Vì thế, việc thực hiện đề tài “Phân tích tiềm năng của phố đi bộ trong việc phát triển du lịch tại Thành phố Cần Thơ” nhằm tìm hiểu nhu cầu của du khách về con phố đi bộ trong tương lai
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
HUỲNH NGỌC TÂN MSSV: 4115525
PHÂN TÍCH TIỀM NĂNG CỦA PHỐ ĐI BỘ TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI
Tháng 12 Năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài mới và không trùng với bất kì đề tài nghiên cứu khoa học nào
Cần Thơ , ngày… tháng… năm… Sinh viên thực hiện
Huỳnh Ngọc Tân
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Qua những năm học tại trường Đại học Cần Thơ, nhờ sự chỉ dạy tận tình của thầy cô, đặc biệt là quý thầy cô Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh đã truyền đạt cho em những kiến thức vô cùng quý báu Giúp em mở rộng kiến thức và trao dồi thêm đạo đức, kĩ năng của mình
Để hoàn thành bài luận văn này, em xin chân thành cảm ơn những kiến thức quý giá mà thầy cô đã truyền đạt cho em, cảm ơn sự dạy dỗ của các thầy, các cô, chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô Dương Quế Nhu đã giúp em hoàn thành bài luận văn này
Do hạn chế về mặt thời gian và kiến thức nên bài luận văn của em còn nhiều sai sót Em mong nhận được những ý kiến đóng góp của Thầy Cô để bài luận văn của em hoàn thiện hơn
Em kính chúc quý Thầy Cô sức khỏe, hạnh phúc
Xin chân thành cảm ơn! Cần Thơ , ngày… tháng… năm… Sinh viên thực hiện
Huỳnh Ngọc Tân
Trang 5BẢN NHẬN XÉT LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
* Họ và tên người hướng dẫn: DƯƠNG QUẾ NHU
* Học vị: Thạc sĩ
* Cơ quan công tác: Khoa kinh tế - QTKD trường Đại học Cần Thơ
* Tên sinh viên: HUỲNH NGỌC TÂN
* Mã số sinh viên: 4115525
* Chuyên ngành: Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành
* Tên đề tài: Phân tích tiềm năng của phố đi bộ trong việc phát triển du
lịch tại Thành phố Cần Thơ
NỘI DUNG NHẬN XÉT
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ , ngày… tháng… năm……
Giáo viên hướng dẫn
Trang 6NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ , ngày… tháng… năm…… Giáo viên phản biện
Trang 7MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Không gian nghiên cứu 2
1.3.2 Thời gian nghiên cứu 2
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.4.1 Lược khảo tài liệu 2
1.4.2 Tóm tắt 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ PHỐ ĐI BỘ 6
2.1.1 Các khái niệm cơ bản về du lịch 6
2.1.2 Các điều kiện để phát triển du lịch 7
2.1.3 Phố đi bộ 9
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 15
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 16
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG DU LỊCH THÀNH PHỐ CẦN THƠ 17
3.1 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ 17
3.1.1 Vị trí địa lí 17
3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 17
3.1.3 Cơ sở hạ tầng 18
3.2 THỰC TRẠNG DU LỊCH THÀNH PHỐ CẦN THƠ 20
3.2.1 Lượng khách và doanh thu du lịch Cần Thơ 20
Trang 83.2.2 Những điểm đến thu hút khách du lịch tại Thành phố Cần Thơ 22
3.3 DỊCH VỤ KHÁCH SẠN, LỮ HÀNH 25
3.3.1 Dịch vụ khách sạn 25
3.3.2 Dịch vụ lữ hành 26
3.4 THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ 26
3.4.1 Thuận lợi 26
3.4.2 Khó khăn 27
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH TIỀM NĂNG CỦA PHỐ ĐI BỘ TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI CẦN THƠ 28
4.1 SƠ LƯỢC THÔNG TIN VỀ MẪU 28
4.1.1 Cơ cấu mẫu 28
4.1.2 Thông tin cá nhân 28
4.1.3 Nhận xét về mẫu 30
4.2 PHÂN TÍCH TIỀM NĂNG CỦA PHỐ ĐI BỘ 31
4.2.1 Thông tin về chuyến đi của du khách đến Cần Thơ 31
4.2.2 Ý tưởng xây dựng phố đi bộ tại Trung tâm Thành phố Cần Thơ 35
4.2.3 Cảm nhận của du khách về con phố đi bộ tại Cần Thơ 36
4.2.4 Phân tích tầm quan trọng của các yếu tố về phố đi bộ tại Cần Thơ 37
4.2.5 Nhu cầu của du khách về phố đi bộ tại Cần Thơ 41
4.2.6 Dự án phố đi bộ tại Cần Thơ 44
4.2.7 Tóm tắt phần tiềm năng của phố đi bộ 45
CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP THU HÚT KHÁCH ĐẾN PHỐ ĐI BỘ 47
5.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH GIẢI PHÁP 47
5.2 GIẢI PHÁP CỤ THỂ CHO PHỐ ĐI BỘ 48
5.2.1 Tổ chức phố đi bộ 48
5.2.2 Các hoạt động trên phố đi bộ 48
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
6.1 KẾT LUẬN 50
6.2 KIẾN NGHỊ 50
Trang 96.2.1 Kiến nghị với Tổng cục du lịch 50
6.2.2 Kiến nghị với Sở Văn hóa, thể thao và du lịch Cần Thơ 51
6.2.3 Kiến nghị với người làm du lịch 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Lượng khách đến Cần Thơ năm 2012 - 2013 15
Bảng 3.1: Lượt khách du lịch đến Cần Thơ từ năm 2011 đến 2013 20
Bảng 3.2: Số lượng khách sạn tại Thành phố Cần Thơ từ năm 2011 đến 201325 Bảng 4.1: Phần trăm nhóm tuổi và giới tính của khách nội địa và quốc tế 28
Bảng 4.2: Trình độ học vấn của du khách 29
Bảng 4.3: Tỷ lệ phần trăm nghề nghiệp của du khách 30
Bảng 4.4: Mối quan hệ giữa loại khách và phương tiện đi du lịch 33
Bảng 4.5: Loại khách và việc đã từng đến phố đi bộ 36
Bảng 4.6: Mức độ quan trọng của các yếu tố về phố đi bộ 38
Bảng 4.7: Các hoạt động về đêm du khách thích nhất tại Cần Thơ 43
Trang 12CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, du lịch là một trong những ngành mang lợi nguồn thu lớn cho các nước trên thế giới và cả Việt Nam Năm 2013, du lịch Việt Nam đón 7.572.352 lượt khách quốc tế (tăng 10,6% so với năm 2012), lượng khách nội địa ước đạt 35 triệu lượt (tăng 7,7 % so với năm 2012), tổng thu từ khách du
lịch ước đạt 200.000 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2012 [5] Vì thế, việc đầu
tư thúc đẩy phát triển du lịch là một trong những công việc mà nhiều nước trên thế giới đang làm Theo Tạp chí U.S News & World Report nổi tiếng của Mỹ vừa đăng bài của chuyên gia Kathleen Peddicord đánh giá Việt Nam là một trong 18 thiên đường nghỉ hưu trên thế giới Theo bài báo, Việt Nam đang nổi lên là một nơi thú vị cho những người đã nghỉ hưu với chi phí sinh hoạt khá thấp, cuộc sống yên bình, người dân thân thiện, thắng cảnh trải dài khắp mọi miền đất nước Tại các vùng du lịch tại Việt Nam đã chú trọng đầu tư các điểm du lịch để thu hút khách, nhiều dự án về du lịch được tiến hành và Cần Thơ – Trung tâm của Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) cũng đã và đang đẩy mạnh phát triển về du lịch Điển hình các điểm du lịch ở Cần Thơ ngày càng được du khách chú ý như: Khu du lịch Mỹ Khánh, chợ nổi Cái Răng, vườn cò Bằng Lăng,…
Tại ĐBSCL, Cần Thơ là thành phố duy nhất trực thuộc Trung ương vì thế việc đầu tư về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất là không thể thiếu Đó cũng chính là điều kiện giúp Cần Thơ phát triển về du lịch Theo Văn phòng Hiệp hội Du lịch ĐBSCL, năm 2013 du lịch Cần Thơ đón 1.251.625 lượt khách tăng 7% so với năm 2012, đây là tín hiệu đáng mừng cho du lịch Cần Thơ Tuy nhiên, tài nguyên về du lịch tại Cần Thơ còn rất hạn chế, chưa có danh lam thắng cảnh nổi tiếng, thiếu các hoạt động về đêm Vì thế, việc phát triển
du lịch tại nơi đây cũng rất khó khăn trong việc thu hút khách Chúng ta cần tạo ra nhiều sân chơi cho du khách ngoài việc thưởng lãm cảnh sông nước miệt vườn, du khách có thể tham quan cảnh thành phố về đêm Bên cạnh đó, lượng xe máy tại thành phố Cần Thơ ngày càng tăng vì thế cản trở đến việc tham quan của du khách trên những tuyến đường chính Việc tạo dựng một không gian đi bộ thoải mái, an toàn, góp phần bảo vệ môi trường,… có thể sẽ làm du khách thích thú hơn tại một thành phố nhộn nhịp hay không? và con phố đi bộ đó sẽ tạo lực hút như thế nào cho du khách sẽ là một vấn đề mà ngành du lịch Cần Thơ cần quan tâm
