt 12.009 ha, so với năm 2006 tăng 1.811 ha (đạt tốc độ TTBQ là 3,3%/năm)

- Sản lượng nuôi thủy sản tăng từ 14.233 tấn năm 2006 lên 23.100 tấn năm 2011 (đạt tốc độ TTBQ là 10,2%/năm)

- Năng suất nuôi thủy sản bình quân năm 2006 đạt 1,4 tấn/ha/năm đến năm 2011 năng suất đạt trung bình 1,9 tấn/ha/năm (tăng bình quân 6,7%/năm)

Năm 2011, tổng diện tích nuôi cá ruộng trũng của các huyện/thành phố trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đến năm 2011 đạt 3.499 ha, sản lượng nuôi cá ruộng trũng đạt 4.454 tấn; năng suất nuôi đạt bình quân là 1,3 tấn/ha/năm Các địa phương có diện tích ruộng trũng nuôi cá lớn nhất là huyện Việt Yện, Yên Dũng, Hiệp Hòa, Lạng Giang, Tân Yên, Lục Nam và thành phố Bắc

Giang (Nguồn sở NN & PTNT Bắc Giang, 2011)

Trong định hướng quy hoạch phát triển NTTS tổng diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh đến năm đến năm 2015 đạt 12.440 ha, đến năm 2020 đạt 13.000ha (đạt tốc độ TTBQ về diện tích là 0,88%/năm)

- Tổng sản lượng thủy sản của tỉnh đến năm 2015 đạt 36.630 tấn, đến

Trang 20

- Giá trị sản xuất (theo giá CĐ năm 1994) đến năm 2015 đạt 376.690 triệu đồng, đến năm 2020 đạt 706.500 triệu đồng (đạt tốc độ TTBQ về giá trị sản xuất là 13,53%/năm)

- Tạo công ăn việc làm cho người lao động đến năm 2015 là 13.000 người và đến năm 2020 là 15.000 người

Diện tích nuôi thủy sản ở hình thức nuôi ruộng trũng từ nay đến năm

2020 sẽ phát triển Diện tích ruộng trũng sẽ được chuyển sang nuôi chuyên canh nuôi trồng thủy sản Phương thức áp dụng ở vùng nuôi chuyên canh thủy sản chủ yếu là phương thức nuôi bán thâm canh và thâm canh Đối tượng nuôi bao gồm các đối tượng cá truyền thống (cá trắm, cá mè, cá trôi, cá chép…) và các loài cá có giá trị kinh tế cao (chủ yếu là cá rô phi)

2.1.2.2 Khái quát về tình hình chuyển đổi từ đất trồng lúa kém hiệu quả sang NTTS nước tại tỉnh Bắc Giang năm 2011

Năm 2006 diện tích NTTS tại tỉnh Bắc Giang là 9.688 ha, đến năm 2011

diện tích NTTS là 12.009 ha, diện tích NTTS tăng rất nhanh do chuyển đổi sang NTTS từ đất nông nghiệp chuyên lúa kém hiệu quả sang nuôi chuyên thuỷ sản, nuôi kết hợp lúa - cá hay lúa - tôm Sản lượng NTTS năm 2006 là 14.233, đến năm 2011 thì sản lượng tăng lên rất cao 23.100 tấn

Diện tích chuyển đổi cả thời kỳ 2006- 2011 là 3.499 ha với tốc độ tăng nhanh chóng theo từng năm (bảng 1), Năm 2011, tổng diện tích nuôi cá ruộng trũng của các huyện/thành phố trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đến năm 2011 đạt 3.499 ha, sản lượng nuôi cá ruộng trũng đạt 4.454 tấn; năng suất nuôi đạt bình quân là 1,3 tấn/ha/năm (bảng 2)

Trang 21

Bảng 1: Diện tích nuôi và chuyển đổi sang NTTS

Nguồn: Sở NN&PTNT tỉnh Bắc Giang, 2011

Năng suất nuôi và hiệu quả ngày một tăng, lãi ròng từ 2 - 5 triệu/ha (nuôi cá đồng kết hợp) và 35 - 40 triệu đồng/ha (nuôi cá có giá trị kinh tế)

Bảng 2: Sản lượng nuôi và chuyển đổi sang NTTS

Nguồn: Sở NN&PTNT tỉnh Bắc Giang, 2011

Sự phát triển nuôi trồng thủy sản của tỉnh Bắc Giang chủ yếu dựa trên kết quả chuyển đổi từ canh tác đất lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản

Trang 22

(1) Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang luân canh lúa – cá (2) Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang kết hợp nuôi cá (xen canh) (3) Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang chuyên nuôi cá truyền thống (4) Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang chuyên nuôi cá giá trị kinh tế cao

(5) Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang luân canh lúa – tôm càng xanh

