1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện thoại sơn, tỉnh an giang

92 428 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRI KINH DOANH NGÔ MỸ NGỌC ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH THÍ ĐIỂM BẢO HIỂM CÂY LÚA ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ TRỒNG LÚA Ở HUYỆN THOẠI SƠN, TỈ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRI KINH DOANH

NGÔ MỸ NGỌC

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG

TRÌNH THÍ ĐIỂM BẢO HIỂM CÂY LÚA ĐẾN

THU NHẬP CỦA HỘ TRỒNG LÚA Ở

HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số ngành: 52340201

Tháng 08-Năm 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGÔ MỸ NGỌC MSSV: 4117073

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG

TRÌNH THÍ ĐIỂM BẢO HIỂM CÂY LÚA ĐẾN

THU NHẬP CỦA HỘ TRỒNG LÚA Ở

HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

Mã số ngành: 52340201

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PHAN ĐÌNH KHÔI

Tháng 08 –Năm 2014

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh

đã giảng dạy tôi trong những học kỳ vừa qua

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Phan Đình Khôi, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Xin cảm ơn các cơ quan ban ngành đã giúp đỡ tôi thu thập số liệu và xin cảm ơn những hộ nông dân đã dành thời gian quý báo để trả lời bảng câu hỏi của

đề tài

Ngoài ra, tôi xin cảm ơn anh Bùi Tuấn Khanh, anh Huỳnh Anh Khoa, bạn Nguyễn Quế Trân, Trần Hồng Trang và bạn Nguyễn Tấn Quốc Bảo đã hỗ trợ và đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi vô cùng biết ơn cha mẹ đã tạo mọi điều kiện để tôi được học dưới mái trường Đại học Cần Thơ

Chân thành cảm ơn!

Trang 4

TRANG CAM KẾT

Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác

Cần Thơ, ngày 08 tháng 12 năm 2014

Người thực hiện

Ngô Mỹ Ngọc

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014

Giáo viên hướng dẫn

Phan Đình Khôi

Trang 6

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014

Giáo viên phản biện

Trang 7

MỤC LỤC

Chương 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

1.3.1 Không gian 2

1.3.2 Thời gian 2

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3

1.5 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 3

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 5

2.1.1 Khái niệm, vai trò và nguyên tắc bảo hiểm 5

2.1.2 Các rủi ro thường gặp trong sản xuất nông nghiệp 7

2.1.3 Bảo hiểm nông nghiệp 8

2.1.4 Bảo hiểm cây lúa 17

2.1.5 Thu nhập 19

2.2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 20

2.2.1 Phương pháp đánh giá tác động 20

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHNN 22

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.3.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 24

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 25

2.3.3 Phương pháp phân tích 25

2.3.4 Mô hình nghiên cứu 27

Chương 3: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 34

3.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN THOẠI SƠN 34

3.1.1 Vị trí địa lý 34

3.1.2 Điều kiện tự nhiên 35

3.3.3 Dân cư 35

3.3.4 Kinh tế năm 2011-2013 36

3.2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT LÚA Ở TỈNH AN GIANG 38

3.2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa 2011- 2013 38

3.2.2 Công tác phòng chống dịch bệnh và công tác thủy lợi 39

3.3 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH THÍ ĐIỂM BHNN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG 40

Trang

Trang 8

Chương 4: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH THÍ ĐIỂM BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ TRỒNG LÚA Ở HUYỆN

THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG 43

4.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA MẪU ĐIỀU TRA 43

4.1.1 Đặc điểm của chủ hộ 43

4.1.2 Đặc điểm của hộ 45

4.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất 45

4.2 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THAM GIA BHNN ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ TRỒNG LÚA 49

4.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa 49

4.2.2 Đánh giá tác động 53

Chương 5: GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CHƯƠNG TRÌNH BẢO HIỂM CÂY LÚA Ở HUYỆN THOẠI SƠN 57

5.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 57

5.1.1 Những mặt đạt được của chương trình thí điểm BH cây lúa ở huyện Thoại Sơn 57

5.1.2 Những mặt hạn chế của chương trình thí điểm BH cây lúa ở huyện Thoại Sơn 57

5.2 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 58

5.2.1 Điều chỉnh nội dung, quy định bảo hiểm nông nghiệp phù hợp với thực tế 58 5.2.2 Quy trình xác minh, hỗ trợ, bồi thường của bảo hiểm nông nghiệp nên đơn giản, nhanh chóng, chính xác để hỗ trợ kịp thời cho người dân 58

5.2.3 Bổ xung đối tượng thiên tai 59

5.2.4 Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền chính sách bảo hiểm nông nghiệp đến các hộ dân 59

5.2.5 Tăng cường công tác tập huấn kỹ thuật cho nông dân 60

5.2.6 Nông dân cần chủ động tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật, nâng cao nhận thức về bảo hiểm nông nghiệp 60

Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

6.1 KẾT LUẬN 61

6.2 KIẾN NGHỊ 61

6.2.1 Đối với Nhà nước, Bộ tài chính và Bộ Nông nghiệp –PTNT 62

6.2.2 Đối với địa phương 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

PHỤ LỤC 1 66

PHỤ LỤC 2 74

Trang 9

DANH SÁCH BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Diễn giải các biến độc lập và kỳ vọng trong phân tích hồi quy 30

Bảng 3.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa huyện Thoại Sơn 2011-2013 38

Bảng 3.2 Kết quả thực hiện chương trình thí điểm BH cây lúa tại huyện Thoại Sơn theo Quyết định 315/QĐ-TTg giai đoạn 2011-2013 40

Bảng 3.3 Số tiền Công ty Bảo Minh hỗ trợ đề phòng hạn chế tổn thất cho hộ tham gia chương trình thí điểm BH cây lúa huyện Thoại Sơn 41

Bảng 4.1 Thông tin của chủ hộ 43

Bảng 4.2 Thông tin diện tích trồng lúa và diện tích tham gia BHNN 45

Bảng 4.3 Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất lúa của hộ 47

Bảng 4.4 Mô tả thu nhập của hộ 48

Bảng 4.5 Kết quả hồi quy mô hình logit 50

Bảng 4.6 Kết quả so sánh thu nhập của hộ trồng lúa theo phương pháp so sánh giá trị trung bình giữa hai nhóm có kèm theo kiểm định t 54

Bảng 4.7 Kết quả đánh giá tác động của chương trình BHNN đến thu nhập của hộ trồng lúa theo phương pháp so sánh điểm xu hướng 55

Trang 10

DANH SÁCH HÌNH

Trang

Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Thoại Sơn 34

Hình 3.2 GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện Thoại Sơn 2011-2013 36

Hình 3.3 Cơ cấu kinh tế theo khu vực kinh tế của huyện Thoại Sơn 37

Hình 4.1 Trình độ học vấn của chủ hộ 44

Hình 4.2 Cơ cấu chi phí cho hoạt động sản xuất 46

Trang 11

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BHNN : Bảo hiểm nông nghiệp

BH : Bảo hiểm

PTNT : Phát triển nông thôn

Trang 13

Chương 1 GIỚI THIỆU

do thiên tai gây ra ước tính gần 30 nghìn tỷ đồng Trong đó, hơn 17 nghìn ha lúa

và 20 nghìn ha hoa màu bị mất trắng; gần 117 nghìn ha lúa và 154 nghìn ha hoa màu bị ngập, hư hỏng (Tổng cục thống kê, 2013)

Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp nhưng rủi ro trong sản xuất nông nghiệp lại rất lớn Điều này gây ra tác động lớn đến các mặt đời sống kinh tế xã hội của đất nước Nhiều nước trên thế giới đã tiến hành bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) để ổn định ngân sách, ổn định đời sống xã hội và giữ vững an ninh lương thực quốc gia Nhận thức được tầm quan trọng của BHNN, Việt Nam đã triển khai chương trình BHNN từ năm 1981, đến tháng 3/2011 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 315/QĐ-TTg về thực hiện chương trình thí điểm BHNN ở Việt Nam giai đoạn 2011-2013 Chương trình thí điểm BHNN được thực hiện trên 20 tỉnh, thành phố trong phạm vi cả nước đối với cây lúa, chăn nuôi và thủy sản nuôi Riêng đối với bảo hiểm cây lúa được triển khai tại bảy tỉnh trong cả nước trong đó có tỉnh An Giang

An Giang là một trong những tỉnh thành có diện tích, sản lượng lúa lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long, góp phần đáng kể vào sản lượng lúa hàng năm của cả nước Toàn tỉnh có hơn 635 nghìn ha đất gieo trồng lúa, tập trung ở 3 huyện là An Phú, Châu Phú và Thoại Sơn Triển khai chương trình thí điểm BHNN được xem

là một trong những việc rất quan trọng nhằm bù đắp thiệt hại tài chính do hậu quả của thiên tai, dịch bệnh gây ra, cũng như góp phần đảm bảo cuộc sống, giúp nông

Trang 14

dân yên tâm canh tác, đồng thời thúc đẩy sản xuất nông nghiệp Do đó, việc triển khai thí điểm BHNN tại An Giang được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng Tuy nhiên, việc triển khai chương trình thí điểm bảo hiểm đã bộc lộ nhiều

khó khăn, bất cập và vấn đề đặt ra là liệu BHNN có thật sự phát huy vai trò giúp nông dân giảm thiểu rủi ro và ổn định cuộc sống Vì vậy, đề tài “Đánh giá tác

động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang” được thực hiện nhằm xem xét việc

tham gia bảo hiểm nông nghiệp có thật sự giúp ổn định thu nhập cho những hộ trồng lúa Từ đó, đề tài đề ra giải pháp nhằm giải quyết khó khăn trong việc triển khai, thực hiện chương trình BHNN ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu chung của đề tài nhằm đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Không gian

Đề tài nghiên cứu tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa được tiến hành thực hiện tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

1.3.2 Thời gian

Đề tài được thực hiện từ tháng 08/2014 đến tháng 12/2014

Số liệu thứ cấp được tổng hợp từ năm 2011 đến năm 2013 Chương trình thí điểm BHNN được triển khai từ năm 2011 và kết thúc vào cuối năm 2013 Vì vậy, tác giả sử dụng số liệu tổng hợp của giai đoạn 2011-2013 để làm cơ sở phân tích thực trạng triển khai chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa ở huyện Thoại Sơn

Trang 15

Số liệu sơ cấp được thu thập trong tháng 10/2014 bằng cách phỏng vấn trực tiếp các hộ trồng lúa ở huyện Thoại Sơn Do thời gian thu thập số liệu ngay đầu

vụ Thu Đông, đây là thời điểm nông dân đi thăm đồng thường xuyên Ngoài ra, báo cáo tình hình triển khai chương trình bảo hiểm cây lúa của huyện Thoại Sơn cho thấy số hộ tham gia bảo hiểm cây lúa rất ít Không những vậy, những hộ trồng lúa không sinh sống tập trung mà phân bố rộng khắp các xã trong huyện Thoại Sơn Chính vì vậy, những khó khăn này có thể ảnh hưởng đến khả năng thu mẫu và kết quả nghiên cứu của tác giả

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tiến hành khảo sát những nông hộ sản xuất lúa tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang bao gồm những hộ có tham gia và những hộ không tham gia chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa giai đoạn 2011-2013

1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

(1) Thực trạng tham gia chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa của hộ trồng lúa ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang như thế nào?