Trang 13Vì thế, việc thực hiện đề tài “Phân tích tiềm năng của phố đi bộ trong
việc phát triển du lịch tại Thành phố Cần Thơ” nhằm tìm hiểu nhu cầu của
du khách về con phố đi bộ trong tương lai và tiềm năng của nó trong việc phát triển du lịch Cần Thơ Từ đó, đề xuất các giải pháp để thu hút khách đến phố
- Đánh giá thực trạng du lịch của Thành phố Cần Thơ
- Phân tích tiềm năng của phố đi bộ trong việc phát triển du lịch
- Đề xuất các giải pháp thu hút khách du lịch đến phố đi bộ cũng như đến Thành phố Cần Thơ
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Không gian nghiên cứu
Đề tài thực hiện trong phạm vi quận Ninh Kiều – Thành phố Cần Thơ
1.3.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 9/2014 đến tháng 12 năm 2014
Thời gian thu thập số liệu sơ cấp: từ ngày 15/10/2014 đến ngày 20/11/2014
Thời gian thu thập số liệu thứ cấp: Từ năm 2011 đến năm 2013
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu
Tiềm năng của phố đi bộ trong việc phát triển du lịch tại Thành phố Cần Thơ
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.4.1 Lược khảo tài liệu
Tác giả Nguyễn Tri Nam Khang (2012), “Giải pháp phát triển làng nghề
truyền thống kết hợp du lịch tại tỉnh Hậu Giang”: Đề tài áp dụng phương pháp
thống kê như tần số, so sánh, phân tích phân biệt, phân tích hồi quy tuyến tính, tham khảo ý kiến chuyên gia Kết quả nghiên cứu cho thấy, du lịch làng nghề
ở Hậu Giang là hấp dẫn chiếm tỷ trọng 67,4% và 70% du khách có ý định đến
Trang 14tham quan, vui chơi tại các điểm làng nghề của Hậu Giang Đây là biểu hiện cho thấy, việc phát triển các làng nghề truyền thống bên cạnh tạo ra thu nhập cho người dân địa phương mà nó còn góp phần thúc đẩy phát triển du lịch Những làng nghề giúp du khách có thể tìm hiểu về công đoạn sản xuất sản phẩm, tham gia sản xuất, những câu chuyện về nghề giúp họ thích thú hơn khi tham gia các chuyến du lịch Bên cạnh đó, các làng nghề truyền thống còn gặp phải một số khó khăn trong việc cung ứng nguyên liệu, tạo sự khác biệt cho sản phẩm, tìm kiếm đầu ra, nâng cao giá trị sản phẩm, liên kết phát triển du
lịch Từ đó, đề xuất giải pháp góp phần phát triển cho du lịch Hậu Giang [12]
Tác giả Trần Thái Nghiêm (2009), “Thực trạng và giải pháp phát triển
loại hình du lịch sinh thái vườn trên địa bàn huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ”: Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả kết hợp với số liệu thứ
cấp để đánh giá thực trạng loại hình du lịch sinh thái vườn; phương pháp phân tích nhân tố, phân tích bảng chéo, phương pháp xếp hạn, mô hình hồi qui tương quan để phân tích các yếu tố tác động đến sự thỏa mãn nhu cầu và sự thỏa mãn các dịch vụ của khách du lịch Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng phương pháp so sánh lợi ích – chi phí để biết được cảm nhận của du khách về giá cả thực tế của một loại hàng hóa so với cảm nhận của du khách có đạt được sự thỏa mãn hay không Phương pháp phân tích bảng chéo còn được tác giả sử dụng để xem xét nhận xét của du khách đối với điểm du lịch, thăm dò một số nhu cầu của du khách khi tham gia loại hình du lịch sinh thái vườn và khả năng quay trở lại của họ Từ phân tích trên kết hợp ma trận SWOT, tác giả đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ, hình ảnh điểm đến, thỏa
mãn nhu cầu của du khách,… giúp phát triển du lịch sinh thái vườn [16]
Tác giả Geoff Riddington, Tony Harrison, eds 2008 “The economic
impacts of the wind farms on Scottish tourism” Đề tài dựa vào các yếu tố như:
số lượng du khách tiềm năng sẽ bị tác động bởi các trang trại gió; phản ứng của các du khách bị tác động bởi cối xoay gió; tác động về kinh tế của những phản ứng này,… để phân tích tác động về kinh tế của các trang trại gió đến du lịch của Scottland Đề tài sử dụng các phương pháp như: thống kê mô tả, điều tra mức sẵn lòng chi của du khách, khảo sát thực địa,… Thông qua việc phân tích cho thấy, du khách cảm thấy tích cực với các trang trại gió, tuy nhiên vẫn
có khá nhiều du khách cảm thấy với tiêu cực các cối xoay gió (trang trại gió) Bên cạnh đó, sự sẵn sàng chi trả cao hơn tại những điểm đến ít sự hiện diện của cối xoay gió hoặc cách xa khu vực du khách sinh hoạt Vì thế, việc mở rộng các trang trại cối xoay gió các cơ quan cần xem xét lại nhiều yếu tố Trong đó, phản ứng của du khách là rất quan trọng bởi các vùng được nghiên
cứu luôn có sự đóng góp của ngành du lịch [19]
Trang 15Theo tác giả Donald Getz, Graham Brown “Critical success factors for
wine tourism regions: a demand analysis” Đề tài đưa các các yếu tố giúp thu
hút du khách đến du lịch tại những vùng sản xuất rượu vang và phân tích nhu cầu của họ Bài phân tích cho thấy, phần lớn những người muốn đến tham quan các nhà máy sản xuất rượu là những du khách đã từng sử dụng rượu vang Họ có nhu cầu tham quan nhà máy, quy trình sản xuất, tìm hiểu các thông tin về rượu,…Dựa vào phương pháp phân tích nhân tố, tác giả đã đưa ra
5 nhóm nhân tố chính tác động đến sự phát triển du lịch tại những vùng sản xuất rượu: (1) Các yếu tố cốt lõi của sản phẩm rượu; (2) Yếu tố cốt lõi của điểm đến hấp dẫn; (3) Yếu tố về sản phẩm văn hóa; (4) Các yếu tố về sự đa dạng; (5) Nhóm yếu tố về định hướng du lịch Thông việc khảo sát trực tiếp du khách và phân tích, cho thấy nhóm nhân tố thứ (1) là quan trọng nhất Từ đây,
có thể thấy để thu hút được du khách đến các vùng sản xuất rượu thì ngoài tham quan nhà máy sản xuất với sự hiểu biết của nhân viên về các loại rượu,
sự thân thiện của họ, sự đa dạng các loại rượu chúng ta cần tạo ra nhiều các hoạt động vui chơi, thưởng ngoạn, các lễ hội, các chiến lược quảng bá … để
thu hút du khách [20]
Theo tác giả Parisa Sedaghati, eds Factor analysis procedures affecting
the development of sports tourism with emphasis on the industrial orientation
Đề tài tập trung phỏng vấn 65 chuyên gia để tìm ra các yếu tố tác động đến việc đi du lịch đến các điểm có sự kiện thể thao của du khách Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích nhân tố Qua kết quả phân tích, cho thấy có 3 nhóm nhân tố chính tác động: (1) Các dịch vụ bổ trợ; (2) Gia đình và
sự vui vẻ; (3) Các yếu tố về văn hóa, xã hội Khi khách du lịch đến những nơi
có các sự kiện thể thao thì các cơ quan tổ chức cần đảm bảo về chỗ ở, có các hoạt động về đêm, hoạt động tham quan, giao lưu với vận động viên,… để thu hút du khách Bên cạnh đó, cần kiểm soát giả cả của các dịch vụ tại sự kiện thể
thao [21]
1.4.2 Tóm tắt
Qua các lược khảo tài liệu trên, đề tài đã chọn lọc được các yếu tố phù hợp với nghiên cứu của mình dựa vào: các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham quan nhà máy sản xuất rượu vang, sự ảnh hưởng của trang trại gió đến việc tham quan của du khách, các yếu tố tác động đến việc đi du lịch của du khách đến các điểm có sự kiện thể thao, Dựa vào các nhóm yếu tố trong các tài liệu trên, đề tài đã hình thành được các yếu tố để tạo nên một con phố đi bộ
