1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích hành vi mua sắm tại cửa hàng tiện lợi của người dân ở quận ninh kiều, tp cần thơ

89 3,5K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì những lí do trên, đề tài “Phân tích hành vi mua sắm tại các cửa hàng tiện lợi của người dân ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ” được hình thành để cung cấp một số thông tin cần

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH

TRƯƠNG THỊ NHẤT LINH

PHÂN TÍCH HÀNH VI MUA SẮM

TẠI CỬA HÀNG TIỆN LỢI CỦA NGƯỜI DÂN

Ở QUẬN NINH KIỀU, TP CẦN THƠ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Kinh doanh thương mại

Mã số ngành: 52340121

Tháng 11 - 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH

TRƯƠNG THỊ NHẤT LINH

MSSV: 4115652

PHÂN TÍCH HÀNH VI MUA SẮM

TẠI CỬA HÀNG TIỆN LỢI CỦA NGƯỜI DÂN

Ở QUẬN NINH KIỀU, TP CẦN THƠ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KINH DOANH THƯƠNG MẠI

Mã số ngành: 52340121

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

TS LÊ TẤN NGHIÊM

Tháng 11 – Năm 2014

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Trong suốt quá trình học tập, sinh hoạt tại trường Đại học Cần Thơ, em

đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình từ rất nhiều Quý thầy cô trường

ĐH Cần Thơ nói chung và Khoa Kinh Tế - Quản trị kinh doanh nói riêng Thầy cô đã truyền dạy cho em không chỉ là kiến thức chuyên môn mà còn rất nhiều điều bổ ích trong cuộc sống

Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy Lê Tấn Nghiêm, thầy là người trực tiếp hướng dẫn em thực hiện đề tài này Thầy đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em rất nhiều để em có thể hoàn thành được đề tài một cách thuận lợi

Em xin gửi lời cảm ơn đến cố vấn học tập của mình, là thầy Nguyễn Văn Duyệt và cô Nguyễn Thị Phương Dung đã dìu dắt em cùng các bạn sinh viên lớp Kinh doanh thương mại, khóa 37 trong suốt những năm trên giảng đường đại học

Cuối lời, em xin kính chúc quý thầy cô trường Đại Học Cần Thơ luôn thực hiện tốt công tác giảng dạy, chúc thầy cô dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc và thành công trong công việc!

Trang 4

TRANG CAM KẾT

Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014

Người thực hiện

Trương Thị Nhất Linh

Trang 5

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.3.1 Không gian 3

1.3.2 Thời gian 4

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 4

1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 8

2.1.1 Những vấn đề liên quan đến cửa hàng tiện lợi 8

2.1.1.1 Khái niệm 8

2.1.1.2 Sự phát triển của mô hình cửa hàng tiện lợi tại Việt Nam 10

2.1.1.3 Thực trạng quản lý nhà nước đối với việc kinh doanh mô hình cửa hàng tiện lợi tại Việt Nam hiện nay 12

2.1.2 Lý thuyết về hành vi tiêu dùng 13

2.1.2.1 Khái niệm hành vi người tiêu dùng 13

2.1.2.2 Mô hình hành vi người tiêu dùng 14

2.1.2.3 Những yếu tố chủ yếu quyết định đến hành vi mua sắm 16

2.1.2.4 Những yếu tố Marketing ảnh hưởng đến hành vi khách hàng 19

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 19

2.2.1.1 Số liệu thứ cấp 19

2.2.1.2 Số liệu sơ cấp 20

2.2.2 Mô hình nghiên cứu 21

2.2.2.1 Mô hình đề xuất 21

Trang 6

2.2.2.2 Xây dựng thang đo cho các nhân tố trong mô hình 23

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 23

CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 27

3.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH 27

3.2 DÂN SỐ, VĂN HÓA – XÃ HỘI 27

3.3 KINH TẾ 28

3.3.1 Sản xuất công nghiệp 29

3.3.2 Thương mại - dịch vụ 29

3.3.3 Nông nghiệp 30

3.3.4 Xuất khẩu 30

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH HÀNH VI MUA SẮM TẠI CÁC CỦA HÀNG TIỆN LỢI CỦA NGƯỜI DÂN QUẬN NINH KIỀU, TP CẦN THƠ 32

4.1 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MUA SẮM TẠI CÁC CỬA HÀNG TIỆN LỢI TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 32

4.2 ĐẶC ĐIỂM NHÂN KHẨU HỌC, MÔ TẢ THÓI QUEN MUA SẮM CỦA NGƯỜI DÂN TẠI CÁC CỬA HÀNG TIỆN LỢI 33

4.2.1 Độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn 33

4.2.2 Nghề nghiệp, thu nhập 34

4.2.3 Một số địa điểm mua sắm thường xuyên của người tiêu dùng 36

4.2.4 Tần số mua sắm tại các cửa hàng tiện lợi trong tuần 36

4.2.5 Thời điểm mua sắm thường xuyên trong ngày 37

4.2.6 Chi tiêu cho mỗi lần mua sắm 38

4.3 PHÂN TÍCH HÀNH VI MUA SẮM 38

4.3.1 Nhận thức nhu cầu 38

4.3.2 Tìm kiếm thông tin 39

4.3.3 Đánh giá các giải pháp 40

4.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHỌN CỬA HÀNG TIỆN ÍCH LÀ NƠI MUA SẮM 40

4.4.1 Đánh giá độ tin cậy của các thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha 41

Trang 7

4.4.1.1 Thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn cửa hàng

tiện lợi 41

4.4.1.2 Thang đo quyết định lựa chọn cửa hàng tiện lợi 42

4.4.2 Đánh giá thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá EFA 42

4.4.3 Phân tích tương quan 50

4.4.4 Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến quyết định lựa chọn mua sắm tại cửa hàng tiện lợi của người dân 51

4.5 GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC CỬA HÀNG TIỆN LỢI TRONG THỜI GIAN TỚI 53

4.5.1 Nhóm giải pháp dựa trên đặc điểm nhân khẩu học và thói quen mua sắm của người tiêu dùng 53

4.5.2 Nhóm giải pháp dựa vào các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn cửa hàng tiện lợi 54

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58

5.1 KẾT LUẬN 58

5.2 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 8

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 1.1 Lược khảo một số nhân tố đưa vào mô hình 7

Bảng 2.1 Xây dựng thang đo cho các nhân tố đưa vào mô hình 23

Bảng 3.1: Số liệu về diện tích và số đơn vị hành chính của các đơn vị hành chính cấp Huyện tại thành phố Cần Thơ 27

Bảng 4.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đáp viên 33

Bảng 4.2 Nghề nghiệp và thu nhập của đáp viên 35

Bảng 4.3 Một số địa điểm mua sắm thường xuyên của người dân trên địa bàn 36

quận Ninh Kiều, 9/2014 36

Bảng 4.4 Tần số mua sắm tại các cửa hàng tiện lợi trong tuần 37

Bảng 4.5 Thời điểm mua sắm thường xuyên trong ngày 37

Bảng 4.6 Chi tiêu cho mỗi lần mua sắm 38

Bảng 4.7 Những mặt hàng người tiêu dùng thường mua tại cửa hàng tiện lợi 39

Bảng 4.8 Các tiêu chí đánh giá lựa chọn nơi mua sắm 40

Bảng 4.9 Cronbach’s Alpha các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm tại cửa hàng tiện lợi 41

Bảng 4.10 Cronbach’s Alpha cho thang đo quyết định nơi mua sắm 42

Bảng 4.11 Kết quả phân tích EFA 44

Bảng 4.12 Các biến quan sát trong nhân tố tiện lợi 46

Bảng 4.13 Giá trị trung bình của các biến quan sát thuộc nhân tố không gian và hàng hóa 47

Bảng 4.14 Giá trị trung bình của các biến quan sát thuộc nhân tố giá cả 48

Bảng 4.15 Giá trị trung bình các biến quan sát thuộc nhân tố thời gian mở cửa 49

Bảng 4 16 Kết quả chạy phân tích nhân tố của các biến đo lường 50

Bảng 4.17 Kết quả tương quan 51

Bảng 4.18 Kết quả phân tích hồi quy 52

Trang 9

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu tham khảo 7

Hình 2.1 Mô hình hành vi của người mua 14

Hình 2.2 Mô hình chi tiết các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi 17

Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất 22

Hình 4.1 Mô hình nghiên cứu chính thức của tác giả 45

Trang 10

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Theo đúng lộ trình cam kết khi gia nhập WTO, vào 11/01//2015, thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ chính thức mở cửa hoàn toàn, nghĩa là các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài sẽ được phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn tại Việt Nam Bên cạnh đó, theo Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN, nước

ta đã cho giảm mức thuế nhập khẩu từ các quốc gia ASEAN xuống còn 0% cho 100.000 hàng hóa chịu thuế Và mới đây, theo công bố của Tập đoàn bất động sản thương mại CB Richard Ellis (Mỹ), thị trường bán lẻ tiềm năng của Việt Nam được đánh giá cao vào bậc nhất khu vực nhờ vào cơ cấu dân số trẻ

và sức mua ngày càng hoàn thiện nhờ tầng lớp trung lưu bành trướng mạnh

mẽ Với những cơ hội lớn này, thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ có nhiều khỏi sắc hơn sau giai đoạn tụt hạng khỏi top 30 quốc gia đang phát triển có thị trường bán lẻ sôi động nhất thế giới do hãng tư vấn A.T Keraney của Mỹ công

bố năm 2012 Chúng ta có thể thấy sự khởi sắc này rất rõ qua sự có mặt của rất nhiều tập đoàn, doanh nghiệp bán lẻ nổi tiếng của nước ngoài tại thị trường Việt Nam thời gian vừa qua, một số tên tuổi lớn của ngành bán lẻ như Aeon – Nhật Bản, Lotte Mart – Hàn Quốc, Robinsons – Thái Lan, và các tập đoàn lớn chuẩn bị gia nhập như Wall Mart – Mỹ, Mapletree – Singapore, Auchan – Pháp, Đây được xem là những tên tuổi mạnh, những “ông lớn” trong ngành bán lẻ thế giới, họ có tiềm lực mạnh về tài chính, nhân sự cấp cao và kinh nghiệm lâu năm tại rất nhiều quốc gia trên thế giới, hứa hẹn mang lại những màu sắc kinh doanh đa dạng tại thị trường Việt Nam

Tuy nhiên cơ hội cho người này lại là thách thức rất lớn cho người khác,

đó chính là các tập đoàn, doanh nghiệp và cá nhân bán lẻ trong nước Những năm qua, ngành bán lẻ trong nước cũng có nhiều thay đổi và chứng tỏ sức mạnh của mình, bằng chứng là sự ra đời của những mô hình bán lẻ hiện đại như siêu thị, đại siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích Các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam vẫn đang chiếm lĩnh thị trường như hệ thống bán lẻ của Coop Mart, Satra, Phú Thái, G7 Mart Nhưng cũng có thể dễ dàng nhận ra điểm yếu của của ngành bán lẻ theo mô hình hiện đại trong nước Theo các chuyên gia trong nước ngành bán lẻ chỉ chiếm khoảng 25% tổng doanh số bán

lẻ cả nước, con số này thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực, một phần do tâm lý ưa thích mua sắm ở các chợ truyền thống, các cửa hàng tạp hóa nhỏ vẫn ăn sâu trong tâm lý người tiêu dùng Việt Mặt khác, các doanh nghiệp nước ta đa số có quy mô kinh doanh vừa và nhỏ, nguồn lực còn nhiều hạn chế, phương thức kinh doanh hiện đại vẫn chưa thật sự hoàn thiện do thiếu kinh

Trang 11

nghiệm quản lý và đội ngũ nhân sự chưa chuyên nghiệp Và với những bước tiến nhanh chóng của các tập đoàn, công ty bán lẻ hàng đầu thế giới vào thị trường Việt Nam, các doanh nghiệp trong nước đã đang và sẽ đối mặt với những khó khăn ngày một lớn, mức độ cạnh tranh sẽ càng gay gắt hơn

