1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu thành phần và sản lượng khai thác hải sản ở tỉnh tiền giang

13 477 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 141,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một trong những nghề khai thác thuỷ sản mang tính chủ động, lưới vây luôn được nghiên cứu áp dụng nhiều thành tựu tiên tiến như: máy dò cá đứng, máy dò cá ngang, máy định vị, máy khoa

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THÚY VY

TÌM HIỂU THÀNH PHẦN VÀ SẢN LƯỢNG KHAI THÁC

HẢI SẢN Ở TỈNH TIỀN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

TS TRẦN ĐẮC ĐỊNH

2014

Trang 2

TÌM HIỂU THÀNH PHẦN VÀ SẢN LƯỢNG KHAI THÁC HẢI SẢN Ở

TỈNH TIỀN GIANG

Nguyễn Thúy Vy, Trần Đắc Định Khoa Thủy Sản - Đại Học Cần Thơ Email: vy115370@student.ctu.edu.vn

ABSTRACT

The study of fish composition and yield in Tien Giang Province was conducted from September to November 2014 Study subjects are composition and seafood exploited

by seines Major fishing grounds of the light seines from the 6 0 30' North Latitude and 14 0 , to 106 0 to 117 0 Beijing East coast is mainly the Southeast The results showed that in the early 6 months of 2014 Tien Giang Province has 1,119 fishing vessels, including 109 fishing vessels of light seines , except for one vessel with a capacity of less than 90 HP, most of them are more than 90 HP Total fisheries resources reached 46, 804 tons of seafood, compared to the same period in 2013 reached 97.63%, which seine reached 4,699 tons of fisheries resources Ingredients seafood operators of Tien Giang province are complicated The mainly object of light seines operators are Decapterus, Thunnus, Carangoides.Yield of Decapterus

is 15,000 kg/month, amount of Thunnus is over 5,000 kg/month, Carangoide is over 3,000 kg in total production of a fishing trip of light seines fishermen

Key words: light seines, Tien Giang, Fish composition, Yield

Title: fish composition and yield in Tien Giang

TÓM TẮT

Nghiên cứu về thành phần và sản lượng khai thác hải sản ở tỉnh Tiền Giang được thực hiện từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2014 Đối tượng nghiên cứu chính là thành phần và sản lượng hải sản khai thác bằng nghề lưới vây Ngư trường khai thác chủ yếu của lưới vây kết hợp ánh sáng từ 6 0 30’ đến 14 0 Vĩ Bắc, đến 106 0 đến 117 0 Kinh

Đông vùng biển Đông Nam Bộ là chủ yếu Kết quả nghiên cứu 6 tháng đầu năm

2014 cho thấy toàn tỉnh Tiền Giang có 1.119 tàu khai thác, trong đó có 109 tàu lưới vây kết hợp ánh sáng, trừ 1 tàu có công suất nhỏ hơn 90 CV, còn lại đều có công suất trên 90 CV Tổng sản lượng khai thác toàn tỉnh Tiền Giang đạt 46.804 tấn hải sản, so với cùng kì năm 2013 đạt 97,63%, trong đó lưới vây đạt sản lượng khai thác 4.699 tấn Thành phần hải sản khai thác trên địa bàn Tiền Giang rất đa dạng

Đối tượng khai thác lưới vây ánh sáng chủ yếu là cá nục (Decapterus), cá ngừ

(Thunnus), cá tráo (Carangoides fulvoguttatus) Sản lượng khai thác của cá nục qua các tháng luôn trên 15.000 kg, cá ngừ trên 5.000 kg, cá tráo trên 3.000 kg trong tổng sản lượng một chuyến biển của ngư dân lưới vây

Trang 3

Từ khóa: lưới vây kết hợp ánh sáng, Tiền Giang, thành phần và sản lượng khai thác

1 GIỚI THIỆU

Là một tỉnh thuộc vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long và nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Tiền Giang là một vùng đất nổi trội hơn hẳn Không chỉ với