và tiềm năng của nó trong việc phát triển du lịch, sử dụng thang đo Likert 5 mức độ để đánh giá mức độ quan trọng của các yếu tố Bên cạnh đó, đề tài cũng sử dụng phương pháp thống kê mô tả, khảo sát thực địa, lấy ý kiến
Trang 16chuyên gia, mức sẵn lòng chi trả để phân tích nghiên cứu của mình Từ kết quả thống kê kết hợp với thực trạng du lịch tại Cần Thơ, đề tài đề ra các giải pháp góp phần phát triển du lịch tại Thành phố Cần Thơ
Trang 17CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ PHỐ ĐI BỘ
2.1.1 Các khái niệm cơ bản về du lịch
Du lịch là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới Trong những năm qua, tình hình du lịch thế giới và khu vực có sự tăng trưởng liên tục nhưng khác nhau ở từng giai đoạn Số lượng khách du lịch quốc tế đạt 940 triệu lượt (năm 2010), 983 triệu lượt (năm 2011) và chạm mốc
1 tỷ lượt (năm 2012) Trong đó, tính đến năm 2011, châu Âu vẫn là thị trường thu hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất (504 triệu lượt), tiếp theo là châu Á
và Thái Bình Dương (217 triệu lượt) Tổng thu du lịch quốc tế ước đạt 928 tỷ USD (năm 2010) và 1.030 tỷ USD (năm 2011) Việt Nam hiện nằm trong top
5 điểm đến hàng đầu khu vực ASEAN và top 100 điểm đến hấp dẫn của du
lịch thế giới [18]
Có thể nói du lịch là “con gà đẻ trứng vàng”, sự phát triển của du lịch kéo theo nhiều sự phát triển từ những ngành khác như: giao thông vận tải, công – nông nghiệp, ngân hàng,… Bên cạnh đó, du lịch còn mang lại số lượng việc làm rất lớn cho người dân
Tuy nhiên, việc thấu hiểu khái niệm chung nhất về du lịch vẫn là một vấn
đề đang được bàn cãi Có rất nhiều các khái niệm về du lịch tùy vào góc độ của mỗi người, mỗi tổ chức:
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Nếu xem xét du lịch là một hiện tượng xã hội, hiện tượng của nhân văn làm phong phú thêm nhận thức và cuộc sống con người, Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Orannization – WTO) đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch bao gồm những hoạt động của những người đi đến một nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình trong thời hạn không quá một năm liên tục để vui chơi, vì công việc hay vì mục đích khác không liên quan đến những hoạt động kiếm tiền ở nơi mà họ đến”
Tóm lại, có thể hiểu đơn giản du lịch là sự di chuyển của con người ra ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ nhằm thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, tham quan,… không vì mục đích kiếm tiền tại nơi họ đến
Trang 182.1.2 Các điều kiện để phát triển du lịch
2.1.2.1 Yếu tố cá nhân
* Thời gian rỗi
Thời gian rỗi có thể nói là yếu tố chủ chốt khi quyết định đi du lịch Nếu chúng ta muốn đi đến một vùng đất nào đó để tham quan cho dù yếu tố về tài chính đã đảm bảo nhưng không có thời gian nghỉ phép nhiều chắc chắn chuyến du lịch đó cũng rất khó để thực hiện
“Thời gian rỗi là phần thời gian ngoài giờ làm việc, trong đó diễn ra các
hoạt động nhằm hồi phục và phát triển thể lực, trí tuệ, tinh thần của con người Trong các tài liệu địa lí và kinh tế xã hội người ta coi phần thời gian
trên là thời gian nghỉ ngơi.”[8]
Một số quốc gia thực hiện chính sách làm việc 5 ngày/tuần tạo điều kiện cho nhân viên được nghỉ ngơi, tạo tinh thần thoải mái cho những ngày làm việc tiếp theo Khi điều kiện sống của con người được nâng cao thêm vào đó
có nhiều thời gian rỗi thì khả năng họ sẽ thực hiện chuyến đi du lịch là rất lớn
để giải trí, tham quan, tìm hiểu văn hóa, thăm người thân, chữa bệnh,…
* Điều kiện sống
Ngày nay, khi nhu cầu cơ bản của của người đã được đáp ứng, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao thì các hoạt động vui chơi, giải trí, các hoạt động tìm hiểu về văn hóa, lịch sử, con người, ngày càng được nâng cao Vì vậy, để có thể trải nghiệm không gian mới, khám phá các giá trị đặc sắc của văn hóa, mở rộng tầm nhìn,… thì du lịch chính là một trong những cách tốt nhất giúp chúng ta đạt được điều đó
* Trình độ văn hóa
Trình độ văn hóa là thước đo để đánh giá sự phát triển du lịch của một quốc gia Ở những nước phát triển du lịch là nhu cầu của cuộc sống, là tiêu chuẩn để đánh giá cuộc sống Thông thường những người đi du lịch nước ngoài là những người có trình độ văn hóa nhất định Bởi lẽ, họ có khả năng thích nghi cao với ngôn ngữ, văn hóa và sự hiểu biết về những danh lam thắng cảnh của quốc gia họ đến
Ngoài ra, một cá thể kinh doanh du lịch nếu họ được tập huấn, được học tập đầy đủ, tham gia các lớp học về kĩ năng du lịch chắc chắn sẽ họ sẽ hiểu một phần nào đó nhu cầu của du khách, có cách ứng xử văn hóa, nắm bắt được
xu hướng đi du lịch của du khách thì họ có thể tạo ra một sản phẩm du lịch có giá trị Các hội nghị và hội thảo về du lịch được tổ chức tạo điều kiện cho
Trang 19người dân có cơ hội học tập nâng cao trình độ, nhận thức của mình về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trong du lịch
2.1.2.1 Yếu tố khác
* Giao thông vận tải
Du lịch gắn liền với những chuyến hành trình dài, ngắn khác nhau Để có thể tạo nên sự hào hứng cho chuyến đi thì việc phát triển giao thông rất quan trọng Tạo sự thuận lợi trong quá trình vận chuyển hành khách, giúp họ tiết kiệm thời gian, gia tăng chất lượng cho chuyến hành trình,… Trong thành tựu phát triển vượt bậc của ngành du lịch luôn luôn có sự đóng góp quan trọng của ngành giao thông vận tải Điều này được thể hiện qua việc nâng cấp hệ thống
cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ, nhà ga, bến tàu, các tuyến bay hàng không được tăng cường, mở rộng đến nhiều thị trường mới Hệ thống mạng lưới và phương tiện vận tải đường biển, đường sông không ngừng được đầu tư, phục
vụ tốt việc đi lại, vận chuyển của khách Đồng thời trong sự phát triển của ngành giao thông vận tải cũng có sự đóng góp không nhỏ của dòng khách du lịch trong nước và quốc tế
* Chính trị
Một quốc gia làm du lịch nếu tình hình chính trị không ổn định chắc chắn sẽ tạo tâm lí không an toàn cho du khách và họ sẽ “ngại” đến những nơi như thế, chẳng hạn: biến cố chính trị ở Thái Lan trong năm 2007 đã làm ảnh hưởng rất lớn đến ngành du lịch của nước này, theo thống kê trong 3 tháng đầu năm 2007 lượng khách Nhật Bản đến Thái Lan giảm 10% so với cùng kì năm trước; sự kiện đánh bom khủng bố tại đảo Bali của Indonesia vào cuối năm 2002 đã tác động làm lượng khách đến Bali giảm đáng kể, số liệu thống
kê cho thấy lượng khách du lịch đến Bali 6 tháng đầu năm 2003 giảm 41% so với năm 2002
* Tinh thần hiếu khách và sẵn sàng phục vụ du khách
Cách ứng xử thân tình của người dân Việt Nam là điều ấn tượng đối với
du khách Du lịch cũng chính là sợi dây gắn kết người với người Chính những
sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa, lễ hội,… giúp du khách có được thiện cảm với con người Việt Nam
Tác giả Jenny Coad, biên tập viên du lịch của tờ Daily Mail (Anh) viết
trên tờ báo này ngày 23-3: “Đất nước này đang trên đà phát triển và người
Việt Nam đang hướng về tương lai chứ không phải quá khứ Tại bất cứ nơi đâu, khi tôi hỏi người dân địa phương về cảm tưởng của họ với du khách Mỹ,
câu trả lời luôn là: Cũng như mọi du khách khác, họ được đón chào” [17]
Trang 20* Thị trường du lịch trong nước và quốc tế
Năm 2013, du lịch Việt Nam đón 7.572.352 lượt khách quốc tế, tăng 10,6% so với năm 2012 Số lượng khách đi du lịch nội địa Việt Nam năm
2013 ước đạt 35 triệu lượt người, tăng 7,7% so với năm 2012
