Sự gia tăng về số lượng người khai thác và ngư cụ khai thác đang gây tác động lớn đến nguồn lợi thủy sản ở đây.. Nghề khai thác lỗng bẫy đã đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN XUÂN HÒA
TÌM HIỂU NGHỀ KHAI THÁC BẰNG LỒNG BẪY
Ở ĐẦM THỊ TƯỜNG, TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGUỒN LỢI THỦY SẢN
2014 TÌM HIỂU NGHỀ KHAI THÁC BẰNG LỒNG BẪY
Trang 2Ở ĐẦM THỊ TƯỜNG, TỈNH CÀ MAU
Nguyễn Xuân Hòa Khoa Thủy Sản – Trường đại học Cần Thơ
ABSTRACT
The study on fishing craft by traps in Thi Tuong lagoon, Ca Mau province" has conducted from August 2014 to December 2014 in Phu Tan district, Ca Mau province The data were directly interviewed 45 households, including 22 small-scale fishing households (below 60 gears) and 23 large-scale fishing households (from 60 gears and above) The results showed that this career has just developed for 10 years back, the operators’ education level is secondary school downwards The job is done throughout the year, the average output per fishing equipment is 0,14 kg/gear/tour The average cost is 25,70±4,20 million/year Average profit is 46,30±11,28 million/year Profession faces many difficulties in exploiting due to weather conditions, burglar and resource decline The increase in the number of operators and fishing equipment is greatly affecting fisheries resources here Finishing craft by traps has brought a significant source of income for the people, however, overfishing is making an impact on fisheries resources Therefore, we need to improve the management and dissemination in localities to maintain and get more income for the people
Keywords: Thi Tuong lagoon, cage traps, financial, fisheries resources
TÓM TẮT
Đề tài “Tìm hiểu nghề khai thác bằng lồng bẫy ở đầm Thị Tường, tỉnh Cà Mau” đã được thực hiện từ tháng 08/2014 đến tháng 12/2014 tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau
Đề tài phỏng vấn trực tiếp 45 hộ tham gia khai thác lồng bẫy, trong đó có 22 hộ khai
thác quy mô nhỏ (dưới 60 ngư cụ) và 23 hộ khai thác quy mô lớn (từ 60 ngư cụ trở lên) Kết quả cho thấy nghề lồng bẫy mới xuất hiện khoảng 10 năm trở lại đây, người khai thác có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở xuống Nghề khai thác lồng bẫy đánh bắt quanh năm, sản lượng trung bình mỗi ngư cụ đánh bắt được là 0,14 kg/ngư cụ/chuyến khai thác Chi phí trung bình của nghề lồng bẫy là 25,70±4,20 triệu đồng/năm Lợi nhuận trung bình của nghề là 46,30±11,28 triệu đồng/năm Nghề còn gặp nhiều khó khăn trong khai thác do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, trộm cắp, nguồn lợi suy giảm
Sự gia tăng về số lượng người khai thác và ngư cụ khai thác đang gây tác động lớn đến nguồn lợi thủy sản ở đây Nghề khai thác lỗng bẫy đã đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân nhưng việc khai thác quá mức đang gây tác động đến nguồn lợi thủy sản Cần nâng cao công tác quản lý và tuyên truyền của địa phương nhằm duy trì nghề tạo nguồn thu nhập cho người dân
Trang 3Từ khóa: đầm Thị Tường, lồng bẫy, tài chính, nguồn lợi thủy sản