Đứng trước tình thế đầy thách thức trên, ngành bán lẻ Việt Nam cần có những sự chuẩn bị, những chiến lược ứng phó hết sức chủ động để không bị thua ngay trên thị trường sân nhà Đã có rất nhiều nghiên cứu, đề tài quan tâm đến vấn đề tìm ra hướng đi, giải pháp cho ngành bán lẻ Việt Nam, tuy nhiên các bài nghiên cứu tập trung chủ yếu ở mô hình bán lẻ truyền thống như chợ, các cửa hàng tạp hóa nhỏ lẻ, hay mô hình bán lẻ hiện đại quy mô lớn như siêu thị, đại siêu thị, trung tâm thương mại Có thể kể đến như nghiên cứu của tác giả Võ Ngọc Dũng (2007), Đinh Trần Thanh Mỹ (2010), Chu Nguyễn Mộng Ngọc và Phạm Tấn Nhật (2013),… Tuy nhiên, vẫn còn một loại hình bán lẻ hiện đại nữa ít được các nhà nghiên cứu đề cập đến, đó là mô hình kinh doanh cửa hàng tiện lợi, hay còn gọi là cửa hàng tiện ích Mô hình này xuất hiện muộn hơn và chủ yếu phát triển ở các khu đô thị, các thành phố lớn nên vẫn chưa được biết đến rộng rãi; đó là sự dung hòa giữa phong cách bán hàng hiện đại, trưng bày hàng hóa khoa học như ở các siêu thị mà vẫn giữ được phong cách phục vụ khách hàng chu đáo như ở các chợ truyền thống, bên cạnh đó là

sự tiện lợi trong việc tiết kiệm thời gian mua sắm nên ngày càng phát triển tại Việt Nam Một ưu điểm nữa của mô hình kinh doanh này là yêu cầu vốn, mặt bằng thấp, quản lý và nhân sự đơn giản hơn so với siêu thị hay trung tâm thương mại Vì vậy việc quan tâm đến mô hình bán lẻ hiện đại này thật sự cần thiết trong giai đoạn khó khăn và các doanh nghiệp nên đa dạng các loại hình kinh doanh của mình theo hướng tìm đến ngách thị trường, thu hẹp quy mô kinh doanh một cách có chọn lọc và hiệu quả sao cho phù hợp với năng lực của mình thay vì cố gắng chạy đua mở rộng quy mô, xây dựng thêm các siêu thị, đại siêu thị như các tập đoàn giàu tiềm lực nước ngoài

Thành phố Cần Thơ cũng không nằm ngoài xu hướng phát triển của các cửa hàng tiện lợi này Có thể kể đến một số cửa hàng đã tồn tại và phát triển trong thời gian qua trên địa bàn TP Cần Thơ như chuỗi cửa hàng tiện ích G7 Mart, siêu thị tự chọn Ngọc Tiên, shop Minh thư, cửa hàng tiện lợi kí túc xá Đại học Cần Thơ Tuy nhiên, việc kinh doanh của mô hình này vẫn còn nhiều hạn chế như thiếu chuyên nghiệp, hàng hóa chưa đa dạng, không gian chật hẹp, và gặp phải sự cạnh tranh lớn từ các siêu thị lớn như Big C, Metro, Coop Mart, KC Mart và các chợ truyền thống Xuân Khánh, Hưng Lợi, cùng rất nhiều các cửa hàng tạp hóa nhỏ lẻ trong khu vực Chính vì thế, để tiếp tục tồn tại đứng vững và phát triển trên thị trường cũng như đón đầu sức tăng trưởng tiềm năng trong tương lai, mô hình kinh doanh cửa hàng tiện lợi cần có những thay đổi tích cực, hoàn thiện hơn Có nhiều yếu tố, phương diện cần thay đổi

Trang 12

và đôi khi các nhà quản lý, chủ cửa hàng gặp khó khăn trong việc cần phải làm

gì và bắt đầu từ đâu? Câu trả lời nằm ở chính người tiêu dùng, là khách hàng của họ, việc lắng nghe, thấu hiểu tâm lý, thói quen, mong muốn của khách hàng sẽ giúp chúng ta xác định đã đáp ứng đúng, đủ hay chưa và cần làm những gì để thỏa mãn hơn nữa nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng Các nghiên cứu trước đây tại địa bàn thành phố Cần Thơ chỉ mới phân tích về hành

vi người tiêu dùng tại các chợ, các siêu thị, trung tâm mua sắm lớn, mà chưa

đề cập đến mô hình bán lẻ này Điển hình là nghiên cứu của Lưu Thanh Đức Hải và Vũ Lê Duy (2014), hay của Nguyễn Thị Phương Dung và Bùi Thị Kim Thanh (2011)

Chính vì những lí do trên, đề tài “Phân tích hành vi mua sắm tại các cửa hàng tiện lợi của người dân ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ” được hình thành để cung cấp một số thông tin cần thiết cho các nhà quản lý của mô hình cửa hàng tiện lợi ở địa bàn trên, nhằm giúp họ đưa ra những chiến lược tốt hơn phục vụ hiệu quả cho việc kinh doanh của mình, cũng như giúp cho mô hình này tồn tại và phát triển lâu dài, mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và người tiêu dùng

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Phân tích hành vi mua sắm của người dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tại các cửa hàng tiện lợi, từ đó có cái nhìn rõ nét hơn về thị trường và đưa ra những chiến lược đúng đắn giúp ổn định và phát triển việc kinh doanh

Trang 13

1.3.2 Thời gian

Số liệu thứ cấp sử dụng trong bài được lấy từ thời gian năm 2011 đến 6 tháng đầu năm 2014 Thời gian thu số liệu sơ cấp, xử lí và trình bày kết quả từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2014

1.3.3 Đối tƣợng nghiên cứu

Người tiêu dùng đã và đang mua sắm tại các cửa hàng tiện lợi trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

1.4 LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

(1) Lưu Thanh Đức Hải và Vũ Lê Duy (2014) “Phân tích hành vi mua sắm của người tiêu dùng ở chợ truyền thống và siêu thị tại thành phố Cần Thơ”, Tạp chí khoa học Trường đại học Cần Thơ Nghiên cứu nhằm mục đích

so sánh và phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn nơi mua sắm của người dân thanh phố Cần Thơ đối với loại hình chợ truyền thống và siêu thị Tác giả sử dụng số liệu sơ cấp thông qua việc khảo sát 198 người tiêu dùng tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo hệ thống với bước nhảy k=5 Với các mục tiêu đặt ra, tác giả lựa chọn phương pháp thống kê mô tả (với các chỉ số tỷ lệ, tần suất, trung bình, ), phương pháp so sánh số tuyệt đối, số tương đối kết hợp suy luận để

mô tả và phân tích thực trạng truyền thống và siêu thị tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ Tiếp theo, bài nghiên cứu đã sử dụng phương pháp kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và

mô hình phân tích phân biệt để phân tích hành vi mua sắm và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn nơi mua sắm của người tiêu dùng ở chợ và siêu thị tại thành phố Cần Thơ Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt giữa 2 nhóm khách hàng lựa chọn đi chợ và đi siêu thị, có 7 yếu tố ảnh hưởng đến sự khác biệt này, xếp theo thứ tự ảnh hưởng: (1) Tuổi tác, (2) Uy tín và phong cách phục vụ, (3) Không gian mua sắm, (4) Thu nhập trung bình hàng tháng, (5) Giá cả và các chính sách chăm sóc khách hàng, (6) An toàn, (7) Chất lượng và sự phong phú hàng hóa

(2) Nguyễn Thị Thùy Dung và Lưu Tiến Thuận (2012) “Phân tích hành

vi tiêu dùng dầu ăn của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long”, Kỉ yếu khoa học Trường Đại học Cần Thơ Đề tài sử dụng số liệu sơ cấp được thu thập từ 120 người tiêu dùng ở 3 thành phố tiêu biểu của vùng Nam Sông Hậu: thành phố Cần Thơ, thành phố Long Xuyên và thành phố Rạch Giá, vì đây là những nơi có mật độ dân số, thu nhập dân cư cao hơn các thành phố khác trong vùng Một số phương pháp được dùng trong bài là phân tích mô tả như tần số, số trung bình, phân tích bảng chéo để phân tích đặc điểm hành vi người

Trang 14

tiêu dùng dầu ăn ở đồng bằng sông Cửu Long Sau đó, đề tài sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha để đánh giá các thang đo các yếu tố có ảnh hưởng đến hành

vi tiêu dùng và phương pháp phân tích nhân tố để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn dầu ăn của người tiêu dùng Sau quá trình phân tích, nghiên cứu đã kết luận người tiêu dùng khi lựa chọn dầu ăn đánh giá mức độ quan trọng của các tiêu chí liên quan đến sức khỏe ở mức cao Kênh mua sắm siêu thị đang được người tiêu dùng ở thành phố ưa chuộng nhưng chợ và tiệm tạp hóa vẫn là nơi thuận tiện để mua dầu ăn Ngoài yếu tố chất lượng, người tiêu dùng còn quan tâm đến giá cả, chương trình khuyến mãi và thương hiệu khi quyết định mua, và hình thức khuyến mãi người tiêu dùng ưa thích nhiều nhất là tặng vật phẩm và giảm giá

(3) Nguyễn Thị Phương Dung và Bùi Thị Kim Thanh (2011) “So sánh hành vi lựa chọn nơi mua sắm của người tiêu dùng đối với loại hình siêu thị và chợ truyền thống: Trường hợp ngành hàng tiêu dùng tại thành phố Cần Thơ”, Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu so sánh hành vi lựa chọn nơi mua sắm đối với loại hình siêu thị và chợ truyền thống của ngành hàng tiêu dùng ở thành phố Cần Thơ Đề tài sử dụng cỡ mẫu là 150, gồm 95 người tiêu dùng, 50 tiểu thương bán hàng và 5 người quản lý siêu thị và áp dụng phương pháp thống kê mô tả và mô hình phân biệt Qua quá trình phân tích, tác giả kết luận rằng đối tượng khách hàng đến siêu thị bị tác động bởi các yếu tố: sản phẩm được giao hàng tận nơi, giá

cố định, tốn chi phí đi lại vì xa nhà; đối tượng đến chợ truyền thống bị tác động bởi: sản phẩm được làm tại chỗ, được mua thiếu, giá có thể thương lượng Tuy nhiên, chợ truyền thống vẫn giữ thị phần nhiều hơn bởi một số điểm mạnh như giá cả rẻ hơn siêu tị, sản phẩm nhiều kích cỡ đáp ứng nhu cao nhất nhu cầu khách hàng, mua hàng nhanh chóng không cần xếp hàng chờ tính tiền như siêu thị, đặc biệt thực phẩm luôn tươi ngon là điểm mà chợ hơn hẳn siêu thị

(4) Bianchi, Constanza (2009) “Investigating Consumer Expectations

of Convenience Store Attributes in Emerging Markets: Evidence tin Chile”, Journal of International Consumer Marketing Nghiên cứu thực hiện nhằm mục đích cung cấp một cách tốt hơn những hiểu biết về những mong muốn liên quan đến cửa hàng tiện lợi ở khu vực Mỹ Latinh Tác giả tiến hành phỏng vấn 400 người tiêu dùng ở Chile là những sinh viên ở trường đại học Santiago,

và chỉ ra rằng những thuộc tính quan trọng nhất mà họ quan tâm để lựa chọn cửa hàng tiện lợi là đường đi đến cửa hàng, nơi đậu xe và thời gian hoạt động

Để đo lường tầm quan trọng của các thuộc tính ở cửa hàng tiện lợi, tác giả dùng thang đo 5 mức độ, đồng thời đặt ra những câu hỏi về mức độ thường xuyên mua ở của hàng và động cơ lựa chọn dựa vào những mong muốn về sản phẩm và dịch vụ cũng như các đặc điểm về nhân khẩu học

