Chính vì thế mà du lịch phải thay đổi từ điểm đến cho đến loại hình từ du lịch tham quan nghỉ dưỡng cho đến du lịch sinh thái, du lịch MICE, du lịch tâm linh….để tìm kiếm nhiều hơn về sự
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
HỌ TÊN TÁC GIẢ NGUYỄN THU HÂN
TÊN ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH TIỀM NĂNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH MẠO
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
HỌ TÊN TÁC GIẢ NGUYỄN THU HÂN
TÊN ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH TIỀM NĂNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH MẠO
Tháng 8 –Năm 2014
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Không gian nghiên cứu 2
1.3.2 Thời gian nghiên cứu 3
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Lược khảo tài liệu 3
CHƯƠNG 2:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Định nghĩa du lịch 5
2.1.2 Định nghĩa khách du lịch 5
2.1.3 Phân loại du lịch 6
2.1.4 Sản phẩm du lịch 8
2.1.5 Du lịch mạo hiểm 9
2.2 Phương pháp nghiên cứu 11
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 11
2.3 Mô hình nghiên cứu 13
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI AN GIANG VÀ SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH MẠO HIỂM Ở VIỆT NAM 3.1 Tổng quan về tình hình phát triển du lịch tại An Giang 16
3.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 16
3.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 18
3.2 Sự phát triển du lịch mạo hiểm ở Việt Nam 25
3.2.1 Điều kiện hình thành du lịch mạo hiểm 25
3.2.2 Một số trò chơi liên quan đến du lịch mạo hiểm 25
3.2.3 Du lịch mạo hiểm ở Việt Nam 27
CHƯƠNG 4 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH MẠO HIỂM CỦA TỈNH AN GIANG 4.1 Phân tích tiềm năng phát triển loại hình du lịch mạo hiểm của tỉnh 31
4.1.1 Điều kiện, cơ sở phục vụ du lịch 31
4.1.2 Tiềm năng phát triển du lịch mạo hiểm 34
4.2 Đánh giá tiềm năng phát triển loại hình du lịch mạo hiểm của tỉnh 37
4.2.1 Giới tính và độ tuổi 37
4.2.2 Trình độ học vấn 38
4.2.3 Thu nhập 39
4.2.4 Số lần đi du lịch và người cùng đi du lịch 39
4.2.5 Nhận biết thông tin 40
4.2.6 Loại hình du lịch 41
4.2.7 Hiểu biết về du lịch mạo hiểm 42
4.2.8 Mục đích đi du lịch mạo hiểm 43
Trang 44.2.9 Thời điểm 44
4.2.10 Thời gian 45
4.2.11 Trò chơi khi đi du lịch mạo hiểm 46
4.2.12 Mức giá chi trả 47
4.2.13 Đánh giá mức độ quan trọng của các tiêu chí khi đi du lịch mạo hiểm 48
4.2.14 Mối quan hệ giữa độ tuổi với việc lựa chọn loại hình du lịch 49
4.2.15 Mối quan hệ giữa thu nhập với mức giá chi trả cho 1 tour du lịch mạo hiểm 50
4.2.16 Mối quan hệ giữa độ tuổi với sự hiểu biết về du lịch mạo hiểm 51
4.2.17 Mối quan hệ giữa mục đích đi du lịch mạo hiểm với việc lựa chọn trò chơi tham gia 52
CHƯƠNG 5 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG NHẰM PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH MẠO HIỂM CỦA TỈNH AN GIANG 5.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 53
5.1.1 Những điều kiện thuận lợi của tỉnh 53
5.1.2 Kết quả nghiên cứu thực tế 54
5.1.3 Ma trận SWOT 55
5.2 Một số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch mạo hiểm 59
5.2.1 Nhóm giải pháp chung 59
5.2.2 Nhóm giải pháp riêng 61
5.3 Định hướng phát triển cho du lịch mạo hiểm ở An Giang 62
CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 6.1 Kết Luận 65
6.2 Kiến nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 5LỜI CẢM TẠ
Qua 4 năm học tập và rèn luyện tại Trường Đại Học Cần Thơ cùng với sự chỉ dạy và hướng dẫn nhiệt tình của thầy cô khoa Kinh Tế - QTKD, đã giúp cho em có những kiến thức quý báu để chuẩn bị tốt hành trang bước vào môi trường thực tế, những kiến thức hữu ích để em hoàn thành luận văn này
Bằng nổ lực của bản thân và sự tâm huyết của các thầy cô khoa Kinh Tế - QTKD trong các môn học đã giúp em có nhiều kiến thức tích lũy để có thể hoàn thành luận văn đặc biệt là nhờ vào sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy Nguyễn Phú Son em mới hoàn thành được luận văn tốt nghiệp của mình
Em xin chân thành cám ơn thầy Nguyễn Phú Son đã tận tình hướng dẫn và góp ý kiến để em có thể hoàn thành luận văn đúng tiến độ
Xin chân thành cám ơn gia đình, thầy cô, bạn bè những người đã cho tôi động lực và những lời khuyên quý báu trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Qua đây cũng xin gửi lời cám ơn đến các du khách ở các tỉnh lân cận như: Kiên Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ và du khách và người dân ở An Giang đã giành thời gian quý báu tiếp nhận bài khảo sát Nghiên cứu không thể tiến hành nếu như không có sự giúp đỡ của họ
Vì thời gian thực hiện có hạn, thêm vào đó là lần đầu tiên tiếp xúc với thực tế nên không tránh khỏi thiếu sót, mong có sự thông cảm và đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn
Lời sau cùng em xin kính chúc quý thầy cô nhiều sức khỏe và thành công trong cuộc sống
Sinh viên
Nguyễn Thu Hân
Trang 6LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này đƣợc hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chƣa đƣợc dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Sinh viên
Nguyễn Thu Hân
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Bảng đồ tỉnh An Giang 16
Hình 3.2 trò chơi Highwire tại Huế 1
Hình 3.3 Zipline tại Đà Lạt 1
Hình 3.4 Flyborad tại Nha Trang 1
Hình 3.5 Leo vách núi trên biển tại Cát Bà 1
Hình 3.6 chèo thuyền Kayak ở Vịnh Hạ Long 1
Hình 3.7 Trò chơi dù bay trên biển ở Nha Trang 27
Hình 3.8 Lướt ván buồm tại Phan Thiết 27
Hình 4.1 Khu du lịch Lâm Viên Núi Cấm……… 35
Hình 4.2 Búng Bình Thiên (Hồ nước trời) 36
Hình 4.3 Rừng Tràm Trà Sư 37
Hình 4.4 Trình độ học vấn của du khách 39
Hình 4.5 Mức độ nhận biết thông tin của du khách 40