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nghề khai thác thủy sản nội đồng trong các đầm, phá, kênh, rạch, ao ruộng…từ lâu đã rất phổ biến và giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển nghề cá Tuy nhiên, trong những năm gần đây, sản lượng khai thác nội đồng có sự biến động và có dấu hiệu giảm do việc khai thác bừa bãi, không có tổ chức cũng như việc tăng nhanh về số lượng các hộ tham gia khai thác Việc sử dụng các ngư cụ khai thác bị cấm như: điện, thuốc nổ, thuốc độc trong khai thác gây ảnh hưởng nghiên trọng đến nguồn lợi thủy sản
Cà Mau là một tỉnh thuộc ĐBSCL có diện tích rộng lớn và hệ thống sông ngòi chằng chịt Cà Mau có nguồn lợi thủy sản phong phú và đa dạng về thành phần giống loài phân bố ở các thủy vực thủy sản khác nhau bao gồm: 179 loài cá thuộc 125 giống,
56 họ và 17 bộ (Nguyễn Hồng Nhung và Nguyễn Hữu Dực, 2005) Cà Mau có trữ lượng thủy sản 530.000 tấn với 661 loài 319 giống, 138 họ bao gồm nhiều loài có giá trị như:
cá chim, cá thu, cá hồng, cá đường, mực, sò huyết, cua biển, tôm sú, tôm thẻ, tôm sắt (Hà Phước Hùng, 2005) cung cấp nguồn thủy sản quan trọng góp phần cải thiện đời sống cho người dân
Đầm Thị Tường là một trong những đầm nước tự nhiên có diện tích lớn nhất vùng ĐBSCL Với diện tích mặt nước khoảng 700 ha, chiều dài hơn 10 km là nơi cư trú, sinh sản và phát triển của nhiều giống loài thủy sản nước lợ có giá trị kinh tế cao (tôm đất, tôm thẻ, tôm sú, cá đối, cá chẽm, cá hồng, cá bống, sò huyết) từ lâu đã là nơi khai thác thủy sản quan trọng đối với các hộ dân sống xung quanh cung cấp nguồn lợi thủy sản phong phú, góp phần vào việc cải thiện đời sống kinh tế, là nguồn sinh kế quan trọng trong đời sống của các người dân ở nơi đây
Nghề khai thác thủy sản bằng lồng bẫy ở đầm Thị Tường là nghề khai thác mới, xuất hiện khoảng 10 năm trở lại đây Với đặc điểm dễ sử dụng không đòi hỏi kỹ thuật trong quá trình khai thác nên được ưu chuộng và đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân Tuy nhiên, việc khai thác bừa bãi và không có sự kiểm soát cũng như quản lý của địa phương có thể làm ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản trong đầm Cùng với đó sự tăng lên nhanh chóng về số lượng người cũng như số lượng ngư cụ khai thác đang gây tác động đến nguồn lợi thủy sản ở đây cho nên đề tài nghiên cứu “Tìm hiểu nghề khai thác bằng lồng bẫy ở đầm Thị Tường, tỉnh Cà Mau” được thực hiện nhằm mục tiêu tìm hiểu, đánh giá những hiệu quả của nghề mang lại cũng như tác động của nghề đối với nguồn lợi thủy sản nhằm đưa ra các giải pháp hợp lý để giải quyết
Trang 42 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện gồm các nội dung sau:
– Đánh giá hiệu quả tài chính của nghề khai thác lồng bẩy
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đã được thực hiện từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014 thông qua bảng câu hỏi (được thiết kế và hiệu chỉnh sau khi phỏng vấn thử) để phỏng vấn trực tiếp
45 hộ khai thác thủy sản bằng lồng bẫy sống xung quanh đầm Thị Tường huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Việc mô tả hiện trạng cũng như phân tích các chỉ tiêu tài chính và khó khăn, được thực hiện và so sánh giữa 2 quy mô hộ khai thác là nhỏ (nhỏ hơn 60 ngư cụ)