Do thời gian có hạn và từ điều kiện thực tế của việc thực hiện một luận văn thạc sĩ, tôi chọn việc nghiên cứu và đánh giá hiệu quả kinh tế của 2/5 mô hình nêu trên (mô hình 3, 4) Việc chọn 2 mô hình nói trên là 2 mô hình phổ biến tại tỉnh Bắc Giang, tập trung ở huyện Lạng Giang là vùng có diện tích NTTS lớn của tỉnh, phù hợp với các hộ nghèo và trung bình, việc chuyển đổi hiệu quả sẽ giúp cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu của đại bộ phận những hộ vốn có thu nhập thấp và trung bình, phù hợp với mục tiêu định hướng chuyển đổi nuôi trồng thuỷ sản của nhà nước đã đặt ra

Trang 23

PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Điều tra thu mẫu tại các xã Đại Lâm, Thái Đào tại huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang Đây là 2 xã phát triển mạnh nhất về mô hình chuyển đổi từ đất lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản ở Bắc Giang Huyện Lạng Giang có diện tích NTTS 1.460 ha, diện tích ruộng trũng là 800 ha chiếm 54,79% diện tích NTTS của huyện

3.1.2 Thời gian nghiên cứu:

Tháng 5/2011 đến tháng 1/2012

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Nghiên cứu tài liệu thứ cấp từ cơ quan quản lý nhà nước với các nội dung:

- Số liệu về kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu: dân số, dân tộc, các hoạt động sản xuất của người dân trong vùng

- Số liệu về định hướng phát triển NTTS, cơ chế chính sách xã hội…

- Số liệu về hiện trạng NTTS: diện tích nuôi, năng suất, sản lượng, loại hình nuôi, đối tượng nuôi, thị trường

3.2.2 Điều tra phỏng vấn

Sử dụng phiếu câu hỏi để phỏng vấn người nuôi cá chuyển đổi từ trồng lúa theo 2 mô hình ở hai xã Thái Đào và Đại Lâm, Huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

Mô hình 1: Mô hình chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi cá truyền thống

Mô hình 2: Mô hình chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi cá kinh tế

3.2.3 Chọn mẫu điều tra

Lựa chọn nông hộ để phỏng vấn theo phương pháp vừa chủ định vừa

Trang 24

nuôi thủy sản ở 2 xã Thái Đào và Đại Lâm của huyện Lạng Giang Tổng số hộ nuôi được phỏng vấn là 90, trong đó có 45 hộ thuộc mô hình 1 và 45 hộ thuộc

mô hình 2 (bảng 3)

Bảng 3: Số mẫu điều tra tại các xã

3.3 Phương pháp phân tích số liệu

Phân tích mẫu, thống kê, mô tả, so sánh các chỉ số

3.3.1 Xử lý số liệu

Số liệu sau khi thu thập sẽ được phân tích và xử lý trên phần mềm Excel và SPSS

3.3.2 Tính hiệu quả kinh tế

Tính hiệu quả kinh tế dựa trên cơ sở tính hiệu quả kinh tế từng phần

- Chi phí cố định: Là những chi phí cố định về tài sản sở hữu hoặc nguồn lợi gồm cả chi phí tiền mặt và không tiền mặt

- Chi phí lưu động: Là những chi phí mà người sản xuất có thể chủ động được trong một khoảng thời gian Những chi phí này tăng lên khi sản phẩm tăng như thức ăn, giống, phân bón Chi phí này không tính công lao động gia đình

Tổng chi phí (TC) gồm tổng chi phí cố định (TCC) và tổng chi phí lưu động (TCL)

TC = TCC + TCL Tổng doanh thu (TT): Là tổng của các nguồn thu trong nông hộ được tính bằng tiền Việt Nam đồng

Trang 25

Thu nhập: Dùng cho phân tích kinh tế để xác định thu nhập của hộ từ các hoạt động chuyển đổi và NTTS, được tính theo công thức sau:

Thu nhập = Tổng doanh thu - Tổng chi phí lưu động

3.3.3 Phân tích số liệu

- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả cho các chỉ số về trung bình, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, sai số chuẩn, độ lệch chuẩn, tần suất để mô tả các thông tin về nông hộ, đặc điểm của các mô hình chuyển đổi

- Kiểm định t-Test được sử dụng để kiểm định giả thiết thống kê so sánh cùng một chỉ tiêu ở các mô hình sản xuất khác nhau

- Áp dụng hàm số sản lượng Shang phân tích và xác định mối quan hệ giữa các biến độc lập như thu nhập và khả năng sản xuất với các biến số phụ thuộc như là đầu tư ban đầu (diện tích ao, chi giống, đầu tư cố định, đầu tư

lưu động, doanh thu ) (Shang Yung C, 1990) Có thể minh họa như sau:

X1: Diện tích ao nuôi (ha)

X2: Đầu tư cố định ban đầu

X3: Đầu tư lưu động

Trên cơ sở lý thuyết phân tích các mối quan hệ giữa các yếu tố ban đầu (đầu vào) liên quan đến lợi nhuận (đầu ra) để đưa ra những giải pháp phù hợp với thực tiễn

Trang 26

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thông tin chung về các hộ được khảo sát