Hình 4.6 Loại hình du lịch được chọn khi du khách đi du lịch 41
Hình 4.7 Số người biết đến du lịch mạo hiểm 42
Hình 4.8 Mục đích đi du lịch mạo hiểm 44
Hình 4.9 Thời điểm đi du lịch mạo hiểm 44
Hình 4.10 Thời gian đi du lịch mạo hiểm 46
Hình 4.11 Trò chơi được chọn khi đi du lịch mạo hiểm 47
Hình 4.12 Mức giá sẵn lòng chi trả cho 1 tour du lịch mạo hiểm 47
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng số lƣợng du khách đến An Giang 12
Bảng 3.1 Tổng lƣợt khách doanh nghiệp du lịch phục vụ……… 19
Bảng 3.2 So sánh tổng lƣợt khách doanh nghiệp du lịch phục vụ 21
Bảng 3.3 Doanh thu doanh nghiệp du lịch phục vụ 22
Bảng 3.4 Nguồn nhân lực du lịch của tỉnh An Giang 23
Bảng 4.1 Danh mục dự án đầu tƣ CSHT ngành du lịch tỉnh An Giang đến năm 2020……… 33
Bảng 4.2 Cơ cấu mẫu theo độ tuổi và giới tính 38
Bảng 4.3 Thu nhập của đáp viên 39
Bảng 4.4 Số lần và đối tƣợng đi du lịch 39
Bảng 4.5 Điểm trung bình cho mức độ quan trọng khi đi du lịch mạo hiểm 48
Bảng 4.6 Mối quan hệ giữa độ tuổi với việc lựa chọn loại hình du lịch 49
Bảng 4.7 Mối quan hệ giữa thu nhập với mức giá chi trả cho 1 tour du lịch mạo hiểm 50
Bảng 4.8 Mối quan hệ giữa độ tuổi với sự hiểu biết về du lịch mạo hiểm 51
Bảng 4.9 Mối quan hệ giữa mục đích đi du lịch mạo hiểm với việc lựa chọn trò chơi tham gia 52
Trang 9CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay du lịch không còn là khái niệm mới mẻ nữa vì nó ngày càng phổ biến hơn trong xã hội phát triển này, nhắc đến du lịch là nói đến tham quan vui chơi, giải trí, mua sắm, nghỉ ngơi….du lịch không chỉ mang đến sự thỏa mãn
về nhu cầu tham quan, vui chơi, giải trí mà còn mang lại nhiều kiến thức giúp chúng ta có thêm nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống Là một quốc gia với
“rừng vàng biển bạc” Việt Nam nhanh chóng trở thành một trong các nước có ngành du lịch phát triển, theo tổng cục thống kê cho biết trong năm 2013 khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt 7,572 triệu lượt người tăng 10,6% so với năm trước, hiện tại nước ta đang không ngừng đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp mới này đồng thời cũng nhờ vào du lịch làm bàn đạp để giao lưu văn hóa giữa các dân tộc trong và ngoài nước, cũng là điều kiện tốt để đưa các ngành có liên quan phát triển theo như: doanh nghiệp lữ hành, nhà hàng, khách sạn, các doanh nghiệp siêu thị bán lẻ trong nước
Xã hội ngày càng phát triển nên nhu cầu của con người cũng thay đổi theo không chỉ dừng lại ở việc tham quan, vui chơi mà còn phải đảm bảo chất lượng và độc đáo Chính vì thế mà du lịch phải thay đổi từ điểm đến cho đến loại hình từ du lịch tham quan nghỉ dưỡng cho đến du lịch sinh thái, du lịch MICE, du lịch tâm linh….để tìm kiếm nhiều hơn về sự mới mẻ Việt Nam đã không ngừng khai thác tối đa các tiềm năng hiện có và một loại hình du lịch mới đã ra đời đó là du lịch mạo hiểm, theo thông tin của báo du lịch thì hiện nay ngày càng có nhiều người ở nhiều lứa tuổi khác nhau không phân biệt giới tính đã tham gia vào các tour du lịch mạo hiểm và bỏ ra hàng triệu đô để đi đến những vùng đất mới, lạnh giá hay lên cả vũ trụ do bản chất của con người
là yêu thích khám phá những điều mới lạ nên khi đời sống vật chất tinh thần tương đối đầy đủ thì bản chất đó lại trỗi dậy Nước ta có nhiều tiềm năng du lịch đa dạng với 3/4 địa hình là đồi núi, với các hệ thống sông ngòi chằng chịt, các dãy núi đá vôi của địa hình karst, nhiều hang động đẹp, nhiều khu rừng nguyên sinh nhiệt đới cũng như các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia rộng lớn, với hơn 3.000 km bờ biển tạo nên những cảnh đẹp vô cùng phong phú, những bức tranh sinh động trải dài từ Bắc đến Nam là những điều kiện
Trang 10thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch mạo hiểm Nhận thấy An Giang cũng là tỉnh có điều kiện thuận lợi để thực hiện đƣợc loại hình mới này Thứ nhất, là tỉnh có địa hình là đồi núi, sông ngòi chằn chịt và có hệ sinh vật đa dạng
Thứ hai, là nơi có nhiều di tích lịch sử, có các làng nghề truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa bản địa
Thứ ba, là nơi diễn ra nhiều lễ hội nhƣ: Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam, lễ hội đua bò bảy núi,…
Nhƣng bên cạnh đó cũng còn nhiều hạn chế về nguồn lực, cơ sở vật chất, nguồn vốn…vì đặc điểm của loại hình này cần rất nhiều nguồn hỗ trợ mới có
thể phát triển bền vững đƣợc Cho nên việc “phân tích tiềm năng và định
hướng phát triển loại hình du lịch mạo hiểm ở tỉnh An Giang” là rất cần
thiết vì có thể đƣa ra đƣợc những tiềm năng, hạn chế nhằm đề xuất giải pháp
1.3.1 Không gian nghiên cứu
Đề tài đƣợc nghiên cứu trên địa bàn tỉnh An Giang Tuy có rất nhiều điểm du lịch của tỉnh có điều kiện để phát triển du lịch mạo hiểm nhƣng tác giả chỉ tập trung ở hai khu vực đó là Núi Cấm thuộc huyện Tịnh Biên
và Núi Sam thuộc Thành Phố Châu Đốc Vì khu vực này có nhiều khách
Trang 11du lịch tìm đến, có tiềm năng và lợi thế nhất để phát triển du lịch mạo hiểm
1.3.2 Thời gian nghiên cứu
Số liệu được thu thập để phục vụ cho đề tài là từ năm 2010 đến năm 2013
Đề tài được thực hiện vào tháng 8 năm 2014
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu
Khách du lịch đến An Giang cụ thể là tại hai khu du lịch Núi Cấm huyện
Tịnh Biên và Núi Sam thuộc thành phố Châu Đốc
1.4 Lược khảo tài liệu
Theo một nghiên cứu của Khương Thanh Thúy (2008) Tác giả đưa ra các tiêu chí về (1) số người tham gia loại hình (2) loại hình du lịch mạo hiểm được tham gia nhiều nhất (3) độ dài CTDL mạo hiểm (4) giá cả (5) Yêu cầu về CTDL mạo hiểm (6) nhu cầu để xây dựng CTDL cho thấy du lịch mạo hiểm ở Hội An rất hấp dẫn nhưng vấn đề lớn là thời gian lưu lại của khách du lịch rất ngắn đồng thời mức độ khách tham gia vào các trò chơi du lịch mạo hiểm không đồng đều cần xây dựng một CTDL cho phù hợp với các yếu tố trên Theo một nghiên cứu của Bùi Nguyễn Khánh Toàn và ctv (2007) cho thấy
