1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình ở huyện phong điền, thành phố cần thơ

100 578 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 14,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với phương pháp kiểm định độ tin cậy Cronbach Alpha, phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy đa biến và phân tích phương sai ANOVA, nghiên cứu đã xác định những nhâ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

BÀNH YẾN NHI

ĐÁNH GIÁ SỰ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN

DU LỊCH CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Ngành: Kinh doanh thương mại

Mã số ngành: 52340121

Cần Thơ, tháng 11 năm 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

BÀNH YẾN NHI MSSV: 4115661

ĐÁNH GIÁ SỰ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN

DU LỊCH CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Ngành: Kinh doanh thương mại

Mã số ngành: 52340121

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGS TS BÙI VĂN TRỊNH THS NGUYỄN QUỐC NGHI

Cần Thơ, tháng 11 năm 2014

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đề tài này do chính tôi thực hiện, các số liệu thu

thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất

kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào

Cần Thơ, ngày 26 tháng 11 năm 2014

Tác giả

Bành Yến Nhi

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN Thực hiện bài nghiên cứu về đề tài “Đánh giá sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ” đã giúp em

hiểu nhiều điều hơn về các hoạt động du lịch của các hộ gia đình huyện Phong Điền và cách ứng dụng các lí thuyết đã học vào thực tế Đó là những kinh nghiệm vô cùng quý báo giúp em tích lũy vốn kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho bản thân

Với cương vị một sinh viên, em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giảng viên Trường Đại học Cần Thơ đã hết lòng truyền thụ kiến thức, dạy

dỗ em đạo đức làm người trong thời gian em tham gia học tập, sinh hoạt tại trường Bên cạnh đó, em xin cảm ơn các cô, chú, anh, chị huyện Phong Điền

đã nhiệt tình hỗ trợ cho em trong suốt khoảng thời gian thu số liệu

Cuối cùng nhưng quan trọng nhất, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy Nguyễn Quốc Nghi và Thầy Bùi Văn Trịnh - giảng viên Khoa

Kinh tế và Quản trị kinh doanh trường Đại học Cần Thơ trong thời gian qua đã

tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện để em hoàn thành tốt nhất bài nghiên cứu của mình Tuy chỉ vài tháng ngắn ngủi được cùng Thầy làm việc nhưng em đã học được nhiều điều bổ ích Đó là tinh thần có trách nhiệm, tận tâm trong công việc và cả sự quan tâm chân thành đến những người xung quanh Với em, những bài học ấy có giá trị rất to lớn Vì vậy, một lần nữa em xin gửi đến Thầy lời tri ân chân thành và sâu sắc nhất Chúc Thầy nhiều sức khỏe và thành công!

Chúc toàn thể quý Thầy, Cô giảng viên trường Đại học Cần Thơ dồi dào sức khỏe và công tác thật tốt!

Cần Thơ, ngày 26 tháng 11 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Trang 5

iii

BẢN NHẬN XÉT LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

— Họ và tên người hướng dẫn: Bùi Văn Trịnh

— Học vị: Phó Giáo sư – Tiến sĩ

— Chuyên ngành: Kinh tế lao động

— Cơ quan công tác: Nhà xuất bản Trường Đại học Cần Thơ

— Tên sinh viên: Bành Yến Nhi

— Mã số sinh viên: 4115661

— Chuyên ngành: Kinh doanh Thương mại

— Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ SỰ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA HỘ

GIA ĐÌNH Ở HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

NỘI DUNG NHẬN XÉT

1 Tính phù hợp của đề tài với chuyên ngành đào tạo:

- Chủ đề nghiên cứu phù hợp với chuyên ngành đào tạo

2 Về hình thức trình bày:

- Hình thức trình bày thẩm mỹ, đúng theo qui định của Khoa

3 Ý nghĩa khoa học, tính thực tiễn và cấp thiết của đề tài:

- Điểm mạnh của đề tài là kế thừa thành quả của các nghiên cứu trước đây,

từ đó tác giả vận dụng các phương pháp nghiên cứu đáp ứng mục tiêu đặt ra Đề tài có ý nghĩa khoa học đối với các chương trình phát triển du lịch Phong Điền

4 Độ tin cậy của số liệu và tính hiện đại của đề tài:

- Đề tài thuộc chương trình nghiên cứu của Thầy Bùi Văn Trịnh và Thầy Nguyễn Quốc Nghi, với cỡ mẫu lớn và các bước tiến hành thu thập số liệu phù hợp, vì thế số liệu sơ cấp của đề tài mang tính hiện đại và đảm bảo độ tin cậy

5 Nội dung và kết quả đạt được:

- Kết quả nghiên cứu giải quyết được các mục tiêu đặt ra

Trang 6

iv

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu “Đánh giá sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ” tập trung phân tích về số lượng du khách đến Phong Điền trong giai đoạn 2010 – 2013, xem xét tình hình đầu tư cho du lịch của địa phương từ năm 2013 đến đầu năm 2014 Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng mô tả thực trạng về sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình ở huyện Phong Điền, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hỗ trợ và từ

đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình góp phần phát triển dịch vụ du lịch ở huyện Phong Điền trong tương lai

Số liệu sơ cấp của nghiên cứu được thu thập thông qua đánh giá của các

hộ gia đình về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hỗ trợ phát triển du lịch của họ Với phương pháp kiểm định độ tin cậy Cronbach Alpha, phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy đa biến và phân tích phương sai ANOVA, nghiên cứu đã xác định những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự

hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình, đó là sự tham gia vào các hoạt động

du lịch, sự gắn bó của người dân với địa phương, lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội

và chi phí đánh đổi khi tham gia du lịch Trong đó, sự gắn bó của người dân với địa phương là nhân tố ảnh hưởng quan trọng nhất đến sự hỗ trợ phát triển

du lịch của hộ gia đình ở địa phương

Cuối cùng, nghiên cứu này cũng đã đề xuất các giải pháp tăng sự hỗ trợ

phát triển du lịch của hộ gia đình như sau: Thứ nhất, thiết kế chương trình đào

tạo riêng cho các hộ gia đình tham gia cung ứng dịch vụ du lịch một cách rõ

ràng và cụ thể; Thứ hai, chú trọng tạo sự liên kết chặt chẽ giữa người dân với chính quyền địa phương, với các công ty du lịch và với các hộ gia đình; Thứ

ba, chủ động đầu tư thiết kế những sản phẩm mới lạ, đặc thù với giá cả phù

hợp và kết hợp du lịch với việc tiêu thụ sản phẩm tại chỗ; Thứ tư, tăng cường các hoạt động chiêu thị, quảng bá cho du lịch tại địa phương; Thứ năm, khắc

phục hệ thống giao thông, kết hợp đầu tư giao thông thuỷ, bộ Điều này không chỉ góp phần tăng sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình mà còn giúp cho người dân địa phương có một cuộc sống ổn định, lâu dài trên mảnh đất này

Trang 7

v

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Không gian nghiên cứu 3

1.4.3 Thời gian nghiên cứu 3

1.4.4 Giới hạn nội dung nghiên cứu 3

1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 4

1.5.1 Về phương pháp nghiên cứu 4

1.5.2 Về nội dung nghiên cứu 4

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 8

2.1.1 Định nghĩa du lịch 8

2.1.2 Bản chất du lịch 9

2.1.3 Sản phẩm du lịch 9

2.1.4 Khái niệm về hộ gia đình 11

2.1.5 Khái niệm về sự hỗ trợ của hộ gia đình 13

2.1.6 Khái niệm về lý thuyết trao đổi xã hội 14

2.1.7 Một số phương pháp sử dụng để phân tích số liệu 16

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.2.1 Mô hình nghiên cứu 20

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 24

2.2.3 Phương pháp phân tích 25

Trang 8

vi

Chương 3 TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 26

3.1 KHÁI QUÁT DU LỊCH PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ 26

3.1.1 Tài nguyên tự nhiên 26

3.1.2 Tài nguyên du lịch 28

3.2 THỰC TRẠNG DU LỊCH Ở HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ 31

3.2.1 Tình hình hoạt động du lịch huyện Phong Điền năm 2013 31

3.2.2 Vị trí ngành du lịch huyện Phong Điền đối với ngành du lịch thành phố Cần Thơ 33

3.3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ 35

Chương 4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở HUYỆN PHONG ĐIỀN 39

4.1 THỰC TRẠNG VỀ SỰ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA HỘ GIA ĐÌNH 39

4.1.1 Mô tả đặc điểm của hộ gia đình được khảo sát 39

4.1.3 Thực trạng về sự hỗ trợ phát triển du lịch của các hộ gia đình huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ 46

4.1.4 Vấn đề bảo vệ môi trường 49

4.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA HỘ GIA ĐÌNH HUYỆN PHONG ĐIỀN 51

Chương 5 GIẢI PHÁP TĂNG SỰ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 59

CỦA HỘ GIA ĐÌNH HUYỆN PHONG ĐIỀN 59

5.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 59

5.2 GIẢI PHÁP 61

Chương 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65

6.1 KẾT LUẬN 65

6.2 KIẾN NGHỊ 66

6.2.1 Đối với chính quyền địa phương 66

6.2.2 Đối với các công ty du lịch 67

Trang 9

vii

6.2.3 Đối với các hộ gia đình tham gia vào các hoạt động du lịch 67PHỤ LỤC 1 MỘT SỐ HÌNH ẢNH KHI THAM GIA PHỎNG VẤN TẠI HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ 73PHỤ LỤC 2 BẢNG CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THAM GIA CỦA

HỘ GIA ĐÌNH VÀO CÁC HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ DU LỊCH Ở HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ 75PHỤ LỤC 3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH 82

Trang 10

viii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Diễn giải các biến trong mô hình nghiên cứu 22

Bảng 2.2 Mô tả mẫu điều tra theo đối tượng 25

Bảng 3.1 Tình hình khách du lịch đến các điểm du lịch trên địa bàn huyện Phong Điền giai đoạn 2010-2013 32