4.1.1 Tuổi chủ hộ

Số liệu điều tra ở bảng 4 cho thấy: Tuổi của các chủ hộ trong các mô hình chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi cá truyền thống trung bình 44 ± 7,89, thấp nhất 28 tuổi, lớn nhất 59 tuổi Mô hình chuyên nuôi cá giá trị kinh tế cao trung bình 39± 6,68, thấp nhất 23 tuổi, lớn nhất 50 tuổi

Nhìn chung, các chủ hộ có độ tuổi là lao động chính của hộ, không có

sự khác biệt đáng kể về tuổi chủ hộ ở 2 mô hình Độ tuổi phổ biến các chủ hộ đang là lao động chính trong hộ

Bảng 4: Độ tuổi trung bình của chủ hộ ở địa bàn nghiên cứu

Mô hình Số quan

sát

Trung bình

Độ lệch

Lớn nhất Phổ biến

Hình 1: Phân nhóm tuổi của người được phỏng vấn giữa 2 mô hình

Trang 27

4.1.2 Trình độ học vấn

Do trình độ văn hóa của các chủ hộ có liên quan đến việc lên kế hoạch, học hỏi kỹ thuật mới nên việc điều tra trình độ văn hóa của các chủ hộ là việc làm cần thiết Số liệu về trình độ văn hóa của các chủ hộ trrong vùng nghiên cứu được trình bày ở hình 2 Không có chủ hộ nào mù chữ, phổ biến là có trình độ THCS ( từ 48,89 đến 62,22%) Số hộ có trình độ Phổ thông trung học chiếm khoảng 1/3 Mô hình chuyên nuôi cá giá trị kinh tế cao có trình độ học vấn các chủ hộ cao nhất, số lượng đạt trình độ THPT là 35,56% Không có ai

có trình độ Đại học

Với trình độ chung chủ yếu học THCS, các chủ hộ có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật đơn giản áp dụng cho việc nuôi quy mô nông hộ nhỏ, tuy vậy sẽ hạn chế khi áp dụng cho vùng nuôi tập trung tạo hàng hoá lớn Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, cho dù trình độ khác nhau nhưng những chủ hộ đã qua tập huấn về kỹ thuật nuôi cá (hay được cung cấp tài liệu kỹ thuật) thường biết cách nuôi đạt được năng suất và thu lợi nhuận cao hơn Số liệu điều tra cũng phù hợp với nghiên cứu và nhận định của Nguyễn Xuân Cương, 2001

Hình 2: Cơ cấu trình độ văn hoá của chủ hộ (%)

Trang 28

4.1.3 Nghề chính

Theo đánh giá của những hộ được điều tra, ngành nghề chính của các

hộ gia đình trong vùng nghiên cứu được phân bổ như hình 3 Có thể thấy rằng, các xã thuộc huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang, tuy là huyện có trung tâm giống thủy sản cấp I của tỉnh đặt trên địa bàn và cũng là huyện có diện tích lớn về làm nông nghiệp, nghề chính của các nông hộ vẫn là trồng lúa, NTTS là nghề phụ 90% số hộ được hỏi cho biết nghề chính của họ là trồng lúa Kể cả ở mô hình chuyên nuôi cá giá trị kinh tế cao mang lại thu nhập cao hơn trồng lúa nhưng cũng được coi là nghề phụ (78,5%) Hầu hết những người được điều tra cho biết mặc dù nghề chính của họ là trồng trọt vì hoạt động sản xuất này cung cấp nguồn lương thực quanh năm cho toàn gia đình, nhưng nguồn thu tiền mặt từ trồng trọt không cao bằng các hoạt động khác như nuôi cá và chăn nuôi Một số hoạt động khác của người tham gia phỏng vấn như làm công ăn lương, giáo viên hoặc viên chức trong làng xã cũng

được nghi nhận nhưng số lượng này không nhiều (hình 3)

Hình 3: Tình hình nghề nghiệp của các hộ nông dân 2 mô hình nghiên cứu

Trang 29

4.1.4 Nhân khẩu và lao động của hộ

Số liệu điều tra ở bảng 5 cho thấy: Số nhân khẩu và lao động của hộ ở các mô hình dao động từ 1 - 9 người Ở mô hình nuôi cá truyền thống, số nhân khẩu đông nhất là 5 người chiếm 50%, ở mô hình nuôi cá có giá trị kinh tế cao

có 6% số hộ có 9 người, đây là những hộ có 3 thế hệ sống chung trong hộ

Hầu hết các hộ đã định cư trên 5 năm, là dân bản địa, trên 50% đã sống

ở địa bàn trên 20 năm Qua điều tra, ta thấy cần đưa ra vấn đề xem xét là phải tìm phương án sản xuất đa dạng và phù hợp để tận dụng hợp lí lao động chính

và phụ của khu vực này

Bảng 5: Nhân khẩu và lao động của hộ (%)