có 5 lý do lớn để thu hút khách du lịch mạo hiểm (1) giá hàng hóa dịch vụ thấp (2) phong cảnh thiên nhiên (3) văn hóa (4) du lịch mạo hiểm (5) con người thân thiện Du lịch mạo hiểm chưa thu hút được khách du lịch vì chưa thấy được sức hấp dẫn, chưa thỏa mãn nhu cầu khám phá
Theo một nghiên cứu của Nguyễn Đình Tuấn và Nguyễn Thị Mộng Thắm (2009) tác giả đưa ra được các tiêu chí để phân tích thực trạng (1) sự biết đến (2) phương tiện tiếp cận thông tin (3) mức độ tham gia các loại hình du lịch (4) hướng dẫn viên (5) chi phí Cho thấy được tiềm năng phát triển du lịch mạo hiểm là rất lớn nhưng còn một số hạn chế nhất định như: cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, sự hấp dẫn của chuyến đi…từ đó đề xuất giải pháp nhằm phát triển bền vững
Theo một nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà (2010) tác giả sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả, phương pháp so sánh số tương đối và tuyệt đối, phương pháp phân tích Frequencies và Descreptives để giải quyết các mục tiêu đề ra và tác giả đưa ra các tiêu chí sau (1) mục đích chuyến đi (2) thời điểm tổ chức (3) độ dài thời gian (4) mức giá (5) các dịch vụ bổ sung từ
đó làm căn cứ để thiết kế tour hoàn chỉnh
Trang 12Theo một nghiên cứu của Lê Thị Bảo Trinh (2013) tác giả đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu đi du lịch xe đạp bằng cách kiểm tra độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s alpha, sau đó được nhóm lại bằng phân tích nhân tố khám phá EFA Từ các nhóm đó kết hợp với phân tích đặc điểm của khách du lịch xe đạp và phân tích ma trận SWOT và đề xuất giải pháp
Theo một nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến Oanh (2011) tác giả đã phân tích thực trạng du lịch sinh thái bằng cách đưa ra mặt mạnh, mặt yếu, thuận lợi khó khan qua thong qua ma trận SWOT, sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tần số, phân tích dựa trên các chỉ tiêu đánh giá sự thu hút và khả năng quản lý tại khu du lịch sinh thái từ đó đề xuất giải pháp
Theo một nghiên cứu của Nguyễn Văn Tùng (2010) đã đánh giá được thực trạng ngành Du Lịch An Giang, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch tới An Giang bằng việc sử dụng các phương pháp phân tích dữ liệu như: phương pháp thống kê mô tả, phân tích nhân tố kết hợp với hồi qui tương quan nhằm giải quyết các mục tiêu đề ra và đề xuất giải pháp Theo một nghiên cứu của Phạm Lê Hồng Nhung (2006) tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích bảng chéo và phân tích hàm phân biệt giữa mức độ quan trọng và mức độ hấp dẫn của du lịch Home – Stay để phân tích khả năng và thực trạng phát triển loại hình du lịch Home – Stay ở Tiền Giang từ đó đề xuất giải pháp
Theo một nghiên cứu của Nguyễn Võ Diễm Phương (2010) tác giả phân tích tiềm năng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở Vĩnh Long bằng phương pháp phân tích diễn giải số liệu, phương pháp so sánh số tương đối và tuyệt đối, phương pháp thống kê mô tả, phân tích bảng chéo và đề ra giải pháp
Trang 13Một vài khái niệm khác:
Theo tổ chức du lịch thế giới (Wold Tourist Organization): “Du lịch bao
gồm tất cả những hoạt động của người du hành, tạm trú trong mục đích tham quan khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư, nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”
Theo Luật Du Lịch công bố vào ngày 27/06/2005: “Du lịch là hoạt động
có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
2.1.2 Định nghĩa khách du lịch
Khách du lịch (visitor)
Theo Điểm 2, Chương I của Pháp Lệnh Du Lịch Việt Nam:“khách du
lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”
Khách du lịch là khách thăm viếng, lưu trú tại một quốc gia hay môt vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24 giờ và nghỉ lại qua đêm ở đó với mục đích như: tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, tham dự hội nghị, tôn giáo, công tác, thể thao, học tập…
Khách tham quan (Ecursionist): còn gọi là khách thăm viếng một ngày
(day visitor) Là khách thăm viếng, lưu lại tại một nơi nào đó dưới 23 giờ và không nghỉ lại qua đêm
Trang 14Khách du lịch quốc tế (International tourist): Pháp lệnh Việt Nam theo
điều 20 chương V, những người được thống kê là khách quốc tế phải có những đặc trưng cơ bản sau:
o Là người nước ngoài, là người Việt Nam cư trú ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch (khách Inbound)
o Công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch (khách Outbound)
Mục đích chuyến đi của họ là tham quan, thăm thân nhân, tham dự hội nghị, đi công tác, khảo sát thị trường, thể thao, chữa bệnh, hành hương, nghỉ ngơi…
Khách tham quan quốc tế ( International Ecursionist): Một người đáp
ứng các tiêu chuẩn trên nhưng không ở lại qua đêm gọi là khách tham quan quốc tế
Khách du lịch nội địa (Domestic Tourist): Bất kỳ người nào ngụ tại
quốc gia nào, bất kể quốc tịch gì đi du lịch đến một nơi nào khác nơi thường trú của mình trong phạm vi quốc gia trong thời gian 24 giờ hay một đêm, và vì bất kỳ lý do nào khác hơn là các hoạt động và công tác tại nơi đến thăm
Khách tham quan nội địa (Domestic Ecursionist): Một người đáp ứng
được các tiêu chuẩn của khách du lịch nội địa nhưng không ở qua đêm được gọi là khách tham quan nội địa
2.1.3 Phân loại du lịch
2.1.3.1 Phân loại theo mục đích chuyến đi
Du lịch thuần túy: trong các chuyến đi du lịch, mục đích của du khách là nghỉ ngơi, giải trí và nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh.[8]
Du lịch kết hợp: Những người thực hiện các chuyến đi do nhu cầu công tác,