Bảng 3.2 Số khách du lịch đến Cần Thơ và huyện Phong Điền, giai đoạn 2009 – 2013 33

Bảng 4.1 Các hoạt động tạo thu nhập cho hộ gia đình 44

Bảng 4.2 Thực trạng hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2014 46

Bảng 4.3 Tỷ lệ gia tăng lợi nhuận và lượt khách du lịch ở huyện Phong Điền năm 2014 49

Bảng 4.4 Các hoạt động tăng cường bảo vệ môi trường của hộ nhà vườn 51

Bảng 4.5 Kết quả đánh giá độ tin cậy của biến phụ thuộc 52

Bảng 4.6 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo sau khi loại biến 53

Bảng 4.7 Kết quả phân tích ma trận nhân tố sau khi xoay 54

Bảng 4.8 Các nhân tố mới được hình thành từ phân tích EFA 55

Bảng 4.9 Kết quả mô hình hồi quy tuyến tính đa biến 56

Trang 11

ix

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 21

Hình 3.1 Chợ nổi Phong Điền 29

Hình 3.2 Làng du lịch Mỹ Khánh 29

Hình 3.3 Khu di tích lịch sử Giàn Gừa 30

Hình 3.4 Mộ nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị 31

Hình 3.5 Bánh hỏi mặt võng tại Lò bánh hỏi Út Dzách 34

Hình 3.6 Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam 35

Hình 4.1 Giới tính của hộ gia đình được khảo sát 39

Hình 4.2 Độ tuổi của hộ gia đình được khảo sát 40

Hình 4.3 Trình độ học vấn của hộ gia đình được khảo sát 40

Hình 4.4 Thời gian tham gia vào các hoạt động du lịch của hộ gia đình được khảo sát 41

Hình 4.5 Các tác động ảnh hưởng đến quyết định tham gia vào các hoạt động dịch vụ du lịch của hộ gia đình 42

Hình 4.6 Loại hình du lịch hộ gia đình tham gia dịch vụ du lịch 43

Hình 4.7 Hình thức tham gia vào các hoạt động du lịch 43

Hình 4.8 Các nguồn thông tin về thị trường du lịch 45

Hình 4.9 Các lợi ích nhận được từ du lịch và các hoạt động hỗ trợ cho du lịch của hộ gia đình huyện Phong Điền năm 2014 48

Hình 4.10 Nhận định của hộ gia đình về vấn đề bảo về môi trường 50

Hình 4.11 Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh 55

Hình 5.1 Sơ đồ giải pháp tăng sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình huyện Phong Điền 59

Trang 12

1

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, du lịch đã trở thành một trong những ngành quan trọng dẫn dắt sự tăng trưởng, phát triển kinh tế thế giới và quá trình chuyển đổi hướng đến một nền kinh tế bền vững toàn diện Việt Nam là một

nước thuộc khu vực Đông Nam Á với diện tích 330951,1 km2, dân số trung bình khoảng 88.772,9 nghìn người1, giáp với các nước Lào, Campuchia, Trung Quốc Địa hình Việt Nam rất đa dạng, phong phú, có đồi, núi, biển và cả đồng bằng cộng thêm khí hậu nhiệt đới gió mùa là một điều kiện thuận lợi giúp Việt Nam phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là phát triển du lịch Đối với Việt Nam – một nước được thiên nhiên ưu đãi với nhiều danh lam, thắng cảnh, sông nước hữu tình thì du lịch đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn với tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú Tổng thư ký Tổ chức Du lịch Thế giới, Taleb Rifai cho biết: "Đất nước này rõ ràng đã xác định du lịch là chìa khóa cho sự thịnh vượng trong tương lai của mình, đã thực hiện các chính sách

và chiến lược thích hợp và, kết quả là, đã làm thay đổi Việt Nam thành một điểm đến du lịch hàng đầu châu Á” (Hội đồng Du lịch & Lữ hành Thế giới, 2012) Trong hai thập kỉ qua, du lịch đã ngày càng nắm giữ vai trò quan trọng đối với đất nước thể hiện qua số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đã tăng hơn gấp đôi, từ 433 triệu lượt năm 1991 lên 980 triệu lượt vào năm

20112 Doanh thu ngành du lịch Việt Nam đạt 160.000 tỷ đồng năm 2012, đóng góp 5% vào GDP của Việt Nam.3 Trong thời điểm hiện nay, hoạt động

du lịch tuy đã có nhiều bước phát triển nhưng vẫn còn chịu nhiều tác động và gặp không ít khó khăn Vì vậy, các vấn đề về phát triển du lịch đã và đang trở thành mối quan tâm đặc biệt trong chiến lược phát triển của ngành du lịch nước nhà

Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển du lịch, nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó có thành phố Cần Thơ – một trong những thành phố tiêu biểu của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long với lợi thế về sông nước

và các thắng cảnh đậm chất thôn quê đã triển khai thực hiện xây dựng các vùng nông thôn mới gắn với phát triển du lịch bền vững mà tiêu biểu là huyện Phong Điền Huyện Phong Điền với 119,5 km2 diện tích tự nhiên và 102.699

1 Theo Tổng cục thống kê Việt Nam,

http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=387&idmid=3&ItemID=14632

2 Theo Tổng cục du lịch Việt Nam, http://vietnamtourism.com.vn/news/vn/detail/118/22398/

3 Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, http://vi.wikipedia.org/wiki/Du_lịch_Việt_Nam

Trang 13

2

nhân khẩu (năm 2007)4 với các tài nguyên về nông nghiệp, sông nước là một nơi vô cùng thích hợp để phát triển du lịch góp phần xây dựng nông thôn mới Phong Điền hiện nay đang trong tiến trình xây dựng nông thôn mới và sau 3 năm triển khai thực hiện thì đã có sự khởi sắc, chuyển biến tích cực Trong đó,

sự hợp tác phát triển du lịch của cộng đồng địa phương là một trong những tiêu chí quan trọng giúp tận dụng tốt các lợi thế về thiên nhiên của huyện Phong Điền, giúp các kế hoạch du lịch được triển khai thuận lợi đồng thời nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân địa phương và bảo vệ vẻ đẹp tự nhiên của môi trường và các nền văn hoá Tuy nhiên, phát triển du lịch

sẽ là khó khăn nếu không có sự hỗ trợ và sự tham gia của các cộng đồng cư dân (Fallon & Kriwoken, năm 2003) Vì vậy, sự hỗ trợ của cộng đồng địa phương, đặc biệt là các hộ gia đình tham gia cung ứng sản phẩm du lịch - người trực tiếp và gián tiếp tham gia cung ứng các sản phẩm du lịch cho địa phương là rất quan trọng đối với kế hoạch phát triển du lịch ở huyện Phong

Điền Chính vì vậy, đề tài “Đánh giá sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ” được đưa vào nghiên cứu Kết

quả nghiên cứu sẽ là một tư liệu quan trọng đối với các doanh nghiệp, các cơ quan quản lí địa phương cũng như người dân huyện Phong Điền nhằm tạo tiền

đề để phát triển du lịch ở địa phương, góp phần nâng cao mức sống của người dân nông thôn, bảo vệ môi trường thiên nhiên từ đó làm cơ sở xây dựng và hoàn thiện chiến lược nông thôn mới của huyện Phong Điền

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình huyện ở Phong Điền, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hỗ trợ và từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình góp phần phát triển dịch vụ du lịch ở huyện Phong Điền trong tương lai

Trang 14

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1 Thực trạng về sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ hiện nay như thế nào?

2 Nhân tố nào ảnh hưởng đến sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình huyện Phong điền, thành phố Cần Thơ? Mức độ tác động của các nhân tố đó như thế nào?

3 Giải pháp nào giúp nâng cao sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ trong thời gian tới?

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ gia đình có cung ứng các sản phẩm du lịch cho địa phương bao gồm các hộ chèo đò, các hộ làm vườn, các

hộ phục vụ ăn uống, vui chơi giải trí và các hộ tiểu thủ công nghiệp

1.4.2 Không gian nghiên cứu

Đề tài được thực hiện ở địa bàn huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, tập trung tại các vườn du lịch sinh thái, các làng nghề tiểu thủ công nghiệp và các khu du lịch trên địa bàn

1.4.3 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được thực hiện từ tháng tháng 6 năm 2014, sử dụng dữ liệu thứ cấp từ năm 2010 đến cuối năm 2013 và dữ liệu chính được trực tiếp phỏng vấn

hộ gia đình tham gia hoạt động du lịch trong năm 2014

1.4.4 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Nội dung bài nghiên cứu chỉ tập trung vào việc mô tả thực trạng sự hỗ trợ phát triển du lịch của người dân địa phương đồng thời xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến sự hỗ trợ phát triển du lịch gồm sự tham gia, sự gắn bó, nhận thức về lợi ích và chi phí mà du lịch mang lại, không xem xét đến các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của hộ gia đình tại địa bàn huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ

Trang 15

4

1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.5.1 Về phương pháp nghiên cứu