Tổng thu từ khách du lịch ước đạt 200.000 tỷ đồng, tăng 25% so với năm
2012 Trong số khách quốc tế, lượng khách đến du lịch, nghỉ dưỡng đạt 4.640.882 lượt người, tăng 12,2% so với năm 2012; khách đến vì công việc tăng 8,7%, khách thăm thân nhân tăng 9,4%, khách đến vì mục đích khác tăng
2,5% so với năm 2012 [5]
Nhìn chung, ngành du lịch nước ta có tiềm năng phát triển rất lớn Điển hình là lượng khách, doanh thu tăng qua các năm, cho thấy tín hiệu đáng mừng cho ngành du lịch nước nhà Tạo động lực phát triển các công ty du lịch, các cơ sở kinh doanh du lịch, các khu du lịch,… góp phần làm sinh động nền
du lịch Việt Nam
2.1.3 Phố đi bộ
2.1.3.1 Khái niệm phố đi bộ
Theo thạc sĩ Cao Anh Tuấn, Hội quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam:
“Phố đi bộ là một mô hình không gian giao tiếp công cộng đặc biệt, nó được coi là một địa điểm đặc trưng của đô thị Phố đi bộ là một vấn đề rất điển hình của văn hóa đô thị, phản ánh không chỉ đơn thuần là vấn đề quy hoạch và kiến trúc đô thị, mà còn là những vấn đề khác liên quan đến xã hội học đô thị, đến bảo tồn di sản văn hóa đô thị, đến phát triển thương mại và du lịch Theo các nhà đô thị học, ý nghĩa của việc tổ chức phố đi bộ là "trả lại thành phố cho thị dân", tạo điều kiện để người dân tiếp cận khu vực công cộng dễ dàng hơn, tăng cường sự giao tiếp bình đẳng giữa các tầng lớp nhân dân Ngoài ra nó còn đóng vai trò hồi sinh các khu vực lịch sử và duy trì sức sống văn hóa của đô thị Trong đó, thuật ngữ "hồi sinh" được hiểu trong bối cảnh hiện nay là sự khác biệt trong quan điểm: "bảo tồn di sản chỉ quan tâm đến quá khứ của quá
khứ còn hồi sinh quan tâm đến tương lai của quá khứ”[2]
Phố đi bộ có thể hiểu là các con đường hoặc một khu vực được dành riêng cho người đi bộ mà tại đó hạn chế các phương tiện ra vào (xe máy, xe ôtô, xe tải,…) Trên tuyến phố đi bộ, được bày bán các sản phẩm du lịch, quà lưu niệm, gian hàng ăn uống, mua sắm,…phục vụ cho khách du lịch, người dân, khách tham quan,…
Trang 212.1.3.2 Lí do của việc nảy sinh nhu cầu đi bộ trong không gian đô thị
Có 3 lí do:
- Do sự bùng nổ đô thị Các đô thị ngày nay với mật độ dân cư, các tòa nhà, công trình công cộng, các công ty, nhà máy,… mọc lên rất nhiều làm giảm diện tích trống trong các khu đô thị sầm uất Sự ô nhiễm diễn ra ngày càng nhiều (ô nhiễm nguồn nước, không khí, tiếng ồn,…), xe cộ trên đường tắt nghẽn là các hiện tượng phổ biến ở nhiều thành phố lớn Chính vì thế, việc tạo không gian cho người dân thoải mái đi lại là điều rất cần thiết, đó cũng chính
là cách “thư giản” tuyệt vời cho người dân vùng thành thị Giúp họ nâng cao
“văn hóa đi bộ” để góp phần bảo vệ môi trường
- Do sự phát triển thương mại và du lịch ở đô thị, Thượng Hải, Bangkok
là một ví dụ rất điển hình Trong trường hợp này, phố đi bộ có thể xem như là một hình thức "chợ" được xử lý dưới "lớp áo văn hóa" của mô hình phố đi bộ Yếu tố "đi bộ" được nói đến trong mô hình này như là một yếu tố "lối sống",
đi dạo và mua sắm thực sự được nhìn nhận là một lối sống đô thị Đồng thời, tạo một không gian mua sắm, ăn uống thoải mái cho du khách, họ không phải
e dè khi đi giữa đường hoặc phải tránh xe cộ qua lại Theo quan niệm này, việc xây dựng các phố đi bộ đồng nghĩa với việc quy hoạch tập trung các khu thương mại, dịch vụ và những giải pháp đa dạng hóa hình thức kinh doanh
- Do việc phát huy các yếu tố đặc trưng của địa phương Ở một số đô thị, những khu vực có ưu thế về cảnh quan kiến trúc đẹp, hấp dẫn, giàu tính văn hóa lịch sử địa phương thường được chú trọng để xây dựng thành những khu phố đi bộ để đáp ứng nhu cầu tham quan của du khách Với những khu vực có đặc trưng như trên, việc đi bộ để "thưởng lãm" trở thành một yêu cầu được giới quy hoạch đô thị lưu tâm Chức năng cơ bản của những phố đi bộ kiểu này chính là chức năng văn hóa, giải quyết nhu cầu "thưởng thức văn hóa" của người dân, yếu tố "đi bộ" trong mô hình này là yếu tố "văn hóa đặc trưng" Lúc này, chức năng văn hóa của phố đi bộ đã góp phần hiện thực hóa mở rộng khái niệm bảo tồn di sản kiến trúc - "hồi sinh không chỉ dùng với di sản vật thể
mà cả với di sản phi vật thể và các vấn đề xã hội, văn hóa" Do vậy, nếu xây dựng phố đi bộ theo xu hướng này thì những hoạt động nghệ thuật, tổ chức lễ hội và bảo tồn các di sản kiến trúc, các khu vực đặc trưng lịch sử đô thị dường
như sẽ trở thành những yếu tố tiên quyết [7]
2.1.3.3 Một số con phố đi bộ trong và ngoài nước
* Phố đi bộ trong nước
- Thủ đô Hà Nội
Trang 22Hà Nội đã triển khai thực hiện 6 tuyến phố đi bộ: Hàng Buồm, Mã Mây, Hàng Giầy, Lương Ngọc Quyến, Tạ Hiện, Đào Duy Từ Các tuyến phố hoạt động từ 19h – 24h vào mùa hè và từ 16h – 24h vào mùa đông trong 3 buổi tối cuối tuần
Việc triển khai phố đi bộ đã tạo nhiều động lực cho các hoạt động giao lưu văn hóa, giải trí phát triển: Sân khấu chầu văn – hầu đồng được dựng tại ngã tư Lương Ngọc Quyến – Mã Mây; nhóm biễu diễn đàn dây phục vụ du khách tại ngã tư Tạ Hiện – Lương Ngọc Quyến; dịch vụ vẽ chân dung trên phố Hàng Buồm; thêm nhiều quán nước, ăn uống chủ yếu phục vụ khách Tây, họ
có thể ngồi trên vỉa hè, thậm chí cả lòng đường Tuy nhiên, một số hàng quán cho khách ngồi lấn lòng đường quá nhiều ảnh hưởng việc đi lại của du khách Khu vực Hàng Buồm tập trung nhiều di tích lịch sử như đền Bạch Mã, đền Hương Tượng, đình Kim Ngân, đình Đồng Lạc, nhà cổ 87 Mã Mây, tập trung nhiều nhà hàng, khách sạn nổi tiếng Việc hình thành phố đi bộ tại Hà Nội đã thu hút rất nhiều người vì họ được thỏa thích vui chơi, xem chương trình văn nghệ miễn phí, tham quan, mua sắm trong không gian thoáng đãng không khói, tiếng ồn của các phương tiện giao thông
- Phố đi bộ ở Hội An
Năm 2003, sau khi trưng cầu ý dân về ý tưởng hình thành phố đi bộ thì Trung tâm Văn hóa – Thể thao Hội An đã gặp nhiều ý kiến trái chiều, do việc không cho xe lưu thông sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới sinh hoạt và thói quen của người dân.Tuy nhiên, với quyết tâm của mình, chính quyền và các ban ngành thì đề án phố đi bộ đã được tiến hành
Đề àn “Phố dành cho người đi bộ và xe thô sơ” đã được Thị xã Hội An đưa vào thử nghiệm từ ngày 24.7.2004 tại đường Bạch Đằng, tuy nhiên ý tưởng về khu phố không có tiếng ồn động cơ đã được hình thành từ nhiều năm trước Từ năm 2012, từ thứ 2 đến thứ 7 (buổi sáng từ 8h – 11h, buổi chiều từ 14h – 16h30, buổi tối từ 18h30 – 21h30) các tuyến phố đi bộ bắt đầu hoạt động
Năm 2013 Phố cổ Hội An được Wanderlust – tạp chí du lịch nổi tiếng của Anh bình chọn là thành phố yêu thích hàng đầu thế giới Toàn bộ khu phố
cổ sẽ phục vụ cho du khách tham quan mua sắm với không gian tĩnh lặng, nhẹ nhàng bởi được thắp sáng bằng các đèn lồng và không có tiếng ồn động cơ Kết hợp phong cảnh đẹp, công trình cổ, các lễ hội, sự trong sạch, hướng tới bảo tồn các công trình văn hóa, đền, hội quán, chùa và bảo vệ môi trường Hội
An đã thu hút một lượng khách du lịch rất lớn (1.610.000 lượt khách năm 2013) Điều đặc biệt trên các tuyến phố đi bộ này chính là các ngôi nhà cổ,
Trang 23chùa, miếu cổ và nổi tiếng với Chùa Cầu tạo cho du khách cảm giác đang
được “sống chậm” trong thế kỉ 20 [7]
* Phố đi bộ ở nước ngoài
- Third Street, Mỹ - nơi ban nhạc Linkin Park ra đời trên đường phố