học tập, hội nghị, tín ngưỡng , trong đó có sử dụng các dịch vụ du lịch như lưu trú, ăn uống tại khách sạn … đã tranh thủ thời gian rỗi có được để tham quan, nghỉ ngơi và nâng cao nhận thức về thiên nhiên, đời sống, văn hoá nơi
họ đến.[8]
2.1.3.2 Phân loại theo lãnh thổ
* Du lịch trong nước
Trang 15Du lịch trong nước là tất cả các hoạt động tổ chức phục vụ cho du khách
ở trong nước đi nghỉ ngơi, tham quan các đối tượng du lịch trong phạm vi của đất nước mình, chi phí bằng tiền trong nước.[29]
2.1.3.3 Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch [29]
* Du lịch biển
Du lịch biển là loại hình du lịch gắn liền với biển, thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động tắm biển, thể thao biển (bóng chuyền bãi biển, lướt ván ) Loại hình du lịch này có tính mùa rất rõ nên nó thường được tổ chức vào mùa nóng với nhiệt độ nước biển và không khí trên 20oC Nếu bờ biển ít dốc, môi trường sạch đẹp thì khả năng thu hút du khách càng lớn
ăn dân dã đầy hương vị
Trang 162.1.3.4 Phân loại theo thời gian đi du lịch [29]
* Du lịch ngắn ngày
Du lịch ngắn ngày là loại hình thường kéo dài 1 - 3 ngày (dưới một tuần) tập trung vào những ngày cuối tuần, phát triển nhiều nhất ở Mỹ, Anh, Pháp hoặc xen kẽ giữa các ngày làm việc, họ đi đến nơi ở gần chỗ cư trú của khách
* Du lịch dài ngày
Loại hình du lịch dài ngày thường gắn liền với các kỳ nghỉ phép hoặc nghỉ
đông, nghỉ hè và kéo dài vài tuần đến một năm tới những nơi cách xa nơi ở
của khách, kể cả trong nước và ngoài nước
2.1.3.5 Phân loại theo phương tiện giao thông
2.1.3.6 Phân loại theo hình thức tổ chức [29]
Du lịch theo đoàn: Là loại hình du lịch có sự chuẩn bị chương trình từ
trước hay thông qua các tổ chức du lịch Mỗi thành viên trong đoàn biết được
kế hoạch đi du lịch của mình
Du lịch cá nhân: Cá nhân tự định ra chuyến đi, kế hoạch lưu trú, địa điểm
ăn uống tuỳ nghi
2.1.4 Sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng Nói một cách đơn giản: Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + các dịch vụ và hàng hoá du lịch [31]
Những dịch vụ cơ bản của sản phẩm du lịch
- Dịch vụ vận chuyển: nhằm đưa đón du khách từ nơi cư trú đến các điểm du lịch, giữa các điểm du lịch và trong phạm vi một điểm du lịch Để thực hiện dịch vụ này, người ta thường dùng nhiều phương tiện khác nhau (tàu hoả, tàu thuỷ, ô tô, máy bay ).[31]
Trang 17- Dịch vụ lưu trú: nhằm đảm bảo cho du khách nơi ăn chốn ở trong quá trình thực hiện chuyến đi của họ, khách du lịch có thể chọn các khả năng như khách sạn, nhà trọ, nhà nghỉ, nhà người quen [31]
Ngoài ra dịch vụ này còn bao gồm cả việc thuê đất để cắm trại và các hình thức tương tự khác Để thoả mãn nhu cầu ăn uống, khách du lịch có thể
tự mình chuẩn bị bữa ăn, hay đến nhà hàng hoặc được người quen mời
- Dịch vụ giải trí: là một bộ phận không thể thiếu được của sản phẩm du lịch Khách du lịch muốn đạt được sự thú vị cao nhất trong suốt chuyến đi thì
có thể chọn nhiều hình thức khác nhau như: vãn cảnh, chơi hoặc xem thể thao, tham quan bảo tàng, chơi bài bạc Đây là dịch vụ đặc trưng cho sản phẩm du lịch vì thời gian rỗi của khách du lịch trong ngày rất nhiều Và vì vậy, dù có hài lòng về bữa ăn ngon, chỗ ở tiện nghi, du khách vẫn mau chán nếu họ không được tham gia và thưởng thức các tiết mục giải trí.[31]
- Dịch vụ mua sắm: Mua sắm cũng là hình thức giải trí, đồng thời đối với nhiều khách du lịch thì mang quà lưu niệm về sau chuyến đi là không thể thiếu được Dịch vụ này bao gồm các hình thức bán lẻ hàng lưu niệm, hàng thủ công
mỹ nghệ, tạp hoá, vải vóc [31]
2.1.5 Du lịch mạo hiểm
Du lịch mạo hiểm là loại hình phát triển ở những vùng có điều kiện tự nhiên thích hợp (có nhiều thác ghềnh, vách núi, biển,…) và có cơ sở vật chất tương đối phát triển Nó dựa trên nhu cầu tự thể hiện mình, tự rèn luyện mình,
tự khám phá bản than của du khách thong qua các chương trình do nhà khai thác đặt ra hay do du khách tự yêu cầu Loại hình này cần sự hỗ trợ rất nhiều của các trag thiết bị và đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp để đảm bảo an toàn tính mạng cho du khách, do vậy loại hình này cần nhiều vốn về cơ sở vật chất cũng như đào tạo về nguồn lực trong công tác hướng dẫn Bên cạnh đó du lịch mạo hiểm là loại hình kết hợp với các hoạt động bảo vệ môi trường sinh thái đồng thời nâng cao đời sống kinh tế của dân cư trong vùng.[16]
Du lịch mạo hiểm là loại hình kết hợp giữa du lịch sinh thái với các hoạt động thể thao góp phần làm đa dạng sản phẩm du lịch của địa phương và từ đó tạo nên sức hấp dẫn để thu hút khách du lịch trong nước lẫn khách du lịch nước ngoài [16]
Du lịch khám phá là loại hình du lịch nhằm mục đích nâng cao nhưng hiểu biết mới lạ về thế giới xung quanh Tuỳ thuộc vào mức độ, tính chất của chuyến du lịch có thể chia thành hai loại hình:
Trang 18- Du lịch tìm hiểu: Mục đích của chuyến đi là tìm hiểu về thiên nhiên, môi trường, phong tục tập quán, lịch sử [29]
- Du lịch mạo hiểm: Qua những chuyến du lịch mạo hiểm, du khách có thể tự thể hiện mình, tự rèn luyện và tự khám sức mạnh, ý chí, nghị lực của bản thân mình, đặc biệt là ở giới trẻ Địa điểm đến thường là những nơi chưa hoặc ít in dấu chân người như: những con suối chảy xiết, những ngọn núi cao chót vót (Hymalaya, Phanxipan ), những vùng núi lửa nóng bỏng, những khu rừng rậm rạp, âm u (Amazon), những hang động bí hiểm Để tổ chức loại hình du lịch này cần có các trang thiết bị chuyên dụng và đội ngũ phục vụ hết sức cơ động, có thể hỗ trợ đắc lực cho các chuyến đi của du khách.[8]
2.1.5.1 Đặc điểm của loại hình du lịch mạo hiểm
Loại hình du lịch mạo hiểm là những trò chơi cảm giác mạnh có thể kết hợp hoặc không kết hợp di chuyển từ vùng này sang vùng khác theo lịch trình, cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng lịch trình và điểm đến phù hợp với mục đích đi du lịch mạo hiểm bởi vì nguyên tắc địa điểm được chọn phải mang đầy