Để thấy rõ vai trò của phụ nữ trong các hộ gia đình ở mô hình NTTS, ta thấy tỷ lệ phụ nữ đảm đương trách nhiệm chủ hộ (bảng 6) Qua điều số liệu điều tra, tỷ lệ phụ nữ là chủ hộ thấp, chỉ chiếm 14,44% Giữa 2 mô hình, tỷ lệ này khác nhau không đáng kể (5,6 đến 8,9%) Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phân công lao động tham gia NTTS trong gia đình khá rõ ràng Nam giới đảm nhiệm những công việc mang tính trách nhiệm cao như đầu tư, trang thiết bị, con giống, đánh bắt Ngược lại, nữ giới chịu trách nhiệm chăm sóc cá hàng ngày như kiếm cỏ, cho cá ăn, tháo nước Từ đó có thể thấy rằng cần quan tâm tới lực lượng phụ nữ hơn, đặc biệt cần tạo điều kiện để họ có thể tham gia trực tiếp vào các khóa tập huấn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ nuôi trồng thủy sản, tiếp cận với các kỹ thuật phòng trừ dịch bệnh

Trang 30

Bảng 6: Tình hình giới tính đảm nhiệm vai trò trong NTTS

Chung 2 mô hình Mô hình 1 Mô hình 2

4.1.5 Nguồn vốn đầu tư canh tác

Qua điều tra số liệu bảng 7 cho thấy: 45 hộ được điều tra, có 40 hộ (88,89%) ở mô hình nuôi cá truyền thống và 23 hộ trong mô hình nuôi cá giá trị kinh tế cao (51,11%) cho rằng ngoài vốn tự có, các hộ chủ yếu sử dụng nguồn vốn vay từ ngân hàng, một số phải vay lãi tư thương Ngân hàng là nguồn vốn vay phổ biến ngoài vốn tự có Các hộ chủ yếu vay ưu đãi phát triển với lãi suất phổ biến 1,5%/tháng trong kỳ hạn 1 năm, là kỳ hạn phù hợp với

vụ chăn nuôi cá

Bảng 7: Cơ cấu sử dụng nguồn vốn đầu tư sản xuất của nông hộ (%)

hàng

Họ hàng hỗ trợ

Nguồn vay khác

Nguồn: Điều tra thực địa năm 2011

Trang 31

Kết quả tính toán qua điều tra và phân tích thống kê cho thấy hầu hết đều muốn được vay tiếp với hạn mức vay cao hơn, lãi suất thấp hơn để tiếp tục đầu tư trồng lúa kết hợp NTTS Ngân hàng cho vay bao gồm Ngân hàng NN&PTNT, Ngân hàng chính sách 100% số hộ trong mô hình nuôi cá có giá trị kinh tế cao và 90% hộ mô hình nuôi cá truyền thống mong muốn được vay vốn theo hình thức tín chấp, ưu đãi lãi suất để đầu tư sản xuất.

Người dân thấy được hiệu quả của mô hình và có sự đồng thuận cao về mong muốn phát triển thêm Hiện nay có đến gần 90% số hộ thấy rằng các

mô hình này đảm bảo được cho cuộc sống tương lai của họ và đây cũng là những hộ gia đình không có ý định chuyển nghề khác Đồng thời số hộ này cũng đồng ý rằng đời sống kinh tế của những người nuôi trồng thủy sản có phát triển và nghề NTTS đã làm tăng thu nhập cho cộng đồng

Qua điều tra về tình hình chuyển đổi tại huyện Lạng Giang cho thấy vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng và đối tượng nuôi là hoàn toàn phù hợp với điều kiện tự nhiên, thị trường và khả năng đầu tư, trình độ canh tác của người dân

4.1.6 Lý do chuyển sang NTTS

Qua điều tra bảng 8 cho thấy: Có nhiều lý do khiến các hộ chuyển từ trồng lúa đơn thuần sang kết hợp NTTS, chuyển đổi diện tích lúa kém hiệu quả sang chăn nuôi thuỷ sản, qua thống kê cho thấy cả 2 mô hình đều có sự chuyển đổi theo quy hoạch của chính quyền địa phương, nhưng mức độ khác nhau Nếu như ở mô hình kết hợp nuôi cá truyền thống, 28 hộ (62,22%) các

hộ được điều tra cho rằng chuyển đổi là theo quy hoạch, thì ở mô hình nuôi cá

có giá trị kinh tế cao, 45 hộ (100%) chọn lý do thấy tăng thu nhập và diện tích mặt nước sẵn có Điều này phù hợp vì lợi nhuận từ mô hình nuôi cá có giá trị kinh tế cao của một số hộ tự phát nuôi trước đó (ông Tuấn) đem lại hiệu quả kinh tế rất cao đã ảnh hưởng đến tâm lý nông hộ trong vùng

Trang 32

Bảng 8: Lý do chuyển đổi sang kết hợp NTTS (%)

Nuôi cá truyền thống Nuôi cá có giá trị

kinh tế cao

Lý do (nhiều lựa chọn)

Số hộ lựa chọn Tỷ lệ (%) Số hộ lựa chọn Tỷ lệ (%)