(2) Có sự khác biệt giữa thu nhập của hộ trồng lúa tham gia bảo hiểm và hộ không tham gia bảo hiểm hay không?

(3) Những giải pháp nào có thể giải quyết vấn đề khó khăn của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa?

1.5 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Để đảm bảo tính logic của bài viết, cấu trúc của luận văn gồm có 6 chương với bố cục của từng chương như sau:

Chương 1: Giới thiệu, chương này giới thiệu lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu, phạm vi và kết cấu của đề tài nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Chương 2: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, chương này mô

tả phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu cũng như phương pháp thu thập và phân tích số liệu được sử dụng trong đề tài

Chương 3: Giới thiệu khái quát địa bàn nghiên cứu, giới thiệu khái quát về

huyện Thoại Sơn, thực trạng sản xuất lúa và thực trạng triển khai chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa ở huyện Thoại Sơn

Chương 4: Đánh giá tác động của chương trình thí điểm BHNN đến thu

nhập của hộ trồng lúa ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang Chương này tác giả sử

dụng mô hình logit để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo

Trang 16

hiểm cây lúa của hộ trồng lúa ở huyện Thoại Sơn Sau đó tiến hành đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa bằng phương pháp so sánh điểm

xu hướng

Chương 5: Giải pháp, trên cơ sở kết quả quả phân tích và đánh giá tác động

của chương trình, tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần giải quyết khó khăn của chương trình bảo hiểm cây lúa

Chương 6: Kết luận và kiến nghị, chương này kết luận lại vấn đề đã nghiên

cứu và đưa ra một số kiến nghị để chương trình BHNN ở huyện Thoại Sơn được triển khai hiệu quả

Trang 17

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN

2.1.1 Khái niệm, vai trò và nguyên tắc bảo hiểm

2.1.1.1 Khái niệm và vai trò của bảo hiểm

Denis Kessler (2004) định nghĩa: “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông

vào sự bất hạnh của số ít” Một quan điểm khác của Monique Gaullierthì cho rằng bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó người được bảo hiểm cam đoan phải trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê Theo tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ thì bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm

vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo

Có thể thấy sự khác nhau giữa các quan niệm xuất phát từ việc nhìn nhận bảo hiểm ở các góc độ và cách thức tiếp cận khác nhau Nhìn chung, bảo hiểm là

sự chuyển giao rủi ro được thực hiện qua hợp đồng bảo hiểm, trong đó bên mua bảo hiểm chấp nhận trả phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm (Võ Thị Pha, 2005) Như vậy, bản chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu Bảo hiểm hoạt động dựa trên Quy luật số đông (The law of large numbers)

(1)

Nguồn: Cổng thông tin Bảo hiểm Việt Nam Các khái niệm và nguyên tắc cơ bản trong BH

Trang 18

Vai trò của bảo hiểm thể hiện rõ trên nhiều phương diện Hoạt động bảo hiểm trước hết là bù đắp thiệt hại, khắc phục hậu quả tài chính do rủi ro gây ra để giúp mọi người có được tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống Ngoài

ra, bảo hiểm sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn

để đầu tư dài hạn cho nền kinh tế Vai trò kinh tế - xã hội còn thể hiện ở các khía cạnh như: giảm sức ép đối với hệ thống phúc lợi xã hội, hỗ trợ các hoạt động kinh doanh, thúc đẩy các hoạt động thương mại giúp ổn định và duy trì sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, đồng thời góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa các nước thông qua hoạt động tái bảo hiểm

2.1.1.2 Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm

Bảo hiểm hoạt động dựa trên quy luật số đông, bản chất của bảo hiểm là phân chia tổn thất của một người cho những người tham gia bảo hiểm cùng chịu

Vì vậy, để bảo hiểm có thể thực hiện được và mang lại hiệu quả, bảo hiểm cần hoạt động dựa trên một số nguyên tắc nhất định Theo thông tin trên Cổng thông tin bảo hiểm Việt Nam có 5 nguyên tắc cơ bản sau:

Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn (Fortuity not certainty) Có thể hiểu nguyên tắc này như sau: chỉ bảo hiểm một rủi ro xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người, không bảo hiểm cho một điều chắc chắn xảy ra

Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (Utmost good faith) cho rằng tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực tuyệt đối Cả người được bảo hiểm và người bảo hiểm đều phải trung thực trong tất cả các vấn đề

Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm (Insurable interest) Nguyên tắc này chỉ ra rằng người được bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm

Nguyên tắc bồi thường (Indemnity): Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi

Nguyên tắc thế quyền (Subrobgation): Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ ba chịu trách nhiệm bồi thường cho mình

Trang 19

2.1.2 Các rủi ro thường gặp trong sản xuất nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp thường phải đối mặt với nhiều rủi ro tác động đến hiệu quả tài chính của nông hộ Rủi ro nông nghiệp là những bất trắc, những tổn thất xảy ra cho người sản xuất nông nghiệp, gây ra bởi nhiều nguyên nhân như: thời tiết, thiên tai, dịch bệnh, giá cả, giống Theo Sciabarrasi (2010), có 5 loại rủi

ro trong sản xuất nông nghiệp như sau:

Rủi ro sản xuất (Production Risks): Rủi ro sản xuất là rủi ro liên quan đến mức năng suất hoặc sản lượng đầu ra thấp hơn dự đoán Nguyên nhân của rủi ro sản xuất phát sinh từ điều kiện thời tiết khắc nghiệt (như hạn hán, sương giá, hoặc mưa quá nhiều khi thu hoạch), hoặc là những thiệt hại do sâu hại, dịch bệnh Để hạn chế rủi ro này, người nông dân nên thực hiện theo phương thức được khuyến cáo, đa dạng hóa cây trồng và giống, mở rộng sản xuất trên diện tích đất dư thừa, mua bảo hiểm cây trồng để ổn định thu nhập, áp dụng công nghệ thích hợp như tưới nhỏ giọt, hệ thống thoát nước, duy trì trang thiết bị và cơ sở vật chất trong tình trạng tốt nhất

Rủi ro về giá/thị trường (Price/Marketing Risks): Là rủi ro liên quan đến biến động giá đầu vào và đầu ra Đây là rủi ro quan trọng trong nông nghiệp Biến động giá đầu ra bắt nguồn từ cú sốc thị trường trong và ngoài nước Nguyên nhân làm cho giá thấp hơn là do nguồn cung tăng hoặc nhu cầu tiêu dùng giảm, hoặc

do khả năng tiếp cận thị trường thấp bởi quy mô sản xuất nhỏ lẻ của nông dân Để giảm thiểu rủi ro này, nên xây dựng kế hoạch tiếp thị cùng với dự báo doanh số bán hàng thực tế và giá bán mục tiêu, thành lập hoặc tham gia hợp tác xã để tiếp thị và ổn định giá, đảm bảo thị trường đầu ra, mở rộng kênh bán sản phẩm nông nghiệp cho thương lái và các xí nghiệp sản xuất để tránh phụ thuộc vào một đầu

ra duy nhất cũng như nên xem xét đầu ra trước khi gieo trồng

Rủi ro tài chính (Financial Risks): Rủi ro này liên quan đến khả năng có đủ tiền mặt để đáp ứng nhu cầu sản xuất thấp hơn dự kiến Rủi ro này thường là kết quả của rủi ro sản xuất và rủi ro thị trường Ngoài ra, rủi ro tài chính cũng có thể được gây ra bởi sự gia tăng chi phí đầu vào, tăng lãi suất, số tiền vay lớn, thiếu tiền mặt hoặc tiền tiết kiệm và những thay đổi trong tỷ giá hối đoái cũng có thể gây ra rủi ro tài chính Có thể giảm thiểu rủi ro tài chính bằng cách kiểm soát chi phí sản xuất, giảm thiểu chi tiêu không cần thiết; xem xét việc thuê máy móc, thiết bị thay vì mua, vay tiền từ các tổ chức tín dụng hỗ trợ người nông dân để được mức lãi suất thấp trong dài hạn; kết hợp sản xuất nông nghiệp và phi nông

Trang 20

nghiệp để tăng thu nhập; mua bảo hiểm thu nhập cho hoạt động sản xuất nông nghiệp

Rủi ro pháp lý và môi trường (Legal and environmental risks): Rủi ro pháp

lý liên quan đến việc thỏa thuận và ký kết hợp đồng Rủi ro này cũng liên quan đến trách nhiệm pháp lý về môi trường và mối quan tâm về chất lượng nước, xói mòn và sử dụng thuốc trừ sâu

Rủi ro quản lý nguồn nhân lực (Human resource management risks): Rủi ro này liên quan đến các cá nhân và các mối quan hệ của họ với nhau Rủi ro có thể xảy ra khi người chủ sản xuất, người làm công, hoặc thành viên trong gia đình ly hôn, chết, tàn tật Để hạn chế rủi ro này cần xem xét nguồn lao động thay thế; có những chế độ ưu đãi đối với người làm công, những thành viên trong gia đình cần được đối xử bình đẳng

2.1.3 Bảo hiểm nông nghiệp

Về mặt pháp lý thì BHNN là một nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ có đối tượng bảo hiểm là các rủi ro phát sinh trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và đời sống nông thôn, bao gồm những rủi ro gắn liền với: cây trồng, vật nuôi, vật tư, hàng hóa, nguyên liệu nhà xưởng

Ở những nước đang phát triển, khi sản xuất nông nghiệp xảy ra thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, chính phủ thường bù đắp cho nông dân bằng các chương trình hỗ trợ thiên tai nhưng những chương trình hỗ trợ này làm cho nông dân không chủ động phòng ngừa rủi ro và có thể khuyến khích họ tăng mức độ thiệt hại trong đợt thiên tai tiếp theo để nhận được hỗ trợ Những nhà làm chính sách đưa ra chương trình BHNN như là một giải pháp thay thế cho chương trình hỗ trợ thiên tai Thay vì người nông dân chờ để nhận được sự hỗ trợ từ chính phủ thì chương trình BHNN được xem như một công cụ để nông dân chủ động khắc phục hậu quả tài chính khi có thiệt hại xảy ra Mặc dù vậy, trong thực tế chương trình BHNN vẫn tồn tại cùng với chương trình hỗ trợ của chính phủ, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển thường xuyên đối mặt thiên tai gây ra thiệt hại nặng nề cho nông dân (Ngân hàng thế giới, 2005)