đủ tính chất của một địa điểm du lịch mạo hiểm như: tạo được sự thử thách cho du khách, phải gần gủi với thiên nhiên, gắn liền với văn hóa và phong tục của địa phương.[16]
Đội ngũ nhân viên trong tour phải là những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, không chỉ giỏi về nghiệp vụ mà còn giỏi về kiến thức Thông thường các hướng dẫn viên trong tour du lịch mạo hiểm là huấn luyện viên.[16]
Tóm lại, đặc điểm của du lịch mạo hiểm là một loại hình sử dụng nhiều không chỉ về tài chính mà còn về nguồn nhân lực
2.1.5.2 Phân loại du lịch mạo hiểm[6]
Hiện nay có rất nhiều sản phẩm du lịch mạo hiểm nên có nhiều cách phân loại như:
Dựa vào tính chất và đặc điểm
Du lịch mạo hiểm trên cạn: bao gồm các môn leo vách núi, leo núi, băng rừng,
Du lịch mạo hiểm dưới nước: chèo thuyền, lướt ván, lặn biển, đua cano,…
Du lịch mạo hiểm trên không: nhảy dù, bay tàu lượn, các môn Bungy jump…
Trang 19Dựa vào mục đích chuyến đi
Du lịch “phượt”, du lịch “bụi” với mục đích khám phá thiên nhiên, trải nghiệm bản thân và chinh phục thử thách trong thiên nhiên
Team building xây dựng tinh thần tập thể trong các công ty, tổ chức,…hình thành cách làm việc phân tích có logic, theo đúng như mục đích nhà tổ chức team building
Khám phá nghiên cứu của các nhà khoa học: nghiên cứu, khảo sát, phân tích tìm hiểu các loài động thực vật, các hiện tượng tự nhiên
Dựa vào mức độ mạo hiểm
Loại hình có mức độ mạo hiểm thấp: như xe đạp, chèo thuyền, đi bộ bang rừng
Loại hình có mức độ mạo hiểm trung bình: leo vách núi, chèo thuyền vượt thác
Loại hình có mức độ mạo hiểm cao: là các hoạt động có tính rủi ro cao hay trong môi trường khắc nghiệt
2.1.5.3 Đối tượng tham gia du lịch mạo hiểm
Loại hình du lịch mạo hiểm không dành cho tất cả các đối tượng như các loại hình du lịch khác, khách tham gia du lịch thường là giới trẻ khoảng từ 18 đến 35 tuổi, có sức khỏe tốt, đam mê thể thao, muốn trải nghiệm bản thân và chinh phục thử thách trong chuyến đi Ngoài ra khách đi du lịch mạo hiểm là những người có quỹ thời gian nhàn rỗi dài và khả năng chi trả cao
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Trang 20Đề tài sử dụng số liệu sơ cấp thông qua phỏng vấn trực tiếp từ khách
du lịch đến An Giang cụ thể là tại Núi Cấm huyện Tịnh Biên và Núi Sam thuộc thành phố Châu Đốc bằng cách chọn mẫu thuận tiện
(nguồn: sở văn hóa thể thao và du lịch An Giang)
Theo một nghiên cứu trước đây của Nguyễn Thị Thu Hà (2010, trang 13) tác giả đã sử dụng phương pháp chọn mẫu và xác định cỡ mẫu dựa vào lượt khách du lịch đến với Phú Quốc để thực hiện các nghiên cứu của mình dựa vào điều đó để làm cơ sở cho việc xác định cỡ mẫu cho nghiên cứu này Từ bảng trên ta có thể thấy số lượng khách du lịch trong 3 năm gần đây là
16.623.938 (lượt khách) cũng chính là tổng thể cần nghiên cứu Đây là số liệu
tổng thể của một năm, nhưng ta chỉ tiến hành nghiên cứu trong thời gian ngắn
nên xét số lượng trung bình của một tháng (16.623.938/12) là 1.385.328 (lượt khách) Đề tài thuộc dạng nghiên cứu mô tả có giá trị về mặt thực tế thì cỡ
mẫu tối thiểu có thể chấp nhận là 10% tổng thể nhưng do đây là nghiên cứu nhỏ va thời gian có hạn nên số quan sát chỉ lấy 100 mẫu
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Mục tiêu 1: sử dụng phương pháp thống kê mô tả, liệt kê, diễn giải, so sánh
số tương đối và tuyệt đối để phân tích thực trạng và tiềm năng phát triển loại hình du lịch mạo hiểm ở tỉnh An Giang
Mục tiêu 2: sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả, phương pháp
phân tích bảng chéo để đánh giá khả năng phát triển loại hình du lịch mạo hiểm ở tỉnh An Giang
Mục tiêu 3: kết hợp 2 mục tiêu trên và phân tích ma trận SWOT để đề xuất
giải pháp và định hướng phát triển loại hình du lịch mạo hiểm ở tỉnh An Giang
Trang 212.3 Mô hình nghiên cứu
Thống kê mô tả
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu
Lƣợc khảo tài liệu, xác định các chỉ tiêu đánh giá tiềm năng phát triển du
lịch mạo hiểm
Thiết kế bảng câu hỏi
Phỏng vấn khách du lịch (n=138)
Crosstabulation
Trang 22Phương pháp thống kê mô tả
Thống kê mô tả là các phương pháp có liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu
Trong đó:
Phương pháp phân tích tần số: sử dụng bảng phân phối tần số là bảng
tóm tắt dữ liệu được xếp thành từng yếu tố khác nhau, dựa trên những tấn số xuất hiện của các đối tượng trong cơ sở dữ liệu để so sánh tỷ lệ, phản ánh số liệu
Một số đại lượng thống kê mô tả được sử dụng trong nghiên cứu gồm:
Số trung bình cộng (Mean): bằng tổng tất cả các giá trị lượng biến
quan sát chia cho số quan sát
Mode (Mo): là giá trị có tần số xuất hiện cao nhất trong tổng số hay
trong một dãy số phân phối
Cross-Tabulation (Phân tích bảng chéo) là một kỹ thuật thống kê mô
tả hai hay ba biến cùng lúc và phản ánh sự kết hợp hai hay nhiều biến
có số lượng hạn chế trong phân loại hoặc trong giá trị phân biệt
Phương pháp so sánh số tuyệt đối: là hiệu giữa trị số của kỳ phân tích so với
kỳ trước đó
Số tuyệt đối là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh quy mô, số lượng của sự kiện Tác dụng của phương pháp so sánh số tuyệt đối là phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch, sự biến động về quy mô, số lượng
Phương pháp so sánh số tương đối: số tương đối là một chỉ tiêu tổng hợp
biểu hiện bằng số lần (%) phản ánh tình hình của sự kiện, khi số tuyệt đối không thể nói lên được thì Mục đích của phương pháp này là so sánh hai chỉ tiêu cùng loại hay khác nhau nhưng có mối quan hệ với nhau để đánh giá sự tăng lên hay giảm xuống của một chỉ tiêu nào đó qua thời gian, hoặc đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch của một doanh nghiệp hay ngành của một địa