Trang 15

(5) Yuan – Ling Chiao, Ching – Hu Lu, Pei – Ling Liu (2012) “First come, first served: Enhancing the convenience store service experience”, International Journal of Automation and Smart Technology Mục tiêu chính của nghiên cứu là mô tả thực trạng môi trường làm việc ở các cửa hàng tiện lợi, đồng thời đưa ra những giải pháp, đề nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho các cửa hàng tiện lợi Để tìm hiểu về môi trường làm việc tại các cửa hàng tiện lợi, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu, bao gồm

dữ liệu về đặc điểm nhân khẩu học, phỏng vấn chuyên sâu và kinh nghiệm dựa trên nghiên cứu về lực lượng lao động Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra một số nhân tố quan trọng làm kéo dài sự không thoải mái về thể chất lẫn tinh thần cho cả khách hàng và nhân viên trong cửa hàng Đó là việc kéo dài thời gian chờ đợi vì khách hàng yêu cầu nhiều dịch vụ cùng lúc, nguyên nhân là sự không liền mạch, logic trong việc bố trí nhân viên và các dịch vụ của cửa hàng Đồng thời, tinh thần và hiệu quả làm việc của nhân viên có thể bị tác động tiêu cực bởi thái độ thiếu kiên nhẫn và cáu gắt của khách hàng Vì vậy, tác giả đã đề nghị cần cải thiện cách bố trí sắp đặt trong siêu thị, khuyến khích thành lập việc đặt hàng nhiều hơn

(6) Chu Nguyễn Mộng Ngọc và Phạm Tấn Nhật (2013) Phân tích các yếu tố tác động tới quyết định lựa chọn kênh siêu thị khi mua thực phẩm tươi sống của người tiêu dùng Tp Hồ Chí Minh” Tạp chí phát triển và hội nhập (UEF) Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa các nhân tố với quyết định chọn kênh siêu thị của người tiêu dùng Tp Hồ Chí Minh khi mua thực phẩm tươi sống Nghiên cứu thực hiện phân tích trên cỡ mẫu 120 Kết quả nghiên cứu đã cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua thực phẩm tươi sống tại kênh siêu thị bao gồm nhân tố liên quan đến sản phẩm, hình thức bao bì, giá cả và địa điểm Trong khi đó, nhân tố liên quan đến hoạt động chiêu thị không cho thấy sự tác động rõ ràng đến quyết định này Nghiên cứu này có mối quan hệ khá gần đến đề tài mà tác giả đang thực hiện về quyết định chọn lựa kênh mua sắm, vì thế, tác giả đã tham khảo mô hình nghiên cứu của 2 tác giả trên để áp dụng cho mô hình nghiên cứu của mình

Trang 16

Nguồn: Chu Nguyễn Mộng Ngọc và Phạm Tấn Nhật (2013)

Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu tham khảo Sau quá trình lược khảo các nghiên cứu có liên quan, tác giả đã học hỏi

và tiếp thu được một số kiến thức và phương pháp hữu ích phục vụ cho đề tài của mình Về phương pháp thu thập số liệu, do không có danh sách mẫu cũng như để tiết kiệm thời gian và chi phí, có thể sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất, cụ thể là chọn mẫu thuận tiện để thu thập thông tin từ đối tượng

Về phương pháp phân tích số liệu, ngoài việc áp dụng công cụ Cronbach’s Alpha để đo lường độ tin cậy của các thang đo trong mô hình nghiên cứu, phân tích nhân tố khám phá EFA như thông thường Với những đề tài nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua, quyết định sử dụng sản phẩm hay chọn nơi mua sắm, tác giả đã tổng hợp được một số nhân tố có thể đưa vào mô hình nghiên cứu cho đề tài được trình bày ở bảng 1.1

Bảng 1.1 Lược khảo một số nhân tố đưa vào mô hình

Không gian mua sắm Lưu Thanh Đức Hải và Vũ Lê Duy (2014)

Giá cả

Lưu Thanh Đức Hải và Vũ Lê Duy (2014) Nguyễn Thị Thùy Dung và Lưu Tiến Thuận (2012) Nguyễn Thị Phương Dung và Bùi Thị Kim Thanh (2011)

Chất lượng hàng hóa Lưu Thanh Đức Hải và Vũ Lê Duy (2014) Nguyễn Thị Thùy Dung và Lưu Tiến Thuận (2012)

Vị trí cửa hàng

Nguyễn Thị Phương Dung và Bùi Thị Kim Thanh (2011)

Bianchi và Costanza (2009)

Thời gian hoạt động Bianchi và Costanza (2009)

Nhanh chóng, tiện lợi Nguyễn Thị Phương Dung và Bùi Thị Kim Thanh

(2011)

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Giá cả Địa điểm Chiêu thị

Quyết định lựa chọn kênh siêu thị khi mua TPTS Sản phẩm

Trang 17

Thuật ngữ cửa hàng tiện lợi chưa phổ biến lắm ở Việt Nam, loại hình bán

lẻ hiện đại này chỉ mới xuất hiện ở nước ta lần đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh vào cuối năm 2000 Tuy nhiên, do đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới, năm 1927 tại Hoa Kỳ, nên thuật ngữ này được dịch ra từ tiếng nước ngoài

“convenience store” (tiếng Anh), hay “konbini” (tiếng Nhật) Chúng ta cùng tìm hiểu một số định nghĩa thường gặp về cửa hàng tiện lợi trên thế giới và tại Việt Nam

Theo Hiệp hội hệ thống cửa hàng tiện lợi và bán lẻ nhiên liệu Mỹ (2014), cửa hàng tiện lợi là loại hình kinh doanh bán lẻ cơ bản dựa vào việc cung cấp

vị trí thuận tiện để mua sắm và những hàng hóa được sắp xếp một cách khoa học, bao gồm phần lớn thực phẩm và xăng dầu, với một số đặc điểm sau: Diện tích trung khoảng 250m2 (ở Mỹ), có chỗ đậu xe trên các con phố cắt ngang tuyến đường chính, hoặc thuận lợi cho người đi bộ ghé ngang, thời gian mở cửa là 24h một ngày, 7 ngày trong tuần, số lượng hàng hóa trong cửa hàng ít nhất là 500 đơn vị hàng hóa với danh mục thường là các loại hàng hóa tạp hóa, gồm các nhóm đồ uống, thức uống; thức ăn nhanh; thuốc lá,…

Wikipedia (2014) cũng có định nghĩa riêng dành cho loại hình kinh doanh này như sau: “đây là một dạng cửa hàng buôn bán nhỏ, với các loại hàng hóa tiêu dùng hàng ngày như: các loại tạp hóa, thức ăn nhanh, kẹo, các loại xà phòng, nước ngọt, thuốc lá, báo và tạp chí Cửa hàng tiện lợi cũng có thể là một phần của các trạm xăng dầu Nó có thể có vị trí dọc các tuyến đường nhiều xe cộ, khu vực dân cư đông đúc hoặc gần các trạm xe, xe lửa,…Ở một số quốc gia, cửa hàng tiện lợi mở cửa 24h/ngày, một số khác thì không.”

Tuy nhiên, các định nghĩa vừa nêu chỉ có tính chất tương đối, bởi theo như các nghiên cứu trước cũng cho rằng khái niệm cửa hàng tiện lợi chưa có một định nghĩa chính thức và chuẩn xác nào “Trong bối cảnh của ngành bán

lẻ không có một định nghĩa rõ ràng nào về cửa hàng tiện lợi, để phục vụ cho bài viết, các tác giả đã định nghĩa nó như là một cửa hàng nhỏ, ở trung tâm, đặc trưng bởi lối đi vào dễ dàng, đóng cửa muộn hơn, và hàng hóa không quá

đa dạng, giá cả trung bình cạnh tranh hơn so với các siêu thị, đại siêu thị.” (Bianchi và Costanza, 2009)

Trang 18

Ở các nước châu Á, như Nhật Bản hay Đài Loan, Hồng Kông (Trung Quốc), cửa hàng tiện lợi rất phổ biến bởi vì nơi đây có mật độ dân số rất cao

Nó không những là mô hình kết hợp với trạm xăng mà còn là cửa hàng độc lập Ở đây, các loại hàng hóa như là nước ngọt, cà phê, nước uống lạnh, thức

ăn nhanh, có thể tìm thấy xúc xích, nước tương, trứng, cá và cả một số tờ báo, tạp chí trong cửa hàng Một số thương hiệu chuỗi cửa hàng tiện lợi nổi tiếng ở nhiều quốc gia châu Á như 7-Eleven, Circle K, Lawson, FamilyMart,… Các cửa hàng này có thể dễ dàng tìm thấy ở dọc theo các tuyến phố nhộn nhịp, sầm uất, các khu đô thị đông đúc dân cư, gần các trạm xăng dầu, các nhà ga xe lửa,… để phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của các tầng lớp dân cư

Ở Việt Nam, cửa hàng tiện lợi không còn là mô hình kết hợp với các trạm xăng dầu như ở các quốc gia khác, chỉ là một cửa hàng tiện lợi kinh doanh độc lập Có thể xem đây là một cửa hàng nhỏ, diện tích khoảng trên dưới 100m2

, chuyên bày bán các loại mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu hàng ngày cho người tiêu dùng một cách nhanh chóng và tiện lợi nhất Tuy nhiên do tính mới mẻ của mô hình này, nên hiện giờ vẫn chưa có định nghĩa chính thức

và rõ ràng nào về cửa hàng tiện lợi được tìm thấy trong các văn bản của Nhà nước, và rất khó để tác giả đưa ra một định nghĩa chính xác cho loại hình này

Từ một số định nghĩa tổng hợp ở trên, tác giả xin rút ra một số đặc trưng

cơ bản sau về loại hình cửa hàng tiện lợi

Thứ nhất, diện tích nhỏ, đặt gần khu dân cư, ở những nơi tiện đường giao

thông Một cửa hàng tiện lợi thông thường có diện tích lớn hơn một cửa hàng tạp hóa, nhưng quy mô nhỏ hơn so với siêu thị hay siêu thị mini

Thứ hai, mặt hàng bày bán đa dạng phục vụ những nhu cầu thiết yếu

hàng ngày cho mọi người

Thứ ba, cách trưng bày hàng hóa hiện đại, khoa học, tiện lợi cho người

mua, đặc biệt là việc học hỏi cách thức trưng bày của siêu thị để tối ưu hóa không gian mua sắm cho người mua và cũng nhằm tiết kiệm không gian chung

Thứ tư, mở cửa thời gian tối đa trong ngày, có thể mở cửa 24h và suốt 7

ngày trong tuần Tuy nhiên, tùy vào từng cửa hàng và địa điểm, đối tượng khách hàng chính mà thời gian mở cửa sẽ khác nhau

Thứ năm, cách thức tự phục vụ hiện đại, thuận tiện bất kể thời gian, có

dịch vụ giao hàng tận nhà cho khách hàng

Thứ sáu, đối tượng phục vụ: phục vụ cho những khách hàng có ít thời

gian, có thu nhập tương đối, có nhu cầu mua sắm nhanh, tốn ít thời gian mà vẫn đảm bảo số lượng, chất lượng, an toàn và vệ sinh