Dừng chân tại nước Mỹ, thành phố Los Angeles Nơi đây tọa lạc một khu phố đi bộ nổi tiếng có cái tên khá “phố thứ ba” (Third Street).Nằm ở khu vực Santa Monica, gồm ba khu nhà ở khoảng giữa đại lộ Broadway và đại lộ Wilshire, gần kinh đô điện ảnh Hollywood
Bên cạnh việc sở hữu những đặc điểm vốn có của một phố đi bộ kiểu mẫu: sạch sẽ, không khí trong lành,… khu phố này là nơi quy tụ nhiều bảo tàng nhỏ, các nhà hát, nhà hàng cùng một khu chợ nhỏ chuyên bán hàng hóa phương Đông nên rất hút khách du lịch Đặc biệt, hoạt động biểu diễn nghệ thuật trên đường phố đã tạo nên thương hiệu cho nơi đây Không chỉ có các ban nhạc nghiệp dư phục vụ du khách, ít ai biết rằng, có những ban nhạc nổi tiếng đã từng đi lên từ sân khấu vỉa hè như thế này: tiêu biểu nhất là ban nhạc rock Linkin Park Đáng chú ý là ai muốn trình diễn ở “phố thứ ba” đều phải có giấy biểu diễn do chính quyền thành phố cấp sau khi đóng 37 USD/năm (khoảng 770.000 VNĐ) Mỗi nhóm nhạc khi hát cũng phải cách nhau tối thiểu 150m để đảm bảo không gây ra trở ngại cho người đi bộ
- Rue du Chene và Rue de l'Étuve, Bỉ - phố rất nhỏ nhưng người rất đông
Đến Thủ đô của Bỉ là Bruxelle, bạn có thể tận hưởng những giờ phút thư giãn thú vị khi thả bộ đằng sau quảng trường lớn Đây là khu vực đi bộ có kiến trúc cổ khá lạ, gồm mấy đoạn phố liền nhau là Rue du Chene và Rue de l'Étuve, phố rất nhỏ nhưng người rất đông
Các hàng quán ở đây sử dụng dù che màu trắng, bàn ghế được bày biện ngoài trời, phục vụ thực khách những món nướng với rượu vang trắng Ngay
cả trong mùa đông, rất nhiều du khách đến đây, cùng ngồi thưởng thức những món ăn nóng giữa tiết trời se se của châu Âu và ngắm tuyết rơi Những tiệm bán chocolate Bỉ nổi tiếng, bánh Waffle đặc sản quốc gia, chụp ảnh cùng tượng chú bé Manneken Pis vang danh khắp châu Âu khi dạo bước trên con đường, tận hưởng những bản nhạc du dương được chơi bởi các nghệ sĩ guitar
và accordion đường phố
- Khu đi bộ Huchette, Pháp - nhộn nhịp và đầy màu sắc
Kinh đô ánh sáng hoa lệ Paris - nơi nhiều năm liền dẫn đầu thế giới về lượng du khách cũng là nơi chính quyền dành nhiều không gian cho người đi
Trang 24bộ nhất Cách đây khoảng 2 thế kỷ, trong kế hoạch cải tạo lại Thủ đô Paris, Nam tước Haussman đã cho quy hoạch một đại lộ Bắc - Nam nằm tả ngạn của dòng sông Seine Rất gần với bờ tả của sông Seine khúc chảy qua quận 5, nơi khởi đầu của đại lộ Saint Michel, là quảng trường Saint Michel danh tiếng với các bức tượng thánh tinh xảo và vòi phun nước đẹp mắt, luôn tấp nập, nhộn nhịp khách du lịch từ năm châu Và người ta đã khôn ngoan hình thành ở ngay đây một khu phố dành riêng cho người đi bộ mang tên là phố Huchette Khu đi
bộ Huchette dài 1.380m, rộng khoảng 30m, trải dọc hai bên đại lộ Saint Michel
Tại đây, những quán cà phê lãng mạn với tầm nhìn tuyệt vời ra sông Seine, quán bar, cửa hàng sách, quần áo không lúc nào vãn khách Khu phố này tương đối rộng và đặc biệt tràn đầy mùi thơm của các quầy hoa tươi, những bản nhạc đường phố, ổ bánh mì vòng tẩm mè thơm phức…
Chúng được chọn làm phố đi bộ bởi cảnh quan đẹp mắt, hấp dẫn, mang
và truyền tải được những nét độc đáo của từng quốc gia, từng thành phố sở hữu chúng Thiết lập khu phố du lịch phù hợp cũng là một bước gìn giữ bản sắc nền văn hóa truyền thống, quảng bá du lịch địa phương Mặt khác, đây cũng là cách để phát triển, xây dựng đô thị của tương lai, hài hòa vẻ đẹp công nghiệp với bảo vệ môi trường xanh Ý nghĩa của nó thật to lớn: đó chính là nụ cười khiến cho gương mặt đô thị giãn ra sau những lo toan chật chội và căng
thẳng [14]
2.1.3.4 Các yếu tố cấu thành nên phố đi bộ
Từ những thông tin trên cho thấy, phố đi bộ sẽ được tạo dựng tại những nơi có:
- Mật độ dân cư đông đúc, ở các con phố của thành phố lớn
- Gắn liền với một địa điểm nổi tiếng trong thành phố
- Nơi mua bán tấp nập
- Tập trung nhiều nhà hàng, khách sạn, quán cà phê, quán bar
- Phong cảnh đẹp hoặc có nhiều các di tích lịch sử, bảo tàng, chùa chiền, các công trình kiến trúc độc đáo
- Tập trung nhiều khách du lịch
- Trên con phố có các hoạt động văn nghệ giao lưu văn hóa
- Mật độ các hàng, quán trên con phố phải cao và bán những sản phẩm thể hiện sự đặc trưng cho địa phương
Trang 252.1.3.5 Thuận lợi và khó khăn của phố đi bộ
- Giảm thiểu ô nhiễm môi trường, khuyến khích người dân phát huy “văn hóa đi bộ” của người dân đô thị, tiết kiệm chi phí đi lại Việc thay thế các phương tiện cơ giới (xe máy, taxi, ôtô, xe tải,…) bằng việc đi bộ, đi xe đạp sẽ giúp tuyến phố trở nên “sạch” hơn do ít khói bụi từ xe cộ, tiếng ồn Các phương tiện sẽ được lưu giữ tại các bãi giữ xe, sau đó họ đi bộ, thuê xe đạp vào tuyến phố vì thế sẽ tiết kiệm được chi phí đi lại trong quá trình tham quan, mua sắm
- Giúp thu hút khách du lịch Việc đi bộ đã dần dần trở thành văn hóa của người dân sống tại các khu đô thị lớn Đi bộ giúp tiết kiệm chi phí, tăng cường sức khỏe, thoải mái đi lại (không bị ràng buộc việc bảo quản xe trong lúc mua sắm, ăn uống) Việc đi bộ sẽ tạo không gian thoáng đãng, yên tĩnh cho du khách, giúp họ có sự an toàn, tránh tiếp xúc với các tác nhân gây ô nhiễm Vì thế, phố đi bộ sẽ trở thành nơi thu hút nhiều khách du lịch
- Phát huy, bảo tồn các giá trị văn hóa, tạo ra thu nhập cho người dân Các khu phố đi bộ thường tập trung đông đúc khách du lịch và người dân, đây cũng là động lực để nhiều cá nhân, tổ chức hình thành nhu cầu kinh doanh trên tuyến phố này Bên cạnh đó, việc tập trung dân cư đông trên khu vực chúng ta
có thể dễ dàng tổ chức các hoạt động văn hóa (lễ hội, giao lưu văn hóa, tuyên truyền các chính sách,…) giúp cho người dân nâng cao ý thức của mình về các giá trị văn hóa của nước nhà
* Khó khăn
- Đầu tiên, vấn đề về tổ chức giao thông Theo ông Trương Minh Tiến, Phó giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội cho biết: “Đã gọi là phố đi bộ thì phải cấm xe Tôi được biết, đề án của thành phố Hà Nội và Bộ Giao thông Vận tải tiến tới sẽ cấm đi xe trên một số tuyến phố, đặc biệt trong khu phố cổ Đương nhiên là có khó khăn trong thời gian đầu, nhưng không cho xe máy đi thì nhà nước phải tổ chức giao thông công cộng, như tổ chức một loạt xe điện không chỉ chở khách mà còn chở hàng hóa Hàng ngày người
dân vẫn có nhu cầu sinh hoạt, buôn bán ”[13]
Trang 26- Thói quen của người dân, việc tạo một con phố đi bộ sẽ tạo ra nhiều sự cản trở cho người dân sống trong khu vực đó Họ khó khăn trong việc vận chuyển hàng hóa, đi lại,… Vì thế, để có thể tạo dựng thành công phố đi bộ chúng ta cần phải cho người dân thích ứng từ từ bằng cách hạn chế xe vào các cao điểm
- Duy trì phố đi bộ Hiện nay, tại trung tâm Thành phố Cần Thơ chưa có con phố nào dành riêng cho đi bộ Vì thế, nếu có được phố đi bộ thì việc duy trì tuyến phố này cũng là việc khó khăn Chúng ta phải kết hợp giữa các cơ quan chức năng, người dân địa phương, tổ chức thêm các hoạt động về đêm cho du khách Tạo cho du khách cảm giác mới lạ tại tuyến phố này, tránh sự nhàm chán
- Bố trí chỗ giữ xe cho du khách, người dân sống trên phố đi bộ Tránh hiện tượng “chặt chém” giá gửi xe
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.1.1 Số liệu thứ cấp
Đề tài sử dụng số liệu về lượng khách trên trang web của sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Thành phố Cần Thơ, Văn phòng Hiệp hội du lịch ĐBSCL, kết quả phân tích từ các luận văn đại học, luận văn thạc sĩ của các học viên Khoa Kinh tế - Quản trị Kinh doanh (QTKD) trường đại học Cần Thơ và một
