CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA PHƯƠNG THỨC TIÊU THỤ NÔNG SẢN VÀ CÁC YẾU TỐ KHÁC ĐẾN THU NHẬP NÔNG HỘ TRỒNG LÚA TẠI HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG .... Đề tài này ngoài mục đích tìm hi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐỖ KIM DUYÊN
PHƯƠNG THỨC TIÊU THỤ NÔNG SẢN VÀ THU NHẬP NÔNG HỘ TRỒNG LÚA TẠI HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành QTKD Marketing
Mã số ngành: 52340115
12-2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐỖ KIM DUYÊN MSSV: 4115564
PHƯƠNG THỨC TIÊU THỤ NÔNG SẢN VÀ THU NHẬP NÔNG HỘ TRỒNG LÚA TẠI HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QTKD MARKETING
Mã số ngành: 52340115
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGS TS LÊ KHƯƠNG NINH
12-2014
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Trong suốt quá trình học tập tại Khoa Kinh Tế và Quản Trị Kinh Doanh,
em đã nhận được sự hướng dẫn và hỗ trợ rất tận tình của quý thầy cô và học hỏi được rất nhiều kiến thức cũng như kinh nghiệm mà các thầy, cô đã truyền đạt, đặc biệt là trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến giáo viên hướng dẫn cho em là PGS.TS Lê Khương Ninh, thầy đã chỉ dẫn và tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành luận văn này Em cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy cô Khoa Kinh Tế và Quản Trị Kinh Doanh, các anh chị và bạn bè sinh viên đã giúp em trau dồi và học hỏi rất nhiều kinh nghiệm Kính chúc sức khỏe quý thầy, cô và các bạn!
Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
Sinh viên thực hiện
ĐỖ KIM DUYÊN
Trang 4TRANG CAM KẾT
Em xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của em và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
Sinh viên thực hiện
ĐỖ KIM DUYÊN
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.1 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.4.1 Không gian nghiên cứu 2
1.4.2 Thời gian nghiên cứu 2
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.4 Giới hạn về nội dung nghiên cứu 3
1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
2.1.1 Các khái niệm có liên quan 7
2.1.4 Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của phương thức tiêu thụ nông sản và các yếu tố khác đến thu nhập nông hộ 11
2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG THỨC TIÊU THỤ NÔNG SẢN VÀ CÁC NHÂN TỐ KHÁC ĐẾN THU NHẬP NÔNG HỘ TRỒNG LÚA 15
2.3 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 17
2.3.1 Số liệu thứ cấp 17
2.3.2 Số liệu sơ cấp 17
2.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 17
CHƯƠNG 3: TỐNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA TẠI HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG 19
3.1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH KIÊN GIANG 19
3.1.1 Vị tri địa lý và điều kiện tự nhiên 19
3.1.2 Kinh tế, văn hóa – xã hội 20
3.2 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN HÒN ĐẤT 24
3.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 24
3.2.2 Đặc điểm chung về kinh tế, văn hóa – xã hội 25
3.2.3 Tình hình sản xuất lúa của huyện Hòn Đất trong những năm gần đây 27
3.2.4 Lâm nghiệp, thủy sản và một số hoạt động khác 31
Trang 6CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA PHƯƠNG THỨC TIÊU THỤ
NÔNG SẢN VÀ CÁC YẾU TỐ KHÁC ĐẾN THU NHẬP NÔNG HỘ
TRỒNG LÚA TẠI HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG 34
4.1 MÔ TẢ MẪU ĐIỀU TRA 34
4.1.1 Thông tin chung về chủ hộ 34
4.1.1 Nguồn lực nông hộ 36
4.1.2 Năng suất, chi phí sản xuất và giá lúa 42
4.1.3 Phương thức tiêu thụ 44
4.1.4 Chênh lêch lợi nhuận và thu nhập của nông hộ giữa phương thức tiêu thụ trực tiếp và gián tiếp tại huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang 45
4.2 PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA PHƯƠNG THỨC TIÊU THỤ NÔNG SẢN VÀ CÁC YẾU TỐ KHÁC ĐẾN THU NHẬP NÔNG HỘ 47
CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP NÔNG HỘ 50
5.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 50
5.2 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 52
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
6.1 KẾT LUẬN 54
6.2 KIẾN NGHỊ 54
6.2.1 Đối với nhà nước và chính quyền địa phương 54
6.2.3 Đối với các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC 59
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Trang Bảng 3.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của huyện Hòn Đất giai đoạn từ
năm 2011-2013 27
Bảng 3.2 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa vụ Đông – Xuân 2013-2014 30
Bảng 4.1 Phân loại tuổi của chủ hộ 34
Bảng 4.2 Phân loại chủ hộ theo trình độ học vấn 35
Bảng 4.3 Kinh nghiệm trồng lúa của chủ hộ 36
Bảng 4.4 Trình độ học vấn, kinh nghiệm và diện tích đất của hộ 37
Bảng 4.5 Diện tích đất trồng lúa của hộ 39
Bảng 4.6 Năng suất, chi phí và giá lúa 44
Bảng 4.7 So sánh giá bán lúa giữa hai phương thức trực tiếp và gián tiếp 44
Bảng 4.8 Lợi nhuận và thu nhập trung bình của hộ 46
Bảng 4.9 Phân loại thu nhập của các hộ 46
Bảng 4.10 Chênh lệch thu nhập giữa nhóm hộ bán trực tiếp và gián tiếp 47
Bảng 4.11 Kết quả phân tích mô hình hồi quy tuyến tính 48
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 3.1 Bản đồ hành chánh huyện Hòn Đất 24
Hình 3.2 Diện tích lúa 2 vụ qua các năm 28
Hình 3.3 Sản lượng lúa 2 vụ qua các năm 29
Hình 4.1 Phân loại hộ theo số nhân khẩu 37
Hình 4.2 Tỷ lệ lao động của các thành viên trong hộ 38
Hình 4.3 Cơ cấu giống lúa năm 2013 40
Hình 4.4 Tỷ trọng hộ có vay vốn và không vay vốn năm 2013 41
Hình 4.5 Tỷ trọng hộ được hỗ trợ thông tin sản xuất lúa năm 2013 42
Hình 4.6 Phân loại hộ theo năng suất lúa 43
Hình 4.7 Tỷ trọng các hình thức tiêu thụ lúa năm 2013 45
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 10CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở nông thôn lấy sản xuất lúa nước làm chính, trong đó Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất cả nước Theo số liệu thống kê sơ bộ thì xuất khẩu gạo của Việt Nam trong nửa đầu tháng 7/2014 đạt khoảng 298.278 tấn, trị giá 129,11 triệu USD, tăng 47,2% về lượng và 43,79% về trị giá so với cùng kỳ tháng trước An Giang, Kiên Giang, Long An, Đồng Tháp,…là những tỉnh sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng sông Cửu Long, trong đó tỉnh Kiên Giang đứng đầu về diện tích cũng như sản lượng liên tiếp dẫn đầu Trong những năm gần đây nông dân Kiên Giang
đã chuyển dịch hàng chục hecta đất hoang hóa, đất rừng, đất trồng cây công nghiệp và nuôi thủy sản kém hiệu quả sang thâm canh cây lúa đạt hiệu quả ngày càng cao, ước tính khoảng 5.000ha đất Lớn nhất là huyện Hòn Đất với 80.000 ha đất lúa, tổng diện tích gieo trồng hằng năm đạt khoảng 164.000 ha, tổng sản
lượng ước đạt 1,013 triệu tấn, 3 năm trở lại đây mức thu nhập đạt khoảng 60 triệu
đồng/ha/năm
Tuy nhiên, ngoài những thành tựu kể trên việc sản xuất vẫn còn gặp một
số khó khăn trở ngại Và một trong những vấn đề cấp thiết cần được quan tâm trong sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Kiên Giang nói chung và huyện Hòn Đất nói riêng đó là khâu tiêu thụ, với nguồn thu nhập chính được tạo ra từ ngành lúa nhưng hằng năm người dân phải đối mặt với tình trạng “được mùa - mất giá”
“mất mùa - được giá” gây khó khăn trong việc giải quyết đầu ra làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống Với lý do đó mà tác giả đã quyết định lựa
chọn “Phương thức tiêu thụ nông sản và thu nhập nông hộ trồng lúa tại huyện
Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang” làm đề tài nghiên cứu của mình Đề tài này ngoài
mục đích tìm hiểu sự tác động của phương thức tiêu thụ, tác giả còn nghiên cứu
để làm rõ hơn về mối quan hệ của một số yếu tố khác đến thu nhập của người dân trồng lúa tại địa bàn nghiên cứu, từ đó đề xuất giải pháp giúp nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống cho bà con nơi đây
Trang 111.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đề tài này nhằm phân tích ảnh hưởng của phương thức tiêu thụ nông sản đến thu nhập của nông hộ trồng lúa, từ đó đề xuất giải pháp giúp cải thiện thu nhập và nâng cao đời sống cho nông hộ tại huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
1.2.1 Mục tiêu cụ thể
(1) Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa tại huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang trong những năm gần đây
(2) Phân tích ảnh hưởng của phương thức tiêu thụ nông sản và một số nhân
tố khác đến thu nhập của nông hộ trồng lúa
(3) Đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao thu nhập cho nông hộ
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để có thể giải quyết được những mục tiêu của đề tài, tác giả cần tiến hành trả lời những câu hỏi sau:
(1) Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa tại huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang
trong những năm gần đây như thế nào?