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã sử dụng phương pháp phân tích nhân tố trong du lịch, chẳng hạn như các nhóm nghiên cứu: Tsung Hung Lee (2012), Shaharudin Jakpar et al (2011), William P Stewart và et al (2002), Akarapong Untong et al (2010), Robin Nunkoo et al (2009), Kyungmi Kim (2002), Yooshik Yoon (2002), Joseph S Chen et al (2001), Yasong Wang (2006) Trong đó, bài nghiên cứu của Tsung Hung Lee (2012) tìm hiểu về ảnh hưởng của việc hỗ trợ của cộng đồng dân cư cho phát triển du lịch bền vững tại Cigu, Đài Loan tìm hiểu sự ảnh hưởng của sự hỗ trợ của người dân đến sự phát triển du lịch bền vững thông qua việc phân tích các

nhân tố: sự gắn bó của người dân với địa phương, sự tham gia vào du lịch bền

vững, lợi ích nhận được từ du lịch bền vững và chi phí đánh đổi cho du lịch bền vững Robin Nunkoo et al (2009) cũng có cùng quan điểm khi kiểm tra

mối quan hệ giữa sự gắn bó cộng đồng, nhận thức về các tác động tích cực và

tiêu cực của du lịch với sự hỗ trợ phát triển du lịch của cộng đồng địa phương

để xây dựng mô hình về sự hỗ trợ phát triển du lịch của người dân tại vùng đảo nhỏ Bên cạnh đó, Yooshik Yoon (2002) qua lập luận và phỏng vấn bảng

câu hỏi cũng khẳng định gắn bó địa phương có tác động đến sự hỗ trợ cho các

chiến lược cạnh tranh điểm đến du lịch Ngoài ra, bài nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng trú địa phương hỗ trợ cho phát triển du lịch của Akarapong Untong

et al (2010) thì chỉ ra rằng các tác động về kinh tế, môi trường, văn hoá và xã

hội có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hỗ trợ phát triển du lịch của người dân địa

phương Tương tự, Joseph S Chen et al (2001) cũng xác định các yếu tố về

động về kinh tế, môi trường, văn hoá và xã hội có ảnh hưởng đến sự hỗ trợ cho

du lịch Ngoài ra, Yasong Wang (2006) còn dựa vào mô hình hồi quy tuyến

tính để xác định lợi ích nhận được có tương quan đến sự hỗ trợ phát triển du

lịch của người dân

1.5.2 Về nội dung nghiên cứu

1.5.2.1 Nhận thức về lợi ích và chi phí đánh đổi khi tham gia du lịch của hộ gia đình

Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn (Bách khoa toàn thư mở wikipedia) Nói một cách dễ hiểu hơn, nhận thức của hộ gia đình

về du lịch chính là những gì họ hiểu, họ nhận biết về những lợi ích và thiệt hại

mà du lịch mang lại khi họ tham gia các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch

Trang 16

5

Lý thuyết trao đổi xã hội (SET) cũng chỉ ra rằng người dân địa phương sẽ tham gia vào việc trao đổi nếu họ có thể được hưởng lợi mà không phải chi những khoảng không thể chấp nhận Nếu họ cảm nhận tác động tích cực lớn hơn tác động tiêu cực, họ sẽ dễ dàng hỗ trợ phát triển du lịch Có rất nhiều bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhận thức của người dân và sự hỗ trợ phát triển du lịch của họ và cho thấy được tầm quan trọng của nhận thức người dân

về các tác động của du lịch đến sự hỗ trợ phát triển du lịch của họ trong tương lai Điển hình tác giả Lankford & Howard (1994) đã khẳng định rằng “Sự cân bằng về nhận thức của các chi phí và lợi ích của người dân du lịch trở thành một yếu tố quan trọng cho sự thành công của ngành công nghiệp du lịch” Juan Gariel Brida et al (2011) cũng cho rằng ”Những người dân cảm nhận được tác động tích cực du lịch sẽ sẵn sàng hơn để hỗ trợ chính sách phát triển

du lịch trong tương lai” Bài nghiên cứu của Sun Hee Choi (2013) về một cộng đồng nhỏ ở Hàn Quốc tên là Jeongseon cho thấy người dân địa phương tin rằng phát triển du lịch có tác động kinh tế và văn hóa xã hội tích cực, nhưng

có một tác động tiêu cực về môi trường Mặc dù nhận thức người dân được lấy mẫu là không đồng nhất và thay đổi tùy theo nhân khẩu học nhưng kết quả về tác động kinh tế, văn hoá xã hội cư dân du lịch Jeongseon về hỗ trợ cho du lịch là tích cực Ông cũng chỉ ra rằng các tác động tiêu cực trong nhận thức có thể sẽ ảnh hưởng đến nhận thức tích cực của người dân và sự hỗ trợ phát triển

du lịch của họ Do đó, nhận thức tích cực của người dân về du lịch phải là một công cụ quan trọng để khuyến khích người dân địa phương để hỗ trợ du lịch nhiều hơn

Một số bài nghiên cứu khác cũng khẳng định mối quan hệ giữa nhận thức về du lịch của cộng đồng và sự hỗ trợ phát triển du lịch của họ, trong đó

nhận thức về du lịch của cộng đồng được đo lường bằng hai biến lợi ích mà du

lịch mang lại và chi phí đánh đổi khi làm du lịch trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội và môi trường, tiêu biểu là các nhóm tác giả sau: Shaharudin

Jakpar et al (2011), Tsung Hung Lee (2012), Alfonso et al (2009), Kyungmi Kim (2002), Haywantee et al (2010), William P Stewart et al (2002), Juan

Gabriel Brida et al (2011) Nhìn chung, về lợi ích kinh tế, du lịch giúp người dân có thêm nhiều việc làm và thu hút các nguồn đầu tư từ bên ngoài Về lợi

ích văn hoá xã hội, du lịch giúp cải thiện chất lượng cuộc sống, cung cấp

nhiều loại hình vui chơi giải trí, tạo nhiều cơ hội trao đổi văn hoá giữa người dân địa phương và du khách, bảo tồn và lưu truyền bản sắc văn hoá của địa

phương và giúp tăng niềm tự hào đối với địa phương Về lợi ích môi trường,

du lịch giúp cải thiện cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông và các dịch vụ công cộng khác Bên cạnh đó, các bài nghiên cứu cũng chỉ ra mặt bất lợi khi tham

Trang 17

6

gia du lịch, hay là chi phí đánh đổi mà cộng đồng phải bỏ ra khi làm du lịch,

đó là: các vấn đề về môi trường như tiếng ồn, tắc nghẽn giao thông; sự gia tăng xung đột giữa cư dân địa phương và du khách và sự gia tăng các tệ nạn xã hội Những bài nghiên cứu này còn chỉ ra rằng sự cân bằng giữa nhận thức về lợi ích và chi phí đánh đổi khi làm du lịch, đặc biệt là khi cộng đồng nhận thấy lợi ích mình nhận được nhiều hơn chi phí họ đánh đổi, thì người dân sẽ có xu hướng đồng ý hỗ trợ phát triển du lịch nhiều hơn Chính vì vậy, các nhà hoạch định du lịch và các nhà hoạch định chính sách phải đảm bảo quản lý tốt các tác động tiêu cực quan trọng và có những nỗ lực để tạo ra nhiều lợi ích cho cộng đồng, Sun Hee Choi (2013)

1.5.2.2 Sự gắn bó của hộ gia đình với địa phương

Bên cạnh mối quan hệ giữa sự nhận thức của người dân khi tham gia du lịch và sự hỗ trợ cho phát triển du lịch, một số bài nghiên cứu cũng nhấn mạnh tác động của sự gắn bó cộng đồng đến sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình Gắn bó cộng đồng có thể được coi là sự tham gia của xã hội của một cá nhân, hội nhập vào đời sống cộng đồng và phản ánh một mối quan hệ tình cảm hoặc liên kết tình cảm giữa một cá nhân và một cộng đồng cụ thể (McCool và Martin, 1994) Do đó, gắn bó cộng đồng phản ánh sự bền chặt của một cá nhân

và ý thức thuộc về một cộng đồng (Kasarda và Janowitz, 1974) Sự gắn bó cộng đồng hoặc thời gian cư trú là một trong các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến tác động nhận thức và từ đó hỗ trợ đến sự phát triển du lịch được nhiều nhà nghiên cứu nhắc đến (Lankford và Howard năm 1994, Juan Gariel Brida et al năm 2011, Robin Nunkoo năm 2009, Shaharudin Jakpar et al năm

2011, Yooshik Yoon năm 2002) Những nghiên cứu này cũng đã được thừa nhận rằng sự gắn bó của người dân đối với cộng đồng về tình cảm, thời gian

cư trú và nơi sinh có thể ảnh hưởng đến nhận thức của họ về phát triển du lịch Bài nghiên cứu của Yooshik Yoon (2002) đo lường sự gắn bó của cộng đồng thông qua các mặt như: cảm xúc mạnh mẽ của người dân đối với cộng đồng, ý nghĩa và tầm quan trọng của cộng đồng này đối với họ, sự hài lòng của họ đối với cộng đồng, cộng đồng này là nơi tốt nhất đối với họ và họ muốn dành nhiều thời gian ở đây Bên cạnh đó, Tsung Hung Lee (2012) cũng đo lường sự gắn bó cộng đồng thông qua cảm xúc mạnh mẽ của người dân đối với cộng đồng, tầm quan trọng của cộng đồng này đối với họ và sự hài lòng của họ đối với cộng đồng đồng thời bổ sung thêm một số tiêu chí như: việc cung cấp các thiết bị và cơ sở ở cộng đồng này là tốt nhất và người dân địa phương cảm thấy tự hào khi sống ở đây

Trang 18

7

1.5.2.3 Sự tham gia của hộ gia đình vào du lịch

Tương tự sự gắn bó cộng đồng, sự tham gia của người dân vào du lịch cũng được khẳng định là có ảnh hưởng đến nhận thức của người dân về du lịch, từ đó giúp họ quyết định hỗ trợ phát triển du lịch trong tương lai (Tsung Hung Lee, 2012) Sự tham gia của cộng đồng đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch bền vững dựa vào cộng đồng vì khi cộng đồng tham gia các hoạt động du lịch có thể làm tăng giá trị của một cộng đồng bằng cách tăng cường các tác động tích cực và giảm thiểu tác động tiêu cực của du lịch (Jamal và Getz, 1995) Sự tham gia của các hộ gia đình được nghiên cứu thông qua những hoạt động mà họ có thể tham gia vào việc phát triển du lịch Bài nghiên cứu của Tsung Hung Lee (2012) đã chỉ ra rằng sự tham gia của cộng đồng được thể hiện ở 4 khía cạnh đó là: sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch, ủng hộ sự tham gia làm du lịch của cộng đồng, sự tham gia vào việc lập kế hoạch và quản lý du lịch và sự tham gia vào việc ra quyết định Bên cạnh đó, Rukavina Baksh et al (2012) cũng đo lường sự tham gia của cộng đồng thông qua: sự tham gia của cộng đồng trong quá trình lập kế hoạch,

sự tham gia trong quá trình ra quyết định, sự tham gia vào quản lý, sự tham gia vào quá trình thực hiện và sự tham gia vào quá trình đánh giá Etsuko Okazaki (2008) cũng khẳng định rằng sự tham gia của cộng đồng trong quá trình lập kế hoạch du lịch được cộng đồng vùng Palawan, Philippines ủng hộ như một cách để thực hiện du lịch bền vững