Trang 19

Thứ bảy, vị trí, địa điểm của cửa hàng thường nằm ở những nơi đông đúc dân

cư, thuận tiện cho mọi người trong việc ghé vào mua sắm, tiết kiệm thời gian

2.1.1.2 Sự phát triển của mô hình cửa hàng tiện lợi tại Việt Nam

Trước khi đi vào tìm hiểu sự hình thành và phát triển của loại hình cửa hàng tiện lợi tại Việt Nam, chúng ta cần có cái nhìn tổng quát về hệ thống phân phối bán lẻ đang tồn tại trên thị trường để dễ dàng hơn trong việc phân biệt các loại hình Dựa vào một số đặc trưng cở bản, ta có thể tạm chia thành 6 loại hình bán lẻ chủ yếu, gồm đại siêu thị, siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm, cửa hàng tiện lợi, siêu thị (cửa hàng chuyên doanh) Đầu tiên là đại siêu thị, diện tích của đại siêu thị phải từ 2500m2

trở lên, thường nằm ở vị trí xa trung tâm thành phố, khu dân cư đông đúc vì ở chi phí cho một mặt bằng lớn ở giữa trung tâm thường rất cao Trong đại siêu thị, có tất cả các mặt hàng mà siêu thị bày bán, và hơn nữa còn phải đảm bảo ít nhất 35% diện tích dành cho các mặt hàng không thiết yếu Hoặc có những trường hợp đại siêu thị đóng vai trò là cửa hàng trung tâm trong một khu mua sắm hay trung tâm mua sắm Thời gian mở cửa của các đại siêu thị thường là 12 giờ một ngày Big C là đại siêu thị khá quen thuộc và nổi tiếng tại Việt Nam (Nguyễn Thị Kim Dung, 2009)

Siêu thị cũng có một số đặc điểm tương tự như đại siêu thị nhưng diện tích nhỏ hơn, từ 400m2

Tiếp theo là trung tâm mua sắm, đây là loại hình khá mới mẻ, điển hình

là trung tâm Lotte Mart Nam Sài Gòn ở thành phố Hồ Chí Minh (là sự hợp tác giữa tập đoàn Lotte Mart, Hàn Quốc với doanh nghiệp tư nhân thương mại sản xuất Minh Vân) Trung tâm mua sắm có diện tích lớn hơn cả đại siêu thị, bày bán hầu hết các hàng hóa của một siêu thị, nó còn có cả khu trò chơi, rạp chiếu phim, dịch vụ ăn uống,…

Trang 20

Cửa hàng tiện lợi là loại hình kinh doanh ở các khu dân cư đông đúc, trung tâm thành phố, để phục vụ cho nhu cầu mua sắm nhanh chóng, hàng ngày của người dân Diện tích của các cửa hàng tiện lợi luôn khá nhỏ, tuy nhiên vị trí khá đẹp, dễ dàng tiếp cận người tiêu dùng Đặc biệt, các cửa hàng tiện lợi sử dụng lợi thế lớn của mình là thời gian mở cửa dài, có thể là suốt 24 giờ để phục vụ tối đa nhu cầu của mọi người

Siêu thị (cửa hàng) chuyên doanh là một dạng đặc biệt, quy mô khá đa dạng, có thể nhỏ như một cửa hàng thông thường, hoặc lớn như một siêu thị Các siêu thị, cửa hàng này chuyên bày bán một nhóm hàng riêng biệt, với rất nhiều chủng loại, nhãn hiệu Có thể kể đến các cửa hàng chuyên doanh thực phẩm tươi sống, trái cây, bơ sữa, điện máy, trang trí nội thất,…

Về sự phát triển của mô hình cửa hàng tiện lợi tại Việt Nam, có thể thấy

nó có giai đoạn khá ngắn, chỉ mới xuất hiện khoảng hơn 10 năm trở lại đây, và không phổ biến lắm ở mọi miền trên cả nước Vào cuối năm 2000, Saigon Co.op đã xây dựng cửa hàng hàng Co.op đầu tiên ở quận 8, thành phố Hồ Chí Minh Tiếp sau đó là một loạt chuỗi các cửa hàng như Twenty NTDour Hours của công ty TNHH An Nam, Massan Mart của Tập đoàn Massan, chuỗi cửa hàng bách hóa mini của công ty Duy Anh,… Đây được xem là bước khởi đầu cho việc xuất hiện các cửa hàng tiện lợi ở nước ta, để từ đó mô hình này nhận được nhiều sự chú ý và quan tâm đầu tư, ủng hộ của các doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng Có thể kể đến sau này là hàng loạt các hệ thống, các chuỗi cửa hàng tiện lợi hiện đang có mặt và phát triển ở nước ta: G7 Mart, Shop &

Go, Citi Mart B&B, Speedy, Hapromart, Vissan, Satra Food,… Tuy nhiên phải mất một thời gian dài người tiêu dùng mới trở nên quen thuộc và ủng hộ

mô hình mua sắm tiện lợi này Có thể giải thích là do giá cả ở các cửa hàng này thường cao hơn ở các chợ truyền thống, cửa hàng tạp hóa và đôi khi cả siêu thị, lí do là khách hàng phải trả thêm cho yếu tố tiện lợi nhận được Chính điều này khiến người dân có thu nhập trung bình tỏ ra không mấy ủng hộ cửa hàng tiện lợi thời gian đầu, và không phải cửa hàng nào cũng đứng vững trong thời điểm đó Cũng như một số cửa hàng chưa thật sự thay đổi thành mô hình bán lẻ hiện đại trong cách thức kinh doanh, phục vụ, quản lý hay còn non kém kinh nghiệm nên việc đóng cửa, thu hẹp quy mô chuỗi là điều không thể tránh khỏi Điển hình có thể kể đến chuỗi cửa hàng tiện lợi Massan, G7 Mart,… đã phải đóng cửa một số cửa hàng trong chuỗi của mình

Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng đây lại chính là thị trường rất tiềm năng

và hấp dẫn bởi không chỉ có các cá nhân, doanh nghiệp trong nước mà các doanh nghiệp, tập đoàn nước ngoài cũng tham gia kinh doanh trong lĩnh vực này Có thể kể đến tiêu biểu một số thương hiệu nổi tiếng tại nước ngoài đã và đang có mặt ở thị trường Việt Nam, như Shop & Go đến từ Singapore với hơn

Trang 21

100 cửa hàng trên toàn quốc tính đến tháng 8/2014, hay Circle K một công ty nổi tiếng ở Mỹ với khoảng 70 cửa hàng tại thành phố Hồ Chí Minh và tiếp tục

mở rộng quy mô ở cả nước, một thương hiệu lâu đời nữa từ Nhật Bản cũng có mặt với hơn 50 cửa hàng và sẽ tiếp tục mở rộng hệ thống với tham vọng trở thành chuỗi cửa hàng tiện lợi hàng đầu châu Á

2.1.1.3 Thực trạng quản lý nhà nước đối với việc kinh doanh mô hình cửa hàng tiện lợi tại Việt Nam hiện nay

Hiện nay, nhà nước ta chưa ban hành bất kỳ văn bản nào trực tiếp liên quan đến việc quản lý mô hình cửa hàng tiện lợi tại Việt Nam Do đó, trong phần này, tác giả chỉ có thể trình bày sơ lược về một vài vấn đề có liên quan đến việc quản lý nhà nước đối với việc kinh doanh mô hình bán lẻ này tại Việt Nam: Để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và đón các cơ hội kinh doanh, theo đề án phát triển thương mại trong nước đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 của bộ Công thương, một trong những mục tiêu phát triển thương mại trong nước là nâng tỉ trọng mức bán lẻ hàng hóa qua loại hình thương mại hiện đại (siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi…) đạt hơn 20% vào năm 2010 và 60% vào năm 2020 Với đề án này, có thể nói bộ Công thương nhà đã bước đầu đánh giá cao vai trò của mô hình bán

lẻ hiện đại này đối với thị trường bán lẻ nội địa Để phát triển hệ thống bán lẻ,

đề án giải pháp đẩy mạnh phát triển và tăng cường quản lý nhà nước đối với các hệ thống phân phối trên thị trường bán lẻ nước ta hiện nay và những năm tiếp theo của Bộ Công Thương khuyến khích các doanh nghiệp phân phối lớn hiện nay là Tổng công ty Thương mại Hà Nội, Liên hiệp Hợp tác xã Sài Gòn, Công ty cổ phần Tập đoàn Phú Thái… phát triển thêm hệ thống chân rết, cải biến các cửa hàng bán lẻ truyền thống thành các cửa hàng tiện ích làm cơ sở cho hệ thống bán lẻ hiện đại, chuyên nghiệp Qua đây, có thể nói Nhà nước ta đang hướng đến việc chuyển đổi các mô hình bán lẻ truyền thống như chợ, tiệm tạp hóa nhỏ lẻ sang mô hình cửa hàng tiện lợi hiện đại, nhắm đến việc nâng cấp hệ thống bán lẻ ở Việt Nam

Ngày 26 tháng 12 năm 2007, Bộ Công thương đã ban hành Quyết định

số 012/2007/QĐ-BCT phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển mạng lưới chợ trên phạm vi toàn quốc đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Trong đề

án này cũng có nhắc đến việc chuyển đổi một số mô hình bán lẻ truyền thống sang mô hình cửa hàng tiện lợi và nguồn hàng cung cấp cho cửa hàng tiện lợi Mục tiêu chung của Quy hoạch tổng thể này bao gồm “Đến năm 2020 xây dựng mạng lưới chợ toàn diện, bao gồm chợ dân sinh hoạt động phân phối theo mô hình chuỗi; chợ bán buôn hàng nông sản với đầy đủ các chức năng,

cơ chế hình thành giá hợp lý khoa học và thực hiện chế độ bán đấu giá là chính; chợ bán buôn, bán lẻ tổng hợp ở các trung tâm kinh tế của tỉnh, thành

Trang 22

phố trực thuộc Trung ương, hình thành mạng lưới lưu thông hàng hoá thông suốt, việc quản lý đi vào nề nếp, cấu trúc hợp lý và trang thiết bị đầy đủ Trong mạng lưới chợ thực hiện được các nguyên tắc “thị trường hình thành giá cả, Nhà nước điều tiết thị trường”; phân bố hợp lý qui mô, kết cấu, số lượng chợ; phát triển mạng lưới chợ có tính thống nhất, đa dạng về loại hình và cấp độ, hình thành giao dịch theo mạng, lấy chợ bán buôn nông sản làm trung tâm thúc đẩy nhiều loại hình bán lẻ nông sản cùng phát triển như các cửa hàng tiện lợi, chợ bán lẻ, siêu thị kinh doanh theo dạng chuỗi, v.v…”

2.1.2 Lý thuyết về hành vi tiêu dùng

2.1.2.1 Khái niệm hành vi người tiêu dùng

Mục đích của nghiên cứu Marketing là đáp ứng thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng mục tiêu, thế nhưng việc hiểu được họ không hề

dễ dàng Khách hàng có thể nói ra nhu cầu và mong muốn của mình nhưng lại làm một cách khác Họ có thể không nắm được động cơ sâu xa của chính mình, họ có thể đáp ứng những tác động làm thay đổi suy nghĩ của họ vào giây phút cuối cùng Tuy nhiên, những người làm marketing vẫn phải nghiên cứu những mong muốn, nhận thức, sở thích và các hành vi lựa chọn, mua sắm của những khách hàng mục tiêu Việc nghiên cứu như thế sẽ cho ta những gợi

ý để phát triển sản phẩm mới, tính năng của sản phẩm, xác định giá cả, các kênh, nội dung thông tin và những yếu tố khác trong marketing mix

Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, “Hành vi tiêu dùng chính là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành

vi của con người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ” Hay nói cách khác, hành vi tiêu dùng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng Những yếu tố như ý kiến từ những người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì, bề ngoài sản phẩm…đều có thể tác động đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của khách hàng

Theo Philip Kotler, “Hành vi tiêu dùng là những hành vi cụ thể của một

cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ”

Qua 2 định nghĩa trên, hành vi khách hàng có thể xác định là:

Những suy nghĩ và cảm nhận của con người trong quá trình mua sắm và tiêu dùng

Hành vi khách hàng là năng động và tương tác vì nó chịu tác động bởi những yếu tố từ môi trường bên ngoài và có sự tác động trở lại với môi trường ấy

Trang 23

Hành vi khách hàng bao gồm các hoạt động: mua sắm, sử dụng và xử lý sản phẩm dịch vụ

Cụ thể là xem người tiêu dùng muốn mua gì, tại sao họ mua sản phẩm, dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ mua như thế nào, ở đâu, khi nào mua và mức độ mua ra sao để xây dựng các chiến lược marketing thúc đẩy người tiêu dùng mua sắm sản phẩm, dịch vụ của mình

2.1.2.2 Mô hình hành vi người tiêu dùng

Điểm xuất phát để hiểu được người mua là mô hình tác nhân phản ứng được thể hiện trong hình 2.1 Marketing và những tác nhân của môi trường đi vào ý thức của người mua Những đặc điểm và quá trình quyết định của người mua dẫn đến những quyết định mua sắm nhất định Nhiệm vụ của người làm Marketing là hiểu được điều gì xảy ra trong ý thức của người mua giữa lúc các tác nhân bên ngoài bắt đầu tác động và lúc quyết định mua Ta sẽ tập trung vào hai câu hỏi sau:

- Những đặc điểm của người mua, văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý, ảnh hưởng như thế nào đến hành vi mua sắm?