và lớn (từ 60 ngư cụ trở lên) Số liệu thu được từ việc phỏng vấn được kiểm tra, chỉnh sửa và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2010 Các giá trị trung bình, max, min, độ lệch chuẩn được tính toán và mô tả Kết hợp với phần mềm Microsoft Word 2010 để viết báo cáo
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Mô tả nghề khai thác thủy sản bằng lồng bẫy ở đầm Thị Tường
Nghề khai thác thủy sản bằng lồng bẫy ở đầm Thị Tường là nghề khai thác mới, xuất hiện khoảng 10 năm trở lại đây Các hộ khai thác chủ yếu là người dân sống quanh đầm
Về trình độ học vấn, các lao động trong nghề có trình độ học vấn chủ yếu là tiểu học (65,6%), mù chữ (14,0%) và trung học cơ sở (20,4%) không có trình độ trung học phổ thông và cao hơn Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Văn Kháng (2011) về nguồn nhân lực lao động với 55,2% là trình độ tiểu học và 34,5% là trình độ trung học cơ sở Có thể thấy trình độ học vấn của ngư dân khai thác còn thấp Việc trình
độ học vấn thấp có thể ảnh hưởng đến nhận thức của ngư dân trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản.Vì vậy, cơ quan chức năng cần có những chính sách nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong việc khai thác và bảo tồn nguồn lợi thủy sản
Về lực lượng lao động, mỗi hộ khai thác có từ 1 đến 3 lao động tham gia khai thác chủ yếu là các thành viên trong gia đình Những lao động tham gia nghề khai thác bằng lồng bẫy có độ tuổi trong khoảng 25 đến 62 tuổi, một số hộ đã có kinh nghiệm khai thác thủy sản bằng lú Kinh nghiệm trung bình trong nghề khai thác bằng lồng bẫy của
Trang 5các hộ là 5±1,4 năm (Bảng 1) Kết quả cho thấy kinh nghiệm trong nghề lồng bẫy của ngư dân không cao vì đây là nghề khai thác mới
Bảng 1: Một số thông tin khai thác
Về kết cấu ngư cụ, hầu hết kích thước mắt lưới được sử dụng ở đây là 2 cm Chiều dài trung bình của 1 lồng bẫy là 8 m (dài nhất là 12 m ngắn nhất là 6 m), bề ngang khoảng 30 cm và cao khoảng 30 cm (Bảng 1) Ở giữa lồng bẫy có sử dụng các khung sắt hình vuông hoặc hình chữ nhật để giữ cho lồng bẫy đứng trong quá trình khai thác Giữa các khung có bố trí hom để cho đối tượng khai thác di chuyển vào
Về quy mô vốn đầu tư, nghề khai thác bằng lồng bẫy có vốn đầu tư cao hơn so với các nghề khai thác khác ở đây Trung bình giá 1 lồng bẫy là 240.000/cái (cao nhất là 300.000/cái, thấp nhất là 190.000/cái) cao gấp 4 lần 1 cái lú (70.000/cái) Trung bình mỗi hộ có khoảng 59 ngư cụ, thấp nhất là 40 ngư cụ và cao nhất là 80 ngư cụ Ở các hộ khai thác với số lượng ngư cụ ít (dưới 60 cái) hầu hết đều có làm thêm một số nghề khác như: làm vuông, chăn nuôi, trồng trọt để tăng thêm thu nhập
Các thông tin khai thác
Số lượng lao động
Kinh nghiệm
Độ tuổi
Chiều dài ngư cụ
Chiều cao ngư cụ
Chiều rộng ngư cụ
Số lượng ngư cụ sử dụng
1-3 người 5±1,4 năm 25-62 tuổi
8 m 0,3 m 0,3 m 40-80 cái
Hình 1: Ngư cụ khai thác lồng bẫy
Trang 63.2 Sản lượng đánh bắt, loài đánh bắt được và thời gian xuất hiện