đất đai màu mỡ, phì nhiêu, thuận lợi cho trồng trọt mà còn được thiên nhiên ưu ái

cho đường bờ biển dài 32km trải dọc bên bờ Bắc sông Tiền thuận lợi để phát triển nuôi trồng và khai thác thủy hải sản Ngành nghề khai thác hải sản ở Tiền Giang đa dạng và thành phần loài hải sản phong phú cũng không kém Để bảo tồn nguồn tài nguyên hải sản và nâng cao hiệu quả kinh tế, Khai thác xa bờ đang dần được đẩy mạnh và lưới vây là một trong những nghề cá được quan tâm hiện nay Lưới vây là một trong những ngư cụ khai thác chính của ngư dân nước ta, chuyên khai thác tôm,

cá theo đàn số lượng lớn Là một trong những nghề khai thác thuỷ sản mang tính chủ động, lưới vây luôn được nghiên cứu áp dụng nhiều thành tựu tiên tiến như: máy dò cá đứng, máy dò cá ngang, máy định vị, máy khoa học kỹ thuật thu lưới, vây ánh sáng, lưới vây chà rạo, Tiền Giang là một trong những tỉnh trong Đồng Bằng Sông Cửu Long cải tiến kỹ thuật cho lưới vây sớm nhất

Tình hình thời tiết trong năm 2013 diễn biến tương đối phức tạp và hoạt động trên Biển Đông nhiều hơn so với mọi năm và gây ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động khai thác của các đội tàu khai thác của tỉnh Do đó, sản lượng khai thác của các đội tàu trong năm 2013 chỉ đạt khoảng 73.850 tấn, giảm gần 20% so với sản lượng khai thác hải sản năm 2012 Nhưng do giá sản phẩm khai thác ổn định và luôn đứng ở mức cao, nhất là những tháng cuối năm nên các đội tàu khai thác đều có lãi, lãi trung bình từ 27 triệu đến 150 triệu đồng/tàu/năm tùy theo từng loại nghề Riêng đội tàu làm nghề lưới kéo đôi, lưới vây kết hợp ánh sáng và câu tay là 03 loại nghề hoạt

động hiệu quả nhất trong năm, lãi trung bình từ 100 triệu đến 470 triệu đồng/tàu/năm tùy theo từng loại nghề (Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn

tỉnh Tiền Giang, 2013) So với một số nghề khai thác, nghề lưới vây tuy ra đời sau nhưng sản lượng đóng góp chiếm gần 30% - 40% tổng sản lượng khai thác cá biển hằng năm

Trong những năm trở lại đây, khai thác hải sản dần giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh Tiền Giang nhưng những thông tin, bài nghiên cứu về hiện trạng khai thác nghề khai thác và thành phần hải sản khai thác của tỉnh vẫn chưa được tìm

hiểu cụ thể, rõ ràng Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, đề tài “Tìm hiểu thành phần và sản lượng khai thác hải sản ở tỉnh Tiền Giang” đã được thực hiện để

xác định sản lượng, thành phần loài hải sản và ngành nghề khai thác mang tính đặc trưng và hiệu quả kinh tế mà tỉnh Tiền Giang đã đang thực hiện trong những năm gần đây

Trang 4

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được thực hiện từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2014

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là các ngư dân khai thác bằng nghề lưới vây tại thành phố Mỹ Tho và Huyện Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang

2.3 Phương pháp thu và xử lý số liệu

2.3.1 Phương pháp thu số liệu

Thông tin thứ cấp: số liệu được thu thập từ kết quả các nghiên cứu, bài báo cáo khoa học trước đó, báo cáo tổng kết của chi cục thủy sản tỉnh Tiền Giang, Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Tỉnh Tiền Giang Thông tin sơ cấp: sử dụng Phiếu phỏng vấn trực tiếp từ các tàu thuyền khai thác thủy sản tại Tiền Giang Phương pháp thu thập: tiến hành phỏng vấn trực tiếp các tàu khai thác lưới vây tại Cảng Mỹ Tho-Tp Mỹ Tho và Ấp Lăng-Huyện Gò Công Đông Mỗi tháng thu 1 lần, mỗi lần thu 15 mẫu ngẫu nhiên các hộ làm nghề khai thác lưới vây và thu liên tục trong 3 tháng bắt đầu thu từ tháng 9 đến tháng 11 Tổng số mẫu sau 3 tháng là 45 mẫu