(2) Phương thức tiêu thụ nông sản (trực tiếp hay gián tiếp) và các nhân tố khác có ảnh hưởng như thế nào đến thu nhập của nông hộ trồng lúa ?
(3) Giải pháp nào cần thiết để góp phần nâng cao thu nhập cho các nông
hộ trồng lúa?
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Không gian nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu của đề tài là huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, là huyện
có diện tích sản xuất lúa lớn nhất của tỉnh, nên Hòn Đất được chọn làm địa bàn nghiên cứu cho đề tài này
1.4.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài sử dụng số liệu thứ cấp nhằm phản ánh tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa tại địa bàn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến 6 tháng đầu năm 2014 Số liệu sơ cấp được phỏng vấn trực tiếp phản ánh các chỉ tiêu về kinh tế xã hội, sản xuất lúa,…cúa nông hộ trong năm 2013
Trang 121.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những nông hộ chuyên trồng lúa tại huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang - là một huyện sản xuất nông nghiệp trọng điểm của tỉnh
1.4.4 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung phân tích ảnh hưởng của phương thức tiêu thụ nông sản đến nguồn thu nhập từ trồng lúa của nông hộ, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho các nông hộ tại huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang
1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Trong những năm gần đây có rất nhiều bài viết nghiên cứu về thu nhập nông hộ, các tác giả thường tập trung xem xét đến các nhân tố làm ảnh hưởng đến thu nhập, thông qua sự tác động ít hay nhiều đó đề xuất giải pháp giúp nông hộ nâng cao thu nhập
Phương pháp được đa số các tác giả sử dụng đó là thống kê mô tả để phân tích thực trạng thu nhập và phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến để xác định tác động của các nhân tố đến thu nhập bình quân/người của hộ (dựa trên nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thanh Tâm 2002; Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh 2010; Trần Xuân Long 2009,…) Các nhân tố được xác định là có ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ bao gồm trình độ học vấn chủ hộ, số nhân khẩu, kinh nghiệm sản xuất, số lao động tạo ra thu nhập, diện tích đất sản xuất, năng suất lúa,… Nhưng hầu hết các nghiên cứu này chưa đề cập đến nhân tố phương thức tiêu thụ nông sản vào mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến thu nhập nông hộ Vì vậy trong bài nghiên cứu này tác giả quyết định đưa nhân tố phương thức tiêu thụ nông sản cùng các yếu tố có tác động vào mô hình để làm rõ hơn về mối quan hệ giữa các nhân tố này với thu nhập từ nghành lúa của nông hộ
Nhóm tác giả Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Văn Trịnh và Phan Thuận (2012) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân trồng lúa ở Cần Thơ Nghiên cứu tiến hành khảo sát 190 hộ gia đình trồng lúa thuộc các huyện Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Thới Lai thuộc thành phố Cần Thơ để phân tích mức độ ảnh hưởng của nghành trồng lúa đến thu nhập nông hộ Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu này là thống kê mô tả và hồi quy đa biến Kết quả cho thấy, thu nhập của người trồng lúa vẫn còn thấp Nghiên cứu cũng xác định các yếu tố như diện tích canh tác, chi tiêu sản xuất, giá lúa, sản lượng lúa và giới tính ảnh hưởng khá mạnh mẽ đến thu nhập của người trồng lúa ở Cần Thơ
Trang 13Đề tài “Tình hình tiêu thụ lúa tại huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang” của
Huỳnh Trường Huy, La Nguyễn Thùy Dung và Huỳnh Nhựt Phương (2008) đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiêu thụ lúa của nông hộ tại địa bàn nghiên cứu bằng công cụ thống kê mô tả, xếp hạng và phân tích nhân tố nhằm làm rõ những mối quan hệ giữa các tác nhân có liên quan đến khả năng tiêu thụ lúa Kết quả phân tích cho thấy, qua khảo sát 104 quan sát thì có 2 phương thức bán lúa chủ yếu trong nông hộ, trong đó có đến 94,14% hộ bán lúa tại chỗ (bán cho thương lái đến thu mua) và 5,86% là trao đổi qua lại hoặc bán cho nhà máy xay xát và công ty lương thực Có 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến việc tiêu thụ lúa qua thương lái bao gồm: nhóm các nông hộ quan tâm đến điều kiện thuận lợi khi bán như việc bán phải nhanh chóng, thuận tiện, bán số lượng lớn, được thanh toán tiền ngay; nhóm thứ hai là nhóm nông hộ quan tâm đến sự uy tín và quen biết; nhóm thứ ba là nhóm các nông hộ quan tâm đến hoạt động lúc bán như cân đong chính xác, nói chuyện vui vẻ không quan tâm giá cả; ngược lại là nhóm hộ thứ tư chỉ quan tâm đến giá bán, họ chỉ chọn người mua nào với giá bán cao nhất
Một nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh (2010) cũng đã áp dụng mô hình phân tích hồi quy tuyến tính để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tộc thiểu số ở đồng bằng sông Cửu Long Từ việc điều tra số liệu trực tiếp từ 150 hộ Khmer ở tỉnh Trà Vinh, 90 hộ Chăm ở tỉnh An Giang và phân tích số liệu đã cho thấy các nhân tố tác động đến thu nhập bình quân/người của các hộ dân tộc thiểu số ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là: trình độ học vấn của chủ hộ, trình độ học vấn của lao động trong hộ, số nhân khẩu trong hộ, số hoạt động tạo thu nhập của hộ, độ tuổi của lao động trong hộ và tiếp cận với các chính sách hỗ trợ Trong đó có hai nhân tố tác động nghịch đến thu nhập bình quân/người của hộ là số nhân khẩu và độ tuổi của lao động, nhân tố số hoạt động tạo ra thu nhập của hộ có tác động mạnh nhất đến thu nhập bình quân/người của hộ dân tộc thiểu số ở ĐBSCL
Nghiên cứu một số nhân tố chính ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ tại Tri Tôn - An Giang, đồng thời tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong việc tạo thu nhập của các nông hộ tại địa bàn nghiên cứu tác giả Trần Xuân Long (2009) cho thấy các yếu tố có ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ là trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích đất ruộng, giá lúa, số thu nhập từ phi nông nghiệp Số liệu được điều tra theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên tại 5 xã với tổng số 135 hộ, phương pháp sử dụng trong nghiên cứu là thống kê mô tả và hồi quy đa biến để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ Kết quả nghiên cứu còn
Trang 14cho thấy giá lúa là nhân tố có tác động nhiều nhất với mức giá tăng 1 đồng thì thu nhập tăng 46,53 đồng, tiếp đó là diện tích đất tăng 1 công thì thu nhập tăng 16,34 triệu đồng
Ngoài ra, năm 2002 tác giả Nguyễn Thanh Tâm cũng đồng thời nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ tại địa bàn nông trường sông Hậu huyện Ô Môn tỉnh Cần Thơ, thì cho rằng các yếu tố như: trình độ văn hóa chủ hộ, kinh nghiệm sản xuất, số thành viên trong gia đình, lao động ngoài nông nghiệp
và khả năng tiếp cận vốn vay có tác động đến thu nhập nông hộ Ngoài ra thu nhập nông hộ còn bị tác động gián tiếp bởi các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa và chính sách đa canh đa dạng hóa sản xuất của nông trường thông qua các
mô hình canh tác
Các nhân tố tác động đến thu nhập bình quân/người của hộ gia đình ở khu vực nông thôn bao gồm số nhân khẩu, kinh nghiệm làm việc của chủ hộ, độ tuổi của lao động, trình độ học vấn của chủ hộ và số hoạt động tạo thu nhập là kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi, Trần Quế Anh và Bùi Văn Trịnh (2011) khi
phân tích “Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình tại khu vực nông thôn huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long” Qua phân tích mẫu số liệu gồm 182 quan sát
được phỏng vấn trực tiếp bằng phương pháp thống kê mô tả và hồi quy đa biến cho thấy thu nhập của nông hộ ngày càng được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều hộ
có thu nhập tương đối thấp Nguồn thu nhập chính của hộ gia đình phần lớn dựa vào nghề nông, vì thế mức thu nhập tương đối thấp và bấp bênh
Ngoài ra, hai tác giả Huỳnh Thị Đan Xuân và Mai Văn Nam cũng có bài nghiên cứu vào năm 2009 về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ chăn nuôi gia cầm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Đề tài này có ba mục tiêu cụ thể bao gồm: phân tích cơ cấu thu nhập và sự đa dạng thu nhập của các hộ chăn nuôi gia cầm, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ chăn nuôi gia cầm,
từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của các nông hộ Tác giả đã sử dụng chỉ số Simpson về đa dạng hóa để đo lường mức độ đa dạng hóa thu nhập của nông hộ, ngoài ra tác giả còn sử dụng phương pháp hồi quy và tương quan để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ chăn nuôi gia cầm ở ĐBSCL Kết quả hồi quy cho thấy hệ số R2 là 93,7% có thể kết luận mức độ biến động của biến phụ thuộc được giải thích bởi các biến độc lập là 93,7%, trong 10 biến độc lập đưa vào mô hình thì có 6 biến có ý nghĩa thống kê và tác động cùng chiều đến tổng thu nhập của hộ gồm tổng diện tích của hộ, vay vốn, kiểm dịch, thu nhập từ chăn nuôi gia cầm, thu nhập từ chăn nuôi khác và thu nhập phi nông
Trang 15nghiệp Ngoài ra kết quả nghiên cứu còn cho thấy rằng, thu nhập của hộ chủ yếu dựa vào nông nghiệp chiếm đến 95% Để nâng cao thu nhập của hộ chăn nuôi gia cầm tác giả đã đề xuất một số giải pháp như nông hộ cần sử dụng nguồn lực đất đai hợp lý, mạnh dạn vay vốn đầu tư khi thiếu vốn, tham gia đầy đủ quá trình kiểm dịch đàn vật nuôi, quan tâm đến nguồn thu nhập từ chăn nuôi và phi nông nghiệp
Tóm lại, qua lược khảo các nghiên cứu có liên quan, tác giả đã tìm hiểu được các yếu tố có ảnh hưởng đến thu nhập của người dân trồng lúa Tuy nhiên
để phù hợp với đối tượng và phạm vi nghiên cứu, tác giả chỉ đưa biến phương thức tiêu thụ nông sản và một số yếu tố khác vào mô hình nghiên cứu của mình
để làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố này đến thu nhập của người dân trồng lúa tại huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
Trang 16CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Các khái niệm có liên quan
2.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm nông hộ
Nông hộ là những hộ gia đình chủ yếu hoạt động trong nông nghiệp, là các thành viên có tài sản chung, cùng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực kinh doanh do pháp luật quy định và là chủ thể trong các quan hệ sản xuất, kinh doanh (Ngô Thị Mỹ Linh, 2010)
Còn theo Frank Ellis (1993) thì nông hộ được khái niệm như một hộ gia đình mà các thành viên trong nông hộ sẽ dành phần lớn thời gian cho hoạt động nông nghiệp
Nguồn lực của nông hộ rất đa dạng bao gồm: đất đai, lao động, kỹ thuật, vốn,…Các nguồn lực này có mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sản xuất của nông hộ Nếu hộ tận dụng tốt mối quan hệ này sẽ giúp giảm chi phí và tăng hiệu quả sản xuất
Hộ nông dân chủ yếu sử dụng lao động trong gia đình và cũng là nguồn lao động chủ yếu tạo nên thu nhập của hộ Bao gồm các thành viên trong và ngoài
độ tuổi lao động, trẻ em và người lớn tuổi đều có thể mang lại thu nhập cho hộ thông qua một số công việc phù hợp Ngoài ra một số hộ còn thuê mướn lao động thường xuyên hoặc theo thời vụ, điều này tạo ra số lượng lớn việc làm tại nông thôn, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn
Nông hộ có một số đặc điểm như sau:
+ Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa
là một đơn vị tiêu dùng
+ Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng biểu hiện thông qua trình độ phát triển của hộ tự cấp, tự túc, trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường
+ Các hộ nông dân ngoài tham gia hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp ở các mức độ khác nhau nên khó giới hạn thế nào
là một hộ nông dân
Trang 17Thu nhập là cơ hội tiêu thụ và tiết kiệm đạt được bởi một thực thể trong một khoảng thời gian xác định, thường được biểu diễn bằng tiền Tuy nhiên đối với các hộ gia đình thu nhập là tổng hợp của tất cả các khoản như tiền lương, lợi nhuận, lợi ích thanh toán, giá thuê và các hình thức thu nhập nhận được, trong một thời gian nhất định.
Thu nhập của nông hộ được xác định bằng tổng thu nhập từ mùa vụ trồng trọt, chăn nuôi và các hoạt động phi nông nghiệp Hơn nữa, thu nhập nông hộ còn bao gồm các khoản như tiền lương, tiền công, tiền trợ cấp từ người thân, chính phủ và lãi suất tiết kiệm (Ellis, 1998) Thu nhập của một hộ lao động được hiểu là phần giá trị sản xuất tăng thêm mà hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao lao động gia đình, cho tích lũy và tái sản xuất mở rộng nếu có Thu nhập của nông hộ phụ thuộc vào kết quả hoạt động từ sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp và các hoạt động khác
+ Thu nhập nông nghiệp: bao gồm thu nhập từ các hoạt động trong sản xuất nông nghiệp như trồng trọt (lúa, cây ăn trái, hoa màu,…), chăn nuôi (gia súc, gia cầm,…), nuôi trồng thủy sản (cá, tôm, cua, ếch,…)
+ Thu nhập phi nông nghiệp: là thu nhập tạo ra từ các hoạt động công nghiệp và tiêu thụ công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp bao gồm các nghành nghề như dệt chiếu, đan, làm bột, sửa xe,…Ngoài ra thu nhập phi nông nghiệp còn được tạo ra từ các hoạt động thương mại dịch vụ như buôn bán, nấu rượu, sản xuất muối, thu gom sản phẩm nông nghiệp để bán lại cho doanh nghiệp,…
Đối với nguồn thu nhập từ nghành lúa là phần lợi nhuận thu về từ việc bán lúa trừ đi tất cả các khoản chi phí như phân bón, phương tiện chuyên chở, chí phí thuê mướn nhân công,…
2.1.1.2 Đặc điểm của kinh tế nông hộ
+ Đối tượng của sản xuất nông nghiệp bao gồm nhiều loại cây trồng và vật nuôi có yêu cầu khác nhau về điều kiện ngoại cảnh để sinh ra và lớn lên, tùy vào đặc điểm từng nơi mà quá trình sinh trưởng và phát triển cũng khác nhau Vì vậy các nông hộ muốn sản xuất nông nghiệp có hiệu quả phải nắm bắt và hiểu rõ kỹ thuật phù hợp cho từng đối tượng
+ Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp Khác với công nghiệp, đất đai là mặt bằng để xây dựng nhà xưởng, kho bãi,…còn trong nông nghiệp đất đai là môi trường sống không thể thiếu của các loại cây trồng và vật
Trang 18sản xuất, đất đai mỗi vùng có những đặc điểm và chất lượng cũng khác nhau Nếu con người biết cải tạo và tận dụng hợp lý thì năng suất và chất lượng cây trồng sẽ được khai thác tối đa
+ Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ: mỗi loại cây trồng đều có giai đoạn thích hợp để phát triển tốt nhất, tùy vào đặc tính của mỗi loại cây trồng nên
có loại trồng một năm 1 vụ, 2 vụ, 3 vụ,…tuy nhiên để khai thác tối đa tiềm năng của đất đai người ta thường trồng xen canh, luân canh nhiều loại cây trồng với nhau, thời gian không thích hợp của loại cây này nhưng lại là thời gian phát triển tốt nhất của cây kia
+ Sản xuất nông nghiệp phân bổ trên một không gian rộng lớn và có tính khu vực Vì đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu thế sản xuất nông nghiệp được phân bố rộng khắp Mặc khác do điều kiện tự nhiên không đồng đều giữa các vùng nên sản xuất còn mang tính khu vực Thế nên cần xác định phương hướng sản xuất phù hợp cũng như áp dụng các biện pháp kỹ thuật hợp lý đối với mỗi vùng khác nhau để mang lại hiệu quả cao hơn
2.1.1.3 Phương thức tiêu thụ nông sản
Ngày nay trong sản xuất nông nghiệp thuật ngữ “tiêu thụ” đã dần trở nên quen thuộc và gắn bó với người dân Tiêu thụ được hiểu nôm na là hoạt động bán hàng, là việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa của doanh nghiệp cho khách hàng
đồng thời thu tiền về Có nhiều định nghĩa khác nhau về tiêu thụ Theo trang Tài nguyên giáo dục mở Việt Nam VOER “tiêu thụ sản phẩm” được giải thích bằng
nhiều khái niệm sau:
(1) Theo quan điểm Marketing : tiêu thụ sản phẩm là quản trị hệ thống kinh tế và những điều kiện tổ chức có liên quan đến việc điều hành và vận chuyển hàng hoá, từ người sản xuất đến người tiêu dùng với điều kiện hiệu quả tối đa
(2) Theo quan điểm của các nhà kinh tế : tiêu thụ là giai đoạn cuối của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua tiêu thụ mà thực hiện được giá trị và giá trị
sử dụng
Tóm lại tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tiêu thụ sản phẩm là thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá, là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng Nó là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian giữa một bên là sản xuất và phân phối và một bên là tiêu dùng
Trang 19Tổ chức tốt và tiêu thụ có hiệu quả sản phẩm sẽ có tác dụng mạnh mẽ đến quá trình sản xuất Tiêu thụ hết và kịp thời những sản phẩm làm ra là một tín hiệu tốt cho cơ sở sản xuất kinh doanh bổ sung, điều chỉnh kế hoạch sản xuất cho quá trình tiếp theo Giá trị sản phẩm được thực hiện cho phép cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng hợp lý nguồn vốn sản xuất, tránh ứ động vốn và nhanh chóng thực hiện quá trình tái sản xuất Thực hiện tiêu thụ nhanh chóng và kịp thời sản phẩm làm ra còn rút ngắn được thời gian lưu kho, lưu thông và chu kỳ sản xuất kinh doanh sản phẩm Như vậy, sản phẩm không được tiêu thụ tốt là tín hiệu xấu đòi hỏi các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp phải tìm ra nguyên nhân (về lưu thông hay về sản xuất) để có biện pháp kịp thời để phù hợp với nhu cầu thị trường.