BHNN không giới hạn cho cây trồng mà còn áp dụng đối với vật nuôi, thủy sản nuôi và nhà kính BHNN cho phép nông dân duy trì uy tín tín dụng ngay cả trong năm bị mất mùa nghiêm trọng và tránh rơi vào nghèo đói, vì vậy bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sản xuất và tiêu thụ cho nông dân (FAO, 2011)

Trang 21

Như vậy, có thể nói BHNN là một phương tiện hữu hiệu để hỗ trợ người sản xuất nông nghiệp giúp bù đắp thiệt hại và khắc phục hậu quả khi xảy ra rủi ro để bảo đảm thu nhập, đồng thời duy trì khả năng sản xuất góp phần ổn định cuộc sống cho nông dân

2.1.3.1 Mục tiêu chính của bảo hiểm nông nghiệp

Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, Chính phủ các nước thường đưa

ra các chính sách liên quan đến sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn Điển hình, chương trình BHNN ở các nước được xem như một chính sách xã hội với mục tiêu tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo (Ngân hàng thế giới, 2005) Đối với mục tiêu tăng trưởng: Chương trình BHNN được thực hiện nhằm phát triển kinh tế ở khu vực nông thôn và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất nông nghiệp Mục tiêu tăng trưởng nhằm giúp những hộ nông dân nghèo có thể tiếp tục trồng trọt, chăn nuôi khi xảy ra sự kiện bảo hiểm dẫn đến thiệt hại toàn bộ hay một phần Ngoài ra, khi tham gia chương trình bảo hiểm các hộ nông dân phải thực hiện sản xuất theo quy trình do bộ nông nghiệp hướng dẫn Điều này góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại và phát triển bền vững

Đối với mục tiêu giảm thiểu nghèo khó ở khu vực nông thôn: Chính phủ các nước theo đuổi mục tiêu làm giảm sự chênh lệch giàu nghèo và phân phối lại nguồn lực xã hội Chính sách giảm nghèo giúp cải thiện thu nhập bình quân của người nông dân nghèo, thực chất là để giảm sự biến động thu nhập của họ và khả năng rủi ro làm mất sạch tài sản mà họ đã tích lũy lâu năm Để đạt được các mục tiêu trên, chính phủ các nước đã tạo ra nhiều điều kiện cho chương trình BHNN, cũng như nổ lực thực hiện phúc lợi xã hội

Để thực hiện hai mục tiêu tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo, Việt Nam đã thực hiện chương trình thí điểm BHNN Quyết định số 315/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cũng đã nêu rõ mục đích của chương trình này như sau:

“Thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp nhằm hỗ trợ cho người sản xuất nông nghiệp chủ động khắc phục và bù đắp thiệt hại tài chính do hậu quả của thiên tai, dịch bệnh gây ra, góp phần bảo đảm ổn định an sinh xã hội nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp”

2.1.3.2 Các hình thức của bảo hiểm nông nghiệp

Theo Dự án Phát triển, thực hiện và đánh giá các đề án bảo hiểm chỉ số dựa trên quản lý rủi ro tối ưu trong nông nghiệp (Development, Implementation and

Trang 22

Evaluation of Index-Based Insurance Schemes for Optimal Risk Management in Agriculture) BHNN có 8 hình thức cơ bản Các hình thức của bảo hiểm nông nghiệp bao gồm:

Bảo hiểm rủi ro duy nhất (Single-Risk Insurance): Là loại bảo hiểm cung cấp bảo hiểm để chống lại một rủi ro duy nhất Bảo hiểm rủi ro duy nhất cũng có thể được hỗ trợ nếu rủi ro không mang tính hệ thống Ví dụ, bảo hiểm mưa đá là một trong những bảo hiểm được áp dụng rộng rãi nhất; mưa đá là rủi ro không hệ thống vì hiện tượng mưa đá chỉ xuất hiện và ảnh hưởng đến một vài khu vực chứ không xuất hiện rộng khắp Hợp tác xã của nông dân ở Pháp và Đức cung cấp bảo hiểm cây trồng - mưa đá vào đầu năm 1820

Bảo hiểm kết hợp (Combined/Peril Insurance): Đây là loại bảo hiểm còn được gọi là bảo hiểm đa rủi ro ở một số nước Công ty bảo hiểm cung cấp bảo hiểm đối với nhiều rủi ro Ví dụ, bảo hiểm kết hợp mưa đá và sương Trong nhiều trường hợp, phạm vi bảo hiểm được mở rộng với các rủi ro về lửa, động đất, sét,

và các thảm họa thiên nhiên liên quan khác

Bảo hiểm năng suất (Yield Insurance): Đây là loại bảo hiểm cung cấp bảo hiểm chống lại biến động của sản lượng nông nghiệp Bất kỳ yếu tố nào có nguy

cơ gây ảnh hưởng đến năng suất đều được bảo hiểm Những rủi ro này có thể được liệt kê như lũ lụt, hạn hán, sương giá, mưa đá, hỏa hoạn Thông thường, bảo hiểm năng suất giúp chống lại nhiều rủi ro còn được gọi là bảo hiểm cây trồng đa rủi ro (Multi-peril crop insurance - MPCI) Đây là một bảo hiểm tốn kém vì hầu như tất cả các rủi ro đều được bảo hiểm Vì thế, muốn người nông dân và các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia, vai trò trợ cấp của chính phủ là rất lớn Đặc biệt

là ở Mỹ, Tổng công ty bảo hiểm cây trồng liên bang (Federal Crop Insurance Corporation) đã đưa ra hình thức bảo hiểm cây trồng đa rủi ro từ năm 1938

Nguyễn Tuấn Sơn (2008) cho rằng bảo hiểm năng suất tồn tại nhiều vấn đề như dễ dẫn đến sự lựa chọn rủi ro bảo hiểm, không phát huy được tính cộng đồng

và phát sinh rủi ro đạo đức và dễ dẫn đến tình trạng trục lợi bảo hiểm Đây là nguyên nhân dẫn đến BHNN ở Việt Nam trở nên kém hiệu quả

Bảo hiểm giá (Price Insurance): Đây là loại bảo hiểm cung cấp bảo hiểm chống lại biến động về giá của sản phẩm nông nghiệp Như vậy, nếu giá thành sản phẩm thấp hơn mức đã xác định từ trước thì công ty bảo hiểm sẽ xem xét và thanh toán tiền bồi thường theo các điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm Cần lưu

ý rằng bảo hiểm giá đòi hỏi tính minh bạch về giá Như vậy, giá xác định trước

Trang 23

không bị ảnh hưởng bởi các công ty bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm Để xác định mức ngưỡng (threshold prices) và xem xét sự biến động về giá, có thể sử dụng các công cụ của thị trường tương lai (future market) cho mỗi sản phẩm nông nghiệp Một vấn đề trong bảo hiểm giá cần được quan tâm là xác định được lý do tại sao giá sản phẩm thấp hơn so với dự kiến Ví dụ, việc giá sản phẩm thấp do kém chất lượng là điều dễ hiểu nhưng vì lý do này mà người nông dân được bồi thường thì sẽ gây ra các vấn đề về đạo đức trong sản xuất Vì thế vẫn còn các cuộc tranh luận xung quanh vấn đề này và có ý kiến cho rằng nên loại trừ nguyên nhân giảm giá do giảm chất lượng

Bảo hiểm doanh thu (Revenue Insurance): Đây là loại bảo hiểm cung cấp

bảo hiểm chống lại những thay đổi trong doanh thu của hộ sản xuất Như ta đã biết doanh thu bằng giá nhân sản lượng, bảo hiểm doanh thu giúp chống lại sự biến động của cả giá và sản lượng Vì thế, bảo hiểm doanh thu được xem là một trong những hình thức giúp ổn định doanh thu tốt nhất Tại Mỹ, Cơ quan Quản lý rủi ro (Risk Management Agency) đã đưa ra chương trình bảo hiểm doanh thu cho rất nhiều loại cây trồng; một ví dụ từ chương trình là bảo hiểm doanh thu cho cây ngô Chương trình này ước tính sản lượng của ngô dựa trên lịch sử sản xuất của nông dân Tiếp theo, giá tương lai cho ngô được xác định từ thị trường hàng hóa tương lai (future exchange) Sau đó, đem mức giá dự kiến nhân với sản lượng

dự kiến sẽ được doanh thu dự kiến Dựa trên doanh thu dự kiến, một ngưỡng doanh thu được xác định để cung cấp bảo hiểm chống lại sự biến động doanh thu (ví dụ như 80% doanh thu dự kiến ban đầu)

Bảo hiểm toàn bộ trang trại (Whole-Farm Insurance): Đây là loại bảo hiểm cung cấp bảo hiểm chống lại những thay đổi trong năng suất hoặc doanh thu của trang trại Toàn bộ các hoạt động của trang trại đều được bảo hiểm Ví dụ nếu trang trại trồng cả hai loại cây A & B thì nên xem xét mua bảo hiểm toàn bộ trang trại vì sẽ tiết kiệm được chi phí thay vì mua bảo hiểm riêng lẻ cho từng loại cây trồng Bảo hiểm doanh thu trang trại là một trường hợp đặc biệt của bảo hiểm doanh thu

Bảo hiểm thu nhập (Income Insurance): Đây là loại bảo hiểm cung cấp bảo hiểm chống lại biến động trong thu nhập của người nông dân Như ta đã biết, thu nhập bằng doanh thu trừ đi chi phí Như vậy, bảo hiểm thu nhập giúp bảo hiểm những rủi ro về thay đổi trong doanh thu, sản lượng, giá cả, cũng như chi phí sản xuất - các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân Theo quan điểm của người được bảo hiểm thì đây là loại hình bảo hiểm hấp dẫn nhất cho người nông

Trang 24

dân; nó cung cấp một sự bảo vệ trực tiếp chống lại tổn thất về thu nhập Tuy nhiên, từ quan điểm của công ty bảo hiểm, đây lại là loại hình bảo hiểm rủi ro nhất bởi không chỉ là doanh thu, mà chi phí cũng có thể bị ảnh hưởng nhiều bởi hành vi của người nông dân; từ đó rủi ro về đạo đức có thể xuất hiện

Bảo hiểm theo chỉ số (Index Insurance): Đặc trưng cơ bản nhất của bảo hiểm theo chỉ số là lấy các chỉ số khách quan như chỉ số thời tiết và mức bồi thường tương ứng với mỗi chỉ số được quy định trong hợp đồng bảo hiểm làm căn cứ xét bồi thường mà không cần tiến hành giám định để biết độ được mức độ thiệt hại) Để đảm bảo bồi thường hợp lý, mức độ bồi thường được tính trên cơ sở năng suất bình quân chung của cả vùng