Nguồn: Điều tra thực địa năm 2011

4.1.7 Tham gia tổ chức sản xuất, NTTS

Ở cả 2 mô hình thuộc địa bàn 2 xã có phong trào chuyển đổi khá phát triển, nhiều hộ trong mô hình xen nuôi cá truyền thống xã Đại Lâm, Thái Đào huyện Lạng Giang tham gia và được sự hỗ trợ về giống của Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp phát triển thủy sản của tỉnh, hỗ trợ 40% con giống cho những người trong nhóm dự án, 60% các hộ trong mô hình nuôi cá có giá trị kinh tế cao Mặt khác trên địa bàn có cở sở sản xuất giống cấp 1 thuận tiện về mặt cung ứng con giống

Các huyện, thành phố cũng có một số chính sách phát triển thuỷ sản như hỗ trợ chuyển đổi ruộng trũng sang nuôi thuỷ sản, hỗ trợ xây dựng các

mô hình khuyến ngư nuôi các đối tượng thủy sản mới, có giá trị kinh tế cao

Hỗ trợ cho các vùng chuyển đổi theo quy hoạch là 15 triệu đồng/ha Các Dự án hỗ trợ hạ tầng 8 vùng nuôi thuỷ sản tập trung thực hiện từ năm 2002 - 2005 với diện tích đưa vào nuôi thuỷ sản 207 ha, tổng kinh phí

Trang 33

ngân sách Nhà nước hỗ trợ là 8,68 tỷ đồng Hiệu quả Dự án đã tạo ra các vùng nuôi thủy sản tập trung với năng suất nuôi đạt từ 10 tấn/ha trở lên như Nghĩa Trung - Việt Yên, Cao Thượng - Tân Yên, Tân Tiến - Bắc Giang và

Đại Lâm - Lạng Giang…(Sở NN&PTNT Bắc Giang, 2011)

4.2 Thông tin kinh tế - kỹ thuật canh tác

4.2.1 Mùa vụ

Kết quả điều tra thời gian thả giống ở 2 mô hình nuôi cá tại huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang (Hình 4) cho thấy, 30 hộ trên 45 hộ điều tra tại mô hình nuôi cá giá trị kinh tế (66,67%), 21 hộ tại mô hình nuôi cá truyền thống (46,66%) cho rằng thả giống vào tháng 3, 4, 5, nhưng tập chung mạnh nhất vào cuối tháng 3, đầu tháng 4 Điều này phù hợp với tình hình nuôi chung của toàn tỉnh, bởi đây là mùa mưa bắt đầu và cũng là mùa sinh sản của các loại cá, nên thuận lợi về nguồn nước và con giống trong khi nuôi

Hình 4: Thời gian thả giống của các hộ nuôi cá trong vùng nghiên cứu

Qua điều tra nghiên cứu các hộ gia đình ở 2 mô hình nuôi cá truyền thống và nuôi cá giá trị kinh tế cao tại huyện Lạng Giang, Bắc Giang thấy trên 90% các hộ ở mô hình nuôi cá truyền thống thả cá một lần trong năm, rất ít các hộ thả cá nhiều lần trong năm tùy theo giống thả, chế độ cho ăn và trình

Trang 34

độ kỹ thuật, khả năng chăm sóc của người nuôi Ở mô hình nuôi cá nuôi cá giá trị kinh tế cao 55,44% các hộ điều tra cho biết thả cá hai lần trong năm, 44,56% thả cá một vụ trên năm, tùy thuộc vao sự đầu tư chăm sóc, nguồn nước, chuẩn bị con giống của từng hộ (hình 5)

Hình 5: Số lần thả cá trong năm

4.2.2 Kinh nghiệm NTTS

Qua điều tra (hình 6) cho thấy: Hầu hết các hộ nuôi trồng thủy sản đều

có kinh nghiệm nuôi nhiều năm, đối với mô hình nuôi cá truyền thống, các loại cá truyền thống đã được nuôi tại địa phương từ nhiều năm, do vậy các hộ đều có kinh nghiệm nuôi từ 5 - 10 năm (64%) kinh nghiệm trung bình 5,8 năm Kinh nghiệm chủ hộ như trên là do quá trình chuyển đổi nuôi cá truyền thống dù mới diễn ra rầm rộ từ khoảng 5 - 7 năm trở lại đây, năm 2001 sau khi có Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về một

số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp nhưng việc các hộ tự phát nuôi kết hợp đã có từ nhiều năm trước Đối với mô hình canh tác quảng canh, yêu cầu về kỹ thuật nuôi cũng không cao Các hộ có kinh nghiệm nuôi như vậy có thể đáp ứng được yêu cầu thực tế

Trang 35

Năm 2003 mới bắt đầu chuyển đổi, năm 2004 mới có 1 hộ nuôi thí điểm, đến năm 2005 phong trào chuyển đổi mới diễn ra mạnh và Câu lạc bộ, hợp tác xã nuôi, nuôi cá có giá trị kinh tế cao được thành lập, đến năm 2008 phong trào nuôi cá giá trị kinh tế mới phát triển mạnh mẽ