Đối với các hộ trồng lúa việc tiêu thụ lúa tốt sẽ mang lại nguồn lợi nhuận cao hơn góp phần nâng cao thu nhập, giúp nông hộ rút ngắn thời gian thu hồi vốn
để chi tiêu cho mua phân bón, giống, tái mở rộng sản xuất,… từ đó tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp Vì vậy việc lựa chọn phương thức tiêu thụ nông sản hợp lý
là một vấn đề hết sức quan trọng
Dựa trên khái niệm tiêu thụ sản phẩm có thể định nghĩa phương thức tiêu thụ nông sản là cách mà nông hộ bán các sản phẩm nông nghiệp của mình cho các cá nhân hay tổ chức khác (sử dụng trực tiếp hoặc nhằm mục đích kinh doanh) Về mặt lí luận cũng như thực tiễn có rất nhiều phương thức tiêu thụ sản phẩm, căn cứ vào quá trình vận động của hàng hóa có hai phương thức chủ yếu sau:
+ Phương thức tiêu thụ trực tiếp: Theo phương thức này doanh nghiệp sẽ bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng thông qua cửa hàng và tiêu thụ sản phẩm
do doanh nghiệp lập ra
Ưu điểm của phương thức này là doanh nghiệp quan hệ trực tiếp với người tiêu dùng và thị trường, điều đó giúp doanh nghiệp hiểu rõ được nhu cầu thị trường, kiểm soát, thống kê được giá cả, có cơ hội để gây uy tín với người tiêu dùng, hiểu rõ được tình hình bán hàng do vậy có thể điều tiết lượng cầu hàng hóa
Nhược điểm: Chi phí cho công tác tiêu thụ khá lớn, mạng phân phối không được rộng rãi
+ Phương thức tiêu thụ gián tiếp: Phương thức này tiến hành tiêu thụ qua khâu trung gian như người bán buôn, người môi giới Phương thức này được áp
Trang 20dụng đối với các doanh nghiệp có qui mô sản xuất lớn, lượng hàng hóa sản xuất
ra vượt quá nhu cầu tiêu dùng của một vùng, địa phương,…
Phương thức này có ưu điểm là doanh nghiệp có thể tiêu thụ được một lượng hàng hóa, dịch vụ lớn mà không phải mất nhiều chi phí vào việc bán hàng,
do đó doanh nghiệp có thể tập trung vốn sản xuất, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chuyên môn hóa sản xuất
Nhược điểm của phương thức này là doanh nghiệp không thu được lợi ích tối đa do phải bán buôn và trả tiền hoa hồng cho các đại lý Mặt khác do phải qua nhiều khâu trung gian nên doanh nghiệp nhận thông tin phản hồi từ khách hàng chậm do đó không kịp thời đưa ra những quyết định và có thể gây khó khăn cho sản xuất của doanh nghiệp
2.1.4 Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của phương thức tiêu thụ nông sản và các yếu tố khác đến thu nhập nông hộ
Phương thức tiêu thụ nông sản
Trong sản xuất nông nghiệp, khâu tiêu thụ đóng vai trò rất quan trọng, đối với bất kỳ loại nông sản nào sản xuất ra thì cũng phải thông qua quá trình tiêu thụ mới đến tay được người tiêu dùng cuối cùng và mang lại lợi nhuận cho người sản xuất Không riêng gì lúa – một loại lương thực cốt yếu của nước ta, diện tích và sản lượng liên tục tăng không ngừng qua các năm, nghành lúa từ lâu đã trở thành một nghành truyền thống và là ngành chủ yếu mang lại thu nhập cho người dân nông thôn Tuy nhiên nguồn thu nhập này còn rất thấp, phần lớn người dân còn phàn nàn rất nhiều khi luôn gặp phải những khó khăn trong việc bán lúa hằng năm, vậy có nghĩa là lợi nhuận của người trồng lúa đã bị thất thoát một phần đáng
kể trong quá trình tiêu thụ Vậy nên việc lựa chọn phương thức tiêu thụ trở thành nguyên nhân có thể làm tăng hay giảm thu nhập của nông hộ
Nguồn thu nhập nông hộ từ nghành lúa là khoản lợi nhuận sau khi trừ đi các khoản chi tiêu cho sản xuất, nhân công, tiêu thụ, … (Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Văn Trịnh, Phan Thuận 2012) Khoản lợi nhuận (hay thu nhập) này bị tác động trực tiếp bởi giá lúa (Trần Xuân Long 2009) và các chi phí vận chuyển, nhân công trong công tác tiêu thụ, nên việc lựa chọn phương thức tiêu thụ là khá quan trọng
Ngoài ra theo một nghiên cứu của nhóm tác giả Huỳnh Trường Huy, La Nguyễn Thùy Dung, Huỳnh Nhựt Phương (2008) nghiên cứu về tình hình tiêu thụ lúa tại huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang Qua kết quả khảo sát cho thấy có sự khác
Trang 21biệt về giá bán lúa và chi phí tiêu thụ giữa 2 phương thức bán lúa của nông hộ Cụ thể là đối với phương thức bán gián tiếp cho thương lái thì giá thấp hơn so với bán cho nhà máy xay xát là 130.000 đồng và công ty lương thực là 370.000 đồng Tuy nhiên họ lại chọn cách bán cho thương lái dù biết rất rõ mình đã bị mất đi một khoảng lợi nhuận từ sự chênh lệch giá này nhưng do các nguyên nhân như không đủ điều kiện để chuyên chở đi bán cho các nhà máy xay xát hay công ty lương thực hay do họ không có đủ điều kiện phơi xấy nên bán lúa tươi là chính, nhưng lúa tươi thì chỉ có các thương lái mới chịu mua dường như họ không thể lựa chọn người mua cho mình
Qua các cơ sở trên chứng tỏ phương thức tiêu thụ có tác động đến giá bán lúa Cụ thể là đối với phương thức gián tiếp thì người dân thụ động trong khâu tiêu thụ, trông chờ vào các trung gian nên phải chia sẻ phần lợi nhuận của mình cho họ, hơn nữa người dân luôn bị ép giá nên giá bán lúa sẽ thấp hơn rất nhiều so với phương thức trực tiếp Đối với phương thức trực tiếp thì người dân tự tìm hiểu nhu cầu thị trường và tìm kiếm người mua cho mình nên không cần phải tốn chi phí cho bất kì trung gian nào Đồng thời phần chi phí tiêu thụ giữa hai phương thức cũng sẽ khác nhau, người dân sẽ không phải tốn chi phí tiêu thụ khi bán lúa thông qua trung gian vì họ đã bù trừ vào giá bán lúa (trong mỗi lần thu mua) nên giá lúa luôn thấp hơn so với bán trực tiếp Trong khi đó nếu nông hộ có điều kiện trang bị cơ sở vật chất, phương tiện chuyên chở để đáp ứng cho khâu tiêu thụ thì chỉ phải tốn hao chi phí một lần (chi phí cố định) mà giá lúa lại được mua đúng giá thị trường
Nhân khẩu
Đối với các gia đình hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp thì số lượng thành viên trong gia đình là nguồn lực rất lớn trong quá trình tham gia sản xuất với điều kiện ít sử dụng cơ giới hóa Tuy nhiên thu nhập trung bình đầu người của hộ tăng hay giảm là do đặc điểm thành viên trong hộ Theo kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Quốc Nghi, Trần Quế Anh và Bùi Văn Trịnh năm 2011, kết quả nghiên cứu cho thấy nếu số nhân khẩu của hộ càng tăng thì thu nhập/người/tháng của hộ sẽ càng giảm Nguyên nhân là do phần đông hộ sản xuất nông nghiệp để tạo thu nhập là chủ yếu vì thế trong điều kiện diện tích đất canh tác hạn chế việc tăng nhân khẩu thường làm giảm thu nhập bình quân của hộ Bên cạnh đó, số người phụ thuộc trong hộ gia đình cũng là nguyên nhân
ảnh hưởng trực tiếp làm giảm thu nhập bình quân của hộ
Trang 22Số hoạt động tạo thu nhập
Số thành viên tạo thu nhập cho gia đình là yếu tố trực tiếp làm tăng hay giảm thu nhập/người/tháng của hộ Số hoạt động càng nhiều thì thu nhập càng cao và ngược lại Đối với nghành trồng lúa cũng vậy số người tham gia vào sản xuất lúa càng nhiều thì lúa càng được trồng kịp tiến độ, việc thăm nom đồng ruộng cũng dễ dàng, vì vậy khả năng lúa cho năng suất càng cao, ghóp phần gia tăng lợi nhuận cho người dân trồng lúa Ngoài ra cũng giảm được chi phí thuê mướn nhân công phần nào Một nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh năm 2010 cho thấy, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi thì khi số hoạt động tăng thêm 1 người thì thu nhập/người/tháng tăng thêm 0,178 triệu
đồng
Vay vốn
Nguồn vốn là một yếu tố đóng vai trò rất quan trọng trong sản xuất lúa, nguồn vốn có đủ mạnh thì việc sản xuất mới thật sự mang lại hiệu quả, khả năng đầu tư và mở rộng diện tích canh tác cũng cao hơn Tuy nhiên đối với trồng lúa – một nghành cho thu nhập thấp nhưng rủi ro khá cao thì việc tạo dựng nguồn vốn