Nguyễn Tuấn Sơn (2008) đánh giá đây là phương pháp có mức rủi ro đạo đức khá thấp vì căn cứ để xét bồi thường là các chỉ số khách quan không phụ thuộc vào ý muốn và hành vi chủ quan của con người Khả năng lựa chọn rủi ro

để bảo hiểm cũng hạn chế vì rủi ro được bảo hiểm là rủi ro thời tiết như lũ lụt, hạn hán Chi phí quản lý cũng thấp do không cần phải khai thác bảo hiểm theo yêu cầu riêng của từng người, không cần giám định tổn thất do thời tiết gây ra đối với từng cá nhân người mua bảo hiểm Ngoài ra, bảo hiểm theo chỉ số dễ hiểu, dễ xác định mức bồi thường cho từng người mua bảo hiểm Mặc dù phương pháp này có một vài hạn chế, bảo hiểm chỉ số thời tiết đang trong quá trình phát triển, hoàn thiện và hứa hẹn một tương lai tốt đẹp cho bảo hiểm nông nghiệp

2.1.3.3 BHNN ở một số nước đang phát triển

BHNN đã được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả những nước phát triển như Mỹ, Canada Tuy nhiên, những nước phát triển có đặc điểm kinh tế khác xa so với những nước đang phát triển do đó những nước đang phát triển như Việt Nam khó áp dụng một chương trình BHNN giống như các nước phát triển Các quốc gia đang phát triển từng thực hiện BHNN và rút ra nhiều bài học khác nhau về cách thực hiện chương trình này Đây là những kinh nghiệm để các quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp tương tự như Việt Nam học tập và áp dụng khi thực hiện chương trình BHNN Hai quốc gia thực hiện BHNN đầu tiên là Nicaragua và Morocco, tiếp theo là Ấn Độ và Ukraina, là hai nước đã thực hiện bảo hiểm chỉ số thời tiết (Ngân hàng thế giới, 2005)

Chương trình BHNN ở Nicaragua

Nicaragua là một quốc gia nằm ở Trung Mỹ, nông nghiệp có vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nước này Năm 2003, có 30% dân số tham gia vào

Trang 25

hoạt động sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên từ những năm 1990, ngành nông nghiệp thường xuyên tăng trưởng âm do chịu ảnh hưởng bởi hạn hán và lũ lụt Sau khi chương trình bảo hiểm được thực hiện ở Nicaragua, Hazell và Skees (1998) đã có những nghiên cứu khả thi đầu tiên vào mùa xuân năm 1998 Các nghiên cứu này đã xem xét vấn đề một cách chi tiết và đưa ra các khuyến nghị cho sự phát triển cũng như sự bền vững của chương trình bảo hiểm

Hazell và Skees (1998) cho rằng, trong những năm đầu tiên chương trình thí điểm nên bắt đầu ở quy mô nhỏ với mục tiêu chủ yếu là phổ biến cho nông dân về chương trình BHNN nhằm mục đích là tạo tiền đề tiến hành chương trình BHNN rộng rãi Ngoài ra, trong việc quản lý và hỗ trợ dự án nhất thiết có một người quan trọng để quản lý và hỗ trợ các dự án thí điểm Người này phải biết tất

cả các khía cạnh của dự án và có vai trò tích cực trong mọi hoạt động của dự án Việc liên kết BHNN với ngân hàng là một phát triển quan trọng trong chương trình BHNN ở quốc gia này bằng cách các ngân hàng ở Nicaragua đồng ý giảm lãi suất cho vay sản xuất nông nghiệp cho những nông dân có tham gia BHNN

Chương trình BHNN ở Morocco

Morocco có 47% dân số và hầu hết là người nghèo sống ở khu vực nông thôn Vì vậy, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong đời sống nông thôn của nước này Tính trung bình nông nghiệp chiếm khoảng 17% GDP nhưng

tỷ lệ này thường dao động, chủ yếu là do khí hậu mà đặc biệt là sự thay đổi lượng mưa làm ảnh hưởng nhiều đến năng suất

Năm 1995, chính phủ Morocco đã kích hoạt một chương trình hạn hán, một chương trình được tài trợ bởi các công ty bảo hiểm hỗ trợ nông nghiệp địa phương để giải quyết vấn đề hạn hán bằng cách thực hiện một chương trình bảo hiểm năng suất Chương trình này được chứng minh là phổ biến, nhưng nó cũng gặp phải vấn đề của hình thức bảo hiểm năng suất, chẳng hạn như chi phí hỗ trợ cao và các vấn đề về quản lý liên quan đến việc đánh giá năng suất của hộ tham gia

Với những hạn chế của chương trình hạn hán, chính phủ Morocco đã đồng ý tham gia vào một dự án nghiên cứu của Ngân hàng thế giới nhằm khai thác tính khả thi của chương trình bảo hiểm thời tiết thay thế cho bảo hiểm năng suất truyền thống Các cuộc điều tra cho thấy chương trình bảo hiểm chỉ số lượng mưa

có những lợi ích đáng kể như giảm thiểu rủi ro đạo đức, rủi ro lựa chọn bất lợi và quá trình thanh toán cũng nhanh hơn

Trang 26

Chương trình BHNN ở Ukraina

Ukraina là một quốc gia ở khu vực Đông Âu, nền nông nghiệp của Ukraina

là lĩnh vực kinh tế hiệu quả, có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của đất nước

và có tiềm năng phát triển Cũng như các nước trong khu vực, nền nông nghiệp của Ukraina cũng phải đối mặt với rủi ro thời tiết, làm ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch cũng như thu nhập của nông dân Ukraina

Các tổ chức tài chính nông thôn ở Ukraina sử dụng thu hoạch trong tương lai như tài sản thế chấp, nhưng kể từ khi các thiết bị nông nghiệp nói chung bị lỗi thời và kém giá trị thì những công ty này bắt đầu yêu cầu nông dân mua bảo hiểm thu hoạch để tự bảo hiểm và chống lại nguy cơ mất mùa Ngoài ra, các ngân hàng lớn hoạt động cho vay nông nghiệp không cho vay trên cơ sở tài sản thế chấp không có bảo hiểm, vì vậy để có được tín dụng buộc người nông dân phải mua bảo hiểm cho thu hoach của họ Để đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cho vay của nông dân, hầu hết các ngân hàng tự thành lập công ty bảo hiểm Mặc dù những người nông dân chưa hiểu được lợi ích của bảo hiểm chỉ số thời tiết, nhưng họ đã quen thuộc với rủi ro thời tiết và muốn mua bảo hiểm để đảm bảo cuộc sống trước những hiểm họa tự nhiên Mặt khác, để duy trì khả năng thanh toán, các công ty bảo hiểm Ukraina sử dụng tái bảo hiểm quốc tế để bảo hiểm cho rủi ro hệ thống

2.1.3.4 Sự cần thiết của BHNN và chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2011-2013

Sản xuất nông nghiệp ở nước ta thường xuyên phải đối mặt với nhiều rủi ro

do thời tiết và khí hậu thất thường Trong hoàn cảnh đó, người nông dân thường phải đối mặt với nhiều nguy cơ mất mùa, làm ảnh hưởng đến sinh kế, khiến cuộc sống của nông dân Việt Nam luôn trong tình trạng bấp bênh Để hỗ trợ nông dân, Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp như khoanh nợ, xóa nợ Tuy nhiên theo các chuyên gia bảo hiểm quốc tế, hình thức hỗ trợ này không tạo ra động lực để các hộ chủ động và có kế hoạch đối phó với những rủi ro thiên tai, dịch bệnh (Hà Yên, 2009) Đây chính là tiền đề cho việc phát triển bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam

Ngày 01/03/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định về việc triển khai chương trình thí điểm BHNN giai đoạn 2011-2013 trên 20 tỉnh thành trong nước Theo Phùng Ngọc Khánh (2014)(2) đây là một chính sách đúng đắn và hợp lòng dân nhằm ổn định sản xuất và đời sống của người dân, góp phần thực hiện tốt

(2)

Nguồn: Minh Hà, 2014 Bảo hiểm nông nghiệp-trụ đỡ sản xuất

Trang 27

chính sách an sinh xã hội Đối tượng được bảo hiểm là những cây, con chủ lực quan trọng của địa phương, phải phù hợp với điều kiện, đặc thù sản xuất nông nghiệp, phân bố dân cư và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, việc triển khai BHNN khá phức tạp, lại chưa có tiền lệ và cơ chế chính sách ban hành chưa hoàn chỉnh nên công tác triển khai, thực hiện gặp rất nhiều khó khăn

Sau ba năm triển khai, việc thực hiện thí điểm BHNN đã đạt được những kết quả thiết thực Nhiều cơ chế chính sách, các văn bản hướng dẫn thực hiện, quy tắc, điều khoản, biểu phí đã được ban hành, sửa đổi, bổ sung đầy đủ, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất, thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm, người sản xuất nông nghiệp và các bên liên quan thực hiện Có thể nói, chính sách BHNN là một trong những chính sách tài chính đi vào cuộc sống với tốc độ nhanh, có sức lan tỏa sâu rộng và được sửa đổi, bổ sung trong từng diễn biến mùa

vụ

Về công tác tuyên truyền, chương trình thí điểm BHNN đã luôn phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tấn báo chí để tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng như Đài Truyền hình Việt Nam, Báo Nhân Dân, Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Cổng thông tin Bộ Tài chính Chính những thông tin của các cơ quan thông tấn báo chí đã góp phần làm cho người dân, cơ quan hiểu rõ hơn về BHNN

Ngoài ra, chương trình thí điểm BHNN đã tạo cho người sản xuất nông nghiệp ý thức và thói quen tuân thủ quy trình sản xuất, canh tác, nuôi trồng thủy sản Đây là mục tiêu cơ bản mà ngành nông nghiệp mong muốn đạt được để tiến tới sản xuất hàng hóa toàn diện

Kết quả chung của toàn bộ chương trình thí điểm BHNN cho thấy, đến nay việc thí điểm BHNN đã được triển khai ở 20 tỉnh, thành phố thuộc địa bàn triển khai thí điểm với khoảng 300.000 hộ nông dân, tổ chức sản xuất nông nghiệp tham gia, trong đó hộ nghèo chiếm 76,8% tổng số hộ tham gia bảo hiểm, hộ cận nghèo chiếm 15,1%, hộ thường chiếm 8,1% và một tổ chức sản xuất nông nghiệp tham gia BHNN Tỷ lệ bồi thường bảo hiểm khoảng 178,1% Trong đó, chủ yếu bồi thường bảo hiểm thủy sản với tỷ lệ bồi thường lên đến 306%, tiếp đó là bồi thường bảo hiểm cây lúa với tổng số tiền thực là 19 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường là 20,6%, bồi thường bảo hiểm vật nuôi với tỷ lệ bồi thường là 15,9% Nuôi trồng thủy sản thường có rất nhiều rủi ro dẫn đến tôm, cá chết hàng loạt khiến các doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường số tiền rất lớn cho đơn vị được bảo hiểm Điều này ảnh hưởng lớn đến khả năng tài chính của các doanh nghiêp bảo hiểm