2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu sẽ được kiểm tra kỹ, mã hóa và nhập vào máy tính, sau đó được kiểm tra và tính toán các chỉ tiêu cần thiết (Lê Xuân Sinh, 2010) thông qua việc sử dụng phần mềm SPSS for Windows.Các phương pháp phân tích sau đây dự kiến được sử dụng trong đề tài là Phương pháp thống kê mô tả: Số liệu đã xử lí sẽ được tính toán theo tần suất xuất hiện, giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, độ lệch chuẩn thông qua phương pháp phân tích tần số và sao đó dựa trên phân tích tần số,đánh giá, xếp hạng các đối tượng theo thứ tự quan trọng và Phương pháp phân tích chi phí, lợi ích: lập bảng hạch toán phân tích chi phí, thu nhập của nghề lưới vây cho số liệu đã xử lý thông qua đó đánh giá lại hiệu quả kinh tế mà loài cá kinh tế, nghề lưới vây mang lại cho ngư dân sau một chuyến biển cũng như cho tỉnh Tiền Giang

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Hiện trạng nghề lưới vây ở Tiền Giang

Hình thức khai thác lưới vây ở tỉnh Tiền Giang chủ yếu là khai thác xa bờ, các tàu khai thác hoạt động ở độ sâu 40-50m ở các chủ yếu là ngư trường vùng biển Đông Nam Bộ, một số ít là ở các vùng biển khác như Trường Sa Thời gian hoạt động của nghề luới vây hầu như diễn ra quanh năm và mùa vụ khai thác có thể chia làm hai mùa là chính và phụ Mùa chính bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 âm lịch, ở thời

điểm gió mùa Tây Nam, thời tiết khá ổn định, đảm bảo thời gian hoạt động trên biển

dài ngày Sản lượng chiếm 60% tổng sản lượng trong năm và chủ yếu là cá nục, cá ngừ, cá tráo, cá bạc má Mùa phụ bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 âm lịch năm sau,

Trang 5

vào thời điểm này ngay gió mùa Đông Bắc, biển động, số mẻ lưới giảm và cho sản lượng không cao Vì thế thời gian cho một mẻ lưới vào mùa chính kéo dài từ 4 đến

5 giờ, trong những tháng biển động sẽ phải kéo dài từ 5 đến 6 giờ (Chi cục thủy sản tỉnh Tiền Giang, 2014) Nghề lưới vây hoạt động phụ thuộc vào tuần trăng nhưng riên ở hai địa bàn nghiên cứu Ấp Lăng và Cảng Mỹ Tho, thời gian các chủ tàu đi một chuyến biển kéo dài từ một tháng rưỡi đến hai tháng nên sẽ không phụ thuộc vào tuần trăng, trong thời gian đó số mẻ lưới/chuyến các chủ tàu thả trung bình khoảng 77 mẻ lưới

Nghề lưới kéo và lưới vây kết hợp ánh sáng là 2 loại nghề phát triển mạnh nhất của tỉnh Sản lượng khai thác chiếm trên 50% tổng sản lượng khai thác của tỉnh Đây cũng là những nghề hoạt động có hiệu quả cao hơn so với các nghề khác của tỉnh như: nghề câu, lưới rê, đăng, te…Bên cạnh việc phát triển các đội tàu có nghề khai thác hiệu quả thì hiện tại tỉnh Tiền Giang đang khuyến khích phát triển đội tàu hành nghề dịch vụ khai thác hải sản, đây là loại nghề có thế mạnh tại địa phương với số lượng hiện tại gần 185 tàu nhằm phục vụ cho việc cung ứng nguyên liệu cũng như việc tiêu thụ sản phẩm sau thu hoạch cho các tàu cá khai thác trong và ngoài tỉnh Qua nghiên cứu, tỉnh Tiền Giang có hai địa bàn nghề lưới vây đang được địa phương đẩy mạnh phát triển là huyện Gò Công Đông và Thành phố Mỹ Tho Tại

đây nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng là phổ biến Trong tổng số 45 mẫu tàu

khai thác lưới vây được khảo sát, có 21 mẫu (46,67%) là thuộc Cảng Mỹ Tho-thành phố Mỹ Tho, và 24 mẫu (53,33%) thuộc Ấp Lăng, huyện Gò Công Đông