số thông tin trên mạng, tạp chí du lịch, sách báo
2.2.1.2 Số liệu sơ cấp
Đề tài tập trung phỏng vấn khách du lịch nội địa, quốc tế và những khách
đã đi đến các con phố đi bộ trong và ngoài nước
KQT/KN
Đ
Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Thành phố Cần Thơ
Đề tài dự định phỏng vấn 100 khách du lịch (Theo tác giả Lưu Thanh Đức Hải, cỡ mẫu 100 đã đảm bảo suy rộng cho tổng thể) Theo bảng số liệu trên, thì lượt khách quốc tế chỉ bằng 1/5 lượt khách nội địa Vì thế, cơ cấu mẫu
Trang 27sẽ dựa vào điều đó để phân chia, bao gồm: 17 khách quốc tế, 83 khách nội địa Tuy nhiên, việc tham quan phố đi bộ ở các nước phương Tây rất phổ biến, vì thế có thể du khách quốc tế sẽ có kinh nghiệm trong việc tham quan phố đi bộ
và quan điểm của họ về phố đi bộ Do đó, đề tài tăng lượng phỏng vấn khách quốc tế thêm 17 quan sát
Bên cạnh đó, đề tài cũng đã tiến hành phỏng vấn chuyên gia để có cái nhìn chi tiết hơn Do khả năng tiếp cận thấp nên đề tài chỉ phỏng vấn được 2 chuyên gia
Nghiên cứu sử dụng số liệu sơ cấp thông qua việc phỏng vấn trực tiếp
119 quan sát bao gồm: 83 khách nội địa, 34 khách quốc tế và 2 chuyên gia
Sử dụng phương pháp thu mẫu thuận tiện để tiến hành
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Mục tiêu 1: Đề tài thống kê các số liệu thứ cấp từ Trung tâm xúc tiến thương mại du lịch Cần Thơ, Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Cần Thơ, trang wed Du lịch Việt Nam để tìm hiểu thực trạng về du lịch tại Cần Thơ
Mục tiêu 2: Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích bảng chéo (Cross – Tabulation), mức sẵn lòng chi trả (Willingness to pay) để phân tích tiềm năng của phố đi bộ trong việc pháp triển du lịch và tìm hiểu nhu cầu của du khách về phố đi bộ
Mục tiêu 3: Tổng hợp những phân tích trên và tham khảo các ý kiến từ chuyên gia đề tài đề xuất các giải pháp để giúp phố đi bộ thu hút được khách
du lịch
Thống kê mô tả là các phương pháp có liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu
Một số đại lượng thống kê mô tả được sử dụng:
Số trung bình cộng (Mean): bằng tổng tất cả các giá trị lượng biến quan sát chia cho số quan sát
Mode (Mo): là giá trị có tần số xuất hiện cao nhất trong tổng số hay trong một dãy số phân phối
Phân tích bảng chéo (Cross-tabulation): là một kỹ thuật thống kê mô tả hay hay ba biến cùng một lúc và bảng kết quả phản ánh sự kết hợp hai hay nhiều biến có số lượng hạn chế trong phân loại hoặc trong giá trị phân biệt
Trang 28CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG DU LỊCH THÀNH PHỐ CẦN THƠ
3.1 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
3.1.1 Vị trí địa lí
Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng trung - hạ lưu và ở vị trí trung tâm châu thổ sông Cửu Long, trải dài trên 55 km dọc bờ tây sông Hậu, tổng diện tích tự nhiên 1.400,96 km2, chiếm 3,49% diện tích toàn vùng Phía bắc giáp tỉnh An Giang; phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long; phía tây giáp tỉnh Kiên Giang; phía nam giáp tỉnh Hậu Giang Tọa độ địa lý, TP Cần Thơ nằm trong giới hạn 105 độ13'38" - 105 độ 50'35" kinh độ Đông và 9 độ 55'08" - 10
độ 19'38" vĩ độ Bắc Về tổ chức hành chính, Tp Cần Thơ gồm 5 quận (Ninh Kiều, Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn và Thốt Nốt) và 4 huyện (Phong Điền, Cờ
Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thới Lai) với 85 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn
3.1.2.2 Khí hậu
Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng khí hậu của đồng bằng sông Cửu Long với các đặc điểm chung: nền nhiệt dồi dào, biên độ nhiệt ngày - đêm nhỏ; các chỉ tiêu khí hậu (ánh sáng, lượng mưa, gió, bốc hơi, ẩm độ không khí ) phân hóa thành hai mùa tương phản mùa mưa và mùa khô
3.1.2.3 Tài nguyên nước
Nơi đây có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt Trong đó: sông Hậu là con sông lớn nhất với tổng chiều dài chảy qua thành phố là 65 km Tổng lượng nước sông Hậu đổ ra biển khoảng 200 tỷ m3/năm (chiếm 41% tổng lượng nước của sông Mê Kông), lưu lượng nước bình quân tại Cần Thơ
Trang 29Cần Thơ dài 16 km, đổ ra sông Hậu tại bến Ninh Kiều Sông Cần Thơ có nước ngọt quanh năm, vừa có tác dụng tưới nước trong mùa cạn, vừa có tác dụng tiêu úng trong mùa lũ và có ý nghĩa lớn về giao thông, phát triển du lịch sinh
thái [15]
3.1.2.4 Tài nguyên đất
Đất ở Cần Thơ, có hai nhóm đất chính là nhóm đất phù sa (chiếm 84% diện tích tự nhiên, bao gồm 5 loại đất) và nhóm đất phèn (chiếm 16% diện tích
tự nhiên, bao gồm 3 loại đất)
Cần Thơ nằm ở khu vực bồi tụ phù sa nhiều năm của sông Mê Kông, có địa hình rất đặc trưng cho dạng địa hình đồng bằng
3.1.2.5 Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản của thành phố bao gồm: đất sét làm gạch ngói với trữ lượng 16,8 triệu m3, đất sét dẻo, cát xây dựng với trữ lượng 70 triệu m3, than bùn với trữ lượng 30.000 - 150.000 tấn
3.1.3 Cơ sở hạ tầng
3.1.3.1 Hệ thống cung cấp điện
Hiện nay, thành phố Cần Thơ được cấp điện chủ yếu từ nguồn điện lưới quốc gia (qua đường dây 220 kV Cai Lậy - Trà Nóc và Cai Lậy - Rạch Giá) và nhà máy nhiệt điện Trà Nóc (tổng công suất 193,5 MW) cung cấp điện cho thành phố qua đường dây 110 KV và 6 trạm biến áp
Ngoài nguồn cung cấp trên thành phố được Thủ tướng cho phép xây dựng dự án Trung tâm điện lực Ô Môn với tổng công suất cho 4 nhà máy 2.700 MW bao gồm: Ô môn 1: 600 MW, Ô môn 2: 720 MW; nhà máy điện FO/khí 660 MW và Ô Môn 4: 720 MW Hiện nay, nhà máy tổ máy số 1 đã vận hành vào năm 2009
Thoát nước: Hệ thống thoát nước hiện chỉ tập trung chủ yếu tại các phường trung tâm của quận Ninh Kiều, vừa thoát nước mưa, vừa thoát nước thải sinh hoạt Tổng chiều dài hệ thống thoát nước là 23.509 m, đường cống Ø
300 - 1200 mm và 7.216 m các mương xây B=200-500 mm Nhìn chung, hệ
Trang 30thống thoát nước trên địa bàn nội thị còn kém và đang xuống cấp, hệ thống
thoát nước tại các trung tâm thị trấn không đủ năng lực tải
3.1.3.3 Hệ thống giao thông
Hệ thống giao thông đường bộ: Toàn thành phố có 2.762,84 km đường (nếu không tính đường xã ấp, toàn thành phố có 698,548 km đường); trong đó
có 123,715 km quốc lộ; 183,85 km đường tỉnh; 332,87 km đường huyện; 153,33 km đường đô thị; 1.969,075 km đường xã ấp khu phố với 3,98% mặt đường bê tông nóng, 26,26% nhựa, 27,74% rải đá, 17,44% cấp phối, còn lại là đường đất phần lớn sử dụng cho người đi bộ và xe 2 bánh với quy mô và tải trọng nhỏ
Hệ thống giao thông đường sông: Mạng lưới đường thủy trên địa bàn có tổng chiều dài 1.157Km, trong đó có khoảng 619 km có khả năng vận tải cho loại phương tiện trọng tải từ 30 tấn trở lên (độ sâu trung bình >2,5m) Gồm: 6 tuyến do Trung ương quản lý (sông Hậu, sông Cần Thơ, kênh Cái Sắn, kênh Thị Đội, rạch Ô Môn, kênh Xà No) với tổng chiều dài 132,88 km, đảm bảo cho phương tiện trọng tải từ 100 - 250 tấn hoạt động… Các tuyến đường sông
do thành phố quản lý: 4 tuyến do thành phố quản lý (kênh Thốt Nốt, kênh Bà Đầm, rạch Cầu Nhiếm, rạch Ba Láng) tổng chiều dài 81,45Km, đảm bảo cho phương tiện trọng tải từ 30 - 50 tấn hoạt động được Các tuyến đường sông do quận - huyện quản lý: 40 tuyến do quận - huyện quản lý, tổng chiều dài 405,05Km, đảm bảo cho phương tiện trọng tải từ 15 - 60 tấn hoạt động được Giao thông hàng không: Sân bay Cần Thơ là sân bay lớn nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đã chính thức đi vào hoạt động khai thác thương mại các tuyến quốc nội từ năm 2009