- Người mua thông qua quyết định mua sắm như thế nào?

Đặc điểm của người mua

Quá trình quyết định của người mua

Quyết định của người mua

vấn đề

Lựa chọn sản phẩm

thông tin

Lựa chọn nhãn hiệu

đại lý

gian mua Hành vi

mua sắm

Định số lượng mua

Nguồn: Philip Kotler (2003)

Hình 2.1 Mô hình hành vi của người mua Hành vi người tiêu dùng khi tiêu dùng sản phẩm là một chuỗi các quá trình được diễn ra liên tiếp theo trình tự các giai đoạn nhất định: trước hết người tiêu dùng có được ý thức và nhu cầu tiêu dùng sản phẩm, kế đoa họ sẽ

đi tìm kiếm thông tin thông qua các hình thức khác nhau như tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng, tìm hiểu bạn bè, đồng nghiệp đã từng sử

Trang 24

dụng sản phẩm đang đề cập, quảng cáo của nhà sản xuất…Qua quá trình nhận thông tin họ có thể biết được đồng thời có nhiều sản phẩm cùng loại có thể đáo ứng nhu cầu của họ và chúng có những đặc điểm khác nhau về chất lượng, giá cả, phương thức mua bán,…Do vậy, bước tiếp theo là họ phải đưa ra những phương án tiêu dùng khác nhau và tiến hành đánh giá lợi ích của việc

sử dụng từng loại sản phẩm, giá cả, thời gian sử dụng, tính tiện lợi, khả năng tài chính của người mua Sau đánh giá, họ sẽ đưa ra quyết định mua sắm một trong những sản phẩm sẽ mang lại lợi ích cao nhất cho họ Tuy nhiên, trong quá trình mua hàng, không phải chấm dứt tại đây, mà bao giờ người tiêu dùng sau khi quyết định mua sắm một sản phẩm nào đó cũng có nhu cầu dịch vụ hậu mãi của người bán (chế độ bảo trì, thời gian bảo hành,…)

Tóm lại, khi đi đến quyết định mua sắm một sản phẩm bất kì người tiêu dùng nào cũng sẽ trải qua một tiến trình gồm 5 giai đoạn Song thực tế không phải vậy, nhất là những trường hợp mua những mặt hàng ít cần để tâm

(1) Ý thức nhu cầu: Quá trình mua sắm bắt đầu từ khi người mua ý thức được vấn đề hay nhu cầu Người mua cảm thấy có sự khác biệt giữa tình trạng thực tế và tình trạng mong muốn Nhu cầu có thể bắt đầu từ tác nhân bên ngoài Trong trường hợp đầu, một trong những nhu cầu thông thường của con người, như đói, khát, tình dục, tăng dần lên đến mức ngưỡng và trở thành niềm thôi thúc Theo những kinh nghiệm của quá khứ người đó đã biết cách giải quyết niềm thôi thúc đó và động cơ của nó sẽ hướng vào lớp đối tượng có khả năng thỏa mãn được niềm thôi thúc đó (Kotler, 2003, trang 220-221)

(2) Tìm kiếm thông tin: Người tiêu dùng có nhu cầu sẽ bắt đầu tìm kiếm thông tin Mối quan tâm then chốt của người làm marketing là những nguồn thông tin chủ yếu mà người tiêu dùng tìm đến và ảnh hưởng tương đối của từng nguồn đó đến việc quyết định mua sắm tiếp sau Các nguồn thông tin được chia làm 4 nhóm:

Nguồn thông tin cá nhân: gia đình, bạn bè, hàng xóm, người quen

Nguồn thông tin thương mại: quảng cáo, nhân viên bán hàng, đại lý bán hàng, đại ly, bao bì, triển lãm

Nguồn thông tin công cộng: các phương tiện thông tin đại chúng, các tổ chức nghiên cứu người tiêu dùng

Nguồn thông tin thực nghiệm: sờ mó, nghiên cứu và sử dụng sản phẩm (Kotler, 2003, trang 221)

(3) Đánh giá các phương án: Không có một quá trình đánh giá đơn giản

và duy nhất mà tất cả mọi người tiêu dùng đề sử dụng hay thậm chí một người tiêu dùng sử dụng cho tất cả các tình huống mua sắm Có một số quá trình đánh giá quyết định Những mô hình thông dụng nhất của quá trình đánh giá của người tiêu dùng đều định hướng theo nhận thức, tức là cho rằng khi hình

Trang 25

thành những xét đoán về sản phẩm, người tiêu dùng chủ yếu dựa trên cơ sở ý thức và hợp lý Người tiêu dùng xem mỗi sản phẩm là tập hợp các thuộc tính với những khả năng đem lại những lợi ích tìm kiếm và thỏa mãn nhu cầu khác nhau Đối với một sản phẩm thường thị trường có thể được phân khúc theo những tính chất được xem là quan trọng nhất đối với các nhóm người tiêu dùng khác nhau (Kotler, 2003, trang 222-223)

(4) Quyết định mua sắm: Ở giai đoạn đánh giá, người tiêu dùng đã hình thành sở thích đối với những nhãn hiệu trọng tập lựa chọn, và có thể hình thành ý định mua nhãn hiệu ưa thích nhất Tuy nhiên còn 2 yếu tố nữa có thể xen vào giữa ý định mua và quyết định mua hàng, đó là thái độ của những người người khác và những yếu tố bất ngờ Yếu tố thứ nhất là thái độ của những người khác, thái độ của người khác càng mạnh và người khác càng gần gũi với người tiêu dùng thì càng có khả năng người tiêu dùng điều chỉnh ý định mua hàng của mình Thứ hai, ý định mua hàng chịu ảnh hưởng của những yếu tố bất ngờ Khi người tiêu dùng sắp sửa hàng động thì những yếu tố tình huống bất ngờ có thể xuất hiện đột ngột và làm thay đổi ý định mua hàng,

có thể người tiêu dùng sẽ thay đổi, hoãn hoặc hủy bỏ quyết định mua hàng (Kotler, 2003, trang 225-226)

(5) Hành vi hậu mãi: Sau khi mua sản phẩm người tiêu dùng sẽ cảm thấy hài lòng hay không hài lòng ở một mức độ nào đó Người tiêu dùng cũng sẽ có những hành động sau khi mua và những cách sử dụng sản phẩm đáng để cho người làm marketing quan tâm

Festinger và Bramel tin rằng cho dù món hàng đã mua có được lựa chọn

kỹ càng nhất thì vẫn có một sự không ưng ý nào đó sau khi mua: Khi một người lựa chọn giữa hai hay nhiều phương án thì hầu như chắc chắn sẽ có những điểm băn khoăn hay không ưng ý, vì người đó biết rằng quyết định mà người đó thông qua có những ưu điểm nhất định, đồng thời cũng có những nhược điểm nào đó

Sự hài lòng hay không hài lòng của người tiêu dùng đối với sản phẩm sẽ ảnh hưởng đến hành vi tiếp theo Nếu người tiêu dùng hài lòng thì xác suất để người đó sẽ mua sản phẩm ấy nữa sẽ lớn hơn (Kotler, 2003, trang 228)

2.1.2.3 Những yếu tố chủ yếu quyết định đến hành vi mua sắm

Khi đưa ra một quyết định mua sắm, mỗi cá nhân chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố, múc độ quan trọng của các yếu tố lại khác nhau tùy thuộc vào mỗi trường hợp cụ thể Philip Kotler đã thể hiện các yếu tố cơ bản đó trong

mô hình sau:

Trang 26

Tâm lý

Động cơ Nhận thức Hiểu biết Niềm tin và thái độ

Người mua

(Nguồn: Philip Kotler, 2003)

Hình 2.2 Mô hình chi tiết các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi

Các yếu tố văn hóa: các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến

hành vi của người tiêu dùng

Nền văn hóa

Là nhân tố quyết định cơ bản nhất trong những mong muốn và hành vi của một người Một đứa trẻ khi lớn lên sẽ tích lũy được một số những giá trị, nhận thức, sở thích và hành vi thông qua gia đình của nó và những định chế

then chốt khác

Nhánh văn hóa

Mỗi nền văn hóa đều có nhánh văn hóa nhỏ hơn tạo nên những đặc điểm, đặc thù hơn và mức độ hòa nhập với xã hội cho những thành viên của nó Các nhánh văn hóa tạo nên những phân khúc thị trường quan trọng và những người làm Marketing theo các nhu cầu của chúng Hành vi mua sắm của một cá nhân

sẽ chịu ảnh hưởng của những đặc điểm của nhánh văn hóa trước đó

Trang 27

Tầng lớp xã hội

Là những bộ phận tương đối đồng nhất và bền vững trong xã hội, được xếp theo thứ bậc và gồm những thành viên có chung những giá trị, mối quan tâm và hành vi

Những yếu tố xã hội

Nhóm tham khảo

Nhóm tham khảo của một người bao gồm những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp (mặt đối mặt) hay gián tiếp đến thái độ hay hành vi của người đó Những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp đến một người gọi là những nhóm thành viên Đó là những nhóm mà người đó tham gia và có tác động qua lại Có những nhóm là nhóm sơ cấp, như gia đình, bạn bè, hàng xóm láng giềng, và đồng nghiệp, mà người đó có quan hệ giao tiếp thường xuyên Các nhóm sơ cấp thường là có tính chất chính thức hơn và ít đòi hỏi phải có quan hệ giao tiếp thường xuyên hơn

Gia đình

Các thành viên trong gia đình là nhóm tham khảo quan trọng có ảnh

hưởng lớn nhất Ta có thể phân biệt hai gia đình trong đời sống người mua Gia đình định hướng gồm bố mẹ của người đó Do từ bố mẹ mà một người có được một định hướng đối với tôn giáo, chính trị, kinh tế và một ý thức về tham vọng cá nhân, lòng tự trọng và tình yêu Một ảnh hưởng trực tiếp hơn đến hành vi mua sắm hàng ngày là gia đình riêng của người đó Gia đình là một tổ chức mua hàng tiêu dùng quan trọng nhất trong xã hội và nó đã được nghiên cứu rất nhiều năm

Vai trò và địa vị

Mỗi vai trò đều gắn với một địa vị Người tiêu dùng lựa chọn những sản phẩm thể hiện được vai trò và địa vị của mình trong xã hội Những người làm Marketing đều biết rõ khả năng thể hiện địa vị xã hội của sản phẩm và nhãn hiệu Tuy nhiên, biểu tượng của địa vị thay đổi theo các tầng lớp xã hội và theo cả vùng địa lý

Các nhân tố cá nhân

Tuổi tác và giai đoạn sống

Người ta mua những hàng hóa và dịch vụ khác nhau trong suốt đời mình Thị hiếu của người ta về các loại hàng hóa, dịch vụ cũng tuỳ theo tuổi tác Việc tiêu dùng cũng được định hình theo giai đoạn của chu kỳ sống của gia đình

Trang 28

Nghề nghiệp

Nghề nghiệp của một người cũng ảnh hưởng đến cách thức tiêu dùng của

họ Những người có nghề nghiệp khác nhau sẽ có nhu cầu tiêu dùng khác nhau ngay từ những hàng hóa chính yếu như quần áo, giày dép, thức ăn…đến những loại hàng hóa khác như: Mỹ phẩm, máy tính, điện thoại…