phương, một quốc gia
Phân tích frequencies: đếm tần số để biết tập dữ liệu đang có, số đối tượng có
các biểu hiện nào đó ở một thuộc tính cụ thể là bao nhiêu, nhiều hay ít,…Bảng phân phối tần số là bảng tóm tắt các dữ liệu được sắp xếp thành từng tổ khác nhau
Trang 23Phân tích descriptives: chủ yếu là tính chỉ số trung bình và độ lệch chuẩn Phân tích SWOT: là việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp
xếp theo định dạng SWOT dưới một trật tự lôgic dễ hiểu, dễ trình bày, dễ thảo luận và đưa ra quyết định, có thể được sử dụng trong mọi quá trình ra quyết định Các mẫu SWOT cho phép kích thích suy nghĩ hơn là dựa trên các phản ứng theo thói quen hoặc theo bản năng Mẫu phân tích SWOT được trình bày dưới dạng một ma trận 2 hàng 2 cột, chia làm 4 phần: Strengths, Weaknesses, Opportunities, and Threats
Các cơ hội (O)
Liệt kê các cơ hội:
cơ hội:
1/
2/
Các mối đe dọa (T)
Liệt kê các mối đe dọa:
2/
Trang 24
CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI
AN GIANG VÀ SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH MẠO HIỂM Ở VIỆT NAM Chương 3 giới thiệu tổng quan về tình hình phát triển du lịch của tỉnh An
Giang bằng việc đưa ra những điều kiện thuận lợi về mặt kinh tế, xã hội, điều kiện tự nhiên, văn hóa để du lịch An Giang phát triển như hiện nay đồng thời kết hợp với việc phân tích các bảng số liệu về số lượt khách đến, doanh thu để thấy được tình hình du lịch hiện nay Chương này cũng đề cập đến thực trạng du lịch mạo hiểm ở Việt Nam, giới thiệu một số điểm du lịch mạo hiểm đang phát triển và những loại trò chơi khi tham gia du lịch mạo hiểm bên cạnh đó làm cơ sở cho việc phân tích tiềm năng phát triển loại hình du lịch mới này tại An Giang vào chương sau
3.1 Tổng quan về tình hình phát triển du lịch tại An Giang
Hình 3 1 Bảng đồ tỉnh An Giang
3.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là tất cả nguồn lực của tự nhiên gồm: đất đai, không khí, nước, các loại năng lượng và khoáng sản trong lòng đất…Con người có thể khai thác và sử dụng những lợi ích do tài nguyên thiên nhiên ban tặng để thỏa mãn những nhu cầu đa dạng của mình.[22]
Tài nguyên đất
Trang 25An Giang là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, là một trong những tỉnh có diện tích canh tác đất lớn nhất trong vùng đồng bằng sông Cửu Long Tổng diện tích đất nông nghiệp là 246.821 ha, trong đó đất trồng lúa chiếm 82% Đất An Giang được hình thanh bởi sự tranh chấp giữa biển và sông ngòi, nên rất đa dạng Có thể chia thành 3 nhóm đất chính: đất phèn, đất phù sa và đất đồi núi.[22]
Tài nguyên khoáng sản
An Giang phong phú về khoáng sản: vật liệu xây dựng (đá xây dựng, đá garnit, đá phun trào, cát xây dựng, đất sét gạch ngói), vật liệu trang trí (đá ốp lát, đá aplite), đá quý và quặng kim loại (quặng molipden, mỏ mangan), nước khoáng thiên nhiên.[22]
3.1.1.1 Vị trí địa lý
An Giang là một tỉnh nằm ở miền Tây Nam Bộ, thuộc đồng bằng song Cửu Long, một phần nằm trong tứ giác Long Xuyên, có biên giới Việt Nam – Campuchia ở phía Bắc Tây Bắc, phía Tây Nam giáp với tỉnh Kiên Giang, phía Nam giáp thành phố Cần Thơ, phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp An Giang gồm
có 11 huyện: An Phú, Tân Châu, Châu Đốc, Châu Phú, Châu Thành, Phú Tân, Chợ Mới, Long Xuyên, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên.[22]
3.1.1.3 Khí hậu
Chịu ảnh hưởng của hai mùa gió là gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc gió Tây Nam mát và ẩm nên gây ra mùa mưa, gió mùa Đông Bắc xuất phát từ biển nhiệt đới của Trung Quốc nên có độ ẩm lớn và không gây rét như các tỉnh miền Bắc An Giang nằm sâu trong đất liền nên ít chịu ảnh hưởng của gió bão.[22]
Nhiệt độ ở An Giang cao ổn định Nhiệt độ cao nhất trng năm thường xuất hiện vào tháng 4, dao động từ khoảng 36 đến 38 độ, nhiệt độ thấp nhất thường xuất hiện vào tháng 10, khoảng dưới 18 độ Độ ẩm không khí cao
Trang 263.1.1.4 Thủy văn
An Giang là một trong những tỉnh đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống sông ngòi chằn chịt, mùa nước lũ ở tỉnh diễn ra vào khoảng tháng 7, 8 âm lịch
đó cũng là mùa đánh bắt cá tôm của người dân nơi đây, đây cũng là điều kiện
để phát triển du lịch mùa nước lũ Mùa lũ cũng góp phần bồi đắp phù sa, vệ sinh đồng ruộng giúp bà con nông dân chuẩn bị cho vụ mùa tới
3.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại
và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch
3.1.2.1 Dân cư
An Giang là tỉnh có dân cư đông đúc và 17 dân tộc anh em đang sinh sống
trên địa bàn như: người Chăm, Kherme,…do đa dạng về dân cư nên tỉnh rất thuận lợi trong phát triển du lịch cộng đồng kết hợp với nông nghiệp Hiện nay tỉnh cũng đang có chiến lược phát triển mô hình này nhằm tạo điều kiện cho người dân có thu nhập, đảm bảo cuộc sống cộng đồng
3.1.2.2 Văn hóa lễ hội
Đến với An Giang du khách có thể tham gia nhiều lễ hội và cùng trải nghiệm nhiều điều thú vị, mới lạ qua từng thời điểm khác nhau
Lễ hội Bà Chúa Xứ
Là lễ hội lớn nhất ở An Giang kéo dài sau tết nguyên đán, vào cuối tháng
tư âm lịch hàng năm, nhưng ngày nay đã trở thành một lễ hội dân gian được cộng đồng hưởng ứng mạnh mẽ và có thời gian kéo dài lâu nhất Vì thế, hiện nay người ta gọi thời gian này là "Mùa lễ hội" để chỉ sự nhộn nhịp, sung túc kéo dài trên địa bàn và chính điều này đã giúp Châu Đốc trở thành một địa bàn
du lịch, thương mại nổi tiếng ở khu vực ĐBSCL và cả nước.[53]
Lễ hội đua bò bảy núi
Lễ hội đua bò được tổ chức vào lễ "Đôn ta" (lễ cúng ông bà), từ ngày 9 đến ngày 10 tháng 10 âm lịch hàng năm "Đôn-ta" là một trong những lễ hội lớn mang tính truyền thống của người Khơ-me để biểu lộ lòng tưởng nhớ, biết ơn đối với tổ tiên và công lao của những người đã khuất.[53]