Tóm lại, qua các tài liệu đã được lược khảo, đề tài sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA và mô hình hồi quy tuyến tính để xác định sự ảnh hưởng của các nhân tố: sự gắn bó của hộ gia đình với địa phương, nhận thức về lợi ích từ du lịch, chi phí đánh đổi cho du lịch của hộ gia đình và sự tham gia của hộ gia đình vào các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch đến sự

hỗ trợ phát triển du lịch địa phương của các hộ gia đình huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ

Trang 19

8

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN

2.1.1 Định nghĩa du lịch

- Theo Điều 1, Luật du lịch, số 44/2005/QH11, ngày 14/6/2005: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

- Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như những mục đích khác, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các trường hợp du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”.5

- Các chuyên gia tại Hội nghị Liên hợp Quốc tế về Du lịch ở Roma – Italia (21/8/1963 - 5/9/1963) định nghĩa: “Du lịch là tổng hòa các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hàng trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”

- Theo Hội nghị Quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada, (tháng 06/1991): “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thởi gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm

vi vùng tới thăm”

- Theo Liên hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức (Internationnal Union of Official Travel Oragnization – IUOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình không nhằm mục đích để làm ăn”

5 Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, < http://vi.wikipedia.org/wiki/Du_lịch >

Trang 20

9

2.1.2 Bản chất du lịch

- Nhìn từ góc độ địa lý thì du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời của con người từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay làm việc

- Nhìn từ góc độ kinh tế thì du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi (có thể kết hợp với các nhu cầu khác như chữa bệnh, tham gia các hoạt động thể thao ) của

du khách

- Nhìn từ góc độ nhu cầu xã hội thì du lịch là một sản phẩm tất yếu trong

sự phát triển kinh tế - xã hội của loài người Khi điều kiện kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định, khi các nhu cầu sinh học (ăn, ở, mặc đầy đủ) và nhu cầu an toàn (không có chiến tranh, bất ổn chính trị) được đảm bảo thì con người sẽ nảy sinh thêm nhu cầu muốn được nghỉ ngơi, giải trí và khám phá Nhu cầu này ngày càng được tăng cao và tỉ lệ thuận với mức độ phát triển xã hội, tiến bộ khoa học kỹ thuật và thu nhập bình quân đầu người Bản chất đích thực của du lịch là du ngoạn để cảm nhận những giá trị vật chất và tinh thần có tính văn hóa cao

2.1.3 Sản phẩm du lịch

2.1.3.1 Khái niệm sản phẩm du lịch

Theo Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (2004): “Sản phẩm du lịch

là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực:

cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó.”

Jefferson & Lickorish (1991) thì cho rằng: “Sản phẩm du lịch là tập hợp những đặc điểm vật chất và dịch vụ cùng với những biểu hiện, đặc trưng được khách hàng mong đợi để làm hài lòng nhu cầu của họ”

Theo điều 4, chương I, Luật Du lịch năm 2005: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến

đi du lịch”

Theo Michael M Coltman, sản phẩm du lịch có thể là một món hàng cụ

thể như thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ mát

Trang 21

10

Song nhìn từ góc độ nào thì sản phẩm du lịch cũng bao gồm những thành phần cơ bản sau:6

- Dịch vụ vận chuyển: là một phần cơ bản của sản phẩm du lịch Bao

gồm các phương tiện đưa đón khách đến và tham quan tại điểm du lịch (ô tô, máy bay, tàu hỏa, xe máy, xe đạp, thuyền,…)

- Dịch vụ lưu trú, ăn uống: Đây là thành phần chính cấu thành sản phẩm

du lịch Nó bao gồm các dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của khách du lịch như: Các loại dịch vụ lưu trú: khách sạn, motel, lều trại, bugalow, nhà hàng, …

- Dịch vụ tham quan giải trí: như điểm tham quan, công viên, di tích, hội

- Tính vô hình: Sản phẩm du lịch về cơ bản là vô hình (không cụ thể)

Thực ra nó là một kinh nghiệm du lịch hơn là một món hàng cụ thể Mặc dù trong cấu thành sản phẩm du lịch có hàng hóa Tuy nhiên sản phẩm du lịch là không cụ thể nên dễ dàng bị sao chép, bắt chước (những chương trình du lịch, cách trang trí phòng đón tiếp ) Việc làm khác biệt hóa sản phẩm mang tính cạnh tranh khó khăn hơn trong kinh doanh hàng hóa

- Tính không đồng nhất: Do sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ, vì vậy

mà khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua gây khó khăn cho việc chọn sản phẩm Do đó vấn đề quảng cáo trong du lịch là rất quan trọng

- Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng: Việc tiêu dùng sản phẩm du

6

Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (2004), Kinh tế du lịch, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội.

Trang 22

11

lịch xảy ra cùng một thời gian và địa điểm sản xuất ra chúng Do đó không thể đưa sản phẩm du lịch đến khách hàng mà khách hàng phải tự đến nơi sản xuất

ra sản phẩm du lịch

- Tính mau hỏng và không dự trữ được: Sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch

vụ như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống Do đó về cơ bản sản phẩm du lịch không thể tồn kho, dự trữ được và rất dễ hỏng

Ngoài ra sản phẩm du lịch còn có một đặc điểm khác:

- Sản phẩm du lịch do nhiều nhà tham gia cung ứng

- Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch mang tính thời vụ

- Sản phẩm du lịch nằm ở xa nơi cư trú của khách du lịch

2.1.4 Khái niệm về hộ gia đình

2.1.4.1 Định nghĩa hộ gia đình

Theo điều 106 luật Dân sự 2005, Số 33/2005/QH11, ngày 14/6/2005:

”Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”

Theo Tổng cục Thống kê: Hộ gia đình hay còn gọi đơn giản là hộ, hộ gia đình một đơn vị xã hội, trong thống kê hộ gia đình là đơn vị điều tra (thu thập thông tin), bao gồm một hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu)

và ăn chung (nhân khẩu) Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung

Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai

Theo tài liệu Dân số học – Tổng cục Dân số (2011): Hộ gia đình (gọi tắt

là hộ) là một nhóm người ở chung một mái nhà, có quỹ thu chi chung Hộ có thể gồm những người có quan hệ ruột thịt, họ hàng hoặc bạn bè quen biết đến

ở trọ (có thể cùng làm ăn, học tập với các thành viên trong gia đình) Ở Việt Nam hiện nay, một gia đình cũng trùng hợp với hộ trong đại đa số các trường hợp Mỗi hộ có sổ đăng ký hộ khẩu ghi rõ số nhân khẩu, chủ hộ và quan hệ giữa các thành viên với chủ hộ Đây là tài liệu có tính pháp lý để chính quyền địa phương có thể quản lý các hộ

Trang 23

12

2.1.4.2 Phân loại hộ gia đình

Theo Tổng cục thống kê thì hộ gia đình được phân loại như sau:

1 Hộ một người: là hộ chỉ một có một người thực tế đang sống tại địa

3 Hộ mở rộng: là hộ bao gồm các trường hợp sau đây:

- Gia đình hạt nhân đơn và những người có quan hệ gia đình với gia đình hạt nhân Ví dụ: một người bố đẻ cùng với (các) con đẻ và những người thân khác, hoặc một cặp vợ chồng với (các) người thân khác;

- Hai gia đình hạt nhân đơn trở lên có quan hệ gia đình với nhau mà không có những người khác Ví dụ: có hai cặp vợ chồng trở lên cùng với (những) đứa con đẻ;

- Hai gia đình hạt nhân đơn trở lên có quan hệ gia đình với nhau cộng với những người có quan hệ gia đình với ít nhất một gia đình hạt nhân đơn Ví dụ: hai cặp vợ chồng trở lên với (những) người thân khác;

- Hai người trở lên có quan hệ gia đình với nhau, không có ai tạo thành một gia đình hạt nhân

4 Hộ hỗn hợp: là các trường hợp sau:

- Một gia đình hạt nhân đơn cộng với những người khác, trong đó có một

số người có quan hệ gia đình với gia đình hạt nhân và một số người thì không

Ví dụ: mẹ đẻ cùng (các) con đẻ, ở với những người thân và người không phải người thân;

- Một gia đình hạt nhân đơn cộng với những người khác, trong đó không

có ai có quan hệ gia đình với gia đình hạt nhân Ví dụ: bố đẻ cùng (các) con đẻ

và những người không có quan hệ gia đình;

- Hai gia đình hạt nhân trở lên có quan hệ gia đình với nhau cộng với những người khác, trong đó có một số người có quan hệ gia đình với ít nhất một gia đình hạt nhân và một số thì không Ví dụ: hai cặp vợ chồng trở lên với những người thân và không phải người thân khác;

Trang 24

13

- Hai gia đình hạt nhân trở lên có quan hệ gia đình với nhau cộng với những người khác, trong đó không có ai có quan hệ gia đình với gia đình hạt nhân Ví dụ: hai cặp vợ chồng trở lên, trong đó có một hay trên một cặp có (các) con đẻ cùng (những) người không phải người thân;

- Hai gia đình hạt nhân trở lên không có quan hệ gia đình với nhau, có hay không có những người khác;

- Hai người trở lên có quan hệ gia đình với nhau nhưng không có ai tạo thành một gia đình hạt nhân, cộng với những người không có quan hệ gia đình;