Bảng 1: Giới tính và số năm kinh nghiệm của ngư dân

2 Số năm

kinh nghiệm

Trong quá trình phỏng vấn, ở cả hai địa bàn nghiên cứu đều có nữ là chủ quản lý các đội tàu nhưng thuyền trưởng các tàu (những người trực tiếp tham gia đánh bắt) 100% đều là nam giới cho thấy công việc này rất nặng nhọc và đòi hỏi phải có sức bền bỉ nên nữ ngoài quản lý tàu thì không tham gia trực tiếp vào việc đánh bắt trên biển Độ tuổi của các chủ tàu trung bình là 48,33±5,21 tuổi, trong đó lớn nhất là 60 tuổi và nhỏ nhất là 42 tuổi Số năm kinh nghiệm đối với nghề khai thác lưới vây có 77.78% các chủ tàu có kinh nghiệm từ 5-10 năm và còn lại 22,22% có trên 10 năm kinh nghiệm Điểm chung cho các mẫu số liệu ở hai địa bàn nghiên cứu là các chủ tàu lưới vâ đều trên 40 tuổi và có kinh nghiệm trên 5 năm, cho thấy các chủ tàu đều

là dân lành nghề và phần lớn nhà của họ có truyền thống làm khai thác biển và được tiếp nối, truyền từ đời này sang đời khác Nghề khai thác lưới vây xa bờ ở tỉnh Tiền

Trang 6

Giang đòi hỏi ngoài chủ tàu cần phải có các nhân công phụ giúp Theo số liệu khảo sát được, số nhân công thuê mướn của các chủ tàu trung bình 18,47±1,46 nhân công, trong đó thấp nhất là 14 người và nhiều nhất là 20 người nhưng nhận xét chung lại các chủ tàu lưới vầy cần trên 10 người nhân công mới có thể thực hiện

đầy đủ các công việc từ khâu chuẩn bị đến khâu thả lưới, thu lưới, đánh bắt,… trong

một chuyến biển.Công suất của tàu lưới vây tỉnh Tiền Giang được tổng kết trong Bảng 2

Bảng 2: Công suất hoạt động của tàu

Công suất hoạt động các tàu khai thác biển trung bình ở Cảng Mỹ Tho-Tp.Mỹ Tho

là 375±36,94CV, ở Ấp Lăng-huyện Gò Công Đông là 385±35,01CV Các tàu ở Cảng Mỹ Tho công suất hoạt động thấp nhất là 315CV, lớn nhất là 450CV, tàu ở

Ấp Lăng công suất hoạt động cao nhất cũng là 450CV và thấp nhất là 330CV Kết

quả trên cho thấy tàu khai thác hoạt động ở mức công suất trên 90CV (công suất vừa và lớn) và các tàu đều hoạt động xa bờ

3.2 Thành phần loài và sản lượng khai thác

Các đối tượng khai thác chủ yếu tùy theo mùa vụ khai thác và vị trí khai thác từng tàu lưới vây sẽ cho số đối tượng khai thác và sản lượng khai thác khác nhau theo mỗi tàu và mỗi tháng khai thác Đối tượng đánh bắt của lưới vây chủ yếu là cá nổi

và các đối tượng đó là:

Cá nục (Decapterus): là loài sống ở tầng mặt và tầng giữa, vùng ven bờ và ngoài khơi.Từ tháng 4 đến tháng 9, cá di cư vào bờ kiếm mồi và chuẩn bị cho mùa sinh sản và tháng 11 đến tháng 3 năm sau, chúng sẽ đi ra xa bờ và ở độ sâu lớn hơn

Cá ngừ (Thunnus): là loài cá phân bố ở Việt Nam với diện tích rộng và trữ lượng lớn Với vùng biển Đông Nam Bộ, chúng đa dạng và phong phú về thành phần loài Vào tháng 4 đến tháng 8 âm lịch là mùa sinh sản, chúng di cư từ Đông sang Tây Mùa khai thác từ tháng 4 đến tháng 7 kể cả ven bờ hay ngoài khơi