Trang 28

Đây là vấn đề cần giải quyết dưới sự hỗ trợ của nhà nước (Báo cáo kết quả thực hiện thí điểm BHNN số 68/BC-BTC, 2014)

Trải qua ba năm triển khai chương trình thí điểm BHNN, bên cạnh những kết quả đạt được, BHNN ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn khi triển khai Theo bài viết của Hoàng Xuân(3) có rất nhiều nguyên nhân khiến BHNN chưa thành công tại Việt Nam Thứ nhất, do rủi ro trong sản xuất nông nghiệp rất lớn và mang tính chất thường xuyên Nếu chỉ bảo hiểm theo hướng thông thường thì các doanh nghiệp bảo hiểm không mặn mà với BHNN vì nguy cơ thua lỗ cao Thứ hai, đối tượng bảo hiểm là những cơ thể sống chịu tác động mạnh của các yếu tố thiên nhiên dẫn đến công tác quản lý rủi ro găp nhiều khó khăn Thứ ba, công tác đánh giá rủi ro, mức độ thiệt hại cũng gặp không ít khó khăn Dẫn đến việc bồi thường cho người dân bị chẫm trễ khiến nông dân không có vốn mua giống để tiếp tục sản xuất Thứ tư, vấn đề mâu thuẫn trong việc lựa chọn rủi ro và đối tượng bảo hiểm vẫn tồn tại Doanh nghiệp bảo hiểm chọn loại rủi ro, đối tượng có mức độ rủi ro thấp, ngược lại người tham gia bảo hiểm chỉ chấp nhận mua bảo hiểm cho đối tượng có mức độ rủi ro cao, thường xuyên bị thiệt hại Ngoài ra còn nhiều khó khăn khác trong đó rủi ro đạo đức cũng là một vấn đề nan giải trong BHNN ở Việt Nam

Nguyễn Duy Lượng (2012) cho biết nhiều yêu cầu của người dân không phù hợp với các nguyên tắc của bảo hiểm Về nguyên tắc, bảo hiểm chỉ bảo hiểm rủi

ro, không bảo hiểm sự chắc chắn nhưng người dân mong muốn bảo hiểm tất cả các loại thiên tai, dịch bệnh, cả những tổn thất không phải do rủi ro gây ra Hay trong khi nguyên tắc bảo hiểm là trung thực tuyệt đối, nhưng người nông dân lại không muốn cung cấp các chứng từ có liên quan, thực hiện các thủ tục cần thiết,

dù đã được tiết giảm khá nhiều Thậm chí, người dân mong mỏi số tiền bảo hiểm được cao hơn với phí bảo hiểm thấp hơn Điều này rất khó thực hiện được

Có thể thấy BHNN ở Việt Nam tồn tại nhiều vấn đề mâu thuẫn lợi ích giữa doanh nghiệp bảo hiểm và nông dân Để chương trình BHNN thành công cần sự

hỗ trợ của Nhà nước và sự phối hợp của doanh nghiệp bảo hiểm cùng các cơ quan chức năng

Theo nhiều nhà nghiên cứu, cần tìm ra hướng đi mới để giải quyết những khó khăn của BHNN ở Việt Nam Bảo hiểm chỉ số đang được nhiều người ủng

(3) Nguồn: Hoàng Xuân Gập ghềnh bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam, cần nhiều giải pháp để nông dân tiếp cận với bảo hiểm

Trang 29

hộ, nghiên cứu để vận dụng Đó là việc lấy chỉ số khách quan của từng đối tượng bảo hiểm (ví dụ đối với cây trồng chỉ số bảo hiểm là chỉ số thời tiết) làm căn cứ xét bồi thường Đào Văn Hùng (2009)(4)

đánh giá, bảo hiểm theo chỉ số có thể khắc phục được nhược điểm của bảo hiểm truyền thống, như quy định mức bồi thường tương ứng với các chỉ số mà không cần tiến hành giám định để xác định mức độ thiệt hại của từng cá nhân Mức độ bồi thường được tính trên cơ sở năng suất bình quân chung nhiều năm của cả vùng hay tiểu vùng sinh thái Theo ông,

ưu điểm của phương pháp này là khả năng rủi ro về đạo đức khá thấp vì căn cứ để xét bồi thường là chỉ số khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn và hành vi chủ quan của con người Đồng thời, giảm chi phí quản lý, tránh được tình trạng trục lợi bảo hiểm Nông dân cũng dễ dàng nhận bồi thường nếu chẳng may rủi ro xảy

ra Nếu phương pháp này được áp dụng, thị trường BHNN ở Việt Nam sẽ có tiềm năng phát triển, góp phần thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước

Nhìn chung, chương trình thí điểm BHNN ở Việt Nam giai đoạn 2011-2013

đã hoàn thành Tuy tồn tại nhiều vấn đề, nhưng chương trình thí điểm này vẫn có những thành công nhất định Chương trình này sẽ là cơ sở để thực hiện chương trình BHNN rộng rãi cho nông dân trên cả nước

2.1.4 Bảo hiểm cây lúa

Theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013 và quyết định số 2114/QĐ-BTC ngày 24/08/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm nông nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 3035/QĐ-BTC ngày 16/12/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Đối tượng được bảo hiểm là cây lúa nước với diện tích được bảo hiểm là diện tích trồng lúa thực tế của người được bảo hiểm, đơn vị tính là ha theo từng

vụ Hình thức bảo hiểm hiện nay nước ta đang áp dụng là bảo hiểm cây lúa theo chỉ số năng suất

Những hộ tham gia bảo hiểm chỉ được bồi thường khi năng suất thực tế thấp hơn năng suất được bảo hiểm - 90% năng suất bình quân xã hoặc của đơn vị được bảo hiểm (năm 2012 là 80% năng suất bình quân xã) Người được bảo hiểm sẽ được bồi thường trong trường hợp xảy ra các loại thiên tai: bão, lũ lụt, hạn hán, rét đậm, rét hại, sương giá, xâm nhập mặn, sóng thần, giông, lốc xoáy theo công

(4)Nguồn: Hà Yên, 2009 Bảo hiểm theo chỉ số: Cứu cánh cho nông dân

Trang 30

bố thiên tai của cơ quan chức năng có thẩm quyền và các loại dịch bệnh: vàng lùn, lùn xoắn lá, lùn sọc đen, đạo ôn, bạc lá; dịch rầy nâu, sâu đục thân được công

bố dịch bệnh hoặc xác nhận dịch bệnh của cơ quan chức năng có thẩm quyền Bồi thường bảo hiểm chỉ được chi trả trong trường hợp năng suất thực tế thấp hơn năng suất được bảo hiểm tại đơn vị được bảo hiểm do các rủi ro thiên tai, dịch bệnh nêu trên gây ra

Hộ tham gia bảo hiểm sẽ không được bồi thường trong các trường hợp sau đây: các rủi ro do chiến tranh, hạt nhân, phóng xạ và khủng bố; người được bảo hiểm cố ý gây thiệt hại; rủi ro liên quan đến bảo quản sau thu hoạch; các rủi ro về chất lượng lúa như rủi ro liên quan đến hàm lượng dinh dưỡng, mốc, mất hương

vị Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền từ chối bồi thường một phần số tiền bồi thường bảo hiểm đối với các trường hợp tổn thất xảy ra do nguyên nhân trực tiếp

từ việc người được bảo hiểm không thực hiện quy trình trồng lúa theo quy định của cơ quan có thẩm quyền Vì vậy những hộ trồng lúa nên thực hiện theo quy trình trồng lúa theo thông tư 47/2011/TT-BNNPTNT

Ngoài ra trong phạm vi bảo hiểm còn có bảo hiểm bổ sung: Phạm vi bảo hiểm được mở rộng để bảo hiểm cho chi phí gieo trồng lại trong trường hợp trên

5 ha lúa thực tế trong xã bị thiệt hại trong thời gian cấy/sạ gây ra bởi các rủi ro được bảo hiểm Trong trường hợp đó, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm một lần với số tiền bồi thường bằng 5% số tiền bảo hiểm của diện tích lúa phải gieo cấy/sạ lại

Theo quy định hiện nay tỷ lệ phí bảo hiểm áp dụng cho tất cả các vụ trong tỉnh An Giang được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên số tiền bảo hiểm Cụ thể, tỷ lệ phí bảo hiểm cây lúa ở An Giang là 2,19%

Số tiền bảo hiểm là giá trị bằng tiền được bảo hiểm theo từng vụ và được tính theo công thức (2.1)

STBH: Số tiền bảo hiểm

DT: Diện tích lúa được bảo hiểm (ha)

NSBQX: Năng suất bình quân xã (tạ/ha)

ĐGL: Đơn giá lúa (đồng/kg)

Trang 31

Phí bảo hiểm là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm thu được từ người được bảo hiểm và/hoặc kinh phí được hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước Phí bảo hiểm được tính theo từng vụ và được tính theo công thức (2.2)

Phí bảo hiểm = Số tiền bảo hiểm x Tỷ lệ phí bảo hiểm (2.2)

Phí bảo hiểm thực tế mà người được bảo hiểm phải trả được tính theo công thức (2.3)

Phí BH thực tế = Phí bảo hiểm x (100% - Mức hỗ trợ) (2.3)

Mức hỗ trợ: là mức hỗ trợ của Nhà nước đối với từng đối tượng

Khi xảy ra thiệt hại và đủ điều kiện để được bồi thường thì đơn vị được bảo hiểm sẽ nhận được số tiền bồi thường theo từng vụ được tính theo công thức sau:

STBT = Mức sụt giảm năng suất x Diện tích lúa được bảo hiểm x Đơn giá lúa (2.4) STBT: Số tiền bồi thường

Mức sụt giảm năng suất là mức chênh lệch giữa năng suất thực tế xã và năng suất được bảo hiểm trong trường hợp năng suất thực tế thấp hơn năng suất được bảo hiểm

2.1.5 Thu nhập

2.1.5.1 Khái niệm và phân loại

Việc tạo thu nhập là chiến lược sinh kế cuả hộ nông dân Thu nhập của hộ nông dân được xác định bằng tổng thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi và các hoạt động phi nông nghiệp Hơn nữa, thu nhập của hộ nông dân còn bao gồm các khoản khác như tiền lương, tiền công, trợ cấp từ người thân, chính phủ và lãi suất tiết kiệm (Ellis, 1998)