- Chỉ có những người không có quan hệ gia đình

2.1.5 Khái niệm về sự hỗ trợ của hộ gia đình

Sự hỗ trợ của cộng đồng địa phương vào phát triển du lịch được nhiều nhóm tác giả trên thế giới tìm hiểu và nghiên cứu Nancy G McGehee et al (n.d) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng của thái độ cộng đồng vùng Arizona đến du lịch đã khẳng định rằng việc xây dựng sự hỗ trợ của cộng đồng thông qua các chiến dịch quan hệ công chúng nhằm thúc đẩy những lợi ích cá nhân người dân đạt được bởi sự phát triển du lịch thêm là rất quan trọng và cần được ưu tiên hàng đầu ngành công nghiệp du lịch Juan Gabriel Brida et al (2011) cho rằng sự hỗ trợ của cộng đồng địa phương là điều cần thiết cho sự phát triển của du lịch, sự thành công của các hoạt động và sự bền vững của nền công nghiệp trong dài hạn Cùng quan điểm đó, Joseph S Chen et al (2001) khẳng định sự hỗ trợ của người dân địa phương là cần thiết cho sự phát triển, thành công và tính bền vững của du lịch bởi vì du lịch phụ thuộc rất nhiều vào thiện chí của họ Nếu người dân có nhận thức tích cực của du lịch,

họ sẽ hỗ trợ cho phát triển du lịch và vì thế, họ sẽ sẵn sàng để tham gia vào một cuộc trao đổi với du khách Bên cạnh đó, Shaharudin Jakpar et al (2011) cũng chỉ ra rằng sự hỗ trợ của người dân địa phương theo hướng phát triển du lịch là yếu tố quan trọng đối với chính quyền địa phương và hoạch định các chính sách vì sự thành công của hoạt động du lịch phụ thuộc vào hỗ trợ tích cực từ người dân địa phương Việc hỗ trợ cho phát triển du lịch cũng là một vấn đề phức tạp và kết quả từ các nghiên cứu khác cho thấy rằng các nhà phát triển cộng đồng và các nhà hoạch định du lịch cần phải tính đến thái độ của người dân trước khi đầu tư phát triển, Robin Nunkoo et al (2009)

Sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình là những hoạt động mà họ có thể làm sau khi tham gia làm du lịch để giúp du lịch ngày càng phát triển hơn Nhiều nghiên cứu được lược khảo đã chỉ ra nhiều hướng tiếp cận đến sự hỗ trợ

Trang 25

14

phát triển du lịch của hộ gia đình Điển hình là tác giả Shaharudin Jakpar et al (2011) đã chỉ ra rằng sự hỗ trợ phát triển du lịch của cộng đồng địa phương được thể hiện thông qua các hoạt động: ưu tiên xây dựng các cơ sở du lịch mới, làm nhiều hơn để thúc đẩy du lịch, biết được sự quan trọng của du lịch đối với địa phương, giúp đỡ cộng đồng phát triển đúng hướng Tương tự Shaharudin, Nancy G McGehee et al (n.d) cũng xác định sự hỗ trợ phát triển

du lịch của cộng đồng thông qua: sự ủng hộ xây dựng các cơ sở du lịch mới, tầm quan trọng của du lịch đối với địa phương, các tổ chức du lịch cần làm nhiều hơn để thúc đẩy phát triển du lịch Thêm vào đó, Tsung Hung Lee (2012) đã lập luận và tìm ra các biến đại diện cho sự hỗ trợ phát triển du lịch của cộng đồng địa phương là: sự ủng hộ phát triển du lịch, tích cực tham gia các hoạt động du lịch và các hoạt động giao lưu văn hoá giữa cộng đồng địa phương và khách du lịch, ủng hộ các sáng kiến phát triển du lịch, hợp tác với các kế hoạch phát triển du lịch

2.1.6 Khái niệm về lý thuyết trao đổi xã hội7

2.1.6.1 Định nghĩa Lý thuyết trao đổi xã hội

Lý thuyết trao đổi xã hội đã được giới thiệu vào năm 1958 bởi các nhà xã hội học George Homans với việc xuất bản tác phẩm của ông "Social Behavior

as Exchange" Ông định nghĩa trao đổi xã hội như việc trao đổi hoạt động, hữu hình hay vô hình, và ít nhiều bổ ích hoặc tốn kém, giữa ít nhất hai người Sau khi Homans thành lập lý thuyết, các lý thuyết gia khác tiếp tục viết về nó, đặc biệt là Peter M Blau và Richard M Emerson, người ngoài Homans thường được coi là các nhà phát triển quan trọng của việc trao đổi quan điểm trong xã hội học.8

Ngày nay, lý thuyết trao đổi xã hội đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là ứng dụng trong việc nghiên cứu các hành vi, thái độ của con người Lý thuyết trao đổi xã hội là một quan điểm xã hội học và tâm lý rằng cái nhìn nền tảng của tất cả các mối quan hệ con người được dựa trên chi phí

và lợi ích Theo lý thuyết trao đổi xã hội, quyết định của con người dựa trên chi phí và lợi ích có thể được tích lũy từ các quyết định cụ thể Ngay cả mối quan hệ không bị ảnh hưởng từ niềm tin này Một cá nhân sẽ xây dựng một mối quan hệ dựa trên lợi ích cảm nhận nổi lên từ những mối quan hệ xã hội

Trang 26

15

Do đó, một người sẵn sàng chấm dứt một mối quan hệ khi chi phí hoặc nỗ lực lớn hơn những lợi ích nhận được trong mối quan hệ Khía cạnh này của lý thuyết trao đổi xã hội bắt nguồn từ tâm lý xã hội, lý thuyết lựa chọn hợp lý, Kinh tế và cấu trúc

2.1.6.2 Các khái niệm cơ bản của lý thuyết trao đổi xã hội

Các khái niệm quan trọng của lý thuyết trao đổi xã hội bao gồm sự hài lòng, lợi ích, sự phụ thuộc, chi phí, kết quả và so sánh Lợi ích và chi phí gắn liền với sự tồn tại của lý thuyết trao đổi xã hội Khái niệm cơ bản của lý thuyết trao đổi xã hội lợi ích, bao gồm lợi nhuận tài chính, tiện nghi vật chất, tiện nghi về tình cảm và tình trạng xã hội Chi phí bao gồm tiền bạc, thời gian và mất cơ hội Do đó tất cả tương tác xã hội được dựa trên kết quả coi là sự khác biệt giữa lợi ích và chi phí

Nhiều nhà tâm lý học xem xét các lý thuyết trao đổi xã hội đánh giá cao chủ nghĩa cá nhân Theo lý thuyết này, các cá nhân trong xã hội tương tác với lợi ích cá nhân mà người đó đạt được Mọi quyết định cá nhân và hành động dựa trên một động lực tự phục vụ Điều đó có nghĩa là không có chỗ cho lòng

vị tha Các lý thuyết trao đổi xã hội tin rằng những người tham gia vào sự hào phóng chỉ khi họ được đảm bảo một số lợi ích cá nhân

2.1.6.3 Các nguyên tắc chính của Lý thuyết trao đổi xã hội

Lý thuyết trao đổi xã hội tìm thấy nguồn gốc của nó trong Tâm lý học,

Xã hội học và kinh tế Những tiền đề chính của lý thuyết này là quan hệ xã hội

là kết quả của một quá trình trao đổi với mục đích tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu chi phí Theo lý thuyết trao đổi xã hội mọi người nhìn thấy mối quan hệ

xã hội trong ánh sáng của lợi nhuận và rủi ro Trong trường hợp rủi ro hơn so với lợi nhuận, người ta không ngần ngại chấm dứt mối quan hệ đặc biệt Theo lý thuyết trao đổi xã hội, điều kiện kinh tế như lợi nhuận, lợi ích, thanh toán và chi phí được sử dụng trong khi mô tả các tình huống xã hội Các tình huống xã hội được đánh giá dựa trên chi phí của những gì họ đang đặt vào

nó để gặt hái những lợi ích Vì vậy, một cá nhân đầu tư cao hơn có thể chỉ khi lợi ích tiềm năng dường như cao hơn

Có 4 nguyên tắc tương tác trong trao đổi xã hội như sau:

- Nếu một hành vi được thưởng, hay có lợi thì hành vi đó có xu hướng lặp lại

- Hành vi được thưởng, được lợi trong hoàn cảnh nào thì cá nhân sẽ có

xu hướng lặp lại hành vi đó trong hoàn cảnh tương tự

Trang 27

16

- Nếu như phần thưởng, mối lợi đủ lớn thì cá nhân sẽ sẵn sàng bỏ ra nhiều chi phí vật chất và tinh thần để đạt được nó

- Khi nhu cầu của các cá nhân gần như hoàn toàn được thoả mãn thì họ

sẽ ít cố gắng hơn trong việc nỗ lực tìm kiếm chúng

2.1.7 Một số phương pháp sử dụng để phân tích số liệu

2.1.7.1 Kiểm định thang đo Cronbach’s alpha

Khi thực hiện các nghiên cứu định lượng, người nghiên cứu phải sử dụng các loại thang đo lường khác nhau Hiện tượng kinh tế - xã hội vốn rất phức tạp nên việc lượng hóa các khái niệm nghiên cứu đòi hỏi phải có những thang

đo lường được xây dựng công phu và được kiểm tra độ tin cậy trước khi sử dụng, Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) Thông qua hệ số Cronbach’s Alpha dùng để loại bỏ các biến không phù hợp và hạn chế các biến rác trong quá trình nghiên cứu và đánh giá độ tin cậy của thang đo, hệ số Cronbach’s Alpha chỉ đo lường độ tin cậy của thang đo (bao gồm từ 3 biến quan sát trở lên) chứ không được tính độ tin cậy cho từng biến quan sát Các nhà nghiên cứu về thang đo như Nunnally (1978); Peterson (1994); Slater (1995) cho rằng, hệ số Cronbach’s Alpha thể hiện thang đo tốt nhất trong khoản 0,8 đến 1 George & Mallery (2003), nhưng đôi khi hệ số này cao quá còn thể hiện có biến quan sát thừa trong thang đo Biến quan sát thừa là biến đo lường một khái niệm hầu như trùng với biến đo lường khác, tương tự như trường hợp cộng tuyến (collinearity) trong hồi quy, khi đó biến thừa nên được bác bỏ Các nhà nghiên cứu này còn cho rằng hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,6 trở lên là có thể sử dụng thang đo đó Và những biến có hệ số tương quan biến tổng (item – total correlation) nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại khỏi thang đo