Trang 7

Cá ngân (Atule mate): ở Việt Nam, cá ngân phân bố ở vùng biển Bến Tre, Kiên

Giang, Phú Quốc là nhiều mùa vụ sinh sản từ tháng 4 đến tháng 10 và sinh sản

nhiều nhất tháng 6 tháng 7

Cá tráo (Carangoides fulvoguttatus): phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam Ở

Việt Nam trữ lượng ở vùng biển Đông Nam Bộ không lớn, nhưng mùa vụ khai thác

chúng diễn ra quanh năm

Cá bạc má (Rastrelliger kanagurta): sống chủ yếu tầng mặt và tầng giữa, có tính

liên kết bầy đàn và nhạy cảm với biến động môi trường Mùa sinh sản từ tháng 5

đến tháng 9 âm lịch và chúng thường di cư vào bờ để sinh sản

Cá thu (Scomberomorus commerson): loài cá có nguồn dinh dưỡng cao Tháng 1

chúng tập trung lại thành đàn và bắt đầu di chuyển vào bờ, tháng 4 đến tháng 7 âm

lịch là mùa sinh sản của cá thu

Bảng 3 dưới đây thống kê tần suất khai thác của các đối tượng theo hai địa bàn

Cảng Mỹ Tho (Tp.Mỹ Tho) và Ấp Lăng (huyện Gò Công Đông), tần suất mỗi loài

tính trên số mẫu thu thập của từng địa bàn

Bảng 3: Tần suất khai thác

TT Loài

Số người phỏng vấn % Số người phỏng vấn %

Ở Cảng Mỹ Tho, có 21 chủ tàu được phỏng vấn 21 chủ tàu này đều đánh bắt được

đối tượng cá nục trong chuyến biển, tần suất cá nục chiếm 100% Đối tượng cá tráo

có tần suất đứng thứ hai 95,24% Tiếp đến lần lượt là các đối tượng cá bạc má,cá

ngừ, cá ngân, cá thu với tần suất lần lượt là 90,48%, 52,33%, 47,62%, 14,29% Ở

Ấp Lăng 24 chủ tàu lưới vây được phỏng vấn đều đánh bắt được cá nục và cá tráo,

tần suất của hai đối tượng này đều là 100% Đứng thứ hai với tần suất khai thác

thấp hơn là cá bạc má với 87,50% Các loài như cá ngừ , cá ngân, cá thu xuất hiện

thấp hơn nữa và lần lượt là 70,83%, 45,83%, 8,33% Tổng kết lại cả hai địa bàn

trên, đối tượng khai thác lưới vây chủ yếu nhất là cá nục Tiếp đến, đối tượng khai

thác nhiều thứ hai là cá tráo và thấp nhất là cá Thu, vì vùng biển Đông Nam Bộ, cá

Nục phân bố tại đây với số lượng khá lớn và đa dạng thành phần loài hơn các loại

Trang 8

cá khác, và cá Thu ngay thời điểm nghiên cứu đã qua mùa sinh sản nên xuất hiện

với tần số thấp trong các đối tượng đánh bắt của tàu lưới vây

Sản lượng bình quân cho một chuyến biển của tàu khai thác bằng lưới vây mức trung bình là 23.177,78±2.249,13 kg, trong đó sản lượng khai thác thấp nhất là 20.000kg/chuyến biển và cao nhất là 27.000 kg/chuyến biển Các tàu khai thác lưới vây kết hợp ánh sáng đều hoạt động ở mức công suất >90 CV ở hai địa bàn nghiên

cứu Cụ thể trung bình sản lượng cá kinh tế khai thác như sau:

Bảng 4: Sản lượng cá kinh tế

TT Loài

Sản lượng trung

bình (kg)

Độ lệch chuẩn

Sản lượng trung

bình (kg)

Độ lệch chuẩn

Tại Ấp Lăng, sản lượng cá ngừ đạt 5.011,76±1.995,90 kg, cá nục đạt sản lượng 14.504,17±4.290,08 kg Đối với cá ngân, Ấp Lăng đạt 2.136,36±868,65 kg, cá thu với sản lượng trung bình đạt được là 52,50±3,54 kg Cá tráo đạt 3.312,50±818,44

kg Sản lượng cá bạc má đạt 1.785,71±623,93 kg

Tại Cảng Mỹ Tho, ản lượng cá ngừ đạt 5.800±6.381,22 kg Cá nục đạt sản lượng trung bình 15.190,48±3.187,77 kg Sản lượng cá ngân đạt 1.660±587,27 kg Cá thu