Qua điều tra tại vùng nuôi 100% hộ được điều tra trong mô hình nuôi

cá có giá trị kinh tế cao kinh nghiệm nuôi dưới 5 năm, với kinh nghiệm nuôi trung bình của các hộ là 4 năm Chủ yếu các hộ mới nuôi từ 1 - 3 năm do quá trình chuyển đổi diễn ra muộn và sự nhận thức, tiếp cận khoa học kỹ thuật của người dân trong nuôi trồng thủy sản tại Bắc Giang (Hình 6)

Hình 6: Tỷ lệ hộ nuôi theo số năm kinh nghiệm nuôi

4.2.3 Mô tả về thiết kế và kỹ thuật

4.2.3.1 Diện tích nuôi

Theo số liệu điều tra tại khu vục nghiên cứu: Diện tích nuôi của các hộ trong các mô hình chuyển đổi từ trồng lúa kém hiệu quả sang NTTS trung bình 0,7 ha/hộ, diện tích lớn nhất 1,4 ha, diện tích nhỏ nhất 0,2 ha Khảo sát cho thấy diện tích nuôi cá truyền thống trung bình là 0,7 ha ± 0,27, cao hơn

mô hình nuôi cá có giá trị kinh tế cao trung bình là 0,50 ± 0,16 ha Tuy nhiên với diện tích như vậy đều đảm bảo cho việc nuôi thả cá

Trang 36

Bảng 9: Diện tích nuôi trung bình của hộ ở địa bàn nghiên cứu

ĐVT: ha

Mô hình

Số quan sát

Trung bình

Độ lệch chuẩn

Nhỏ nhất

Lớn nhất

Phổ biến Nuôi cá truyền thống 45 0,70 0,27 0,20 1,40 0,70 Nuôi cá có giá trị

kinh tế cao 45 0,50 0,16 0,20 0,90 0,40

Nhìn chung, có sự chênh lệch về diện tích canh tác giữa các hộ mô hình nuôi cá truyền thống và mô hình nuôi cá giá trị kinh tế cao

4.2.3.2.Đối tượng nuôi, mật độ thả

Qua điều tra cho thấy: Các đối tượng nuôi chủ yếu của tỉnh Bắc Giang hiên nay là các đối tượng cá truyền thống Chép lai, Trắm cỏ, Trắm đen, Chim trắng, Rô phi, Mè trắng, Mè hoa, Trôi Mrigal, Trôi Ấn Độ, Trôi Trường Giang Các đối tượng cá có giá trị kinh tế cao tại địa điểm điều tra là: cá rô phi đơn tính

Cá được nuôi theo phương thức quảng canh, nuôi ghép, mật độ thả thưa, thường từ 2 - 3 con/m2 tuỳ đối tượng Theo Nguyễn Duy Khoát, 2005 cũng thấy rằng tỷ lệ nuôi này phù hợp với mật độ nuôi cá truyền thống (nuôi ghép), Thực tế qua điều tra, thấy một số hộ có thể thả lên đến 5 – 10 con/m2, năng suất trung bình đạt 3,5 tấn/ha

Mô hình nuôi cá có giá trị kinh tế cao nuôi theo phương thức bán thâm canh được đầu tư khá nhiều, sử dụng thức ăn công nghiệp và thức ăn tự chế, các phụ phẩm có sẵn, có dùng thuốc bổ, thuốc diệt tạp, chế phẩm sinh học Mật độ thả trung bình nuôi rô phi 2 – 3 con/m2, phù hợp với nghiên cứu (Viện Nghiên cứu Thủy sản I, 2000),năng suất trung bình đạt 10 tấn/ha

Trang 37

4.2.3.3 Thiết kế và độ sâu mô hình

Theo kết quả điều tra cho thấy, diện tích sau khi chuyển đổi từ đất kém hiệu quả sang nuôi cá ở các mô hình nhỏ nhất là 0,2 ha, lớn nhất là 1,4 ha Độ sâu ao nuôi cũng rất đa dạng, trung bình ở mức từ 1,2-1,5m chiếm 71,2% tùy thuộc vào đầu tư ban đầu, độ sâu của ao nuôi tương đối phù hợp cho nuôi cá, phù hợp với việc nuôi cá ao Kết quả trên cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Huy Điền, 2007

Đầu tư XDCB: Trước chuyển đổi, diện tích ruộng được trồng lúa 1 vụ không ăn chắc đã có từ lâu đời nên không có sự đầu tư XDCB Khi chuyển đổi sang mô hình nuôi trồng thủy sản, các hộ phải đào mương, múc thành ao,

kè bờ ao, xây cống và mua sắm các dụng cụ như máy bơm, thuyền, lưới, … Trung bình hộ nuôi phải đầu tư khoảng 16,789 triệu đồng/ha, hộ đầu tư thấp nhất là 10,500 triệu đồng/ha, hộ đầu tư cao nhất là 23,143 triệu đồng/ha