từ lợi nhuận là dường như không thể, hơn nữa chi phí cho sản xuất lúa là quá cao, thế nên nguồn vốn vay từ lâu đã trở thành một nguồn lực tài chính không thể thiếu đối với người dân trồng lúa Nguồn vốn vay chỉ thật sự phát huy hiệu quả trong việc tăng thu nhập khi người dân sử dụng đúng cách, cân đối chi phí sản xuất một cách hợp lý, ngược lại thì thu nhập của người dân sẽ giảm đi một cách đáng kể do hiệu quả canh tác thấp mà còn phải chi trả chi phí vay vốn (Huỳnh Thị Đan Xuân và Mai Văn Nam, 2009)
Diện tích đất sản xuất
Trong sản xuất nông nghiệp điều kiện cần thiết nhất đó là đất đai, đất là nơi gieo trồng, canh tác các loại cây nông nghiệp của người dân, nông hộ muốn tăng thu nhập thì phải mở rộng qui mô sản xuất, tăng diện tích gieo trồng, các hộ
có nhiều đất nông nghiệp thì cơ hội gia tăng lợi nhuận càng cao, ngược lại các hộ
có ích diện tích đất thì bên cạnh sản xuất nông nghiệp còn phải hoạt động trong các lĩnh vực khác mới có thể tăng thu nhập nên khả năng đầu tư cho trồng lúa là rất ít nên hiệu quả kinh tế có thể kém hơn các hộ khác Qua mô hình hồi qui trong nghiên cứu của Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Văn Trịnh và Phan Thuận (2012) cho thấy các hộ có diện tích canh tác càng lớn thì đạt mức thu nhập càng cao Ngoài
Trang 23ra nghiên cứu của Trần Xuân Long (2009) còn cho thấy diện tích đất ruộng tăng
lên 1 đơn vị thì thu nhập tăng tương ứng 16,34 đơn vị với mức tin cậy 99%
Năng suất lúa
Năng suất lúa là số lượng lúa thu hoạch được trên một đơn vị diện tích, là yếu tố trực tiếp quyết định sản lượng thu hoạch của người dân, sản lượng bán ra càng nhiều thì thu nhập của người dân càng cao, ngoài ra năng suất lúa còn là một tiêu chí để đánh giá hiệu quả sản xuất một cách tối ưu Một nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Tâm năm 2002 cũng cho rằng thu nhập nông hộ chịu ảnh hưởng gián tiếp bởi yếu tố năng suất lúa Vì vậy trong quá trình canh tác lúa yếu
tố năng suất luôn được các nông hộ đặt tầm quan trọng lên hàng đầu, nếu so sánh trong trường hợp các yếu tố sản xuất là như nhau thì nông hộ nào có năng suất lúa cao hơn tất nhiên sẽ có thu nhập cao hơn các nông hộ khác Tóm lại năng suất lúa
là một yếu tố cực kỳ quan trọng để ghóp phần tăng thu nhập cho người dân trồng lúa
Kinh nghiệm sản xuất
Kinh nghiệm sản xuất lúa của chủ hộ là số năm từng trồng lúa của chủ hộ,
về mặt lý thuyết số năm trồng lúa càng nhiều thì người dân càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm về canh tác lúa như kỹ thuật chọn giống, xử lý đất đai, bón phân hợp lý,… vì họ đã trải qua rất nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất đã qua, làm nền tảng và bài học kinh nghiệm cho sản xuất vào mùa sau Dựa trên hai nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tâm (2002); Nguyễn Quốc Nghi, Trần Quế Anh, Bùi Văn Trịnh (2011) cho thấy số năm kinh nghiệm làm việc của chủ hộ càng nhiều thì thu nhập bình quân của hộ sẽ càng tăng, kinh nghiệm sản xuất là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất lao động, từ đó nâng cao thu nhập bình quân
của hộ gia đình khu vực nông thôn
Chi tiêu sản xuất
Bất kì một nghành nghề sản xuất nào cũng cần phải tốn hao chi phí để tạo
ra sản phẩm, chỉ là tốn hao ít hay nhiều tùy thuộc vào từng loại hàng hóa khác nhau, sản phẩm nông nghiệp cũng cần phải trải qua một quá trình vun công chăm sóc, đầu tư chi phí mới thật sự mang lại hiệu quả, góp phần nâng nâng cao thu nhập cho người dân Nhất là trong thời buổi cạnh tranh như hiện nay, nguồn lương thực không còn khan hiếm như xưa mà đổi lại là cung đã vượt cầu khá xa, nên những sản phẩm nào tốt, vượt trội chất lượng sẽ được người tiêu dùng ưu tiên
Trang 24tiêu dùng, cho nên việc đầu tư chi phí, tìm kiếm các giống mới, kỹ thuật gieo trồng mới,… là việc không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp hiện nay
Chi tiêu sản xuất có ảnh hưởng mạnh mẽ đến thu nhập bình quân của người trồng lúa, người dân muốn có thu nhập cao thì phải đầu tư chi phí cho trồng lúa như: phân bón, nhân công, các công nghệ, kỹ thuật hiện đại,…có như vậy thì hiệu quả kinh tế mang lại mới được cao hơn Các hộ không đủ khả năng để đầu tư cho sản xuất, chăm sóc cây lúa cũng như các biện pháp kỹ thuật hiện đại thì khả năng cho hiệu quả kinh tế sẽ thấp, kéo theo thu nhập giảm Vì vậy các nông hộ cần đầu tư cho cây lúa để mang lại thu nhập cao hơn Tuy nhiên nếu chi phí quá lớn sẽ đẩy giá thành đầu ra lên cao dẫn tới lợi nhuận sẽ giảm Do đó muốn tăng thu nhập, người dân cần tính đến việc đầu tư chi phí sao cho hợp lý, vừa tăng năng suất mà thu nhập lại cũng cao hơn (Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Văn Trịnh và Phan Thuận 2012)
2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG THỨC TIÊU THỤ NÔNG SẢN VÀ CÁC NHÂN TỐ KHÁC ĐẾN THU NHẬP NÔNG HỘ TRỒNG LÚA
Hòn Đất là một huyện sản xuất lúa lớn nhất cùa tỉnh Kiên Giang – một trong những tỉnh sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng sông Cửu Long, tuy nhiên các nghiên cứu về thu nhập nông hộ trồng lúa vẫn còn hạn chế Thông qua lược khảo một số tài liệu nghiên cứu tác giả đã chọn ra được các nhân tố chính làm tác động đến thu nhập nông hộ để đưa vào mô hình Qua các kết quả nghiên cứu trước đây tác giả quyết định đưa biến vào mô hình bao gồm: phương thức tiêu thụ nông sản, số nhân khẩu, số hoạt động tạo thu nhập, vay vốn, diện tích đất, năng suất lúa, kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ và chi phí sản xuất
THUNHAP= β0 + β1PTTTNS + β2NHKHAU + β3HOATĐONG + β4VAYVON + β5DTICH + β6NSUATLUA + β7KNGHIEM + β8CPSX + ε
Trong đó: THUNHAP là biến phụ thuộc, nhận giá trị là thu nhập bình quân đầu người/tháng của hộ Các biến còn lại là biến độc lập (biến giải thích)
Trang 25Bảng 2.1 Kỳ vọng về dấu các biến độc lập trong mô hình
STT Định nghĩa và diễn giải các
1
PTTTNS: phương thức tiêu thụ
nông sản (nhận giá trị là 1 nếu
hộ bán trực tiếp, nhận giá trị là 0
nếu hộ bán gián tiếp)
Huỳnh Trường Huy, La Nguyễn Thùy Dung, Huỳnh
người trong gia đình (người)
Nguyễn Quốc Nghi, Trần Quế Anh, Bùi Văn Trịnh (2011), Nguyễn Quốc Nghi, Bùi Văn Trịnh (2010)
-
3
HOATĐONG: là số thành viên
tạo thu nhập từ nghành trồng lúa
cho gia đình (người)
Nguyễn Quốc Nghi, Bùi Văn Trịnh (2010), Nguyễn Quốc Nghi, Trần Quế Anh, Bùi Văn Trịnh (2011)
+
4
VAYVON: là tình trạng hộ có
vay vốn để hỗ trợ cho sản xuất
lúa hay không, nhận giá trị là 1
nếu hộ có vay vốn, ngược lại
trồng lúa của hộ (ha)
Nguyễn Thanh Tâm (2002) +
6
NSUATLUA: năng suất lúa
trung bình/ha/năm của hộ
(tấn/ha)
Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Văn
Trịnh và Phan Thuận (2012) +
7
KNGHIEM: số năm kinh
nghiệm của chủ hộ, nhận giá trị
tương ứng là số năm trồng lúa
CPSX: chi phí sản xuất lúa trung
bình/ha/năm của hộ năm 2013
(triệu đồng/ha/năm)
Nguyễn Thanh Tâm (2002), Nguyễn Quốc Nghi, Trần Quế Anh, Bùi Văn Trịnh
(2011)
+/-
Trang 262.3 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
2.3.1 Số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp của đề tài được thu thập và tổng hợp từ báo cáo của phòng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Hòn Đất, các bài báo nghiên cứu khoa học trong nước
2.3.2 Số liệu sơ cấp
Để đảm bảo thông tin mang tín đại diện cao cho tổng thể tác giả thu thập
số liệu sơ cấp bằng cách phỏng vấn trực tiếp nông hộ trồng lúa tại huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang
Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng để giới hạn đúng đối tượng nghiên cứu mang lại độ chính xác và tin cậy cao cho số liệu
+ Phân tầng theo đối tượng nghiên cứu: tác giả chọn ra những nông hộ trồng lúa làm đối tượng phỏng vấn cho đề tài
+ Phân tầng theo vùng nghiên cứu: tác giả tập trung phỏng vấn tại các xã
có diện tích trồng lúa lớn tại huyện Hòn Đất
Nội dung cần điều tra bao gồm các thông tin về nông hộ như: phương thức tiêu thụ nông sản, giới tính chủ hộ, số năm kinh nghiệm, diện tích đất, sản lượng lúa,…