đạt được sản lượng là 102,33±84,6 kg Cá tráo, Cảng đạt trung bình 3.325±1.016,64

kg và sản lượng cá bạc má đạt 2.163,36±623,93 kg Qua bảng trên ta thấy được cá nục là đối tượng khai thác chủ yếu của lưới vây kết hợp ánh sáng, cả hai địa bàn nghiên cứu đều có sản lượng cá nục trung bình trên dưới 15.000 kg trong tổng mức sản lượng trung bình

3.3 Phân tích hiệu quả khai thác và thuận lợi khó khăn trong khai thác

Chi phí là một chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá hiệu quả khai thác Trong chi phí bao gồm định phí và biến phí Ta thống kê được,các chủ tàu lưới vây có mức định phí khác nhau, từ mức định phí thấp nhất là 20.000.000 đồng đến cao nhất là 40.000.000, ước lượng mức phí trung bình một chủ tàu phải chịu là 34.766.667

đồng Biến phí được ngư dân phân chia thành chi phí nhiên liệu, chi phí mồi câu, và

Trang 9

chi phí khác Chi phí nhiên liệu là khoản lớn nhất mà mọi chủ tàu phải chịu Do tàu khai thác lưới vây cần 3.000-4.000 lít dầu/chuyến biển, giá xăng dầu lại không ổn

định, nên mức phí có thể lên đến 260.000.000 đồng, thấp nhất cũng ở mức

150.000.000 đồng, vì vậy trung bình phải chi cho nhiên liệu 209.844.444 đồng cho một chuyến biển Chi phí bảo quản lớn thứ hai sau chi phí nhiên liệu, trung bình phải chi từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, tất cả các tàu khảo sát đều hoạt

động công suất >90 CV với sản lượng bình quân/chuyến khoảng 23.000 kg nên

lượng nước đá bảo quản cần cho một chuyến khá lớn Chi phí khác (bao gồm lương thực, sửa chửa nhỏ, v.v ), các khoản phí cộng lại thấp nhất là 29.000.000 đồng, cao nhất là 47.000.000 đồng, mức dao động trung bình là 37.657.333 đồng Thông tin

chi phí từ bảng 5

Bảng 5: Chi phí tính trên một chuyến biển

TT Chi phí (đồng) Giá trị lớn

nhất

Giá trị nhỏ

nhất

Giá trị trung

bình

1 Chi phí

2 Chi phí

biến đổi

Chi phí nhiên liệu

260.000.000 150.000.000 209.844.444

Chi phí bảo quản 40.000.000 20.000.000 31.333.333 Chi phí

khác 47.000.000 29.000.000 37.657.333

Tổng Chi Phí 364.000.000 237.000.000 313.601.778 Mặc dù toàn tỉnh Tiền Giang đã thành lập được 11 tổ hợp tác khai thác và 51 tổ hợp tác sản xuất trên biển để hỗ trợ cho các ngư dân của tỉnh khai thác trong điều kiện tốt hơn và có thể hỗ trợ nhau trong mọi tình huống nhưng do giá thành nhiên liệu, nước đá bảo quản không ổn định nên các khoảng chi phí chi cho công tác chuẩn bị

ra biển của một chuyến biển luôn rất cao Vì vậy tổng chi phí trung bình một chủ tàu lưới vây phải chịu là 313.601.778 đồng trong đó mức thấp nhất cũng là 237.000.000 đồng và cao nhất có thể lên đến 364.000.000 đồng

Theo số liệu từ bảng 6-doanh thu của các đối tượng cá kinh tế khai thác bằng lưới vây thì doanh thu trung bình của cá nục đạt 234.580.000 đồng, ở vị trí cao nhất so với các đối tượng còn lại Tiếp đến là cá ngừ doanh thu bình quân/chuyến biển đạt 63.951.111 đồng Cá tráo cho doanh thu ở vị trí thứ ba là 49.911.110 đồng Sau cá Tráo là cá bạc má và cá ngân với mức doanh thu lần lượt là 47.481.110 đồng và 27.852.220 đồng Ở vị trí thấp nhất về doanh thu là cá thu, vì đang không vào mùa