Hoàn cảnh kinh tế

Việc lựa chọn sản phẩm chịu tác động rất lớn từ hoàn cảnh kinh tế của người đó Hoàn cảnh kinh tế của người ta gồm thu nhập có thể chi tiêu được của họ (mức thu nhập, mức ổn định và cách sắp xếp thời gian), tiền tiết kiệm

và tài sản (bao gồm cả tỷ lệ phần trăm tài sản lưu động), nợ, khả năng vay mượn, thái độ đối với việc chi tiêu và tiết kiệm

2.1.2.4 Những yếu tố Marketing ảnh hưởng đến hành vi khách hàng

Sản phẩm: nhiều thuộc tính của sản phẩm như: nhãn hiệu, chất lượng,

mới lạ, độ bền,…có thể ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng Hình thức, kiểu dáng, bao bì, thông tin nhãn hiệu, cách đóng gói cũng ảnh hưởng đến quyết định mua hàng

Giá cả: giá cả sản phẩm hay dịch vụ thường ảnh hưởng đến quyết định

mua hàng của người tiêu dùng ngay khi có quan tâm đến giá cả hay không Đôi khi người tiêu dùng tin rằng giá cả tỷ lệ thuận với chất lượng sản phẩm

Phân phối: phân phối sản phẩm hướng tiêu dùng bằng nhiều cách, gia

tăng khả năng phân phối đồng nghĩa với việc gia tăng cơ hội tiêu dùng có thể

dễ dàng tìm thấy và mua sản phẩm Sản phẩm được bày bán ở những nơi sang trọng sẽ được người tiêu dùng cảm nhận là chất lượng cao Những sản phẩm bán độc quyền trong cửa hàng riêng biệt cũng có thể cảm nhận là những sản phẩm có chất lượng tốt

Chiêu thị: quảng cáo, khuyến mại, đội ngũ bán hàng, các hoạt động

truyền thông, quảng bá sản phẩm có ảnh hưởng đặc biệt đến hành vi tiêu dùng các sản phẩm riêng biệt nào đó Những biện pháp truyền thông này đóng vai trò quan trọng để thông tin với người tiêu dùng nơi mua hàng và tạo ra cảm nhận cũng như mong muốn về hàng hóa hay dịch vụ

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.1.1 Số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp được thu thập từ sách báo, tạp chí, website và các cuộc nghiên cứu khác để có cái nhìn sâu rộng hơn và phục vụ tốt hơn cho đề tài

Trang 29

nghiên cứu này Các số liệu thứ cấp được sử dụng trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến 6 tháng đầu năm 2014

2.2.1.2 Số liệu sơ cấp

a Phương pháp chọn mẫu

Số liệu sơ cấp được thu thập bằng bảng câu hỏi qua phỏng vấn trực tiếp các khách hàng đã và đang mua sắm tại các cửa hàng tiện lợi trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ Bảng câu hỏi sẽ được đưa vào phỏng vấn thử

để phát hiện sai sót, và hiệu chỉnh lần nữa trước khi phỏng vấn chính thức

Đề tài điều tra mẫu bằng phương pháp thuận tiện, nghĩa là sẽ đi đến phỏng vấn trực tiếp c ác khách hàng mua sắm tại các cửa h àng tiện lợi trên địa bàn, đồng thời dựa vào các mối quan hệ với các đối tượng thường xuyên mua sắm ở cửa hàng tiện lợi và phỏng vấn họ Do không có nhiều thời gian và để tiết kiệm chi phí nên tác giả chỉ sử dụng phương pháp phi xác suất để tiện lợi cho việc tiếp cận khách hàng và tiến hành phỏng vấn Bên cạnh đó, do đề tài cần phỏng vấn những khách hàng đã và đang mua sắm tại các cửa hàng tiện lợi nên phương pháp thuận tiện là thích hợp để tiếp cận đúng đối tượng và thời điểm họ đang mua sắm tại các cửa hàng Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là tính đại diện không cao, độ tin cậy của mẫu thấp Vì vậy để khắc phục, tác giả lấy cỡ mẫu lớn nhất có thể là 110 quan sát Người viết tiến hành khảo sát tại 5 cửa hàng tiện lợi ở quận Ninh Kiều, gồm siêu thị tự chọn Ngọc Tiên, cửa hàng G7 Mart, shop Minh Thư, cửa hàng tiện lợi G7 Mart và cửa hàng KTX ở kí túc xá trường Đại học Cần Thơ Do có 5 địa điểm khảo sát nên

số quan sát tại mỗi nơi dao động trong khoảng 15-25 để đảm bảo tính đại diện cao cho tổng thể

b Cỡ mẫu

Phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng cho nghiên cứu này là phân tích nhân tố khám phá (EFA) “Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này đều đồng ý là phương pháp này đòi hỏi phải có kích thước mẫu lớn vì nó dựa vào

lý thuyết phân phối mẫu lớn (Raykov & Widaman 1995) Tuy nhiên, kích thước mẫu bao nhiêu được gọi là lớn thì hiện nay chưa được xác định rõ ràng Hơn nữa kích thước mẫu còn tùy thuộc vào phương pháp ước lượng sử dụng Trong EFA, kích thước mẫu thường được xác định dựa vào (1) kích thước tối thiểu và (2) số lượng biến đo lường đưa vào phân tích Hair et al (2006) cho rằng để sử dụng EFA, kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, và tốt hơn là 100 và

tỉ lệ quan sát (observations)/biến đo lường (items) là 5:1, nghĩa là 1 biến đo lường cần tổi thiểu là 5 quan sát.” (Phạm Lê Hồng Nhung và cộng sự, 2012) Với 18 biến quan sát ban đầu của thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn cửa hàng tiện lợi, để tiến hành EFA, cỡ mẫu ít nhất của đề tài là

Trang 30

18x5 = 90) “Nếu sử dụng phương pháp ước lượng ML (Maximum Likelihood) thì kích thước mẫu tối thiểu phải từ 100 đến 150 (Hair et al., 1998).” (Phạm Lê Hồng Nhung và công sự, 2012) Như vậy cỡ mẫu của đề tài

có thể nằm trong khoảng 100 đến 150 Do hạn chế về thời gian cũng như điều kiện thực hiện nghiên cứu nên đề tài sử dụng kích cỡ mẫu n = 110

2.2.2 Mô hình nghiên cứu

2.2.2.1 Mô hình đề xuất

Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu dựa trên một số nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước Theo Lưu Thanh Đức Hải và Vũ Lê Duy (2014), có 7 yếu tố ảnh hưởng đến người tiêu dùng khi họ lựa chọn mua sắm tại chợ hay siêu thị: tuổi tác, uy tín và phong cách phục vụ, không gian mua sắm, thu nhập, giá cả, an toàn và chất lượng, sự phong phú của hàng hóa Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Thùy Dung và Lưu Tiến Thuận (2012) cũng đồng ý rằng giá cả, chất lượng hàng hóa có ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của người dân Bên cạnh đó, khi phân tích sự khác biệt của việc lựa chọn kênh mua sắm, Nguyễn Thị Phương Dung và Bùi Thị Kim Thanh (2011) đã chỉ ra rằng ngoài giá cả, người tiêu dùng còn quan tâm đến vị trí hay chi phí đi lại và sự nhanh chóng, tiết kiệm thời gian khi đến địa điểm mua sắm Nghiên cứu của Bianchi, Costanza (2009) đồng quan điểm rằng vị trí thuận lợi ảnh hưởng đến quyết định người tiêu dùng, ngoài ra còn có thời gian hoạt động của cửa hàng có tác động đến hành vi mua sắm Trước đó, nhà nghiên cứu này

đã chỉ ra một số kết quả kết luận được từ những bài viết có liên quan đến cửa hàng tiện lợi “Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào tính tiện lợi trong định hướng của người tiêu dùng Những nghiên cứu này chỉ ra rằng tính tiện lợi là những thứ giúp người tiêu dùng giảm thiểu thời gian và công sức suốt quá trình mua sắm của họ.” (Bianchi, Costanza, 2009) Những nghiên cứu này đề nghị rằng có nhiều thuộc tính ảnh hưởng đến sở thích và mong đợi về các cửa hàng bán lẻ, đó là dịch vụ, chất lượng sản phẩm, không gian cửa hàng, vị trí cửa hàng, giá cả, thanh toán nhanh, thời gian mở cửa, sự thân thiện của nhân viên, bãi giữ xe

Sau khi tổng hợp từ các nghiên cứu đáng tin cậy trước, tác giả tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu mới phù hợp với đề tài của mình Mô hình nghiên cứu bao gồm các thang đo có ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nơi mua sắm của khách hàng, gồm 6 yếu tố chính: không gian mua sắm, giá cả, chất lượng hàng hóa, vị trí cửa hàng, thời gian mở cửa, sự nhanh chóng và thuận tiện khi mua hàng có ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mua sắm ở cửa hàng tiện lợi

Trang 31

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Giả thuyết H1: Không gian mua sắm có ảnh hưởng đến quyết định lựa

chọn mua sắm ở cửa hàng tiện lợi

Giả thuyết H2: Giá cả có ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mua sắm ở

cửa hàng tiện lợi

Giả thuyết H3: Chất lượng hàng hóa ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn

mua sắm ở cửa hàng tiện lợi

Giả thuyết H4: Vị trí cửa hàng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mua

sắm ở cửa hàng tiện lợi

Giả thuyết H5: Thời gian mở cửa có ảnh hưởng đến đến quyết định lựa

chọn mua sắm ở cửa hàng tiện lợi

Giả thuyết H6: Sự nhanh chóng, thuận tiện khi mua sắm ảnh hưởng đến

đến quyết định lựa chọn mua sắm ở cửa hàng tiện lợi

Vị trí cửa hàng

Thời gian

mở cửa

Nhanh chóng, thuận tiện

Trang 32

2.2.2.2 Xây dựng thang đo cho các nhân tố trong mô hình

Bảng 2.1 Xây dựng thang đo cho các nhân tố đưa vào mô hình

KG1 KG2 KG3

Giá cả

Giá cả hàng hóa phù hợp với túi tiền Giá cả phù hợp với chất lượng dịch vụ của cửa hàng Giá cả có tính cạnh tranh so với các kênh mua sắm khác Giá cả được niêm yết rõ ràng, tin cậy

GC1 GC2 GC3 GC4

Chất lượng

hàng hóa

Hàng hóa có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Vị trí

cửa hàng

Vị trí nằm trên các con đường chính ở trung tâm

Vị trí gần những nơi dân cư đông đúc, cơ quan, trường học

Vị trí dễ tìm, dễ nhớ

Dễ dàng ghé mua trên đường đi làm, đi học,

VT1 VT2 VT3 VT4 Thời gian

mở cửa

Thời gian mở cửa trong ngàydài hơn chợ và siêu thị

Mở cửa tất cả các ngày trong tuần, kể cả lễ, tết

TG1 TG2

Quyết định chọn cửa hàng tiện lợi vì thời gian mở cửa xuyên suốt Quyết định chọn cửa hàng tiện lợi vì tính thuận tiện, nhanh chóng

QĐ1 QĐ2 QĐ3 QĐ4 QĐ5 QĐ6

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu

Để phu ̣c vu ̣ cho các mu ̣c tiêu của đề tài , tác giả sử dụng một số phương pháp phân tích như thống kê mô tả , kiểm định đô ̣ tin câ ̣y thang đo bằng

Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA , phân tích hồi quy đa biến Dưới đây là phần gió thiê ̣u sơ lược lý thuyết về các phương pháp có sử dụng trong nghiên cứu:

Thống kê mô tả

Thống kê mô tả là một trong hai chức năng chính của thống kê (thống kê

mô tả và thống kê ứng dụng) Thống kê mô tả là tập hợp tất cả các phương pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu bằng các phép tính và các chỉ số thống kê thông thường như số trung bình (Mean), số trung bình (Median),