Thu nhập của một hộ nông dân được hiểu là phần giá trị tăng thêm mà hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao lao động gia đình, cho tích lũy và tái sản xuất

mở rộng nếu có Thu nhập của hộ nông dân phụ thuộc vào kết quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh mà hộ thực hiện và có thể phân thành:

Thu nhập nông nghiệp: bao gồm thu nhập từ các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản

Thu nhập phi nông nghiệp: là thu nhập tạo ra từ các hoạt động nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, bao gồm các ngành nghề dệt chiếu, đan lục bình,

Trang 32

chế biến, gia công cơ khí Ngoài ra, thu nhập phi nông nghiệp còn được tạo ra từ các hoạt động thương mại dịch vụ như buôn bán, thu gom

Thu nhập khác: đó là thu nhập từ các hoạt động làm thuê, làm công ăn lương và các nguồn trợ cấp xã hội, từ người thân

Thu nhập bình quân đầu người của hộ là tổng thu nhập của hộ chia cho số nhân khẩu của hộ

2.1.5.2 Thước đo thu nhập của hộ sản xuất nông nghiêp

Thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp là giá trị bằng tiền biểu hiện cho kết quả của quá trình sản xuất và được xác định thông qua các thước đo sau:

 Tổng doanh thu là số tiền mà người sản xuất thu được sau khi bán sản phẩm

Tổng doanh thu = sản lượng x đơn giá (2.5)

 Tổng chi phí sản xuất (CPSX): là tất cả các khoản đầu tư mà hộ nông dân

bỏ ra trong quá trình sản xuất và thu hoạch bao gồm: chi phí giống, phân bón, thuốc hóa học, chi phí lao động, chi phí bơm tưới, chi phí thu hoạch, chi phí vận chuyển, chi phí cải tạo đất, chi phí khác

Tổng CPSX = CP vật chất + CP lao động + CP khác (2.6)

Trong công thức (2.6), chi phí lao động bao gồm chi phí thuê mướn lao

động và chi phí lao động gia đình Lao động gia đình là số ngày công lao động

mà người trực tiếp sản xuất bỏ ra để chăm sóc cây trồng hay vật nuôi Lao động gia đình được tính bằng đơn vị ngày công (mỗi ngày công được tính là 8 giờ lao động)

 Thu nhập của một hộ nông dân được hiểu là phần giá trị tăng thêm mà hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao lao động gia đình Vì vậy, tác giả tính thu nhập của hộ là phần chênh lệch giữa doanh thu và các khoản chi phí đã bỏ ra không kể chi phí lao động gia đình như công thức (2.7)

Thu nhập = Tổng doanh thu – Tổng CPSX* (2.7) Tổng CPSX* = Tổng CPSX –Công lao động gia đình (2.8) 2.2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.2.1 Phương pháp đánh giá tác động

Việc đánh giá tác động của một chương trình hay dự án phát triển nông thôn

là rất quan trọng Bởi vì đánh giá tác động không những giúp xác định hiệu quả

Trang 33

chương trình mà còn là căn cứ để xem xét, điều chỉnh để từ đó hoàn thiện và nâng cao chất lượng chương trình, thậm chí cân nhắc có nên tiếp tục mở rộng hay dừng lại Thực chất của việc đánh giá tác động là so sánh lợi ích mà người tham gia thu được sau khi chương trình hay dư án xuất hiện (Lương Vinh Quốc Duy, 2008) Ashenfelter and Card (1985) ước tính ảnh hưởng của các chương trình đào tạo bằng cách sử dụng cấu trúc theo chiều dọc của các khoản thu nhập thì phương pháp khác biệt trong khác biệt (Difference in Difference) hay còn gọi là khác biệt kép (Double Difference) đã trở nên phổ biến Phương pháp DID so sánh nhóm can thiệp và nhóm đối chứng dựa trên những khác biệt trong kết quả ở từng thời

kỳ quan sát Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là giả định sai số lựa chọn không đổi theo thời gian là thiếu cơ sở đối với nhiều chương trình mục tiêu

ở các nước đang phát triển (Research Method) Nguyễn Xuân Thành (2006) cũng cho rằng giả định của phương pháp DID là nếu như không có chính sách công thì hai nhóm can thiệp và nhóm đối chứng sẽ có cùng xu thế vận động theo thời gian Nhưng điều này có thể đúng hoặc có thể sai trên thực tế Chỉ khi nào giả định này đúng mới có thể áp dụng phương pháp DID

Để khắc phục nhược điểm này, có thể sử dụng phương pháp so sánh theo không gian bằng việc sử dụng nhóm đối chứng có những điểm tương đồng với nhóm tham gia dự án Đây cũng là cơ sở của phương pháp so sánh điểm xu hướng (Propensity Score Matching viết tắc là PSM), được nhà kinh tế học Rubin giới thiệu từ đầu những năm 1980 Lương Vinh Quốc Duy (2008), Dương Thanh Tình và Đỗ Xuân Luận (2013) đều cho rằng mặc dù phương pháp so sánh theo thời gian không phức tạp về kỹ thuật nhưng không phải dự án nào cũng có tổ chức khảo sát tiền dự án nên việc áp dụng phương pháp này trở nên khó khăn Việc đánh giá tác động của các dự án thường được đề cặp sau khi dự án đã đi vào hoạt động, vì vậy phương pháp so sánh theo không gian bằng PSM sẽ hiệu quả hơn Phương pháp PSM đòi hỏi hai nhóm phải có sự tương đồng trong quá trình

so sánh và cần được kiểm định trong quá trình thống kê do đó yếu tố quan trọng bậc nhất đến sự thành bại của phương pháp này là khâu điều tra chọn mẫu Chính

vì vậy, khi điều tra chọn mẫu cần đảm bảo sự tương đồng trong quá trình so sánh như cùng phiếu điều tra, cùng thời điểm, cùng người phỏng vấn, cùng địa bàn và đảm bảo rằng hai nhóm không tham gia vào chương trình, dự án khác

Việc lựa chon một nhóm tham gia chương trình hay dự án chỉ dựa trên các đặc điểm quan sát được, có thể sử dụng phương pháp PSM để loại bỏ các sai lệch chọn lựa do sự khác biệt giữa các nhóm (Rubin, 1973) Nếu một số đặc điểm

Trang 34

không quan sát được của một nhóm mà chúng có tương quan với kết quả dự án thì mối tương quan này có thể gây ra sai lệch trong việc đánh giá tác động dự án

Có thể nói đây là nhược điểm mà phương pháp PSM chưa giải quyết được Tuy nhiên, một vài nghiên cứu đã ứng dụng phương pháp PSM để đánh giá tác động của dự án và đánh giá cao phương pháp này như "Tác động của viện trợ Nhật Bản cho phát triển cơ sở hạ tầng" (Nguyễn Huy Hoàng, 2012) và “Tác động của tài chính vi mô và vai trò của nó trong việc làm giảm nghèo đói của các hộ gia đình nông thôn: ước tính từ Pakistan” (Asad K.Ghalib et al, 2011) Vì vậy, tác giả sử dụng phương pháp PSM để đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm nông nghiệp đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHNN

Theo Lê Khương Ninh (2013) do đặc thù của địa bàn nông thôn trải trên diện rộng, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và chu kỳ sản xuất dài nên nông hộ ở nước ta phải đối mặt với nhiều rủi ro Vì vậy, việc cung cấp công cụ để kiểm soát và giảm thiểu thiệt hại do rủi ro gây ra là rất quan trọng đối với việc ổn định thu nhập cho nông hộ Một trong những cách hữu hiệu nhất để ngăn ngừa rủi ro là tham gia BHNN Tuy nhiên, không phải nông hộ nào cũng nhận thức rõ về vai trò của BHNN và tự nguyện tham gia Quyết định tham gia vào chương trình BHNN của nông hộ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau

Mô hình thực nghiệm của Goodwin et al (1993) và của Makki et al (2001) cho thấy quyết định tham gia chương trình bảo hiểm cây lúa của hộ sẽ bị chi phối bởi các yếu tố liên quan đến đặc điểm của hộ như: độ tuổi, giới tính của chủ hộ,

số thành viên của hộ; và các yếu tố liên quan đến hoạt động sản xuất của hộ như: kinh nghiệm sản xuất, diện tích trồng lúa, các khoản chi phí cho sản xuất lúa (không tính phí bảo hiểm), năng suất bình quân và giá lúa được bán bình quân của hộ

Vận dụng mô hình thực nghiệm của hai tác giả trên, một nghiên cứu của Hoàng Triệu Huy và cộng sự (2014) về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa nhận thấy: những hộ có tham gia các chương trình tập huấn về kỹ thuật sản xuất, những hộ dễ dàng huy động nguồn lực lao động của gia đình, hay những hộ có khả năng bán lúa thành phẩm ở mức giá cao thường có

xu hướng tham gia bảo hiểm cây lúa Một nghiên cứu khác của Nguyễn Quốc Nghi (2012) cũng chứng minh xác suất tham gia bảo hiểm nông nghiệp của những hộ có tham gia tập huấn cao hơn những hộ nông dân không tham gia

Trang 35

Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi (2012), Hoàng Triệu Huy và cộng sự (2014) cho kết quả giống nhau về biến chi phí sản xuất Biến này không có ý nghĩa thống kê trong mô hình và không giải thích gì về quyết định tham gia bảo hiểm của nông hộ

Trong nghiên cứu của Hoàng Triệu Huy và cộng sự (2014) các đặc điểm của chủ hộ như độ tuổi, giới tính của chủ hộ không có ý nghĩa thống kê trong quyết định tham gia hay không Khác với kết quả này, trong một nghiên cứu tương tự của Phạm Lê Thông (2013) thì biến giới tính lại có ý nghĩa thống kê cho thấy đáp viên là nam có xác xuất tham gia bảo hiểm cao hơn Một điểm khác biệt nữa là Hoàng Triệu Huy và cộng sự (2014) cho rằng việc đưa biến mức phí tham gia bảo hiểm vào mô hình hầu như không có ý nghĩa vì chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa ở Việt Nam giai đoạn 2011-2013 theo Quyết định 315/QĐ-TTg thực hiện

hỗ trợ phí bảo hiểm cho nông dân khi tham gia chương trình

Thêm vào đó, kết quả nghiên cứu Phạm Lê Thông (2013) cho biết thu nhập

và trình độ học vấn không ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm của đáp viên Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2012) biến trình độ học vấn lại có ý nghĩa thống kê và Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2012) giải thích rằng khi trình độ học vấn càng cao thì khả năng tham gia bảo hiểm sẽ cao hơn Do nông hộ có sự hiểu biết về dịch vụ BHNN cũng như lợi ích mà dịch

vụ này mang lại, từ đó thúc đẩy nông hộ tham gia bảo hiểm để phòng ngừa rủi ro Ngoài ra, nghiên cứu của Hoàng Triệu Huy và cộng sự (2014), Phạm Lê Thông (2013) cũng cho kết quả khác nhau về ảnh hưởng của năng suất lúa và diện tích trồng lúa đến quyết định tham gia bảo hiểm Chương trình bảo hiểm cây lúa ở nước ta sử dụng loại bảo hiểm theo chỉ số năng suất vùng, nghĩa là hộ tham gia chỉ được bồi thường khi năng suất thực tế thấp hơn năng suất bình quân xã theo quy định Có thể dự đoán những hộ có năng suất cao sẽ có xu hướng không tham gia bảo hiểm Nghiên cứu của Hoàng Triệu Huy và cộng sự (2014) cho thấy những hộ có diện tích trồng lúa càng lớn càng có khả năng tự phân tán rủi ro nên ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm của hộ Trong khi đó, nghiên cứu của Phạm Lê Thông (2013) cho biết diện tích trồng lúa có mối quan hệ thuận chiều với xác suất tham gia bảo hiểm