Tại Bắc Giang các hộ nuôi với mô hình nuôi quy mô nhỏ lẻ, manh mún, chủ yếu là tự phát NTTS chỉ là phụ, canh tác vẫn còn đơn giản, phương thức quảng canh cải tiến, nhất là bán thâm canh các thiết bị phục vụ NTTS yêu cầu đầu tư lớn nhưng các hộ nuôi vẫn chưa chú trọng

Thiết bị cho ao nuôi ở các mô hình đều khá đơn giản, trong mô hình nuôi cá truyền thống, nuôi cá giá trị kinh tế các chủ yếu các hộ đầu tư thiết bị quan trọng nhất là máy bơm nước, còn các thiết bị như lưới kéo cá, thuyền đánh cá phần lớn các hộ không đầu tư mà mượn của nhau để dùng khi cần thiết 90% hộ cho rằng thiết bị NTTS đã đủ, không cần đầu tư thêm (do vốn canh tác còn hạn chế)

4.2.3.4 Nguồn nước cấp, cải tạo ao, xử lý nước cấp thoát, gây màu, sử dụng thuốc

Qua điều tra cho thấy, các hộ đều không có ao xử lý nước cấp và nước thải Nguồn nước cấp và thải của ao nuôi đều từ kênh dẫn nước, không có hệ thống kênh cấp, kênh thải riêng biệt do đây là vùng nuôi quy mô nông hộ,

Trang 38

không phải vùng nuôi tập trung, sử dụng kênh cấp nước tưới tiêu cho nông nghiệp, chưa được đầu tư NTTS tập trung, sản xuất hàng hoá lớn

Nước cấp và nước thải được dẫn vào ra thẳng ao đến kênh, qua cống cấp và thoát nước chung Đây là hệ thống phổ biến ở nuôi NTTS nước ngọt tại tỉnh Bắc Giang

Chỉ có 5% cho rằng ao nuôi gần tác nhân gây ô nhiễm có thể ảnh hưởng tới hiệu quả NTTS Nguồn ô nhiễm là nước thải nông nghiệp, nước thải của các hộ nuôi thâm canh, khu dân cư

100% các hộ có cải tạo ao nuôi bằng cách nạo vét lớp bùn đáy sau mỗi

vụ nuôi, độ dày bùn từ 15 - 20cm Đối với mô hình nuôi cá giá trị kinh tế thường bón vôi và phơi đáy ao Ao nuôi được bón phân gây màu nước, đảm bảo cho các loài sinh vật phù du có lợi phát triển Vôi cũng được sử dụng tạt định kỳ để ổn định pH nước Chỉ có 40% sử dụng chế phẩm sinh học (theo điều tra thực tế năm 2011)

4.2.3.5 Tiếp cận kỹ thuật nuôi qua tài liệu, tập huấn

NTTS hiệu quả đỏi hòi kinh nghiệm người nuôi, đồng thời phải tiếp cận khoa học kỹ thuật mới thông qua tài liệu, sách báo và các buổi tập huấn 100% hộ cho rằng tập huấn kỹ thuật NTTS là quan trọng đối với mô hình nuôi cá giá trị kinh tế

Kết quả phân tích thống kê cho thấy kỹ thuật NTTS của các hộ chuyển NTTS cả 2 mô hình chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, một số cho biết học hỏi kỹ thuật NTTS từ các nông hộ khác, nghe qua các phương tiện thông tin đại chúng, đọc sách báo về NTTS Số lượng được tập huấn kỹ thuật NTTS chiếm

tỷ lệ không cao, ở hai mô hình số lượng tập huấn của các hộ gần như tương đương nhau, mô hình có số lượng tập huấn cao là mô hình nuôi cá truyền thống là 51,1% Chỉ có 48,9% hộ nuôi cá giá trị kinh tế được tập kỹ thuật nuôi phải có minh chứng bằng số lượng các mẫu điều tra (bảng 10)

Trang 39

là lợi thế phát triển trong tương lai

4.2.5 Thị trường đầu vào, đầu ra, xuất khẩu (nhiều lựa chọn)

Kết quả điều tra (bảng 11) và phân tích thống kê cho thấy thị trường đầu vào phục vụ sản xuất và đầu ra hầu hết đều tại địa phương 80% số hộ mua con giống, thức ăn của những người bán buôn tại địa phương Có 50% số hộ mua giống của Trung tâm giống Thuỷ sản cấp 1, 20% mua giống của tại Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, Từ Sơn – Bắc Ninh Các hộ hài lòng với thị trường đầu vào vì theo nguyên tắc “thuận mua, vừa bán”, không bị ép giá

Hầu hết đều cho rằng bị lái buôn ép giá khi bán sản phẩm Sản phẩm 100% được tiêu thụ nội địa, không có sản phẩm cho xuất khẩu Tuy vậy, giá của một số đối tượng những năm gần đây ở mức cao do chất lượng ngon, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng trong nước