Sản lượng khai thác khác nhau tùy theo số lượng ngư cụ sử dụng Sản lượng trung bình trong mỗi chuyến khai thác là 8,3±1,62 kg/chuyến Trung bình mỗi ngư cụ khai thác được 0,14±0,03 kg sản phẩm trong một chuyến khai thác Sản lượng khai thác của 1 ngư cụ/chuyến thấp hơn so với sản lượng khai thác bằng lú trong nghiên cứu của Nguyễn Tiền Phương (2011) là 0,2-0,5 kg/ngư cụ/chuyến Sản lượng khai thác cao vào
mùa lũ và cao nhất vào tháng 9 âm lịch
Các loài đánh bắt được gồm nhiều loài khác nhau như: tôm đất, tôm thẻ, tép bạc, tôm chì, tôm sú, bống mú, cá ngát, cá đối, cua biển, ghẹ, cá nâu, cá cam, cá nục… nhưng chủ yếu là các loại tôm (Bảng 2)
Bảng 2: Một số loài khai thác phổ biến ở đầm Thị Tường
(Nguồn: FAO)
Sản lượng các loài tôm đánh bắt được chiếm tỷ lệ cao nhất là 45% gồm các loài
có giá trị kinh tế như: tôm đất, tép bạc, tôm thẻ… tiếp theo là các loài cá như: cá nâu, cá ngát, cá cam…chiếm 38%, cua chiếm 10% các loài khác như ghẹ, ghẹm… chiếm 7% (Hình 2) Có thể thấy đối tượng đánh bắt của nghề lồng bẫy khác đa dạng và phong phú Tuy nhiên, chỉ có một số loài có giá trị kinh tế cao như tôm, cua…đây là đối tượng mong muốn đánh bắt được của ngư dân
Tôm Đất
Tôm Thẻ
Tôm Sú
Tôm Chì
Tôm Bạc
Cua
Cá Bống Mú
Cá Đối
Cá Nâu
Cá Cam
Cá Nục
Cá Kèo
Cá Chay
Cá Bống Xệ
Cá Lưỡi Trâu
Cá Vồ Chó
Metapenaeus ensis Penaeus vannamei Panaeus monodon Metapenaeus affinis Panaeus merguiensis
Scylla serrata Gobio gobio Mugil cephalus Scatophagus argas Naucrates ductor Decapterus macrosoma Pseudapocryptes elongates Platycephalus indicus Oxyurichthys microlepis Cynoglossus microlepis Tachysurus sagor
Trang 7Cua và tôm là 2 loài có giá tr
tổng giá trị thì cao hơn khi so sánh v
thác Các loài cá khai thác
giá không cao vì thường gom chung l
Hình 3: Cơ c
Về thời gian xuấ
như tôm đất, tôm thẻ, tép b
nhất vào mùa lũ vào kho
cũng có sản lượng cao vào
lượng các loài giảm dần sau khi l
loài như ghẹ, ghẹm cũng đ
quan tâm về mùa vụ xuấ
Cá 38%
Cua 10%
tôm, 56%
Hình 2: Cơ c
Cua và tôm là 2 loài có giá trị cao, chính vì thế mà tỷ trọng các loài này trong
ơn khi so sánh với tỷ trọng của chúng trong tổng s thác Các loài cá khai thác được gồm nhiều loài khác nhau với khối lượng m
ng gom chung lại bán với nhau (Hình 3)
ơ cấu tổng giá trị khai thác theo loài của nghề lồng b
ất hiện, thời gian xuất hiện của các loài có sự khác nhau Các loài , tép bạc, của biển… xuất hiện hầu như quanh nă
ào khoảng tháng 9 âm lịch Các loài cá như: cá cam, cá n
ng cao vào các tháng mùa lũ (từ tháng 8 đến tháng 10 âm l
n sau khi lũ rút và ít nhất vào tháng 2 âm lịch nă ũng được người dân đánh bắt nhưng giá trị không cao nên ít
ất hiện
Tôm 45%
Cua 10%
Khác 7%
Cua, 15%
khác, 3%
ơ cấu sản lượng khai thác theo loài của nghề lồng
ng các loài này trong
ng sản lượng khai
ng mỗi loại ít nên
ng bẫy khác nhau Các loài quanh năm, nhưng nhiều : cá cam, cá nục, cá ngát… áng 10 âm lịch) Sản
ch năm sau Một số không cao nên ít được
cá, 26%
ng bẫy
Trang 83.3 Hiệu quả tài chính của nghề khai thác bằng lồng bẫy
3.3.1 Giá bán và hình thức tiêu thụ