2.1.7.2 Phân tích nhân tố

Phân tích nhân tố khám phá là một phương pháp phân tích thống kê dùng

để rút gọn một tập hợp nhiều biến quan sát phụ thuộc lẫn nhau thành một tập biến (gọi là các nhân tố) ít hơn để chúng có ý nghĩa hơn nhưng vẫn chứa đựng hầu hết nội dung thông tin của tập biến ban đầu Hair et al (1998) Phân tích nhân tố là tên chung của một nhóm các thủ tục được sử dụng chủ yếu để thu nhỏ và tóm tắt các dữ liệu Trọng và Ngọc (2008) Phân tích nhân tố không có

sự phân biệt biến phụ thuộc và biến độc lập hay biến dự đoán mà nó nghiên cứu mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau Mô hình phân tích nhân tố:

Xi = Af1F1 + Af2F2 + Af3F3 +….+ AfmFm + ViUi

Trang 28

17

Trong đó:

- Xi: Biến thứ i chuẩn hóa

- Afj: Hệ số hồi quy bội chuẩn hóa của nhân tố j đối với biến i

- F: Các nhân tố chung

- Vi: Hệ số hồi quy chuẩn hóa của nhân tố đặc trưng i đối với biến i

- Ui: Nhân tố đặc trưng của biến i

- m: Số nhân tố chung

Trong phân tích nhân tố, ta cũng quan tâm đến chỉ số KMO (Kaiser - Meyer - Olkin) để xem xét sự thích hợp của mô hình phân tích nhân tố và tổng phương sai trích cho thấy khả năng giải thích của các nhân tố thay cho các biến ban đầu Nếu chỉ số KMO nằm trong khoảng 0,5 đến 1 thì ta sử dụng phân tích nhân tố là thích hợp với dữ liệu nghiên cứu và thang đo chỉ được chấp nhận khi tổng phương sai trích lớn hơn 50% Hair et al (2006) Để xác định số nhân tố phương pháp thông dụng nhất là sử dụng hệ số eigenvalue (determination based on eigen value): chỉ có những nhân tố nào có eigenvalue lớn hơn 1 mới được giữ lại trong mô hình phân tích Ma trận xoáy nhân tố cũng được đề cập và xem xét, theo Hair rt al (2006) hệ số tải nhân tố là chỉ tiêu đảm bảo mức ý nghĩa thiết thực của EFA, hệ số tải nhân tố >0,3 được xem

là đạt được mức tối thiểu và cỡ mẫu nên chọn ít nhất là 350, hệ số tải nhân tố

>0,4 được xem là quan trọng, nếu cỡ mẫu khoảng 100 thì hệ số tải nhân tố

>0,5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn

Trang 29

18

- Kaiser-Meyer-Olkin (KMO) measure of sampling adequacy: Là một chỉ

số dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố Trị số của KMO giữa 0,5 và 1 là điều kiện đủ để phân tích nhân tố là thích hợp, còn nếu nhỏ hơn 0,5 thì không phù hợp

- Cumulative (phương sai trích): Cho biết mức độ giải thích đúng của mô hình

- Eigenvalue: Đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân

tố

2.1.7.3 Hồi quy tương quan

Hồi quy là công cụ chủ yếu của kinh tế lượng Bản chất của phân tích hồi quy là nghiên cứu mối liên hệ phụ thuộc của một biến (gọi là biến phụ thuộc hay biến được giải thích) với một hay nhiều biến khác (gọi là các biến độc lập hay biến giải thích)

Mô hình hồi quy đa biến: mô hình hồi quy đa biến có biến phụ thuộc là

Y, phụ thuộc vào nhiều biến độc lập X khác Do đó mô hình có dạng như sau:

Yi = β0 +β1 X1i + β2X2i +…+ βpXpi + eiTrong đó:

- Xpi: biểu hiện giá trị của biến độc lập thứ p tại quan sát thứ i

- β0 : là hệ số tự do (hệ số chặn), nó là giá trị trung bình của biến Y khi βp

=0

- Các hệ số βp được gọi là hệ số hồi quy riêng phần

- Thành phần ei là một biến độc lập ngẫu nhiên có phân phối chuẩn với trung bình là 0 và phương sai không đổi δ2

Độ phù hợp của mô hình:

- Đánh giá độ phù hợp của mô hình: hệ số xác định R2 và R2 hiệu chỉnh (Adjusted R square) được dùng để đánh giá độ phù hợp của mô hình Vì R2 sẽ tăng khi đưa thêm biến độc lập vào mô hình nên dùng R2 hiệu chỉnh sẽ an toàn hơn khi đánh giá độ phù hợp của mô hình, R2 hiệu chỉnh càng lớn càng thể hiện độ phù hợp của mô hình càng cao

- Kiểm định độ phù hợp của mô hình: để kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy đa biến ta dùng giá trị F ở bảng phân tích ANOVA Giả thuyết

H0: β1 = β2 =…βp = 0 Nếu Sig F < α (α là mức ý nghĩa) thì bác bỏ giả thuyết

H0, khi đó mô hình phù hợp với tập dữ liệu và có thể suy rộng ra cho toàn tổng

Trang 30

19

thể Nếu Sig F ≥ α thì chấp nhận giả thuyết H0, khi đó mô hình không phù hợp với tập dữ liệu và không thể suy rộng ra cho toàn tổng thể (trong đó, mức ý nghĩa α được sử dụng phổ biến là 1%, 5% và 10%)

Ý nghĩa các hệ số hồi quy riêng phần trong mô hình: βp đo lường sự thay đổi giá trị trung bình Y khi Xp thay đổi 1 đơn vị, khi các biến độc lập còn lại không đổi Ngoài ra, đôi khi dùng hệ số Beta để so sánh khi các biến độc lập không cùng đơn vị đo lường

2.1.7.4 Thống kê mô tả

a) Khái niệm (Descriptive Statistics): là các phương pháp có liên quan

đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu

b) Bảng phân phối tần số: bảng phân phối tần số là bảng tóm tắt các dữ

liệu được sắp xếp thành từng tổ khác nhau Để lập một bảng phân phối tần số trước hết ta phải sắp xếp dữ liệu theo một thứ tự nào đó tăng dần hoặc giảm dần Sau đó thực hiện các bước sau:

Bước 1: Xác định số tổ của dãy phân phối

Số tổ = [(2)* Số tổ quan sát (n)]0.3333

Bước 2: Xác định khoảng cách tổ (k)

k = Xmax – Xmin/ số tổ

Xmax: Lượng biến lớn nhất của dãy phân phối

Xmin: Lượng biến nhỏ nhất của dãy phân phối

Bước 3: Xác định giới hạn trên và giới hạn dưới của mỗi tổ

Một cách tổng quát, giới hạn dưới của mỗi tổ đầu tiên sẽ là lượng biến nhỏ nhất của dãy phân phối, sau đó lấy giới hạn dưới cộng khoảng cách tổ (k)

sẽ được giá trị của giới hạn trên, lần lượt cho đến tổ cuối cùng Giới hạn trên của tổ cuối cùng thường là lượng biến lớn nhất của dãy số phân phối

Bước 4: Xác định tần số của mỗi tổ bằng cách đếm số quan sát rơi vào

giới hạn của tổ đó Cuối cùng trình bày trên biểu bảng và biểu đồ

c) Biểu bảng: là một hình thức trình bày các tài liệu thống kê một cách

có hệ thống, hợp lý và rõ ràng nhằm nêu lên các đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu Đặc điểm chung của tất cả các bảng thống kê là bao giờ cũng có những con số của từng bộ phận và có mối lien hệ mật thiết với nhau

Trang 31

20

Về hình thức, biểu bảng bao gồm các hàng, cột, các tiêu đề, tiêu mục và các con số; Về nội dung gồm phần chủ đề và phần giải thích: Phần chủ đề nói lên tổng thể được trình bày trong bảng thống kê, tổng thể được phân thành những đơn vị, bộ phận Phần giải thích gồm các chỉ tiêu giải thích các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, tức là giải thích phần chủ đề của bảng

d) Biểu đồ: là phương pháp trình bày và phân tích các thông tin thống kê

bằng các biểu đồ, đồ thị và bảng đồ thống kê

Biểu đồ hình cột: là loại biểu đồ hiện các tài liệu thống kê bằng các hình chữ nhật hay khối chữ nhật thẳng đứng hoặc nằm ngang có chiều rộng và chiều sâu bằng nhau, còn chiều cao tương ứng với các đại lượng cần biểu hiện Biểu đồ diện tích: là loại biểu đồ, trong đó các thông tin thống kê được biểu hiện bằng các loại diện tích hình học như hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật, hình ô van…

e) Một số khái niệm khác:

- Giá trị trung bình (Mean, Average): bằng tổng số tất cả các giá trị biến quan sát chia cho tổng số quan sát

- Số trung vị (Meandian, ký hiệu: Me): là các giá trị của biến đứng ở giữa của một dãy số được sắp xếp theo thứ tự tăng dần hoặc giảm dần Số trung vị chia dãy số làm phần, mỗi phần có số quan sát bằng nhau

- Mode (ký hiệu: Mo): là giá trị có tần số xuất hiện cao nhất trong tổng

số hay trong một dãy số phân phối

- Phương sai: là trung bình giữa bình phương các độ lệch giưa các biến

và trung bình của các biến đó Độ lệch chuẩn là căn bậc hai của phương sai

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Mô hình nghiên cứu

Diễn giải các biến trong mô hình nghiên cứu:

- Sự tham gia: Sự tham gia vào các hoạt động du lịch, vào việc ra quyết

định, lập kế hoạch và quản lí du lịch của hộ gia đình (Tsung Hung Lee năm 2012)

- Sự gắn bó: Gắn bó cộng đồng có thể được coi là sự tham gia của xã hội

của một cá nhân, hội nhập vào đời sống cộng đồng và phản ánh một mối quan

hệ tình cảm hoặc liên kết tình cảm giữa một cá nhân và một cộng đồng cụ thể (McCool và Martin, 1994, trang 30) Do đó, gắn bó cộng đồng phản ánh sự

Trang 32

21

bền chặt của một cá nhân và ý thức thuộc về một cộng đồng (Kasarda & Janowitz, 1974)

- Nhận thức lợi ích và chi phí: Theo quan điểm triết học Mác-Lênin,

nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên

cơ sở thực tiễn (bách khoa toàn thư mở wikipedia) Nói một cách dễ hiểu hơn, nhận thức của hộ gia đình chính là những gì họ hiểu, họ nhận biết về những lợi ích và thiệt hại mà du lịch mang lại khi họ tham gia các hoạt động cung ứng dich vụ du lịch

- Sự hỗ trợ: Sự đồng tình, ủng hộ của hộ gia đình trong việc hỗ trợ phát

triển du lịch địa phương Hộ gia đình hỗ trợ phát triển du lịch bằng cách tham gia hoạt động du lịch tích cực hơn, ủng hộ xây dựng các cơ sở du lịch, tham gia tư vấn, giúp đỡ các hộ khác làm du lịch, hợp tác với các đối tác (Shaharudin Jakpar năm 2011, Tsung Hung Lee năm 2012)

Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Mô hình nghiên cứu trên được đề xuất đề xuất để giải quyết các giá thuyết sau:

H1: Sự gắn bó của hộ gia đình với địa phương có ảnh hưởng đến sự hỗ trợ phát triển du lịch

H2: Sự tham gia vào du lịch của hộ gia đình có ảnh hưởng đến sự hỗ trợ phát triển du lịch

H3: Lợi ích nhận được từ du lịch có ảnh hưởng đến sự hỗ trợ phát triển

Trang 33

SỰ THAM GIA CỦA HỘ GIA ĐÌNH

TG1 Việc đưa ra quyết định tham gia vào các

hoạt động dịch vụ du lịch là do bản thân

gia đình

Tsung Hung Lee (2012), Rukavina Baksh và cộng sự (2012)

Likert 5 mức độ

TG2 Luôn lập kế hoạch cho các hoạt động dịch

vụ du lịch

TG3 Luôn tham gia vào hoạt động phục vụ du

khách

TG4 Luôn tham gia vào việc quản lý, đánh giá

các hoạt động dịch vụ du lịch của gia đình

SỰ GẮN BÓ CỦA HỘ GIA ĐÌNH

GB1 Thích sống ở địa phương này Yooshik Yoon

(2002), Tsung Hung Lee (2012)

Likert 5 mức độ GB2 Sẽ sống ở địa phương này lâu dài

GB3 Sống ở địa phương này ông/bà được cung

cấp các cơ sở, thiết bị tốt nhất

GB4 Xem địa phương này là nơi ở tốt nhất

LỢI ÍCH NHẬN ĐƯỢC

LI1 Có nhiều sản phẩm nông nghiệp sạch

phục vụ cho người dân và du khách

Shaharudin Jakpar

và cộng sự (2011), Tsung Hung Lee (2012), Alfonso và cộng sự (2009), Kyungmi Kim (2002), Haywantee

và cộng sự (2010), William P Stewart

và cộng sự (2002), Juan Gabriel Brida

và cộng sự (2011)

Likert 5 mức độ LI2 Tạo nhiều việc làm hơn cho hộ gia đình

LI3 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho

LI6 Bản sắc văn hóa của địa phương được gìn

giữ và lưu truyền

Trang 34

LI10 Cải thiện lối sống

LI11 Tăng cường các hoạt động phục vụ vì lợi

ích môi trường

LI12 Tăng niềm tự hào của ông/bà đối với địa

phương

CHI PHÍ ĐÁNH ĐỔI

CP1 Du lịch tác động xấu đến môi trường (tăng

tắc nghẽn giao thông, tiếng ồn, ô nhiễm

nguồn nước,…)

Shaharudin Jakpar

và cộng sự (2011), Tsung Hung Lee (2012), Alfonso và cộng sự (2009), Kyungmi Kim (2002), Haywantee

và cộng sự (2010), William P Stewart

và cộng sự (2002), Juan Gabriel Brida

và cộng sự (2011)

Likert 5 mức độ

CP2 Tăng xung đột giữa du khách và cư dân

và cộng sự (2010), Joseph S Chen và cộng sự (2001)

Likert 5 mức độ HT2 Tích cực hoạt động hơn để thúc đẩy du

Trang 35

24

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp đề tài sử dụng trong phân tích được thu thập trong khoảng 2010 – 2013 từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Du lịch, từ điển Bách Khoa toàn thư mở Wikipedia và một số nghiên cứu trước đó

2.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp các đối tượng nghiên cứu thông qua bảng câu hỏi đã được soạn thảo trước Tiến trình thu thập số liệu gồm các bước sau:

Bước 1 Soạn thảo bảng câu hỏi: Bảng câu hỏi được soạn thảo dựa trên

mục tiêu và mô hình nghiên cứu

Bước 2 Thực hiện điều tra thử: Sau khi đã hoàn thành bảng câu hỏi, tác

giả tiến hành điều tra thử tại địa bàn nghiên cứu để kiểm tra tính phù hợp của bảng câu hỏi, sau đó điều chỉnh lại cho phù hợp với thực tế tại vùng nghiên cứu

Bước 3 Thực hiện điều tra chính thức: Sau khi điều tra thử và hiệu

chỉnh bảng câu hỏi cho phù hợp với địa bàn nghiên cứu, tác giả tiến hành thu

số liệu chính thức Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, vì đối tượng nghiên cứu hạn chế về số lượng nên cần có sự giới thiệu hay hướng dẫn của những đối tượng được phỏng vấn đầu tiên Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích mô hình hồi qui tuyến tính Đối với phương pháp phân tích nhân tố (EFA), kích thước mẫu thường được xác định dựa vào (1) kích thước tối thiểu và (2) số lượng biến đo lường đưa vào phân tích.Theo Hair et al (2006), để sử dụng EFA, kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, và tốt hơn là 100, bên cạnh đó thì tỷ lệ mẫu và biến quan sát

là 5:1 có nghĩa là 1 biến đo lường cần tối thiểu là 5 quan sát Tương tự, Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) cũng cho rằng số lượng mẫu phải gấp 4 đến 5 lần số lượng biến thì số liệu mới có ý nghĩa Do đó, trong nghiên cứu sử dụng 23 biến để đo lường nên số mẫu tối thiểu cần thiết là 23 x 5 = 115 quan sát Để tránh những trường hợp sai sót về đáp án trả lời của đáp viên nghiên cứu chọn cở mẫu là 125 quan sát Thực tế, tác giả đã tiến hành điều tra

125 mẫu nghiên cứu, trong đó có 120 mẫu là đạt tiêu chuẩn và sử dụng được Như vậy, số liệu được thu thập đảm bảo thực hiện tốt mô hình nghiên cứu

Trang 36

25

Bảng 2.2 Mô tả mẫu điều tra theo đối tượng

2.2.3 Phương pháp phân tích

Phương pháp phân tích được xác định theo từng mục tiêu cụ thể:

- Mục tiêu 1: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả các chỉ số trung bình,

tỷ lệ, tần suất,… để mô tả thực trạng hỗ trợ phát triển du lịch của người dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ

- Mục tiêu 2: Nghiên cứu này sử dụng phương pháp kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s alpha để kiểm định độ tin cậy của thang đo, phương pháp phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis – EFA) để gom nhóm nhân tố và sau đó sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ

- Mục tiêu 3: Dựa vào các kết quả có được từ việc phân tích mục tiêu 1

và 2, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sự hỗ trợ của hộ gia đình đến phát triển du lịch huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ

Trang 37

26

CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

3.1 KHÁI QUÁT DU LỊCH PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

3.1.1 Tài nguyên tự nhiên9

3.1.1.1 Vị trí địa lí

Phong Điền là một huyện thuộc Thành phố Cần Thơ, Việt Nam, được thành lập theo nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 2 tháng 1 năm 2004 của Chính phủ trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số của các xã Mỹ Khánh, Giai Xuân (thuộc thành phố Cần Thơ cũ), xã Tân Thới thuộc huyện Ô Môn và các xã Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Trường Long thuộc huyện Châu Thành A Huyện Phong Điền có phía Đông giáp quận Ninh Kiều, quận Cái Răng, phía Tây giáp huyện Cờ Đỏ, phía Nam giáp tỉnh Hậu Giang, phía Bắc giáp quận Bình Thủy, quận Ô Môn

Ngày 16 tháng 01 năm 2007, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định

số 11/2007/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, phường; thành lập phường, thị trấn thuộc các quận Ninh Kiều, Ô Môn và các huyện Phong Điền, Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ Theo đó, thành lập thị trấn Phong Điền thuộc huyện Phong Điền trên cơ sở điều chỉnh 753,82 ha diện tích tự nhiên và 11.852 nhân khẩu của xã Nhơn Ái

Sau khi điều chỉnh, huyện Phong Điền có 11.948,24 ha diện tích tự nhiên

và 102.699 nhân khẩu trong đó số lao động là 62,255 người (Niên giám thống

kê huyện Phong Điền năm 2013), có 7 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã: Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Tân Thới, Giai Xuân, Mỹ Khánh, Trường Long và thị trấn Phong Điền