Hội Royal
Người Chăm ở An Giang có ngày hội Royal khá tưng bừng vào cuối năm tính theo Hồi lịch và rơi vào thời điểm khoảng trước Tết Dương lịch ngay sau kết thúc tháng chay Ramadan Thanh niên, thiếu nữ ca hát hội hè rất vui vẻ và những người phụ nữ lớn tuổi trong làng làm những món bánh truyền thống để dâng lên tổ tiên Lễ hội diễn ra tại làng Chăm Phũm Soài xã Châu Phong (Tân
Trang 27Châu) và tại đây đang được xây dựng Dự án Du lịch cộng đồng do ngân hàng ADB tài trợ.[53]
3.1.2.3 Tín ngưỡng
An Giang là tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống nên tín ngưỡng cũng rất đa dạng Hằng năm lượng khách đến tham gia lễ hội tín ngưỡng rất đông tại miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, du lịch tâm linh ở An Giang đang được đầu tư phát triển các địa điểm du lịch tín ngương đang được xây dựng và trùng tu lại Ngoài ra còn có lễ hội tín ngưỡng của người Chăm mang đậm chất dân tộc Việt Nam
3.1.2.4 Làng nghề
Nói đến làng nghề An Giang điều người ta nghĩ đến đó là làng dệt thổ cẩm
Châu Phong nơi mà dân tộc người chăm đang sinh sống và hiện tại nơi đây đang là địa điểm du lịch cộng đồng lớn của tỉnh được ngân hàng Á Châu bỏ vốn đầu tư, tiếp theo là làng lụa Tân Châu loại lụa này rất đẹp và tinh xảo được những bàn tay khéo léo của người dân nơi đây dệt thành nói đến lụa Tân Châu người ta liền nghĩ đến vẻ thanh lịch, dịu dàng, mềm mại khi mặc nó trên người toát lên vẻ hiền hậu của cô gái An Giang Và một làng nghề nữa không thể không nhắc đến đó là làng mộc Chợ Thủ, cái nghề mộc đã từ lâu gắn liền với cuộc sống của người dân Chợ Thủ đóng tủ, bàn,ghế cho đến xuồng ghe từ truyền thống cho đến hiện đại hiện nay đang có rất nhiều các cửa hàng nội thất trưng bày hàng mộc Chợ Thủ và đây cũng chính là nơi mang đến thu nhập cho người thợ mộc
Trang 28(nguồn: sở văn hóa thể thao và du lịch An Giang năm 2014)
Theo bảng số liệu cho thấy trung bình 3 năm tổng lượt khách mà các doanh nghiệp phục vụ là 1.199.886 lượt khách kể cả nội địa lẫn quốc tế, trong khi tống lượt khách đến trong 3 năm của tỉnh là 16.623.938 có sự chênh lệch rất lớn (14.424.052 lượt khách) chứng tỏ là lượng khách đến An Giang rất nhiều nhưng chỉ phục vụ được rất ít khách chủ yếu là lượng khách nội địa Việc phục vụ ít như vậy là do rất nhiều yếu tố khách và chủ quan như cơ sở lưu trú không đủ khách sạn, nhà hàng mặt khác còn do khách chỉ đi trong ngày là về chứ không ở lại qua đêm
Tỷ trọng khách nội địa chiếm 86%, khách quốc tế chỉ có 14% tuy mỗi năm
số lượt khách tăng lên nhưng không đáng kể vì tỷ lệ tăng rất thấp
Trong thời gian qua du lịch An Giang đang không ngừng phát triển và đang
là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, hiện tại tỉnh đang tập trung phát triển các loại hình du lịch đặc trưng như: du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, du lịch tham quan nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng,….doanh thu nhận được từ du lịch hằng năm làm tăng không nhỏ cơ cấu kinh tế của tỉnh Để làm tốt điều này, thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế An Giang đã tập trung đầu tư phát triển các khu du lịch nổi tiếng như: khu vui chơi giải trí tổng hợp Châu Đốc, phát triển khu du lịch núi Cấm và khu du lịch lòng hồ núi Sập[48] Với 3 triệu du khách trong nước và hàng chục ngàn du khách quốc tế hằng năm tìm đến An Giang so với 63 tỉnh thành trong cả nước ngoại trừ hai thành phố lớn là Hà Nội và thàng phố Hồ Chí Minh không dễ dàng mà có được số lượt khách như vậy Trong những năm vừa qua lễ hội vía Bà Chúa Xứ núi Sam đang thu hút khách du lịch gần xa càng khẳng định du lịch tâm linh ở đây là một nguồn lợi dồi dào.[36]
Trang 29An Giang là nơi được biết đến là vùng 7 núi, Vùng đất miền Tây quen thuộc
nhưng chứa đựng nhiều điều bí ẩn An Giang là tỉnh duy nhất thuộc đồng bằng sông Cửu Long nhưng lại có nhiều dãy núi, trong khi những tỉnh miền Tây khác không có, trong đó nổi tiếng nhất là núi Sam (có miếu Bà Chúa Xứ), núi Cấm (có tượng Phật Di Lặc lớn nhất Châu Á) An Giang lại córừng tràm Trà
Sư là nơi cư trú của chim trời; có hồ nước trời (Búng Bình Thiên) mênh mông sắc vàng bông điên điển; có kênh Vĩnh Tế nhộn nhịp thuyền chài vào mùa nước nổi Ngoài ra An Giang cũng còn có nhiều điểm du lịch văn hóa khác như các đền thờ Hồi Giáo, các ngôi chùa mang đậm kiến trúc Khơme, và đặc biệt là lễ hội đua Bò.[1]Do vậy hằng năm lượt khách đến một tăng nhưng để thấy rõ sự chênh lệch tiếp theo là bảng so sánh tỷ lệ lượt khách đến trong 3 năm, bảng này nhằm so sánh số tương đối và tuyệt đối để thấy được sự thay đổi và chênh lệch trong 3 năm gần nhất
(nguồn: sở văn hóa thể thao và du lịch An Giang năm 2014)
Từ bảng trên cho thấy tình hình du khách đến An Giang tăng lên liên tục Năm 2011 du lịch An Giang thắng lớn nhờ chủ động liên kết với TP HCM và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long về việc giới thiệu và đưa du khách đến tham quan du lịch ở các tỉnh lân cận, tỉnh còn hợp tác với các ngành du lịch của vương quốc Campuchia hình thành các tour ngược, xuôi dòng MêKông qua hai cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên và Vĩnh Xương Đồng thời mô hình “Du lịch nông nghiệp”, do Agriterra tài trợ, triển khai tại xã Mỹ Hòa Hưng (TP.Long Xuyên) và xã Văn Giáo (huyện Tịnh Biên) đã bắt đầu phát huy hiệu
Trang 30quả kéo theo lượng du khách đến tăng lên Năm 2012 du khách đến An Giang lại tăng lên do tỉnh đã đầu tư vào các cơ sở du lịch trọng điểm đồng thời cũng tranh thủ được những nguồn vốn đầu tư Riêng năm 2013 số lượt khách nội địa lại giảm nhẹ do chưa có chiến lược quảng bá phù hợp ngoài ra vào đầu tháng 5 năm 2012 đã xảy ra thảm họa lỡ đá tại núi Cấm làm thiệt mạng du khách nên lượt khách đến giảm vì hoang mang về vấn đề an toàn khi đi du lịch nhưng nhìn chung thì lượt khách du lịch đến An Giang vẫn tăng