Trang 33

phương sai (Variance), độ lệch chuẩn (Standar deviation)…cho các biến số liên tục và các tỷ số (Proportion) cho các biến số không liên tục Trong phương pháp này, các đại lượng thống kê mô tả chỉ được tính đối với các biến định lượng

Phân tích tần số

Là một trong những công cụ thống kê mô tả được dù ng để mô tả và tìm hiểu về đặc tính phân phối của một số mẫu thô nào đó Trong nghiên cứu này phương pháp phân tích tần số được dùng để đo lường cả biến định lượng và biến định tính dưới dạng đếm số lần xuất hiện, để mô tả một số biến liên quan tới đặc tính nhân khẩu học của đối tượng được phỏng vấn như giới tính, nghề nghiệp, độ tuổi, trình độ học vấn Bên ca ̣nh đó , phương pháp này còn được dùng để mô tả và tìm hiểu một số biến có ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng như sản phẩm thường mua, nơi mua sắm hay tần suất mua sắm…Phương pháp này cho ta cái nhìn tổng thể về mẫu điều tra

Tính điểm trung bình

Phương pháp này giúp xác định mức độ quan trọng, ảnh hưởng của các yếu tố tới hành vi của người tiêu dùng trong quyết định tiêu dùng sản phẩm

1 – 1,8 Rất không quan trọng (không ảnh hưởng)

1,81 – 2,6 Không quan trọng (không ảnh hưởng)

2,61 – 3,4 Trung bình

3,41 – 4,2 Quan trọng (ảnh hưởng)

4,21 – 5 Rất quan trọng (ảnh hưởng)

Kiểm định hệ số Cronbach’s Alpha

Chúng ta có thể đ ánh giá độ tin cậy của phép đo lường bằng phương pháp tính hệ số Cronbach Alpha Hệ số Cronbach’s alpha được sử dụng trước

để loại các biến quan sát không đạt yêu cầu hay các thang đo chưa đạt yêu cầu trong quá trình nghiên cứu Tính hệ số Cronbach’s alpha được thực hiện đối với mỗi nhóm biến cố kết nên các nhân tố Hệ số Cronbach alpha cho biết sự tương đối đồng nhất trong đo lường theo các biến có nội dung gần gũi nhau và

đã hình thành nên một nhân tố Các biến quan sát có hệ số tương quan biến- tổng nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại bỏ và tiêu chuẩn để chọn thang đo khi nó có độ tin cậy alpha từ 0.6 trở lên, sau khi độ tin cậy đạt yêu cầu dùng phương pháp phân tích nhân tố để xác định đâu là những tiêu chí quan trọng nhất mà người tiêu dùng quan tâm

Trang 34

Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA

Phân tích nhân tố khám phá thường được sử dụng chủ yếu để thu nhỏ và tóm tắt dữ liệu trong nghiên cứu sử dụng Khi nghiên cứu, ta có thể thu thập được một số lượng biến khá lớn và hầu hết các biến này có liên hệ với nhau; khi đó số lượng của các biến được giảm xuống đến một số lượng mà chúng ta

có thể sử dụng được Các nhân tố chung có thể mô tả như những kết hợp tuyến tính của các biến quan sát Các biến còn lại sau khi đã xử lý bằng phương pháp phân tích hệ số Cronbach Alpha (loại biến không phù hợp) và phương pháp phân tích nhân tố sẽ được đưa vào phân tích hồi quy đa biến

Trong quá trình phân tích EFA, tác giả chỉ phân tích chọn lọc những yếu

tố có ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định lựa chọn mua sắm ở cửa hàng tiện lợi của người tiêu dùng Các nhân tố chung có thể được diễn tả như những kết hợp tuyến tính của các biến quan sát:

Mô hình phân tích EFA

Fi = Wi1X1 + Wi2X2 + Wi3X3 +….+ WikXk

Trong đó:

Fi = ước lượng trị số của nhân tố thứ i

W: quyền số hay trọng số nhân tố (weight or factor score coeficent)

k : số biến

Điều kiện để áp dụng phân tích nhân tố là các biến có tương quan với nhau Để xác định các biến có tương quan như thế nào, ta sử dụng kiểm định Barlett’s để kiểm định giả thuyết:

H0: các biến không có liên quan lẫn nhau

H1: có sự tương quan giữa các biến

Mong đợi bác bỏ giả thuyết H0 nghĩa là chấp nhận giả thuyết H1, ta mong chờ kết quả các biến có liên quan với nhau Điều này có được khi giá trị P_value sau khi kiểm định phải nhỏ hơn mức ý nghĩa xử lý α Đồng thời, phân tích nhân tố được xem là thích hợp khi giá trị hệ KMO (Kaiser-Mayer-Olkin) trong khoảng từ 0,5 đến 1, khi đó các tương quan đủ lớn để có thể áp dụng phân tích nhân tố Sau khi rút được các nhân tố và lưu lại thành các biến mới, các biến này sẽ được thay cho tập hợp biến gốc để đưa vào phân tích hồi quy

Phương pháp phân tích hồi quy bội

Phân tích hồi quy là sự nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của một hay nhiều biến số (biến giải thích hay biến độc lập: independent variables) đến một biến

số (biến kết quả hay biến phụ thuộc: dependent variables) nhằm dự báo biến

Trang 35

kết quả dựa vào các giá trị được biết trước của các biến giải thích Phân tích hồi quy bội được sử dụng để phân tích mối liên hệ giữa các biến liên quan đến chất lượng cũng như các tiện ích ở cửa hàng tiện lợi (thang đo hoàn chỉnh đã qua xử lý) đối với quyết định chọn nơi mua sắm Kết quả phân tích hồi quy sẽ xác định các biến quan trọng và mức độ ảnh hưởng của chúng lên sự hài lòng của khách hàng Đề tài sử dụng phương pháp phân tích hồi quy bội để ước lượng mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập đến sự hài lòng của khách hàng (biến phụ thuộc)

Phương trình hồi quy có dạng: Yi = α0 + β1X1 + β2X2 + β3X3 +…+ βkXk

Trong đó:

Y ( biến phụ thuộc): quyết định lựa chọn mua sắm ở cửa hàng tiện lợi Giá trị của biến phụ thuộc được xác định bằng giá trị trung bình của 6 biến thành phần trong thang đo quyết định lựa chọn cửa hàng tiện lợi được xây dựng ở bảng 2.1

X1, X2, X3,… Xk( các biến độc lập ): các nhân tố mới được rút ra từ phân tích nhân tố, là các biến ảnh hưởng đến biến phụ thuộc Giá trị của từng biến độc lập được xác định bằng giá trị trung bình của các biến thành phần được rút trích sau khi phân tích nhân tố được trình bày ở bảng 2.1

α0: hệ số chặn của hàm hồi quy

β1: các tham số hồi quy, đo lường độ lớn và chiều hướng ảnh hưởng của biến độc lập đối với biến phụ thuộc

Trang 36

CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Nội dung chương 3 sẽ tập trung giới thiệu sơ lược một vài đặc điểm nổi bật về vị trí địa lí, tình hình dân cư, đơn vị hành chính, đặc điểm kinh tế, xã hội của thành phố Cần Thơ, địa bàn nghiên cứu của đề tài

3.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH

Thành phố Cần Thơ có tọa độ địa lý 105013’38’’ – 105050’35’’ kinh Đông và 9055’08’’ – 10019’38’’ vĩ độ Bắc Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng trung – hạ lưu và ở vị trí trung tâm châu thổ đồng bằng sông Cửu Long, trải dài trên 55km dọc bờ Tây sông Hậu, tổng diện tích tự nhiên 1.401,61 km2

, chiếm 3,49% diện tích toàn vùng Phía Bắc giáp tỉnh An Giang; phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long; phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang; phía Nam giáp tỉnh Hậu Giang Trong đó, diện tích của riêng quận Ninh Kiều là 29,224 km2 (Cổng thông tin điện tử thành phố Cần Thơ, 2013)

Thành phố Cần Thơ được chia thành 9 đơn vị hành chính gồm 5 quận và

4 huyện, gồm có có 5 thị trấn, 44 phường và 36 xã (tính từ thời điểm ban hành nghị định số 12/NĐ-CP).

Bảng 3.1: Số liệu về diện tích và số đơn vị hành chính của các đơn vị

hành chính cấp Huyện tại thành phố Cần Thơ

Quận Cái Răng

Quận

Ô Môn

Quận Thốt Nốt

Huyện Phong Điền

Huyện

Cờ Đỏ

Huyện Thới Lai

Huyện Vĩnh Thạnh Diện tích

7 phường

7 phường

9 phường

1 thị trấn,

6 xã

1 thị trấn,

9 xã

1 thị trấn,

12 xã

2 thị trấn,

9 xã

Nguồn: Cổng thông tin điện tử thành phố Cần Thơ, 2009

3.2 DÂN SỐ, VĂN HÓA – XÃ HỘI

Theo Tổng cục thống kê Việt Nam (2013), tính đến năm 2012, dân số toàn thành phố khoảng 1.214.100 người, mật độ dân số là 862 người/km2

Cần Thơ là một trong những thành phố trực thuộc trung ương của nước

ta, thể hiện một bộ mặt văn minh, hiện đại, nhanh chóng hội nhập với những

xu hướng phát triển của cả nước và trên thế giới Không những thế thành phố của chúng ta còn nổi tiếng với danh xưng thủ phủ của miền Tây, của vùng

Trang 37

đồng bằng sông Cửu Long trù phú, hiền hòa Địa danh Cần Thơ có xuất xứ từ tên “Cẩm thi giang” (sông thơ, đàn), cho thấy đây là vùng văn hóa sông nước Con sông gắn liền với mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, cư dân thành phố Văn hóa, lối sống con người nơi đây vẫn mang đậm nét hào sảng, phóng khoáng, chất phác đậm chất Nam Bộ Bên cạnh đó, đây còn là địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số Người Khmer thường tập trung chung quanh các chùa hoặc sống rải rác xen kẽ với người Việt tại các quận Ninh Kiều, Ô Môn, Thốt Nốt; người Hoa đa số sống ở quận Ninh Kiều và huyện Phong Điền, chủ yếu buôn bán tại các chợ, nơi đông dân cư Vì thế văn hóa Cần Thơ là sự kết hợp, giao thoa độc đáo giữa các nền văn hóa truyền thống người Kinh, Khmer, Hoa,… Văn hóa thành phố Cần Thơ chủ yếu thể hiện qua tín ngưỡng, ẩm thực,

âm nhạc,… Người Cần Thơ thường có thói quen đi chùa vào những ngày rằm hay lễ lớn như lễ Vu Lan, Tết cổ truyền,… để cầu an lành, may mắn cho bản thân và gia đình Ẩm thực cũng là một điều thú vị để khám phá khi đến Tây

Đô, là những đặc sản nổi tiếng của Nam Bộ và của riêng Cần Thơ, có thể nhắc đến lẩu mắm Dạ Lý, bún mắm, bánh xèo, bánh tét lá cẩm, nem nướng Cái Răng, bánh hỏi-heo quay Phong Điền, lẩu bần Phù Sa níu chân du khách phương xa Một điều đặc biệt nữa trong văn hóa của thủ phủ miền Tây chính

là điệu hò Cần Thơ, nó xuất phát từ những câu hò của khách thương hồ lúc rãnh rỗi cắm sào để tìm bạn hò và chờ con nước để rời sang bến khác, làn điệu dân ca độc đáo này gồm các loại như hò cấy, hò mái dài và hò huê tình

3.3 KINH TẾ

Thành phố Cần Thơ được đầu tư xây dựng nhiều công trình giao thông,

cơ sở hạ tầng trọng điểm để phục vụ cho việc phát triển kinh tế, xã hội không chỉ cho thành phố mà còn cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long Tiêu biểu là sân bay Cần Thơ là sân bay lớn nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đã chính thức đi vào hoạt động khai thác thương mại các tuyến quốc nội từ ngày