Về giá bán, giá bán các loại thủy sản biến động qua các tháng và phụ thuộc vào nguồn cung Vào các tháng mùa lũ sản lượng thủy sản đánh bắt cao, nguồn cung dồi dào nên giá trị thấp, giá bán có xu hướng giảm Vào mùa khô sản lượng đánh bắt ít, nguồn cung khan hiếm nên giá bán cao và thường cao nhất vào khoảng tháng 1 âm lịch khi nhu cầu tiêu thụ thủy sản rất lớn để phục vụ cho dịp lễ tết Kết quả phù hợp với nhận định của Phạm Thị Phong Lan (2013) là giá bán bình quân tương quan tỷ lệ nghịch với sản lượng, nghĩa là khi giá bán càng cao thì sản lượng càng thấp và ngược lại là khi sản lượng nhiều làm giá bán giảm
Về hình thức tiêu thụ sản phẩm, sản phẩm sau mỗi chuyến khai được tiêu thụ chủ yếu bằng hình thức bán cho người thu gom tại nhà Một số ít giữ lại một phần nhỏ để tiêu thụ trong gia đình số còn lại thì bán hết cho thương lái không sử dụng sản phẩm
khai thác vì việc sử dụng làm giảm thu nhập của họ
3.3.2 Chi phí, lợi nhuận và doanh thu
Chi phí, doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động khai thác bằng lồng bẫy có sự khác nhau tùy vào mức độ đầu tư lớn hay nhỏ
Về chi phí khai thác, tổng chi phí cố định và tổng chi phí biến đổi của nghề khai thác bằng lồng bẫy xấp xỉ nhau ở cả 2 quy mô (Bảng 3) Ở quy mô nhỏ chi phí cố định chiếm 48,24% trong tổng chi phí khai thác, chi phí biến đổi chiếm 51,76% trong tổng số
Ở quy mô lớn, chi phí cố định là 53,53% và chi phí biến đổi là 46,47% Ở cả 2 quy mô, chi phí thực phẩm để sử dụng trong quá trình khai thác chiếm tỷ lệ cao nhất, chi phí này phụ thuộc vào số lao động tham gia khai thác, ở quy mô lớn số lượng lao động tham gia khai thác nhiều nên chi phí thực phẩm cao hơn so với quy mô nhỏ Tiếp theo đó là chi
Bảng 3: Chi phí biến đổi và chi phí cố định của nghề
Đơn vị Triệu
đồng
đồng
đồng
(%)
Chi phí cố định
Thuế
Ngư cụ
Mặt bằng
10,72 1,00 5,67 4,05
48,24 4,50 25,52 18,22
15,53 1,00 8,48 6,05
53,53 3,45 29,24 20,85
13,19 1,00 7,11 5,08
51,32 3,89 27,67 19,77 Chi phí biến đổi
Chi phí sữa chữa
Thực phẩm
Xăng dầu
11,5 0,57 7,93 3,00
51,76 2,57 35,69 13,50
13,47 0,84 9,63 3,00
46,47 2,91 33,21 10,34
12,51 0,71 8,8 3,00
48,68 2,76 34,24 11,67
Trang 9phí ngư cụ và chi phí chi tr
chữa ngư cụ chiếm tỷ lệ
Chi phí đầu tư trung b
đó, chi phí đầu tư trung b
lần so với quy mô đầu tư
chi phí đầu tư thấp vì là ngh
như các loại máy hỗ trợ
Bảng 4: Chi phí, thu nhậ
Thu nhập của ngh
đánh bắt được nên thu nh
bình của nghề là 72,00±14,90
60,05±6,80 triệu đồng/nă
(Bảng 4) Thu nhập của các h
hơn Thu nhập trung bình c
đồng/năm Nhìn chung ngu
cao đời sống của ngư dân khai thác
Lợi nhuận phụ thu
bắt nhiều Kết quả điều tra cho th
46,30±11,28 triệu đồng/nă
đồng/năm, quy mô nhỏ
ngư cụ đánh bắt nhiều nên l
Ngư cụ 27,67%
Mặt bằng 19,77%
Hình 4
Chi phí
Thu nhập
Lợi nhuận
và chi phí chi trả cho việc sử dụng mặt bằng Số tiền chi tr
ệ thấp nhất vì ngư cụ ít bị hư tổn (Hình 4)
ư trung bình của cả 2 quy mô là 25,70±4,20 triệu đ
ư trung bình của quy mô lớn là 29,01±2,72 triệu đồng/nă
u tư nhỏ (22,22±2,17 triệu đồng/năm) (Bảng 4) Ngh
là nghề khai thác thủ công không cần trang bị tàu khai thác c khai thác khác
ập, lợi nhuận nghề lồng bẫy Đ
a nghề lồng bẫy phụ thuộc vào sản lượng đánh bắt và giá tr
c nên thu nhập có sự khác nhau giữa các hộ khai thác Tổng thu nh