3.1.1.2 Khí hậu

Là một huyện thuộc thành phố Cần Thơ, huyện Phong Điền có khí hậu nhiệt đới gió mùa, ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có mùa lạnh Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm khoảng 27,5°C trong đó nhiệt độ cao nhất trung bình

là 35,7°C và thấp nhất trung bình là 20°C số giờ nắng trung bình cả năm khoảng 2452,3h, lượng mưa cả năm đạt 1339,7 mm, độ ẩm trung bình cả năm khoảng 81,43% Do chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có lợi thế về

9 Bách khoa toàn thư mở Wikipedia < http://vi.wikipedia.org >

Trang 38

sông lúc này chỉ cao hơn 48 cm so với mực nước biển

Sông Cần Thơ bắt nguồn từ khu vực nội đồng tây sông Hậu, đi qua các quận Ô môn, huyện Phong Điền, quận Cái Răng, quận Ninh Kiều và đổ ra sông Hậu tại bến Ninh Kiều Sông Cần Thơ có nước ngọt quanh năm, vừa có tác dụng tưới nước trong mùa cạn, vừa có tác dụng tiêu úng trong mùa lũ và

có ý nghĩa lớn về giao thông Sông Cái Lớn dài 20 km, chiều rộng cửa sông

600 – 700 m, độ sâu 10 – 12 m nên có khả năng tiêu, thoát nước rất tốt

Bên cạnh đó, kênh Thơm Rơm và nhiều kênh lớn khác tại các huyện ngoại thành là Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ và Phong Điền, cho nước ngọt

suốt hai mùa mưa nắng, tạo điều kiện cho nhà nông làm thủy lợi và cải tạo đất

3.1.1.4 Địa hình

Địa hình huyện Phong Điền nhìn chung tương đối bằng phẳng Huyện Phong Điền có đất đai màu mỡ, mạng lưới sông ngòi chằng chịt thích hợp để phát triển nông nghiệp và du lịch vườn sinh thái

3.1.1.5 Hệ động thực vật10

Nằm trong vùng đất phù sa ngọt ở trung tâm vùng Đồng bằng Sông Cửu Long Giới sinh vật trên địa bàn huyện hiện nay hầu hết là hệ sinh thái nông nghiệp và các loại cây trồng Phong Điền nổi tiếng với những vườn cây trái tươi tốt với nhiều trái cây đặc sản như dâu Hạ Châu, vú sữa Lò Rèn, dâu bòn bon, chôm chôm, măng cụt,… vừa có giá trị kinh tế nông nghiệp, vừa là tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái Theo thống kê của Hội Nông dân huyện Phong Điền, năm 2004 toàn huyện hiện có khoảng 6.000 ha vườn cây ăn trái

đa chủng loại (chiếm hơn 50% diện tích đất tự nhiên) Huyện có trên 1.000 ha diện tích hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày, trong đó có khoảng 40%

10 Bản đồ vệ tinh Wikimapia < Thơ >

Trang 39

http://wikimapia.org/24819959/vi/Huyện-Phong-Điền-thành-phố-Cần-28

diện tích chuyên sản xuất hoa màu trái vụ Sản xuất màu là một trong những thế mạnh của Phong Điền và hàng năm đều đem lại lợi nhuận khá cao cho nông dân Theo Niên giám thống kê huyện Phong Điền Năm 2013 thì vào năm

2013, giá trị sản xuất nông nghiệp tính riêng ở lĩnh vực trồng trọt là 511.695 triệu đồng, chiếm khoảng 84,6% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp

Những năm gần đây, nội bộ ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch cơ cấu rõ nét, ngành chăn nuôi phát triển ngày càng mạnh Từ năm 2004 đến năm

2013, giá trị sản xuất nông nghiệp tính riêng ở ngành chăn nuôi tăng 13.739 triệu đồng, tỉ lệ giá trị sản xuất nông nghiệp trong chăn nuôi so với tổng giá trị sản xuất nông nghiệp cũng tăng từ 6,6% lên 11,0% (Niên giám thống kê huyện Phong Điền năm 2013) Năm 2009, toàn huyện có hơn 300 ha diện tích nuôi các loài cá sặc rằn, rô phi, trê vàng lai, lươn, ba ba và tôm càng xanh, cá tai tượng… Nuôi cá sấu là một trong những mô hình mới của nông dân huyện Phong Điền

3.1.2 Tài nguyên du lịch11

Toàn huyện Phong Điền hiện có 14 điểm di tích và du lịch sinh thái, chỉ tính riêng từ đầu năm đến nay đã đón hơn 79.000 lượt khách đến tham quan, tổng doanh thu ước đạt trên 5,6 tỷ đồng Hiện nay, huyện Phong Điền đã và đang trùng tu, tôn tạo nhiều khu di tích để bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời kết hợp phát triển loại hình du lịch sinh thái ở địa phương Ông Nguyễn Hoàng Ba – Chủ tịch UBND huyện Phong Điền cho biết: “ Trong thời gian tới, huyện tiếp tục trùng tu và tôn tạo các khu di tích lịch sử, đồng thời tuyên truyền, quãng bá hình ảnh đặc trưng của huyện để thu hút nhiều khách tham quan, đồng thời kêu gọi các nhà đầu tư đến phát triển loại hình du lịch sinh thái ở địa phương” Một số địa điểm du lịch nổi tiếng ở Phong Điền như:

- Thắng cảnh Chợ nổi Phong Điền: Du khách sẽ ấn tượng trước cảnh

nhộn nhịp của vùng quê sông nước và con người nơi đây Mỗi ngày từ lúc mặt trời chưa mọc đã có hàng trăm ghe thuyền từ các nơi đưa các loại nông sản về đây mua bán tấp nập, tạo nên sự nhộn nhịp, sôi động trên một khúc sông suốt

từ sáng sớm cho đến xế trưa mỗi ngày, từng nhóm ghe thuyền tản ra ngược xuôi về lại chốn cũ để chuẩn bị cho phiên chợ nổi hôm sau Cuộc sống của người dân trên miền sông nước đã dần dần trở thành nét đặc trưng văn hoá đặc sắc của con người miền Tây

11 Báo Thanh niên, thành phố Cần Thơ < http://cantho.gov.vn/wps/portal/phongdien/ >

Trang 40

29

Nguồn: Đài truyền hình thành phố Cần Thơ

Hình 3.1 Chợ nổi Phong Điền

Nguồn: vncgardern

Hình 3.2 Làng du lịch Mỹ Khánh

- Làng du lịch Mỹ Khánh: Từ thành phố Cần Thơ du khách theo quốc lộ

1 về hướng Sóc Trăng đến gần cầu Cái Răng rẽ phải dọc theo tỉnh lộ 923 đi thêm khoảng 6 km là đến Làng du lịch Mỹ Khánh, được đầu tư xây dựng khu vui chơi giải trí, hồ bơi, hồ cá sấu, nhà cổ Nơi đây có nhà ăn, nhà nghỉ đầy đủ tiện nghi, đặc biệt có làng nghề truyền thống như: làm bánh tráng, kẹo dừa, nấu rượu, nhiều món ăn ẩm thực mang đậm nét dân gian, đội ngũ nhân viên

Ngày đăng: 13/11/2015, 13:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.3 Khu di tích lịch sử Giàn Gừa - đánh giá sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình ở huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 3.3 Khu di tích lịch sử Giàn Gừa (Trang 41)
Hình 3.4 Mộ nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị - đánh giá sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình ở huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 3.4 Mộ nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị (Trang 42)
Bảng 3.1 Tình hình khách du lịch đến các điểm du lịch trên địa bàn huyện  Phong Điền giai đoạn 2010-2013 - đánh giá sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình ở huyện phong điền, thành phố cần thơ
Bảng 3.1 Tình hình khách du lịch đến các điểm du lịch trên địa bàn huyện Phong Điền giai đoạn 2010-2013 (Trang 43)
Hình 3.5 Bánh hỏi mặt võng tại Lò bánh hỏi Út Dzách - đánh giá sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình ở huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 3.5 Bánh hỏi mặt võng tại Lò bánh hỏi Út Dzách (Trang 45)
Hình 3.6 Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam - đánh giá sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình ở huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 3.6 Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam (Trang 46)
Hình 4.1 Giới tính của hộ gia đình được khảo sát - đánh giá sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình ở huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 4.1 Giới tính của hộ gia đình được khảo sát (Trang 50)
Hình 4.3 Trình độ học vấn của hộ gia đình được khảo sát - đánh giá sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình ở huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 4.3 Trình độ học vấn của hộ gia đình được khảo sát (Trang 51)
Hình 4.2 Độ tuổi của hộ gia đình được khảo sát - đánh giá sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình ở huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 4.2 Độ tuổi của hộ gia đình được khảo sát (Trang 51)
Hình 4.5 Các tác động ảnh hưởng đến quyết định tham gia vào các hoạt động - đánh giá sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình ở huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 4.5 Các tác động ảnh hưởng đến quyết định tham gia vào các hoạt động (Trang 53)
Hình 4.6 Loại hình du lịch hộ gia đình tham gia dịch vụ du lịch - đánh giá sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình ở huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 4.6 Loại hình du lịch hộ gia đình tham gia dịch vụ du lịch (Trang 54)
Hình 4.9 Các lợi ích nhận được từ du lịch và các hoạt động hỗ trợ cho du lịch - đánh giá sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình ở huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 4.9 Các lợi ích nhận được từ du lịch và các hoạt động hỗ trợ cho du lịch (Trang 59)
Hình 4.10 Nhận định của hộ gia đình về vấn đề bảo về môi trường - đánh giá sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình ở huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 4.10 Nhận định của hộ gia đình về vấn đề bảo về môi trường (Trang 61)
Bảng 4.7 Kết quả phân tích ma trận nhân tố sau khi xoay - đánh giá sự hỗ trợ phát triển du lịch của hộ gia đình ở huyện phong điền, thành phố cần thơ
Bảng 4.7 Kết quả phân tích ma trận nhân tố sau khi xoay (Trang 65)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w