2.5.1 Đối với mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa tại
huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang trong những năm gần đây
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích thực trạng trạng sản xuất, tiêu thụ lúa và thu nhập của người dân trên địa bàn nghiên cứu Từ đó
có thể sơ lược các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ trồng lúa đặc biệt là phương thức tiêu thụ
2.5.2 Đối với mục tiêu 2: Phân tích ảnh hưởng của phương thức tiêu thụ
nông sản và các nhân tố khác đến thu nhập của nông hộ trồng lúa
Đề tài sử dụng mô hình hồi qui tuyến tính đa biến để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ
Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến là nghiên cứu sự phụ thuộc của một biến (biến phụ thuộc) vào một hay nhiều biến khác (biến độc lập hay còn gọi là
Trang 27biến giải thích) với ý tưởng cơ bản là ước lượng (hay dự đoán) giá trị trung bình của biến độc lập
Hàm hồi quy trong nghiên cứu này có dạng:
+ ε: là sai số ngẫu nhiên
2.5.3 Đối với mục tiêu 3: Đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao thu
Trang 28CHƯƠNG 3 TỐNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA TẠI HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
3.1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH KIÊN GIANG
3.1.1 Vị tri địa lý và điều kiện tự nhiên
Kiên Giang là một tỉnh ở biên giới phía Tây Nam của Việt Nam, thuộc Đồng bằng sông Cửu Long Toạ độ địa lý từ 104040' – 105032' kinh độ Đông và
9023’55" – 10032’30" vĩ độ Bắc Phía Đông và Đông Nam giáp các tỉnh An Giang, Hậu Giang, Cần Thơ; phía Nam giáp tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau; phía Tây giáp vịnh Thái Lan; phía Bắc giáp Campuchia với đường biên giới đất liền dài
56,8 km
Kiên Giang nằm ở phía tây nam của Việt Nam, thuộc đồng bằng sông Cửu Long, là tỉnh có địa điểm thuận lợi kết nối với các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Campuchia và Thái Lan bằng đường bộ, đường biển và đường hàng không; phía bắc giáp Vương quốc Campuchia với diện tích 6.346,27km2, đường biên giới dài 56,8km, phía nam giáp tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu, phía đông và đông nam giáp tỉnh An Giang, thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang, phía tây giáp Vịnh Thái Lan
Kiên Giang có địa hình đa dạng, bờ biển dài, nhiều sông núi và hải đảo, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí và điều kiện tự nhiên thuận lợi đã tạo cho tỉnh nhiều tiềm năng và lợi thế kinh tế phong phú, đa dạng như: kinh tế nông - lâm nghiệp, kinh tế biển, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến nông-thủy sản và du lịch; nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu Ngoài ra, với vị thế là cửa ngõ ở phía tây nam thông ra Vịnh Thái Lan, Kiên Giang còn có tiềm năng lớn về kinh tế cửa khẩu, hàng hải và mậu dịch quốc tế
Khí hậu: Kiên Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm
Mưa, bão tập trung vào từ tháng 8 đến tháng 10 với lượng mưa trung bình hàng năm là 2.146,8mm Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26,40C đến 280C, tháng lạnh nhất là tháng 12; không có hiện tượng sương muối xảy ra Kiên Giang không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão nhưng lượng nước mưa do bão chiếm một tỷ trọng đáng kể, nhất là vào cuối mùa mưa Điều kiện khí hậu thời tiết của Kiên Giang có những thuận lợi cơ bản mà các tỉnh khác ở vùng ĐBSCL không có được
Trang 29như: ít thiên tai, không rét, không có bão đổ bộ trực tiếp, ánh sáng và nhiệt lượng dồi dào, nên rất thuận lợi cho nhiều loại cây trồng và vật nuôi sinh trưởng
Địa hình: Tỉnh Kiên Giang có địa hình đa dạng, bờ biển dài (hơn 200km),
với hơn 100 đảo lớn nhỏ, nhiều sông núi, kênh rạch và hải đảo; phần đất liền tương đối bằng phẳng, có hướng thấp dần theo hướng đông bắc – tây nam
Tổ chức hành chính: Kiên Giang có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, thị
gồm: thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên và các huyện: Kiên Lương, Hòn Đất, Tân Hiệp, Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, Phú Quốc, Kiên Hải, U Minh Thượng, Giang Thành
3.1.2 Kinh tế, văn hóa – xã hội
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) đạt 59.788 tỷ đồng (theo giá so sánh 2010), tăng 9,4% so với cùng kỳ năm 2012 Khu vực I tăng 5,41%, chiếm 38,82% trong GDP; khu vực II tăng 10,71%, chiếm 24,03%; khu vực III tăng 12,4%,
chiếm 37,15% Trong đó, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế lĩnh vực: Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 2,3%; Công nghiệp và xây dựng 2,54%; Dịch vụ 4,56%
Tình hình sản xuất nông nghiệp phát triển khả quan với sản lượng lương
thực năm 2013 ước đạt khoảng 4.471.817 tấn, vượt 1,57% kế hoạch năm 2012 (tương đương 69.131 tấn) và tăng 4,31% so cùng kỳ năm 2012 (tương đương 184.642 tấn) Tỷ lệ lúa chất lượng cao chiếm 65% tổng sản lượng Tuy nhiên, do
bị ảnh hưởng của dịch bệnh trên lúa, thời tiết diễn biến phức tạp, ảnh hưởng của mưa bão liên tục nên năng suất lúa giảm gần 0,2tấn/ha và sản lượng giảm 150,6 ngàn tấn so với kế hoạch; sản lượng lương thực cả năm chỉ tăng 68 ngàn tấn so với kế hoạch, (năm 2012 tăng 336 ngàn tấn), giá lúa bình quân giảm từ 7-10% Tốc độ tăng trưởng lĩnh vực nông nghiệp chỉ tăng 4,52% và giảm 2,52% so với năm 2012(năm 2012 tăng 7,03%); khu vực I tăng thấp, không đạt kế hoạch và giảm so với cùng kỳ (năm 2012 tăng 7,84%)
Sản xuất các loại cây trồng và rau màu: phát triển khá ổn định, diện tích,
sản lượng các loại cây trồng khác đều tăng so với cùng kỳ, đã gieo trồng được 1.936 ha cây có củ các loại, 1.697 ha dưa hấu và trên 7.378 ha rau màu; mía
có 5.161 ha, cây tiêu 630 ha, cây khóm 6.700 ha, cây dừa 5.700 ha
Chăn nuôi: tình hình giá thức ăn tăng, thị trường giá cả không ổn định,
dịch bệnh vẫn còn nguy cơ xảy ra, đã ảnh hưởng đến tâm lý mở rộng và phát triển chăn nuôi của người dân, do đó tổng đàn gia súc, gia cầm thực hiện chưa đạt kế
Trang 30hoạch Tổng đàn heo giảm 3,86%; đàn trâu tăng 1,09%; đàn bò tăng 6,87%; đàn gia cầm giảm 6,87% so với cùng kỳ
Lâm nghiệp: các địa phương đã phối hợp với ngành chức năng triển khai
thực hiện tốt các biện pháp phòng, chống cháy rừng Hoàn thành việc đo đạc, cấm cột mốc ranh giới đất rừng phòng hộ Phú Quốc Khoán bảo vệ rừng 11.376 ha; khoanh nuôi rừng tái sinh 500 ha; chăm sóc rừng trồng 322 ha; trồng cây phân tán 620.300 cây
Thủy hải sản: tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản 581.356 tấn,
đạt 99% kế hoạch, tăng 6,05% so với cùng kỳ Riêngsản lượng tôm nuôi 41.978/47.000 tấn, đạt 89,31% kế hoạch (giảm 5 ngàn tấn so với kế hoạch) và tăng 4,19% so với cùng kỳ Tuy nhiên, sản lượng tôm nuôi thực hiện chưa đạt kế hoạch Nguyên nhân do ảnh hưởng bất lợi của thời tiết vào đầu vụ, dịch bệnh lan trên diện rộng, chất lượng tôm giống không đảm bảo; không đủ nước mặn cung cấp cho diện tích tôm nuôi công nghiệp vùng Tứ giác Long xuyên, hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng yêu cầu, thị trường gặp khó khăn nên các doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư và mở rộng sản xuất
Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: giá trị sản xuất công nghiệp
(giá so sánh 2010), ước đạt 30.210,763 tỷ đồng, tăng 10,02% so với cùng kỳ Nhà máy Tynel Kiên Giang đã đưa dây chuyền II vào hoạt động với công suất thiết kế
60 triệu viên/năm, sản lượng tăng gấp 3 lần so với trước, đáp ứng nhu cầu cung ứng vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh; UBND tỉnh đã tích cực tìm các biện pháp để hỗ trợ các doanh nghiệp của tỉnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu xi măng sang thị trường Campuchia Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp qui mô chưa được