03 tháng 01 năm 2009 và mở các tuyến bay quốc tế vào ngày 01/01/2011 Cầu Cần Thơ bắc qua sông Hậu, niềm tự hào của miền đồng bằng sông nước được khởi công vào tháng 9 năm 2004, đã hoàn thành và đưa vào sử dụ ̣ng ngày 24 tháng 4 năm 2010 Ngoài ra, hệ thống cảng của Cần Thơ đang được nâng cấp, gồm: Cảng Cần Thơ (Cảng Hoàng Diệu) có thể tiếp nhận tàu tàu biển có tải trọng 10.000 - 20.000 DWT; cảng Trà Nóc có 3 kho chứa lớn với dung lượng 40.000 tấn, khối lượng hàng hóa thông qua cảng có thể đạt 200.000 tấn/ năm

có thể tiếp nhận tàu 2.500 DWT Cảng Cái Cui là cảng mới được xây dựng có thể phụ ̣c vụ ̣ cho tàu từ 10.000 - 20.000 DWT, khối lượng hàng hóa thông qua cảng là 4,2 triệu tấn/năm, đã hoàn thành công trình giai đoạn I vào tháng 4 năm 2006; đang triển khai đầu tư giai đoạn II Sau khi thực hiện xong dự án nạo vét và xây dựng hệ thống đê tại cửa biển Quan Chánh Bố, Cảng Cái Cui

sẽ là Cảng biển quốc tế tại thành phố Cần Thơ Nhìn chung , hệ thống giao

Trang 38

thông và công trình phụ ̣c vụ ̣ giao thông đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội tại thời điểm hiện nay Trong thời gian tới , thành phố sẽ tiếp tụ ̣c đầu tư phát triển hoàn thiện hơn

Dưới đây là tóm tắt tình hình hoạt động của một số ngành kinh tế chính theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2014 của UBND thành phố Cần Thơ

3.3.1 Sản xuất công nghiệp:

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 7,5% so với tháng trước, luỹ kế tăng 7,5% so cùng kỳ; giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 6.375 tỷ đồng, tăng 8,3% giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010) ước 40.892 tỷ đồng, đạt 41,9% KH, tăng 7,6% so cùng kỳ; trong đó công nghiệp chế biến ước thực hiện 37.121 tỷ đồng, đạt 41% KH, tăng 7,1%; công nghiệp sản xuất

và phân phối điện, ga, nước thực hiện 3.771 tỷ đồng, đạt 53,1% KH, tăng 13%

so cùng kỳ (UBND thành phố Cần Thơ, 2014)

Hoạt động các khu chế xuất và công nghiệp: Trong 7 tháng, thu hút 3 dự

án đầu tư với tổng vốn đăng ký 23,4 triệu USD; tính đến nay, các khu công nghiệp trên địa bàn có 212 dự án còn hiệu lực, thuê 564,9 ha đất công nghiệp với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1.894 triệu USD, vốn đầu tư đã thực hiện 848,2 triệu USD, chiếm 44,8% tổng vốn đầu tư đăng ký Tổng doanh thu của các doanh nghiệp đang hoạt động trong tháng ước thực hiện 136 triệu USD (UBND thành phố Cần Thơ, 2014)

Xuất, nhập khẩu: Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và doanh thu dịch

vụ ngoại tệ ước thực hiện 105,2 triệu USD, tăng 1,8% so tháng trước (trong

đó, xuất khẩu hàng hóa 91,8 triệu USD; dịch vụ thu ngoại tệ 13,4 triệu USD) Lũy kế trong 7 tháng, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và doanh thu dịch vụ thu ngoại tệ ước thực hiện 677,6 triệu USD, đạt 41,1% KH, giảm 16,8% so với cùng kỳ; trong đó, xuất khẩu hàng hóa 588,7 triệu USD, đạt 38% KH, giảm 14% Kim ngạch nhập khẩu ước 22,5 triệu USD; lũy kế trong 7 tháng 187,2 triệu USD, đạt 49,3% KH, giảm 10,1% so với cùng kỳ (UBND thành phố Cần Thơ, 2014)

Trang 39

Giao thông vận tải: Tổ chức khai trương đường bay Cần Thơ - Đà Nẵng, thời gian ban đầu tần suất bay là 03 chuyến khứ hồi/tuần, đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương và du lịch của người dân và du khách Trong tháng, vận chuyển hàng hóa 502,8 ngàn tấn, tăng 0,6% so tháng trước, vận chuyển hành khách ước 2.309 ngàn lượt hành khách, tăng 0,7% Trong 7 tháng, vận chuyển hàng hóa 3.542,9 ngàn tấn, đạt 67% KH, tăng 0,8% so cùng kỳ (luân chuyển 758,9 triệu tấn.Km, đạt 59% KH, tăng 2,7% so cùng kỳ), vận chuyển hành khách ước 17.153,6 ngàn lượt hành khách, đạt 57,6% KH, tăng 4,1% (luân chuyển 532,7 triệu lượt HK.Km, đạt 60,6% KH, tăng 3% so cùng kỳ) (UBND thành phố Cần Thơ, 2014)

Du lịch: Trong tháng, các doanh nghiệp du lịch đón và phục vụ 130 ngàn lượt khách lưu trú (trong đó có 15 ngàn lượt khách quốc tế); về hoạt động lữ hành quốc tế: đón 1.500 khách nước ngoài; đưa 1.560 khách đi du lịch nước ngoài; về hoạt động lữ hành nội địa đón phục vụ 8.800 lượt khách; doanh thu ước đạt 103 tỷ đồng Lũy kế trong 7 tháng, các doanh nghiệp du lịch đón và phục vụ 757.397 lượt khách lưu trú, đạt 58,3% KH, tăng 9% so cùng kỳ (trong đó có 115.178 lượt khách quốc tế, đạt 52,4% KH, tương đương cùng kỳ); về hoạt động lữ hành quốc tế: đón 9.801 khách nước ngoài đến Cần Thơ, đạt 63,2% KH, tăng 6%; đưa 7.819 khách đi du lịch nước ngoài, đạt 62,6% KH, tăng 10%; về hoạt động lữ hành nội địa đón phục vụ 51.745 lượt khách, đạt 69% KH, tăng 15%; doanh thu toàn ngành ước đạt 627 tỷ đồng, đạt 57% KH, tăng 13% so cùng kỳ (UBND thành phố Cần Thơ, 2014)

3.3.4 Xuất khẩu

Theo báo cáo tình hình xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố Cần Thơ 6 tháng đầu năm 2014 của Sở Công thương, đa số các mặt hàng xuất khẩu của thành phố đều có xu hướng tăng 10-15% so với cùng kỳ năm trước, riêng mặt hàng chủ lực của thành phố Cần Thơ là gạo lại giảm 15% so với cùng kỳ năm

2013 Lý giải cho hiện tượng trên, theo các doanh nghiệp xuất khẩu gạo, Việt Nam đang gặp khó khăn trong việc cạnh tranh về giá của gạo Thái Lan tại các thị trường châu Phi và châu Á Hiện tại chúng ta chỉ giữ được hợp đồng cung ứng 800.000 tấn gạo cho Phillipines trong năm 2014, nhưng dự đoán những

Trang 40

tháng cuối năm 2014 tình hình xuất khẩu gạo sẽ có nhiều khởi sắc do những biến động về chính trị tại Thái Lan Doanh nghiệp cũng cho biết, sự kiện Trung Quốc đặt dàn khoan 981 trên thềm lục địa Việt Nam cũng làm cho các doanh nghiệp bất an trong việc xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc vì hiện tại sản lượng gạo xuất khẩu của các doanh nghiệp Cần Thơ sang Trung Quốc chiếm 40-45% sản lượng xuất khẩu của doanh nghiệp (UBND thành phố Cần Thơ, 2014)

Ngày đăng: 13/11/2015, 13:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu tham khảo - phân tích hành vi mua sắm tại cửa hàng tiện lợi của người dân ở quận ninh kiều, tp cần thơ
Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu tham khảo (Trang 16)
Hình 2.1 Mô hình hành vi của người mua - phân tích hành vi mua sắm tại cửa hàng tiện lợi của người dân ở quận ninh kiều, tp cần thơ
Hình 2.1 Mô hình hành vi của người mua (Trang 23)
Hình 2.2 Mô hình chi tiết các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi - phân tích hành vi mua sắm tại cửa hàng tiện lợi của người dân ở quận ninh kiều, tp cần thơ
Hình 2.2 Mô hình chi tiết các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi (Trang 26)
Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất - phân tích hành vi mua sắm tại cửa hàng tiện lợi của người dân ở quận ninh kiều, tp cần thơ
Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất (Trang 31)
Bảng 3.1: Số liệu về diện tích và số đơn vị hành chính của các đơn vị - phân tích hành vi mua sắm tại cửa hàng tiện lợi của người dân ở quận ninh kiều, tp cần thơ
Bảng 3.1 Số liệu về diện tích và số đơn vị hành chính của các đơn vị (Trang 36)
Bảng 4.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đáp viên - phân tích hành vi mua sắm tại cửa hàng tiện lợi của người dân ở quận ninh kiều, tp cần thơ
Bảng 4.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đáp viên (Trang 42)
Bảng 4.2 Nghề nghiệp và thu nhập của đáp viên - phân tích hành vi mua sắm tại cửa hàng tiện lợi của người dân ở quận ninh kiều, tp cần thơ
Bảng 4.2 Nghề nghiệp và thu nhập của đáp viên (Trang 44)
Bảng 4.5 Thời điểm mua sắm thường xuyên trong ngày - phân tích hành vi mua sắm tại cửa hàng tiện lợi của người dân ở quận ninh kiều, tp cần thơ
Bảng 4.5 Thời điểm mua sắm thường xuyên trong ngày (Trang 46)
Bảng 4.6 Chi tiêu cho mỗi lần mua sắm - phân tích hành vi mua sắm tại cửa hàng tiện lợi của người dân ở quận ninh kiều, tp cần thơ
Bảng 4.6 Chi tiêu cho mỗi lần mua sắm (Trang 47)
Bảng 4.7 Những mặt hàng người tiêu dùng thường mua tại cửa hàng tiện lợi - phân tích hành vi mua sắm tại cửa hàng tiện lợi của người dân ở quận ninh kiều, tp cần thơ
Bảng 4.7 Những mặt hàng người tiêu dùng thường mua tại cửa hàng tiện lợi (Trang 48)
Bảng 4.8 Các tiêu chí đánh giá lựa chọn nơi mua sắm - phân tích hành vi mua sắm tại cửa hàng tiện lợi của người dân ở quận ninh kiều, tp cần thơ
Bảng 4.8 Các tiêu chí đánh giá lựa chọn nơi mua sắm (Trang 49)
Bảng 4.9 Cronbach’s Alpha các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua - phân tích hành vi mua sắm tại cửa hàng tiện lợi của người dân ở quận ninh kiều, tp cần thơ
Bảng 4.9 Cronbach’s Alpha các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua (Trang 50)
Bảng 4.10 Cronbach’s Alpha cho thang đo quyết định nơi mua sắm - phân tích hành vi mua sắm tại cửa hàng tiện lợi của người dân ở quận ninh kiều, tp cần thơ
Bảng 4.10 Cronbach’s Alpha cho thang đo quyết định nơi mua sắm (Trang 51)
Bảng 4.11 Kết quả phân tích EFA - phân tích hành vi mua sắm tại cửa hàng tiện lợi của người dân ở quận ninh kiều, tp cần thơ
Bảng 4.11 Kết quả phân tích EFA (Trang 53)
Hình 4.1. Mô hình nghiên cứu chính thức của tác giả  Như vậy, mô hình mới chỉ còn lại 4 giả thuyết sau: - phân tích hành vi mua sắm tại cửa hàng tiện lợi của người dân ở quận ninh kiều, tp cần thơ
Hình 4.1. Mô hình nghiên cứu chính thức của tác giả Như vậy, mô hình mới chỉ còn lại 4 giả thuyết sau: (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w