Trang 40

Bảng 11 Tỷ lệ (%) các hộ mua giống để nuôi thủy sản

Số hộ mua giống tại trong tỉnh

Mô hình

Mua tại chỗ Mua tại trại giống

Số hộ mua giống ngoài tỉnh

4.3 Phân tích hiệu quả kinh tế

Chi phí cố định bao gồm chi phí khấu hao đầu tư xây dựng cơ bản (các công trình, tài sản cố định, vật dụng, công việc có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên), mua thuê đất, đào đắp và khấu hao từ 3 – 5 năm Nghiên cứu không tính công lao động gia đình vào trong hoạt động nuôi trồng thủy sản vào chi phí lưu động Bao gồm các khoản chi: Giống, phân bón, thức ăn, thuốc và hoá chất, vôi, nhiên liệu, lãi vay, trang thiết bị rẻ tiền, công lao động thuê ngoài, chi khác

Thu nhập trong nghiên cứu là lợi nhuận được tính từ tổng doanh thu từ NTTS trừ các chi phí lưu động (triệu đồng/ha/năm)

4.3.1 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi cá truyền thống

4.3.1.1 Chi phí đầu tư cố định

Chủ yếu là chi phí mua máy bơm nước, được tính mức khấu hao 5 năm

và chi phí đào đắp mức khấu hao 2 - 3 năm tuỳ hộ Chi phí cố định sau chuyển đổi trung bình 1,200±0,561 triệu đồng/ha/năm, trước chuyển đổi trung bình là 1,200±0,086 triệu đồng/ha/năm

Bảng 12: Chi phí đầu tư cố định mô hình nuôi cá truyền thống

ĐVT: Triệu đồng/ha/năm

Độ lệch chuẩn Nhỏ nhất Lớn nhất

Ngày đăng: 13/11/2015, 18:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Sản lượng nuôi và chuyển đổi sang NTTS - Đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện lạng giang tỉnh bắc giang
Bảng 2 Sản lượng nuôi và chuyển đổi sang NTTS (Trang 21)
Bảng 1: Diện tích nuôi và chuyển đổi sang NTTS - Đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện lạng giang tỉnh bắc giang
Bảng 1 Diện tích nuôi và chuyển đổi sang NTTS (Trang 21)
Bảng 4: Độ tuổi trung bình của chủ hộ ở địa bàn nghiên cứu - Đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện lạng giang tỉnh bắc giang
Bảng 4 Độ tuổi trung bình của chủ hộ ở địa bàn nghiên cứu (Trang 26)
Hình 2: Cơ cấu trình độ văn hoá của chủ hộ (%) - Đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện lạng giang tỉnh bắc giang
Hình 2 Cơ cấu trình độ văn hoá của chủ hộ (%) (Trang 27)
Bảng 8: Lý do chuyển đổi sang kết hợp NTTS (%) - Đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện lạng giang tỉnh bắc giang
Bảng 8 Lý do chuyển đổi sang kết hợp NTTS (%) (Trang 32)
Hình 4: Thời gian thả giống của các hộ nuôi cá trong vùng nghiên cứu - Đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện lạng giang tỉnh bắc giang
Hình 4 Thời gian thả giống của các hộ nuôi cá trong vùng nghiên cứu (Trang 33)
Hình 5: Số lần thả cá trong năm - Đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện lạng giang tỉnh bắc giang
Hình 5 Số lần thả cá trong năm (Trang 34)
Hình 6: Tỷ lệ hộ nuôi theo số năm kinh nghiệm nuôi - Đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện lạng giang tỉnh bắc giang
Hình 6 Tỷ lệ hộ nuôi theo số năm kinh nghiệm nuôi (Trang 35)
Bảng 9: Diện tích nuôi trung bình của hộ ở địa bàn nghiên cứu - Đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện lạng giang tỉnh bắc giang
Bảng 9 Diện tích nuôi trung bình của hộ ở địa bàn nghiên cứu (Trang 36)
Bảng 10: Tỷ lệ hộ được tập huấn NTTS (%) - Đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện lạng giang tỉnh bắc giang
Bảng 10 Tỷ lệ hộ được tập huấn NTTS (%) (Trang 39)
Hình 7: Đầu tư lưu động sau chuyển đổi của 2 mô hình - Đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện lạng giang tỉnh bắc giang
Hình 7 Đầu tư lưu động sau chuyển đổi của 2 mô hình (Trang 47)
Phụ lục 1: Bảng thống kê các chỉ tiêu chung của mô hình nuôi cá truyền thống - Đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện lạng giang tỉnh bắc giang
h ụ lục 1: Bảng thống kê các chỉ tiêu chung của mô hình nuôi cá truyền thống (Trang 71)
Phụ lục 2: Bảng thống kê các chỉ tiêu chung của mô hình nuôi cá giá trị kinh tế - Đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản tại huyện lạng giang tỉnh bắc giang
h ụ lục 2: Bảng thống kê các chỉ tiêu chung của mô hình nuôi cá giá trị kinh tế (Trang 72)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w