mở rộng so với trước, sức tiêu thụ sản phẩm chậm nhưng chi phí đầu vào tăng làm cho giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp hụt so với kế hoạch như: Xi măng thấp hơn 250 tấn; thủy sản đông lạnh thấp hơn 5,8 ngàn tấn, trong đó sản phẩm mực đông lạnh giảm 3,5 ngàn tấn so với kế hoạch và giảm gần 1 ngàn tấn
so với năm 2012
- Tình hình đầu tư tại các khu công nghiệp
+ Khu công nghiệp Thạnh Lộc, tiếp tục triển khai đầu tư xây dựng một số đường trục chính, với tổng chiều dài 2.218 m, tổng kinh phí 23,003 tỷ đồng Cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho dự án chế biến gỗ (MDF) của Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam và dự án tận thu chế biến đá Granite của Cty Đầu tư – Xây
Trang 31dựng – Thương mại – Dịch vụ Kim Hải Đến nay đã 05 dự án đầu tư vào KCN Thạnh Lộc, với tổng diện tích 31,92 ha, vốn đăng ký 2.251,12 tỷ đồng
+ Khu công nghiệp Thuận Yên, diện tích bồi thường 125,95 ha, chiếm 89,5% diện tích Đã triển khai nền hạ một phần đường trục chính; thực hiện chi trả bồi thường bổ sung đợt 1 cho 74 hộ/114 hộ với tổng kinh phí 3,391 tỷ đồng và
có 67 hộ nhận tiền là 3,215 tỷ đồng đạt 94,8%
Tuy nhiên, việc thu hút các nhà đầu tư vào các khu công nghiệp còn khó khăn, nguyên nhân do kết cấu hạ tầng chưa được đầu tư hoàn chỉnh; chưa có chính sách hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư
Thương mại-dịch vụ:, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước
47.654 tỷ đồng, đạt 97,23% kế hoạch và tăng 16,57% so cùng kỳ Các doanh nghiệp của tỉnh đã thu mua, tạm trữ lúa gạo vụ Hè Thu được 230.732 tấn, đạt 136,52% kế hoạch Do hoạt động sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, mức thu nhập của người dân tăng không nhiều nên ảnh hưởng sức mua ở khu vực thương mại và dịch vụ và chỉ tăng 12,4% so với kế hoạch và giảm 3,67% so với năm
2012 (năm 2012 tăng 16,07%)
Hoạt động xuất nhập khẩu: tình hình xuất khẩu tiếp tục gặp nhiều khó
khăn, do thị trường thu hẹp, sức ép cạnh tranh, giá trị kim ngạch xuất khẩu bị sụt giảm so với cùng kỳ, nhất là mặt hàng gạo (giá gạo xuất khẩu giảm 36,04 USD/tấn so năm 2012 và làm giá trịxuất khẩu nông sản giảm 35 triệu USD), song UBND tỉnh đã chỉ đạo tích cực tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nhằm bù đắp lượng kim ngạch giảm Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2013 ước đạt 663 triệu USD, đạt 100,45% kế hoạch và tăng 11,31% so cùng kỳ Trong đó, nông sản 410 triệu USD (riêng gạo xuất khẩu 1,020 triệu tấn, đạt 102% kế hoạch và tăng 0,49% so cùng kỳ); hàng hải sản 158 triệu USD Kim ngạch nhập khẩu 37 triệu USD, đạt 105,71% kế hoạch và tăng 21,27% so cùng kỳ Do giá trị kim ngạch giảm nên mặc dù kim ngạch xuất khẩu gạo và tôm đông đạt và vượt kế hoạch nhưng tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh tăng không nhiều so với kế hoạch và so với cùng kỳ
Giao thông vận tải: các tuyến đường về trung tâm xã, các tuyến đường liên
huyện, hệ thống giao thông trên đảo Phú Quốc tiếp tục được đầu tư; đầu tư giao thông nông thôn thực hiện 489 km, nâng tổng số từ trước đến nay 3.212km/7.084 km; hoàn thành 3 tuyến đường về trung tâm xã, nâng tổng số xã trong đất liền được nhựa hóa 96/103 xã, đạt 93% kế hoạch Phối hợp với các chủ đầu tư thực
Trang 32hiện tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng do Trung ương quản lý: Tuyến tránh Rạch Giá đạt 97,8%; tuyến Minh Lương – Thứ Bảy, đạt 92,02%; tuyến Thứ Bảy – Ngã Bát, đạt 99,18% và tuyến Lộ Tẻ - Rạch Sỏi, đạt 25,8% Vận tải hàng hóa ước 8,03 triệu tấn, tăng 12,2%; vận tải hành khách 53,76 triệu lượt, tăng 3,1%
so với cùng kỳ 2012
Tài chính – tín dụng: tổng thu ngân sách cả năm ước 4.720 tỷ đồng, đạt
99,87% so dự toán và tăng 4,91% so với cùng kỳ Tổng chi ngân sách ước đạt 8.953,1 tỷ đồng, đạt 107,75% dự toán và tăng 7,78% so với cùng kỳ Trong đó, chi đầu tư xây dựng cơ bản 2.075,53 tỷ đồng, đạt 110,84% kế hoạch và tăng 9,82% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước thực hiện 5.161,2 tỷ đồng, đạt 103,4% Thực hiện tốt việc gia hạn, giảm, giãn thuế theo Nghị quyết số 02/NQ-
CP của Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, với tổng số tiền 415,644 tỷ đồng Chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả công tác điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước những tháng cuối năm
2013 theo chỉ đạo của Chính phủ và cắt giảm các khoản chi chưa thật sự cần thiết
để bù đắp khoản hụt thu ngân sách của tỉnh (100 tỷ đồng), bằng 02 nguồn thu: Giữ 50% dự phòng của từng ngân sách là 83,445 tỷ đồng; tiết kiệm chi thường xuyên 7 tháng còn lại năm 2013 là 16,555 tỷ đồng
Hoạt động ngân hàng: chỉ đạo các ngân hàng thương mại thực hiện tốt
việc cho vay nông nghiệp nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, xây dựng nông thôn mới, thực hiện các giải pháp tín dụng tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường; giải quyết nợ xấu Tổng nguồn vốn hoạt động đạt 39.442
tỷ đồng, đạt 97,93% kế hoạch, tăng 12,43%, trong đó vốn huy động tại địa phương 20.810 tỷ đồng, đạt 99,1% kế hoạch, tăng 13,25% so với cùng kỳ Vốn vay 12.260 tỷ đồng, đạt 103,9% kế hoạch, tăng 23,78% so với năm 2012 Doanh
số cho vay ước đến 31/12/2013 đạt 56.937 tỷ đồng, đạt 94,9% kế hoạch; dư nợ cho vay 30.025 tỷ đồng, đạt 104,62% kế hoạch, tăng 12,03% so với cùng
kỳ Thực hiện giãn nợ, điều chỉnh hợp đồng tín dụng, gia hạn và hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông thủy sản, với tổng số tiền trên 2.679 tỷ đồng
Văn hóa – xã hội: tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy và học, tổ
chức tốt các kỳ thi ở các cấp học tốt nghiệp THPT Kết quả có 10.036 học sinh đỗ tốt nghiệp THPT, đạt 99,53%; giáo dục thường xuyên 1.150 học sinh, đạt 87,38%; xét tốt nghiệp THCS 14.785 học sinh đạt 98,85%; tỷ lệ học sinh đủ điều kiện vào các trường đại học, cao đẳng chiếm 79,87%, tăng 18,8% so với năm
2012, trong đó có 36% trúng tuyển nguyện vọng 1; tỷ lệ học sinh bỏ học ở tiểu
Trang 33học giảm 0,08%; học sinh THCS giảm 0,1%; học sinh THPT giảm 0,09%, huy động trẻ vào mẫu giáo đạt 89,05% và tăng 1,5% so với 2012, học sinh 6 – 14 tuổi đạt 96,2% Công nhận xóa mù chữ 281 người, nâng tỷ lệ người biết chữ đạt 98,35% Cơ sở vật chất trường, lớp học được quan tâm đầu tư, tổng số trường đạt chuẩn quốc gia 132 trường, tăng 17 trường so với năm 2012; có 103/145 xã, phường có trường mầm non, đạt 71, 03% và tăng 27 xã, phường so với năm
2012 Đồng thời, ban hành chính sách ưu đãi, thu hút các nhà đầu tư đầu tư vào lĩnh vực giáo dục và đã giao gần 20.000 m2 đất để các nhà đầu tư xây các trường tại Tp Rạch Giá và Phú Quốc UBND tỉnh phối hợp với Trường Đại học Nha Trang đã hoàn chỉnh đề án thành lập Trường Đại học Kiên Giang trình Bộ Giáo dục và Đào tạo và đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương cho phép thành lập Trường Đại học Kiên Giang Tuy nhiên, công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vẫn còn khó khăn, cơ sở vật chất trường lớp, đồ dùng dạy học vẫn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu, hiện còn thiếu 761 phòng học, 42 xã chưa có trường mầm non; do thiếu biên chế tuyển dụng nên hiện nay còn thiếu gần 1.000 giáo viên, trong đó mầm non 700 giáo viên, tiểu học 200, trung học cơ
sở 100 giáo viên
3.2 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN HÒN ĐẤT
3.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Nguồn: wesite tỉnh Kiên Giang
Trang 34Hòn Đất là huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Kiên Giang, nằm trong vùng
Tứ Giác Long Xuyên với diện tích đất tự nhiên là 103.965ha, trong đó đất nông nghiệp là 96,23ha chiếm 93% (80% đất lúa), diện tích đất rừng khoảng 10,772ha, đất phi nông nghiệp chiếm 5,68% và diện tích đất chưa sử dụng là 1% Về vị trí địa lý phía bắc giáp tỉnh An Giang; phía nam giáp vịnh Thái Lan; phía tây giáp huyện Kiên Lương; phía đông giáp huyện Tân Hiệp và thành phố Rạch Giá