Thêm vào đó, trong nghiên cứu của Phạm Lê Thông (2013) về mức phí sẵn lòng trả cho bảo hiểm giá lúa của các nông hộ ở Cần Thơ, kinh nghiệm trồng lúa

có ảnh hưởng đến khả năng tham gia bảo hiểm cây lúa của đáp viên Những đáp viên có thâm niên cao thường không sẵn lòng tham gia Phạm Lê Thông (2013)

Trang 36

giải thích rằng những nông dân trồng lúa lâu năm có thể đã thiết lập được các mối quan hệ mật thiết với các thương lái và các cơ sở thu mua, chế biến Điều này giúp họ ổn định được việc tiêu thụ sản phẩm Ngoài ra, những nông dân có nhiều kinh nghiệm có khả năng điều chỉnh hợp lý các hoạt động sản xuất kinh doanh khi xảy ra rủi ro nên có thể tự bảo hiểm Vì vậy, những nông dân có nhiều kinh nghiệm có xu hướng không tham gia bảo hiểm cây lúa

Khi đánh giá về thị trường BHNN ở Việt Nam, Lê Khương Ninh (2013) cho rằng “Chính phủ đã rất cố gắng để phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp nhưng kết quả còn hạn chế” BHNN ở Việt Nam kém phát triển và gặp khó khăn chủ yếu do 3 nguyên nhân chính là rủi ro hệ thống, thông tin bất đối xứng, trợ cấp của chính phủ dẫn đến tâm lý ỷ lại Lê Khương Ninh (2013) đã phân tích nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp góp phần phát triển BHNN ở Việt Nam Đây là

cơ sở để tham khảo và vận dụng vào trường hợp nghiên cứu của tác giả

Tóm lại, các nghiên cứu trên tập trung phân tích thị trường bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam, tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm để đề ra giải pháp góp phần phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam Tuy nhiên, mục tiêu chính của chương trình bảo hiểm nông nghiệp là

hỗ trợ cho người sản xuất nông nghiệp khắc phục, bù đắp thiệt hại tài chính do hậu quả của thiên tai, dịch bệnh gây ra nhằm ổn định cuộc sống cho nông dân Nhưng chưa có nhiều nghiên cứu xem xét chương trình BHNN có tác động đến thu nhập của nông dân như thế nào Vì vậy, đề tài “Đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang” được chọn để nghiên cứu Những thông tin trong các nghiên cứu trên là cơ sở để phân tích thực trạng tham gia bảo hiểm cây lúa, tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia chương trình bảo hiểm Từ đó sử dụng phương pháp so sánh điểm xu hướng để đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu

Đề tài chọn huyện Thọai Sơn, tỉnh An Giang để nghiên cứu, đây là một trong ba huyện được chọn để thí điểm chương trình BHNN theo Quyết định số 315/QĐ-TTg

Trang 37

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ Báo cáo tình hình kinh tế xã hội huyện Thoại Sơn năm 2011- 2013, báo cáo tổng kết về nông nghiệp của phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Thoại Sơn, số liệu thống kê về chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa của Công ty Bảo Minh An Giang Ngoài ra, bài viết cũng

sử dụng các nguồn số liệu thứ cấp từ giáo trình lý thuyết bảo hiểm, các trang thông tin điện tử, các bài báo và các đề tài có liên quan

Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy logit để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa, sau đó tiến hành đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm bằng phương pháp so sánh điểm xu hướng (phương pháp PSM) Các hộ gia đình được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và được phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi đã chuẫn bị sẵn Mẫu điều tra có 79 hộ trồng lúa, bao gồm 39 hộ tham gia và 40 hộ không tham gia bảo hiểm cây lúa

2.3.3 Phương pháp phân tích

2.3.3.1 Phương pháp thống kê mô tả

Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để tìm hiểu tổng quan địa bàn nghiên cứu, hoạt động sản xuất lúa gạo và phân tích thực trạng triển khai chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa của hộ trồng lúa ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

2.3.3.2 Phương pháp hồi quy tương quan

Phương pháp này được sử dụng để kiểm định tác động của các yếu tố có liên quan đến quyết định tham gia bảo hiểm của hộ trồng lúa Cụ thể, tác giả sử dụng mô hình logit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm, làm cơ sở để đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ tham gia bảo hiểm

2.3.3.3 Phương pháp PSM (propensity score matching)

Để đánh giá tác động của một chương trình hay dự án, các phương pháp so sánh thường được sử dụng bằng cách xây dựng nhóm đối chứng càng gần giống với nhóm can thiệp xét trên các đặc tính quan sát được càng tốt Vấn đề là làm sao tìm trong một nhóm lớn những đối tượng không tham gia những hộ gia đình

có đặc điểm tương tự được quan sát với đối tượng tham gia dựa trên những đặc tính không chịu sự ảnh hưởng của chương trình Mỗi đối tượng tham gia sẽ được

Trang 38

so khớp với đối tượng không tham gia được quan sát tương ứng, sau đó mức sai biệt bình quân giữa hai nhóm được so sánh để xác định hiệu quả can thiệp của chương trình Nếu giả định rằng những sai biệt trong tình trạng tham gia chỉ dựa trên những khác biệt trong các đặc tính được quan sát và nếu có đủ đối tượng không tham gia để đối chiếu với đối tượng tham gia thì hiệu quả can thiệp tương ứng vẫn có thể tính được ngay cả khi can thiệp không mang tính ngẫu nhiên Vấn

đề là làm sao xác định được những nhóm tương đồng một cách đáng tin cậy Do tồn tại nhiều đặc trưng khác nhau nên cách tốt nhất để so sánh các hộ gia đình là

so sánh dựa trên điểm xu hướng

Phương pháp so sánh điểm xu hướng (viết tắt là phương pháp PSM) là kỹ thuật tạo ra hai nhóm gồm nhóm can thiệt và nhóm đối chứng tương đồng nhau Bằng cách dựa vào giá trị xác suất của mỗi cá thể, mà giá trị xác suất này được xác định từ các giá trị về đặc điểm của các cá thể ở hai nhóm trước khi xác định hiệu quả tác động của chương trình hoặc dự án (Rosenbaum and Rubin, 1983)

Có thể hiểu phương pháp PSM xây dựng nhóm đối chiếu thống kê bằng cách mô hình hóa xác suất tham gia chương trình dựa trên các đặc tính được quan sát mà các đặc tính này không chịu ảnh hưởng của chương trình Những hộ tham gia và không tham gia có xác suất tham gia (hay còn gọi là điểm xu hướng) tương

tự được so sánh bằng nhiều phương pháp khác nhau Sau đó hiệu quả can thiệp bình quân của chương trình sẽ được tính toán bằng sai biệt trung vị trong các kết quả giữa hai nhóm Các hộ gia gia đình không có đối tượng so sánh sẽ được loại

ra vì không có cơ sở so sánh Tính độc lập có điều kiện và có hỗ trợ chung là những giả định cần thiết để xác định hiệu quả của chương trình (Shahidur et al., 2010) Các bước cơ bản để thực hiện đánh giá tác động bằng PSM như sau:

Bước 1: Tiến hành điều tra chọn mẫu hai nhóm: nhóm tham gia và nhóm không tham gia Cuộc điều tra này phải đảm bảo được tính tương đồng, chẳng hạn như cùng phiếu điều tra, cùng thời điểm, cùng người phỏng vấn, cùng địa bàn

Bước 2: Từ số liệu của cuộc điều tra, xây dựng mô hình logit trong đó biến phụ thuộc là 1 cho người tham gia, 0 cho người không tham gia Còn biến độc lập

là những nhân tố có thể ảnh hưởng đến khả năng tham gia vào dự án của cả hai nhóm

Bước 3: Tiến hành hồi quy cho mô hình logit rồi tính giá trị dự đoán hay xác suất dự đoán (predicted propability) cho từng cá thể trong hai nhóm Giá trị xác

Trang 39

suất dự đoán được gọi là propensity score, giá trị này sẽ nằm trong khoảng từ 0 đến 1

Bước 4: Loại bớt những cá thể có xác suất dự đoán quá thấp hoặc quá cao so với cả mẫu

Bước 5: Tương ứng với mỗi cá thể trong nhóm người tham gia, chúng ta tìm một hoặc một số cá thể trong nhóm người không tham gia mà có xác suất dự đoán gần giống nhau nhất rồi so sánh với nhau Chẳng hạn so sánh thu nhập của cá thể trong nhóm người tham gia với thu nhập bình quân của các cá thể trong nhóm người không tham gia mà có xác suất dự đoán gần giống nhau nhất Kết quả của những so sánh này là tác động của dự án đối với mỗi cá thể tham gia dự án, được gọi là “individual gains”

Bước 6: Cuối cùng tính trung bình của tất cả “individual gains” để được giá trị trung bình chung, giá trị trung bình chung này chính là tác động của dự án đối với những người tham gia

2.3.4 Mô hình nghiên cứu

Để đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của

hộ trồng lúa ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang , tác giả sử dụng phương pháp so sánh điểm xu hướng

Một sự thay đổi thu nhập từ sản xuất lúa của hộ trồng lúa có tham gia bảo hiểm được xem là tác động của chương trình bảo hiểm đối với việc ổn định thu nhập của hộ Các hộ gia đình được phân thành hai nhóm, nhóm tham gia và nhóm không tham gia bảo hiểm cây lúa

D Rubin (1985) lập luận rằng, tác động về thu nhập đối với những hộ tham gia chương trình được xác định như sau:

) 0 ( ) 1 (   

Trong đó i đo lường tác động về thu nhập do chương trình bảo hiểm mang

lại; Y i là thu nhập của hộ thứ i; Di =1 nếu hộ tham gia bảo hiểm và Di = 0 nếu hộ không tham gia Do Y i(D i  1 )và Y i(D i  0 ) không thể quan sát đồng thời cho cùng một hộ, vì vậy việc ước lượng tác động của chương trình đến thu nhập của từng hộ là không khả thi nên phải chuyển sang ước lượng tác động trung bình của chương trình lên nhóm hộ tham gia