Trang 10

khai thác và số lượng phân bố ít tại vùng biển Đông Nam Bộ nên doanh thu chỉ đạt

591.000 đồng

Bảng 6: Doanh thu từng loài cá kinh tế

Doanh thu qua mỗi chuyến biển cũng khác nhau do ảnh hưởng của giá cả, giá của các loài cá biến động theo giá thị trường không ngừng Ta chỉ tổng kết giá của loại

cá nục-loài có sản lượng nhiều nhất và loài có sản lượng thấp nhất là cá thu để so sánh Giá cá nục trung bình khoảng 16.000 đồng/kg trong khi cá thu có giá trung bình khoảng 100.000 đồng/kg Sản lượng khai thác nhiều nhưng giá thành không cao là vì cá nục là đối tượng dễ khai thác trên vùng biển Đông Nam Bộ và số lượng phân bố lớn nên giá thành nó thấp hơn so với cá thu-đối tượng khai thác được sản lượng rất nhỏ trong một chuyến chuyến biển Nhưng không vì thế mà doanh thu cá nục thấp, ngược lại giá trị kinh tế cá nục đem lại cho ngư dân lưới vây lớn mà giá trị dinh dưỡng mang đến cho người tiêu dùng cũng rất cao

Sau khi tổng kết chi phí từ các mẫu tàu lưới vây và biết chi phí trung bình một chủ tàu lưới vây phải chịu là 313.601.778 và biết được doanh thu từng loài cá mang lại cho chủ tàu thì xét tiếp đến tổng doanh thu của các loài cá kinh tế Dựa theo bảng 7

dưới đây

Bảng 7: Các Tỷ số tài chính

ĐVT: đồng

TT Chỉ tiêu

Giá trị lớn nhất

Giá trị nhỏ

nhất

Giá trị trung bình

1 Tồng doanh thu 581.500.000 284.600.000 424.366.556

2 Tổng chi phí 364.000.000 237.000.000 313.601.778

3 Lợi nhuận 217.500.000 27.500.000 110.764.778

Ngày đăng: 13/11/2015, 12:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Công suất hoạt động của tàu - tìm hiểu thành phần và sản lượng khai thác hải sản ở tỉnh tiền giang
Bảng 2 Công suất hoạt động của tàu (Trang 6)
Bảng  3  dưới  đây  thống  kê  tần  suất  khai  thác  của  các  đối  tượng  theo  hai  địa  bàn - tìm hiểu thành phần và sản lượng khai thác hải sản ở tỉnh tiền giang
ng 3 dưới đây thống kê tần suất khai thác của các đối tượng theo hai địa bàn (Trang 7)
Bảng 4: Sản lượng cá kinh tế - tìm hiểu thành phần và sản lượng khai thác hải sản ở tỉnh tiền giang
Bảng 4 Sản lượng cá kinh tế (Trang 8)
Bảng 5: Chi phí tính trên một chuyến biển - tìm hiểu thành phần và sản lượng khai thác hải sản ở tỉnh tiền giang
Bảng 5 Chi phí tính trên một chuyến biển (Trang 9)
Bảng 6: Doanh thu từng loài cá kinh tế - tìm hiểu thành phần và sản lượng khai thác hải sản ở tỉnh tiền giang
Bảng 6 Doanh thu từng loài cá kinh tế (Trang 10)
Bảng 7: Các Tỷ số tài chính - tìm hiểu thành phần và sản lượng khai thác hải sản ở tỉnh tiền giang
Bảng 7 Các Tỷ số tài chính (Trang 10)
Bảng 8: Tỷ suất lợi nhuận ròng-ROS và Hiệu suất Chi phí - tìm hiểu thành phần và sản lượng khai thác hải sản ở tỉnh tiền giang
Bảng 8 Tỷ suất lợi nhuận ròng-ROS và Hiệu suất Chi phí (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w