Về hành chánh, hiện nay huyện bao gồm thị trấn Hòn Đất, thị trấn Sóc Sơn và 12
xã là: Bình Giang, Bình Sơn, Nam Thái Sơn, Mỹ Hiệp Sơn, Thổ Sơn, Sơn Kiên, Sơn Bình, Mỹ Phước, Mỹ Lâm, Mỹ Thái, Mỹ Thuận, Lình Huỳnh Dân số toàn huyện tính đến năm 2013 là 171.000 người, trong đó dân tộc Kinh chiếm 86,4%, dân tộc Khmer chiếm 12,8% chủ yếu sống bằng nghề nông
3.2.2 Đặc điểm chung về kinh tế, văn hóa – xã hội
Thế mạnh kinh tế chủ yếu của huyện là nông - lâm - ngư nghiệp Công nghiệp và tiểu thủ công cũng đang được chú trọng phát triển Huyện cũng đã và đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả theo hướng nông - lâm - ngư nghiệp; công nghiệp - xây dựng; thương mại - dịch vụ, đồng thời đẩy nhanh xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, quy hoạch lại vùng nguyên liệu, tổ hợp sản xuất hàng tiêu dùng tiểu thủ công nghiệp và phát triển du lịch
Tận dụng lợi thế ven biển, Hòn Đất đã phát triển đội tàu đánh bắt hải sản với gần 700 chiếc, sản lượng khai thác tăng hàng năm Bên cạnh đó, nghề nuôi trồng thủy sản có hướng phát triển tích cực, đạt diện tích 4.230 ha mặt nước ven biển Ngoài ra, huyện còn phát triển thêm các ngành nghề chủ lực ở địa phương như khai thác đá xây dựng, xay xát lúa gạo, chế biến, bảo quản hàng thủy sản và các ngành nghề truyền thống khác Huyện cũng đã và đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả theo hướng Nông - Lâm - Ngư nghiệp; Công nghiệp - Xây dựng; Thương mại - Dịch vụ, đồng thời đẩy nhanh xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, quy hoạch lại vùng nguyên liệu, tổ hợp sản xuất hàng tiêu dùng tiểu thủ công nghiệp và phát triển du lịch
Huyện Hòn Đất nằm trên quốc lộ 80, nối thành phố Rạch Giá với thị xã Hà Tiên Không chỉ kết nối về các điều kiện giao thương kinh tế, mà huyện Hòn Đất còn là nơi liên kết để phát triển thuận lợi các tuyến, điểm du lịch về lịch sử - văn hoá và du lịch sinh thái, phục vụ thu hút đầu tư trên địa bàn
Trang 35Với vị trí địa lý là vùng trọng điểm lúa gạo của vùng Tứ giác Long Xuyên, huyện Hòn Đất còn nằm trên trục giao thông huyết mạch của đường hành lang ven biển phía Nam đang được chính phủ xây dựng Tuyến đường này chạy dọc theo vịnh Thái Lan đi qua các nước tiểu vùng sông Mê Kông (Việt Nam – Campuchia – Thái Lan) sẽ mở ra cơ hội giao thương toàn vùng và quốc tế Thêm vào đó, Hòn Đất là điểm trung tâm của “tam giác” phát triển du lịch biển và thương mại dịch vụ Rạch Giá – Phú Quốc – Hà Tiên của tỉnh Kiên Giang, nên có
sự tác động nhất định vào khu “tam giác” này Do vậy, sau khi đã có sự phát triển kinh tế nông nghiệp vững chắc, những năm gần đây huyện Hòn Đất đã mở rộng
mô hình tăng trưởng sang một số lĩnh vực mà địa phương có thể nuôi như : nuôi trồng và khai thác thủy sản, hải sản, khai thác khoáng sản đá và than bùn, công nghiệp chế biến lúa gạo xuất khẩu, cụm công nghiệp chế biến thủy sản có mùi ở
xã Lình Huỳnh, đầu tư khai thác khu du lịch Hòn Đất,…
Hòn Đất còn là một trong những địa phương có trữ lượng và chất lượng đá xây dựng và than bùn lớn nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long Trong đó, với
“thương hiệu” đá Hòn Sóc hàng năm cung cấp cho thị trường khoảng 80.000m3đá/năm than bùn để làm phân bón vi sinh phục vụ cho nông nghiệp địa phương và các vùng lân cận
Ngoài ra du lịch cũng là một lĩnh vực mang nhiều tiềm năng của huyện Hòn Đất với các di tích lịch sử như Bia chiến thắng Sóc Xoài, di tích kiến trúc văn hóa chùa Khmer Sóc Xoài, di chỉ khảo cổ nền chùa tại xã Mỹ Phước, di chỉ văn hóa Óc Eo tại Mỹ Hiệp Sơn, khu nhà bia tưởng niệm liệt sĩ thời chống Pháp, Đền thờ Trần Hưng Đạo, Đền thờ Vua Hùng, …Theo kế hoạch phát triển du lịch của huyện Hòn Đất từ nay đến năm 2015 và tầm nhìn năm 2020, điểm nhấn của
du lịch Hòn Đất là khu vực Ba Hòn, thuộc xã Thổ Sơn Theo đó, Hòn Đất tập trung nguồn lực xây dựng hạ tầng phát triển du lịch, khai thác các loại hình giải trí như: Cáp treo, leo núi tham quan hang động, viếng chùa, thăm nhà tưởng niệm
nữ anh hùng liệt sĩ Phan Thị Ràng; tắm biển nhân tạo, tham quan cảng du lịch Hòn Quéo, thưởng thức các món ăn đặc sản xứ hòn, biển và đồng bằng… mục tiêu thu hút trên 180.000 lượt khách mỗi năm, giải quyết việc làm cho 500 lao động
Tính đến năm 2013 thu nhập bình quân đầu người đạt 36 triệu đồng/người/năm An ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững và ổn định Toàn huyện có 18 trường đạt chuẩn quốc gia và 40 điểm trường đạt xanh -
Trang 36đoàn thể huyện quan tâm Phấn đấu đến năm 2015 có 3 xã (Mỹ Lâm, Sơn Kiên và Thổ Sơn) đạt xã Nông thôn mới, các xã còn lại từ 50% tiêu chí trở lên
3.2.3 Tình hình sản xuất lúa của huyện Hòn Đất trong những năm gần đây
Trong những năm gần đây Hòn Đất không ngừng gia tăng về diện tích trồng lúa cũng như đổi mới về kỹ thuật canh tác, chọn giống mới giúp cho hiệu quả sản xuất ngày càng cao Từ vùng đất nhiễm mặn, nhiễm phèn và độc canh cây lúa chỉ sản xuất được một vụ với năng suất thấp, thì nay với hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp như hệ thống kênh, mương, cống ngăn mặn được chính quyền địa phương qui hoạch và đầu tư đồng bộ bằng nhiều nguồn vốn nhà nước và của xã hội nên năng suất lúa ngày càng được nâng cao Theo ước tính diện tích đất nông nghiệp bình quân trên 0,7ha/người và sản xuất lúa từ 2 - 3 vụ/năm với năng suất cao, sản lượng lương thực trên dưới 1 triệu tấn,… nên hàng năm đã góp phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế của huyện đạt 13,05%, trong đó xã Nam Thái Sơn dẫn đầu toàn huyện với 11.500ha đất lúa
Bảng 3.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của huyện Hòn Đất giai đoạn từ năm 2011-2013
Nguồn: tống hợp từ báo cáo của phòng nông nghiệp huyện Hòn Đất từ năm 2011-2014
Từ bảng số liệu trên cho thấy diện tích lúa toàn huyện có xu hướng tăng qua các năm, cụ thể diện tích năm 2012 là 151.942 ha, tăng 2,83% (sản lượng tăng 6,07%) so với năm 2011; năm 2013 là 166.281 ha, tăng 9,44% (8,94% về sản lượng) so với năm 2012 Tuy diện tích, sản lượng tăng khá nhiều nhưng năng suất lúa tăng không đều giữa các năm và có sự chênh lệch năng suất năm 2012 tăng 3,3% so với 2011, nhưng năm 2013 lại giảm 0,47% Nguyên nhân là do tình trạng khô hạn và xâm mặn kéo dài vào năm 2013
Trung bình 1 năm người dân huyện Hòn Đất sản xuất 2 vụ lúa chính là Đông – Xuân và Hè – Thu, và vụ lúa phụ Thu – Đông với diện tích không đáng
Trang 37Nguồn: Tự khảo sát 10/2014
Hình 3.2 Diện tích lúa 2 vụ qua các năm Nhìn chung diện tích trồng lúa 2 vụ qua các năm có xu hướng tăng, cụ thể nếu như diện tích vụ Đông – Xuân 2011 là 74.010 (ha) thì năm 2012 và 2013 lần lượt là 81.307 (ha) và 81.355 (ha) Vụ Hè – Thu 2011 là 71.032 (ha); năm 2012 là 74.872 (ha); 2013 là 77.047 (ha) Thông thường diện tích gieo sạ vụ Đông – Xuân thường cao hơn Hè – Thu, do vụ này điều kiện thời tiết khí hậu bất thường nên người dân thường hạn chế diện tích gieo để dễ dàng quản lý và phòng ngừa dịch bệnh
Về mặt năng suất và sản lượng lúa cũng giữ ở mức tăng ổn định, Đông – Xuân 2011 là 71,42 (tạ/ha), 2012 là 72,42 (tạ/ha), năm 2013 là 74,02 (tạ/ha) Do những năm gần đây huyện phối hợp xây dựng và thử nghiệm thành công các mô hình thí điểm nên năng suất lúa có hiệu ứng tích cực, mặc dù chưa được phổ biến rộng rãi nhưng đây cũng là một tín hiệu tốt cho tình hình sản xuất lúa đối với người dân nơi đây Tuy nhiên vụ Hè – Thu 2013 năng suất lúa giảm 3,2% so với năm 2012, nguyên nhân chính là do tình hình xâm mặn vào giữa năm
Cũng tương tự như năng suất lúa, sản lượng lúa tăng ở mức ổn định qua các năm vụ ĐX qua các năm lần lượt là 520.579 tấn (2011); 588.825 tấn vào năm
2012 và năm 2013 là 602 tấn Sản lượng vụ HT cũng tăng đều, năm 2011 là