Trang 40

Tác động trung bình của chương trình lên nhóm hộ tham gia bảo hiểm được ước lượng bằng cách so sánh thu nhập của những hộ tương đồng hay khả năng tham gia là như nhau Những hộ được chọn để so khớp dựa trên điểm xu hướng,

mà điểm xu hướng này được giả định là chỉ bị ảnh hưởng bởi những đặc điểm được quan sát của hộ (Xi)

Để đảm bảo giả định tính độc lập có điều kiện và giả định hỗ trợ chung, tác động trung bình của chương trình lên nhóm hộ tham gia (average treatment effect

on the treated) ATT được xác định như sau:

)]}

(,0)0([)]

(,1)1([{1 ),

1

Y  là thu nhập của hộ sau khi tham gia chương trình

)(,0)

0

Y  là thu nhập của hộ không tham gia thuộc nhóm hộ đối chứng

Phương pháp PSM giúp cải thiện ước lượng, tuy nhiên kết quả thu được vẫn

có thể bị sai lệch Nguyên nhân có thể là sai lệch khi điều tra chọn mẫu Theo Dương Thanh Tình và Đỗ Xuân Luận (2013), những yếu tố không quan sát được

có ảnh hưởng đến quyết định tham gia chương trình của nhóm hộ tham gia như sự mong muốn, sự nỗ lực, kỳ vọng, kỹ năng của hộ cũng ảnh hưởng đến thu nhập của họ Do những yếu tố này ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào như đất đai, lao động, vốn từ đó ảnh hưởng đến năng suất và thu nhập Vì vậy, thu nhập của nhóm hộ tham gia và nhóm hộ không tham gia (nhóm hộ so sánh, nhóm đối chứng) cũng khác nhau ngay cả khi không có sự can thiệp của chương trình Điều này dẫn đến thiên lệch trong lựa chọn mẫu đối chứng Ngoài ra, các yếu tố không quan sát được cũng có thể ảnh hưởng đến quyết định tham gia chương trình, tuy nhiên nếu sai số lựa chọn ở các thuộc tính không quan sát được không đáng kể thì PSM sẽ cho phép so sánh hiệu quả với các tính toán ngẫu nhiên

Các bước đánh giá tác động của BHNN đến thu nhập của hộ trồng lúa được thực hiện cụ thể như sau:

Đầu tiên ta phải tính điểm xu hướng P(X) dựa trên mọi biến đồng thời được quan sát X cùng nhau ảnh hưởng đến quyết định tham gia chương trình và thu

Ngày đăng: 13/11/2015, 13:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Dương Thanh Tình và Đỗ Xuân Luận, 2013. Sử dụng phương pháp PSM trong đánh giá tác động dự án phát triển nông thôn. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 3/2013 (539), trang 55-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kinh tế và Dự báo, s
6. Hoàng Triệu Huy và cộng sự, 2014. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa của hộ trồng lúa ở tỉnh Đồng tháp. Tạp chí khoa học, Đại học Huế, tập 90, số 2, trang 105-116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học, Đại học Huế
8. Lê Khương Ninh, 2013. Giải pháp góp phần phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp ở nước ta. Tạp chí Ngân hàng, số 18, trang 47-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Ngân hàng
9. Lương Vinh Quốc Duy, 2008. Đánh giá tác động của một dự án hoặc chương trình phát triển: phương pháp Propensity Score Matching. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 3, trang 140-144 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng
10. Nguyễn Duy Lượng, 2012. Người nông dân cần Bảo hiểm nông nghiệp như “con trâu, cái cày”. <http://baophapluat.vn/kinh-te/nguoi-nong-dan-can-bao-hiem-nong-nghiep-nhu-con-trau-cai-cay-152102.html> [Ngày truy cập: ngày 9 tháng 9 năm 2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: con trâu, cái cày
11. Nguyễn Huy Hoàng, 2012. Tác động của viện trợ Nhật Bản cho phát triển cơ sở hạ tầng. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, số 28, trang 177-184 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh
12. Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự, 2012. Nhu cầu tham gia bảo hiểm nông nghiệp của nông hộ trồng lúa ở huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, số 3+4 2014, trang 5 -10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn
13. Nguyễn Tuấn Sơn, 2008. Nghiên cứu vận dụng phương pháp chỉ số trong bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Phát triển, số 4: 367-374 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học và Phát triển
16. Phạm Lê Thông, 2013. Mức phí sẵn lòng trả cho bảo hiểm giá lúa của các nông hộ ở Cần Thơ. Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, số 90, trang 3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Công nghệ Ngân hàng
22. Shahidur R. Khandker, et al., 2010. Cẩm nang đánh giá tác động, các phương pháp định lượng và thực hành, [e-book]<http://www.slideshare.net/thuyetnn/cam-nang-danh-gia-tac-dong> [Ngày truy cập: 30/02/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang đánh giá tác động, các phương "pháp định lượng và thực hành
27.Võ Thị Pha, 2005. Giáo trình lý thuyết bảo hiểm. Nhà xuất bản Tài chính.  Danh mục tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý thuyết bảo hiểm
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính.  Danh mục tài liệu tiếng Anh
1. Asad K.Ghalib et al, 2011.The impact of microfinance and its role in easing poverty of rural households: estimations from Pakistan. Disscussion Paper Series RIEB Kobe University Sách, tạp chí
Tiêu đề: The impact of microfinance and its role in easing poverty of rural households: estimations from Pakistan
2. Ashenfelter and Card, 1985. Using the Longitudinal Structure of Earnings to Estimate the Effects of Training Programs. Review of Economics and Statistics, 67: 648-660 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Review of Economics and Statistics
3. Dennis Kessler, 2004. Insurance Operations and the Asset Meltdown. The Geneva Papers on Risk and Insurance, vol.29, pages13-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Geneva Papers on Risk and Insurance
4. FAO, 2011. Agricultural insurance in Asia and the Pacific region, [pdf] Available: <http://www.fao.org/docrep/015/i2344e/i2344e00.htm> [Accessed 31 August 2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agricultural insurance in Asia and the Pacific region
5. Goodwin B.K, 1993. An Empirical Analysis of the Demand for Crop Insurance, American Journal of Agricultural Economic, 75: 425-434 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Journal of Agricultural Economic
6. Iturrioz, R., 2009. Agricultural Insurance, [pdf] Available at: <http:// siteresources.worldbank.org/FINANCIALSECTOR/Resources/Primer12_Agricultural_Insurance.pdf> [Accessed 31 August 2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agricultural Insurance
9. Michael Sciabarrasi, 2010. Agricultural Business Management. [online] <http://nevegetable.org/big-five-types-agricultural-risk> [Accessed 31 August 2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agricultural Business Management
11. Rosenbaum, P. and Rubin, D., 1985. Constructing a control group using multivariate matched sampling methods that incorporate the propensity score. The American Statistician, 39: 33–38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The American Statistician
12. Rubin, D., 1973. The Use of Matched Sampling and Regression Adjustment to Remove Bias in Observational Studies. Biometrics Vol, 29: 159-183 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biometrics

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Diễn giải các biến độc lập và kỳ vọng trong phân tích hồi quy - đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện thoại sơn, tỉnh an giang
Bảng 2.1 Diễn giải các biến độc lập và kỳ vọng trong phân tích hồi quy (Trang 42)
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Thoại Sơn - đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện thoại sơn, tỉnh an giang
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Thoại Sơn (Trang 46)
Hình 3.2 GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện Thoại Sơn 2011-2013 - đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện thoại sơn, tỉnh an giang
Hình 3.2 GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện Thoại Sơn 2011-2013 (Trang 48)
Hình 3.3 Cơ cấu kinh tế theo khu vực kinh tế của huyện Thoại Sơn qua ba - đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện thoại sơn, tỉnh an giang
Hình 3.3 Cơ cấu kinh tế theo khu vực kinh tế của huyện Thoại Sơn qua ba (Trang 49)
Bảng 3.1: Diện tích, năng suất, sản lƣợng lúa huyện Thoại Sơn năm 2011-2013  Chỉ tiêu  Đơn vị    Năm 2011  Năm 2012       Năm 2013 - đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện thoại sơn, tỉnh an giang
Bảng 3.1 Diện tích, năng suất, sản lƣợng lúa huyện Thoại Sơn năm 2011-2013 Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 (Trang 50)
Bảng 3.3: Số tiền Công ty Bảo Minh hỗ trợ đề phòng hạn chế tổn thất cho hộ  tham gia chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa huyện Thoại Sơn - đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện thoại sơn, tỉnh an giang
Bảng 3.3 Số tiền Công ty Bảo Minh hỗ trợ đề phòng hạn chế tổn thất cho hộ tham gia chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa huyện Thoại Sơn (Trang 53)
Bảng 4.1: Thông tin của chủ hộ - đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện thoại sơn, tỉnh an giang
Bảng 4.1 Thông tin của chủ hộ (Trang 55)
Hình 4.1 Trình độ học vấn của chủ hộ - đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện thoại sơn, tỉnh an giang
Hình 4.1 Trình độ học vấn của chủ hộ (Trang 56)
Bảng 4.2: Thông tin diện tích trồng lúa và diện tích tham gia BHNN - đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện thoại sơn, tỉnh an giang
Bảng 4.2 Thông tin diện tích trồng lúa và diện tích tham gia BHNN (Trang 57)
Hình 4.2 Cơ cấu chi phí cho hoạt động sản xuất - đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện thoại sơn, tỉnh an giang
Hình 4.2 Cơ cấu chi phí cho hoạt động sản xuất (Trang 58)
Bảng 4.3: Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất lúa của hộ - đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện thoại sơn, tỉnh an giang
Bảng 4.3 Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất lúa của hộ (Trang 59)
Bảng 4.4: Mô tả thu nhập của hộ - đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện thoại sơn, tỉnh an giang
Bảng 4.4 Mô tả thu nhập của hộ (Trang 60)
Bảng 4.5: Kết quả hồi quy mô hình logit - đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện thoại sơn, tỉnh an giang
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy mô hình logit (Trang 62)
Bảng 4.7: Kết quả đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa  đến thu nhập của hộ trồng lúa theo phương pháp so sánh điểm xu hướng - đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện thoại sơn, tỉnh an giang
Bảng 4.7 Kết quả đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa theo phương pháp so sánh điểm xu hướng (Trang 67)
Hình thức tiêu thụ (xem chú thích) - đánh giá tác động của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa ở huyện thoại sơn, tỉnh an giang
Hình th ức tiêu thụ (xem chú thích) (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w