Hệ thống các công trình phục vụ giao thông: Cầu Cần Thơ bắc qua sông Hậu, đã hoàn thành và đưa vào sử dụng ngày 24 tháng 4 năm 2010 Ngoài ra,
hệ thống cảng đang được nâng cấp, gồm: Cảng Cần Thơ (Càng Hoàng Diệu)
có thể tiếp nhận tàu biển có tải trọng 10.000 - 20.000 DWT ; cảng Trà Nóc có
3 kho chứa lớn với dung lượng 40.000 tấn, khối lượng hàng hóa thông qua cảng có thể đạt 200.000 tấn/năm, có thể tiếp nhận tàu 2.500 DWT Cảng Cái Cui là cảng mới được xây dựng có thể phục vụ cho tàu từ 10.000 - 20.000 DWT, khối lượng hàng hóa thông qua cảng là 4,2 trịêu tấn/năm, đã hoàn thành công trình giai đoạn I vào tháng 4 năm 2006; đang triển khai đầu tư giai đoạn
2 Sau khi thực hiện xong dự án nạo vét và xây dựng hệ thống đê tại cửa biển Quan Chánh Bố, cảng Cái Cui sẽ là cảng biển quốc tế tại TP Cần Thơ Nhìn chung hệ thống giao thông và công trình phục vụ giao thông đáp ứng nhu cầu
Trang 31phát triển kinh tế - xã hội tại thời điểm hiện nay Trong thời gian tới, thành
phố sẽ tiếp tục đầu tư phát triển hoàn thiện hơn [15]
3.1.3.4 Thông tin liên lạc
Hệ thống bưu chính viễn thông của thành phố Cần Thơ được trang bị hiện đại, công nghệ cao, chất lượng đồng bộ, nối mạng hoàn chỉnh đến tất cả các tỉnh - thành trong nước và quốc tế
Về bưu chính: 01 doanh nghiệp nhà nước và 24 doanh nghiệp tư nhân đóng trên địa bàn đảm nhận, có hệ thống ổn định với 35 bưu cục, 48 điểm bưu điện văn hóa xã và 216 đại lý bưu điện, điểm giao dịch chuyển phát
Mạng lưới viễn thông được hiện đại hóa, chất lượng đồng bộ, nhiều loại hình dịch vụ hiện đại được triển khai, chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và thông tin liên lạc của vùng; hiện tại, trên địa bàn thành phố có 6 doanh nghiệp đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực viễn thông, internet Công nghiệp công nghệ thông tin có những chuyển biến mới, ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý công việc theo hướng số hóa, hiện có khoảng 150 doanh nghiệp hoạt động; công nghệ phần mềm và nội dung số đang có 5 doanh nghiệp hoạt động
Trang 32Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Cần Thơ
Hình 3.1: Biểu đồ lượng khách du lịch đến Thành phố Cần Thơ
từ năm 2011 – 2013
Từ bảng trên, có thể thấy tổng lượng khách nhìn chung từ năm 2011 đến
2013 đều tăng (năm 2012 tăng 20,81 %, năm 2013 tăng 7,9% so với năm 2011) Tuy nhiên, lượng khách nội địa (năm 2013 tăng 29,69% so với năm 2011) tăng nhiều hơn khách quốc tế (2013 tăng 24,09% so với năm 2011) Khách quốc tế tăng khá chậm (năm 2012 tăng 11,62%, năm 2013 tăng 12,47%
so với năm 2011) Lượng khách quốc tế chỉ bằng khoảng 1/5 so với khách nội địa (khách quốc tế năm 2013/khách nội địa 2013 = 0,20)
Nhìn chung những năm gần đây lượng khách đến Cần Thơ đều tăng Do chúng ta đã tăng cường các hoạt động quảng bá du lịch, không ngừng hoàn chỉnh hệ thống đường sá, cơ sở hạ tầng, nâng cao các dịch vụ du lịch, mở rộng các điểm du lịch mới Thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của du khách
0 200,000
Trang 333.2.1.2 Doanh thu
Doanh thu ngành du lịch Cần Thơ từ năm 2011 – 2013 được tổng hợp qua biểu đồ sau:
Nguồn: Sở Văn hóa – thể thao và du lịch Cần Thơ
Hình 3.2: Doanh thu ngành du lịch Cần Thơ từ năm 2011 đến năm 2013 Thông qua biểu đồ trên cho thấy, doanh thu ngành du lịch Cần Thơ trong
3 năm từ năm 2011 đến năm 2013 đều tăng Cụ thể, năm 2013 doanh thu tăng 124,858 tỷ đồng (tăng 16,4%) so với năm 2011, năm 2012 doanh thu tăng 89,895 tỷ đồng (tăng 11,8%) so với năm 2011 Doanh thu năm 2013 tăng nhiều hơn (4,6%) so với doanh thu năm 2012 Đây là tín hiệu đáng mừng cho ngành du lịch Cần Thơ, góp phần phát triển kinh tế địa phương, tăng thu nhập cho người dân
Lý giải cho điều này thì theo ông Trần Việt Phường, Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch Cần Thơ cho biết: đạt được kết quả trên là nhờ ngành du lịch địa phương đã nâng cao chất lượng, sản phẩm du lịch, dịch vụ phục vụ, ẩm thực Sở cũng đa dạng hóa các loại hình sinh thái, sông nước miệt vườn, du lịch văn hóa, du lịch kết hợp hội nghị đáp ứng tốt nhu cầu của khách đang tăng lên Bên cạnh đó, cũng nhờ các dự án du lịch tại cồn Khương, cồn Cái Khế, cụm du lịch Phong Điền, Thốt Nốt, mở rộng phát triển du lịch sinh thái tại cù lao Tân Lộc đưa vào khai thác sử dụng, riêng cụm du lịch Ô Môn-Cờ Đỏ phát
triển mạnh du lịch nông trại đã thu hút đông đảo du khách [4]
Trang 343.2.2 Những điểm đến thu hút khách du lịch tại Thành phố Cần Thơ
* Chợ nổi Cái Răng
Cái Răng là một trong những chợ trên sông nổi tiếng ở miền Tây Nam
Bộ Chợ chuyên mua bán các loại trái cây, nông sản của vùng Sáng sáng, hàng trăm chiếc thuyền lớn bé đậu san sát Bán sản vật gì người ta treo sản vật
đó (treo bẹo) lên cây sào (cây bẹo) trên mũi thuyền vì thế họ không cần phải rao hàng như các chợ trên đất liền
Bên cạnh ghe xuồng mua bán các nông sản tấp nập trên sông, du khách
dễ dàng tận hưởng cảnh “quán cà phê, quán ăn nổi” trong những chiếc xuồng lênh đênh, bồng bềnh trên sông
Vị trí: Chợ nổi Cái Răng thuộc quận Cái Răng, Tp Cần Thơ
* Bến Ninh Kiều
Bến Ninh Kiều hấp dẫn du khách bởi phong cảnh sông nước hữu tình và
vị trí thuận lợi nhìn ra dòng Hậu Giang hiền hòa Điều hấp dẫn du khách của bến là nhà thủy tạ trên sông Nhà thủy tạ là một con tàu nổi bồng bềnh nối bờ bằng một đoạn cầu, hai bên cầu có lan can, khách có thể dừng chân đứng hóng gió Nhà nổi này chính là nhà hàng ăn uống có hai tầng với hàng trăm chỗ ngồi Khách tới nhà nổi, gọi ly nước ngọt, hoặc một xị rượu nếp than nhắm với món lẩu lươn đặc sản địa phương Vừa ăn uống, vừa ngắm cảnh sông Hậu Trên sông đủ loại thuyền ngược thuyền xuôi tấp nập Bến còn có công viên với nhiều loại cây quý, xanh mướt, là nơi vui chơi và sinh hoạt của người dân
Vị trí: Bến Ninh Kiều nằm bên hữu ngạn sông Hậu, ngay ngã ba sông Hậu và sông Cần Thơ, gần trung tâm thành phố Cần Thơ, đường Hai Bà Trưng
* Chợ đêm Tây Đô
Chợ Tây Đô là trung tâm buôn bán lớn của các tỉnh Nam Bộ đồng thời cũng là điểm vui chơi giải trí, du lịch hấp dẫn Chợ Tây Ðô truớc đây là một chợ đầu mối trung chuyển các mặt hàng với nhiều địa phương trong và ngoài nước Bên cạnh chức năng trao đổi hàng hoá, tại đây còn có các dịch vụ ẩm thực, giải trí… Do quy mô hoạt động và tầm quan trọng đối với khu vực nên chợ Tây Đô là một trung tâm buôn bán lớn của các tỉnh Nam Bộ
Vị trí: Chợ Tây Đô cách trung tâm Tp Cần Thơ khoảng 1km về phía tây sông Hậu, tọa lạc trong khu Hội chợ triển lãm quốc tế Cần Thơ
Trang 35* Chợ cổ Cần Thơ
Chợ Cổ Cần Thơ hay gọi là chợ Hàng Dương hay "chợ lục tỉnh", nằm trên đường Hai Bà Trưng Chợ này được xây dựng cùng thời với hai ngôi chợ lớn ở Sài Gòn là chợ Bến Thành và chợ Bình Tây Chợ có một nét rất riêng, rất độc đáo của đồng bằng châu thổ Đêm đêm ghe chở sản vật từ vùng sâu ra, treo đèn trước mũi lấp lánh cả một khúc sông Gần đây Thành phố Cần Thơ đã
có dự án quy hoạch lại khu chợ cổ Cần Thơ với bến tàu du lịch, nhà chờ, gian hàng lưu niệm cho du khách
Vị trí: Đường Hai Bà Trưng, TP Cần Thơ
* Chùa Ông