là 72,00±14,90 triệu đồng/năm Thu nhập trung bình củ ng/năm thấp hơn so với quy mô lớn là 83,43±10,10 tri
a các hộ đầu tư với quy mô lớn cao hơn là vì đầu tư
p trung bình của mỗi lao động tham gia khai thác là 42,62±12,64 tri
ìn chung nguồn thu nhập từ nghề lồng bẫy khá cao, giúp c
ư dân khai thác
thuộc vào chi phí và doanh thu Lợi nhuận cao khi s
u tra cho thấy, lợi nhuận trung bình của nghề khai thác l ng/năm Trong đó, quy mô lớn có lợi nhuận là
là 37,83±5,75 triệu đồng/năm (Bảng 4) Ở quy mô l
u nên lợi nhuận cao, quy mô nhỏ ngư cụ đánh bắt ít nên l
Thực phẩm sử dụng trong khai thác 34,24%
Xăng dầu 11,67%
Thuế 3,89%
ư cụ
%
Chi phí sửa chữa 2,76%
Hình 4: Cơ cấu chi phí khai thác của nghề lồng bẫy
22,22±2,17 60,05±6,80 37,83±6,75
29,01±2,27 83,43±10,10 54,41±9,07
n chi trả cho việc sửa
u đồng/năm Trong ng/năm cao hơn 1,31 ) Nghề lồng bẫy có tàu khai thác cũng
ĐVT: triệu đồng
t và giá trị các loài
ng thu nhập trung
ủa quy mô nhỏ là
n là 83,43±10,10 triệu đồng/năm
u tư nhiều ngư cụ
ng tham gia khai thác là 42,62±12,64 triệu
y khá cao, giúp cải thiện và nâng
n cao khi số ngư cụ đánh khai thác lồng bẫy là 54,41±9,07 triệu quy mô lớn số lượng
t ít nên lợi nhuận
ẩm sử
ng trong khai
Tổng 25,70±4,20 72,00±14,90 46,30±11,28
Trang 10thác vì rủi ro trong nghề không cao, các hộ đầu tư nhiều ngư cụ hơn thì lợi nhuận thu về cao hơn Hiệu quả kinh tế của các hộ đầu tư quy mô lớn cao hơn so với quy mô nhỏ vì lợi nhuận thu được cao hơn so với tổng chi phí đầu tư là 1,87 lần Trong khi đó quy mô nhỏ là 1,70
3.4 Những khó khăn trong quá trình khai thác của ngư dân
Nghề khai thác thủy sản bằng lồng bẫy không đòi hỏi kỹ thuật trong quá trình khai thác Tuy nhiên, người dân gặp nhiều khó khăn trong quá trình khai thác vì ảnh hưởng của thời tiết và con nước Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu làm cho mưa bão xuất hiện ngày càng nhiều gây nhiều tác động đến sống của ngư dân Việc phụ thuộc vào điều kiện thời tiết làm cho người dân khó chủ động trong việc khai thác
Vấn đề trộm cắp trong quá trình khai thác đã xuất hiện từ lâu tuy nhiên không có dấu hiệu giảm, gây nhiều khó khăn cho người dân nhưng chưa được quan tâm Chính quyền địa phương cần đưa ra biện pháp xử lý thích hợp nhằm hạn chế việc mất cắp và bảo vệ tài sản của ngư dân khai thác
Nghề nuôi sò huyết phát triển trên đầm đã gây ra khó khăn cho nghề khai thác bằng lồng bẫy Việc bao lưới nuôi sò huyết chặn đường di chuyển của các loài thủy sản làm giảm sản lượng khai thác và thu nhập của các hộ dân khai thác Một số hộ dân mất địa điểm khai thác vì các hộ nuôi sò đóng cọc cấm họ vào khai thác Vấn đề này cần được chính quyền quan tâm và giải quyết
Có thể thấy, nghề khai thác bằng lồng bẫy gặp nhiều khó khăn trong quá trình khai thác nhưng các hộ ngư dân ở đây vẫn tiếp tục duy trì nghề vì đây là nguồn thu nhập chính và họ cũng không có đủ vốn và kinh nghiệm, kỹ thuật để chuyển đổi nghề khác
100
100
0
20
40
60
80
100
120
Phụ thuộc vào thời
tiết
Cạnh tranh với nghề
khác
Khó khăn trong khai thác Hình 5: Những khó khăn trong quá trình khai thác của ngư dân