Chùa Ông là nơi sinh hoạt tín ngưỡng và văn hoá của người Hoa tại Cần Thơ Chùa được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 1993 Chùa Ông có lối kiến trúc độc đáo được giữ gìn gần như nguyên vẹn từ thuở ban đầu Chùa được xây dựng năm 1894 – 1896 trên một khu đất có diện tích chừng 532m² Mái chùa lợp ngói âm dương với các
gờ bó mái bằng những hàng ngói ống men xanh thẫm, trên bờ nóc có vô số hình nhân đủ màu bằng gốm sứ, lưỡng long chầu nguyệt, cá hoá long, chim phụng, ở hai đầu đao là hai tượng người cầm mặt trời, mặt trăng Trong chùa thờ Quan Công, một vị tướng thời Tam Quốc, tấm gương về lòng trung hiếu tiết nghĩa và các vị Quan Âm Nam Hải, Thái Bạch tinh quân, Thổ Địa, Đổng Vĩnh…
Vị trí: Chùa Ông nằm ở đường Hai Bà Trưng, phường Tân An, Quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
* Nhà cổ Bình Thủy
Ngôi nhà cổ năm gian hai mái, kiến trúc kiểu Pháp được gia đình họ Dương xây vào năm 1870 Kiến trúc nhà kiểu Pháp với nền nhà cao hơn mặt sân 1m; có bốn bậc thang hình cánh cung tao nhã, nối kết nhà với khoảng sân rộng, trần cao, trang trí hoa văn, mở nhiều cửa lớn nhỏ với khung sắt khá đơn giản giúp nhà thông thoáng, mặt tiền trang trí phù điêu đắp nổi… Toàn bộ gạch bông hoa hồng đỏ – đen lát nền nhà với hàng rào sắt đúc bảo vệ khuôn viên đều được đặt và chở từ Pháp sang Ðây là mẫu nhà cổ hiếm hoi còn sót lại khá nguyên vẹn giúp các nhà nghiên cứu tìm hiểu đời sống sinh hoạt, văn hoá cũng như tiến trình phát triển dưới tác động khác nhau lúc giao thời giữa hai thế kỷ của cư dân ÐBSCL
Vị trí: Nhà cổ Bình Thuỷ nằm trên đường Bùi Hữu Nghĩa phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, TP Cần Thơ
Trang 36* Vườn cò Bằng Lăng
Vườn cò Bằng Lăng – một trong những sân chim lớn nhất nơi miệt vườn chín dòng sông Trên đường từ Cần Thơ về thành phố Long Xuyên (An Giang), qua khỏi thị trấn Thốt Nốt chừng 5km là đến vườn cò Bằng Lăng Đi dọc theo bờ sông nhỏ, dưới những hàng cây rợp bóng trước một vùng nước trắng mênh mông như biển, đó là ruộng lúa đã gặt xong vào mùa nước nổi Tại đây, bạn có thể thấy hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn con cò (cò trắng, cò xám,
cò đen, cồng cộc) chao cánh và sà xuống những cành trúc la đà, đong đưa theo gió, rối rít gọi đàn…
Vị trí: Vườn cò Bằng Lăng thuộc ấp Thới Bình, xã Thới Thuận, huyện Thốt Nốt, TP Cần Thơ
Vị trí: Vườn Cần Thơ có khá nhiều ở các tuyến đường bộ, đường thủy tại
Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Thành phố Cần Thơ
Với số lượng khách sạn từ 1 đến 4 sao kể trên, ngành dịch vụ khách sạn tại Cần Thơ có thể nói đã đáp ứng phần nào nhu cầu ngày càng cao của du
Trang 37khách Bên cạnh đó, còn rất nhiều khách sạn đạt chuẩn và chưa xếp hạng đang hoạt động tại Cần Thơ để phục vụ cho lượng khách ngày càng tăng
Thông qua bảng trên, có thể thấy số lượng các khách sạn đều tăng qua các năm Điều này cho thấy rằng, ngành khách sạn tại Cần Thơ ngày càng phát triển để đáp phục vụ cho lượng khách ngày càng tăng Góp phần phát triển kinh tế địa phương, tạo thêm việc làm, nâng cao đời sống của người dân
du lịch
Bên cạnh đó, với số lượng khá nhiều đơn vị kinh doanh lữ hành như thế làm gia tăng mức độ cạnh tranh của các đơn vị Tạo động lực để các đơn vị hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm
3.4 THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
3.4.1 Thuận lợi
- Nằm ở vị trí trung tâm của vùng ĐBSCL, thuận lợi trong việc giao lưu
phát triển kinh tế Bên cạnh đó, thuận lợi trong việc liên kết phát triển du lịch với các tỉnh lân cận Điển hình như liên kết với An Giang, Cà Mau, Bạc Liêu
và Cà Mau hình thành nên tour “Một điểm đến bốn địa phương”
- Lượng khách nội địa và quốc tế đều tăng qua các năm
- Ngành dịch vụ khách sạn, lữ hành, nhà hàng phát triển giúp thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của du khách
- Hình thức du lịch sinh thái vườn, sông nước phát triển Tạo ra sự thu hút cho du khách tham quan khám phá
Trang 38- Hệ thống giao thông ngày càng được mở rộng và chú trọng đầu tư Giúp giảm khoảng cách cũng như thời gian di chuyển Giúp cho chuyến du lịch có hiệu quả hơn
- Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, cơ quan chức năng trong việc xúc tiến phát triển du lịch: Ngày hội bánh nhân gian được tổ chức hằng năm, trật tự được giữ vững, vệ sinh và không gian đô thị được chú trọng,…
- Tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng lớn giúp thuận tiện trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho du lịch
3.4.2 Khó khăn
- Cần Thơ chưa có danh lam thắng cảnh nổi tiếng, có vẻ đẹp nổi bật đặt
trưng cho vùng Chủ yếu phát triển du lịch sông nước, sinh thái
- Chưa có sản phẩm lưu niệm đặt trưng cho du khách, các sản phẩm tương đối trùng lắp, tương đồng so với các tỉnh lân cận
- Thiếu các hoạt động giải trí về đêm, các khu vui chơi giải trí cấp thành phố Du khách chưa có nhiều cơ hội giao lưu, tìm hiểu đời sống văn tinh thần của người dân Các hoạt động về đêm chủ yếu của du khách khi lưu lại Cần Thơ: thưởng thức thức ăn, tham quan thuyền nổi, đi dạo Các hoạt động chưa
có sự đặc trưng
- Trình độ của nhân viên còn hạn chế về nghiệp vụ chuyên môn đặc biệt
là khả năng về tiếng anh
- Một số xã trong khu vực vẫn còn gặp nhiều khó khăn về hạ tầng giao thông: chủ yếu đường đất, đá chưa trải nhựa, đường xuống cấp,
Trang 39CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH TIỀM NĂNG CỦA PHỐ ĐI BỘ TRONG VIỆC PHÁT
TRIỂN DU LỊCH TẠI CẦN THƠ 4.1 SƠ LƯỢC THÔNG TIN VỀ MẪU
4.1.1 Cơ cấu mẫu
Dựa vào phương pháp thu mẫu thuận tiện đề tài đã tiến hành phỏng vấn
119 quan sát Trong đó: 83 khách nội địa; 34 khách quốc tế; 2 chuyên gia Đối với khách quốc tế, đề tài đã sử dụng bảng câu hỏi tiếng Anh để phỏng vấn và địa điểm phỏng vấn là Thành phố Cần Thơ Còn về khách nội địa, đề tài phỏng vấn ở Vĩnh Long và Cần Thơ Tuy nhiên, phần lớn các quan sát đều được thu ở các điểm du lịch tại Cần Thơ
4.1.2 Thông tin cá nhân
Trang 40nhóm tuổi Nhóm tuổi có số lượng khách ít nhất là từ 59 tuổi trở lên Do trong quá trình phỏng vấn đây là nhóm tuổi khó tiếp cận vì thế tỷ lệ số quan sát rất thấp
Giới tính
Qua bảng trên, nhìn chung lượng khách nữ luôn cao hơn lượng khách nam Khách quốc tế: nữ chiếm 58,8%, nam chiếm 41,2%; khách nội địa: nữ chiếm 61,4% và nam chiếm 38,6% Ở nhóm khách nội địa, chênh lệnh giữa lượng khách nam và nữ khá cao (22,8%) Điều này cũng chính là hạn chế của phương pháp chọn mẫu thuận tiện tạo ra sự chênh lệnh giữa lượng du khách nam và nữ
4.1.2.2 Trình độ học vấn
Đề tài cũng tiến hành tính tỷ lệ phần trăm trình độ của du khách và thống
kê trong bảng bên dưới
Nguồn: Số liệu khảo sát năm 2014
Qua bảng trên, dễ dàng nhận thấy lượng khách có trình độ Trung cấp/Cao đẳng/Đại học có tỷ lệ cao nhất (chiếm 76,1%), tiếp theo đó là lượng khách có trình độ Sau Đại học chiếm 11,1% Điều này chứng tỏ rằng, với xu thế phát triển của thế giới cũng như ở Việt Nam thì trình độ của nhân dân nói chung và của du khách nói riêng ngày càng được cải thiện Với xu thế hội nhập và chú trọng giáo dục, đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự trang bị kiến thức cho mình để tiếp cận với nền văn minh hiện đại Ngoài ra, tỷ lệ du khách có trình
độ Phổ thông và thấp hơn (khác) chiếm tỷ lệ thấp (8,5% và 4,3%) Cho thấy, trình độ học vấn của du khách ngày càng được cải thiện minh chứng cho điều này là tỷ lệ Trung cấp/Cao đẳng/Đại học và Sau Đại học cao còn trình độ Phổ thông và thấp hơn chiếm tỷ lệ thấp