3.1.2.6 Doanh thu từ hoạt động du lịch
Sau đây là bảng thể hiện doanh thu từ việc phục vụ du khách của các doanh nghiệp du lịch từ năm 2011 đến năm 2014
Bảng 3.3 Doanh thu doanh nghiệp du lịch phục vụ
Đơn vị tính: tỷ đồng
Tổng lượt khách 371.189 423.201 405.496 1199.886
Doanh thu 253.506 274.498 320.108 848.112
(nguồn: sở văn hóa thể thao và du lịch An Giang năm 2014)
Quan sát bảng số liệu ta thấy rất rõ số lượt khách đến An Giang lại cao hơn doanh thu cụ thể là số lượt khách cả 3 năm là 1.199.886 lượt, doanh thu là 848.112 tỷ đồng có một sự chênh lệch đáng kể, lý ra lượt khách đến nhiều thì doanh thu phải cao ngược lại ở đây lại tỷ lệ nghịch với doanh thu Điều này cho thấy được các doanh nghiệp du lịch hoạt động chưa hiệu quả và còn nhiều nguyên nhân khác nữa
Hiện nay ở An Giang chưa có một khu du lịch nghỉ dưỡng nào xứng tầm, tình hình xây dựng các khu du lịch nghỉ dưỡng của An Giang đang giậm chân tại chỗ Vị trí xây dựng khu nghỉ dưỡng ở trên đỉnh Núi Cấm, một nơi được mệnh danh là “Đà Lạt thứ hai” đã sẵn sàng nhưng về thủ tục xây dựng cơ bản cũng như chọn đối tác, nhà thầu không đủ lực, cho nên nhiều năm qua tiến độ xây dựng vẫn không có tiến triển Giao thông nội vùng rất kém Các loại hình vui chơi giải trí để giữ chân du khách cũng chưa có gì đặc sắc.[1]
Đó cũng là lời giải đáp cho câu hỏi tại sau trong những năm gần đây số lượng
du khách đến với An Giang năm sau luôn cao hơn năm trước nhưng doanh thu chẳng những không tăng mà còn có xu hướng giảm Cụ thể trong năm 2005 có gần 3 triệu du khách đến với An Giang, nhưng trong số này có đến hai phần ba
Trang 31lượng du khách đến đây là vì nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng chỉ đến tập trung vào mùa Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam hàng năm, chứ không phải nhu cầu tham quan du lịch thật sự
Theo thống kê mới nhất của ngành du lịch tỉnh, số ngày lưu trú bình quân của du khách đến An Giang ngày càng ít đi, chỉ khoảng 1,25 ngày/du khách Điều này cũng đồng nghĩa với việc du khách sử dụng các dịch vụ mua sắm tại
An Giang ngày càng giảm, kéo theo doanh thu giảm Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do ảnh hưởng của việc chọn đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng tại các khu điểm du lịch, trên địa bàn tỉnh An Giang chưa tạo được sức hút níu chân du khách ở lại lâu hơn
(nguồn: sở văn hóa thể thao và du lịch An Giang năm 2014)
Quan sát bảng số liệu ta thấy nguồn nhân lực của tỉnh tăng lên liên tục trong 3 năm từ số lượng cho đến trình độ cụ thể là tổng nhân lực ngành du lịch của tỉnh năm 2012 là 2152 tăng lên 522 người so với năm 2011 và tiếp tục tăng lên
2250 tương đương 98 người
Công tác đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh An Giang nói chung, nguồn nhân lực du lịch của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn nói riêng đã có bước chuyển biến tích cực Đội ngũ lao động ngành Du lịch tăng lên, chất lượng bước đầu có sự cải thiện Tuy nhiên, so với nhu cầu của hoạt động du lịch hiện nay và yêu cầu phát triển trong những năm tới thì nguồn nhân lực du lịch của tỉnh An Giang còn vừa thiếu về số lượng, vừa không đảm bảo về chất lượng Tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên ngành Du lịch vẫn còn thấp, lao động hiện tại có chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề còn ít, thiếu lao động có
Trang 32chuyên môn kỹ thuật cao và cán bộ giỏi về quản lý và điều hành kinh doanh
du lịch
Trong những năm vừa qua, ngành đã tổ chức đào tạo nghề theo quy định của ngành chủ yếu tập trung vào 13 kỹ năng nghề du lịch Việt Nam (VTOS) Từ năm 2000 đến 2012, Sở Văn hóa- Thể thao và Du lịch An Giang đã phối hợp với các trường đào tạo về nghiệp vụ du lịch ở TP Hồ Chí Minh, như: Trường cao đẳng Du lịch Sài Gòn, Trường Nhân lực Quốc tế TP Hồ Chí Minh và các trường có chức năng đào tạo dạy nghề trong và ngoài tỉnh (Cao đẳng Nghề An Giang…) tổ chức 54 lớp đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ du lịch cho 2.093 học viên (mở rộng cho các học viên ở các tỉnh Đồng Tháp, Kiên Giang, Phú Quốc, TP Hồ Chí Minh, Thốt Nốt…) với các lớp thuyết minh viên tại điểm, nghiệp vụ du lịch cộng đồng, quản lý khách sạn - nhà hàng, nghiệp vụ phục vụ bàn, nghiệp vụ phục vụ buồng, nghiệp vụ lễ tân, nghiệp vụ bếp, văn minh thương mại-du lịch, văn hóa du lịch, quản lý du lịch, lễ tân ngoại giao, lễ tân hải quan, tập huấn bảo vệ môi trường trong hoạt động kinh doanh du lịch,…và
tổ chức 15 cuộc hội thảo về du lịch
Riêng năm 2013, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch An Giang đang xây dựng đề án “Đào tạo, dạy nghề trong lĩnh vực du lịch cho thanh niên - sinh viên An Giang chưa có việc làm giai đoạn 2013-2017”, nhằm từng bước tạo điều kiện thuận lợi giải quyết việc làm cho các thanh niên, sinh viên của tỉnh
có được việc làm ổn định tham gia làm việc tại các doanh nghiệp kinh doanh
du lịch trên địa bàn tỉnh Đồng thời, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch An Giang cũng đang xây dựng Đề án thành lập Trường trung cấp Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang trình UBND tỉnh phê duyệt Qua đó, góp phần hình thành đội ngũ có trình độ về nghiệp vụ chuyên môn du lịch, điều hành quản lý, nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ,… để
du lịch An Giang phát triển đúng tầm, đúng với tiềm năng và thế mạnh sẵn có
Qua khảo sát thực tế nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ ngành Du lịch tỉnh An Giang từ 2012- 2020, các đơn vị đã đăng ký với 23 lớp đào tạo và gần
500 học viên Trên cơ sở này, năm 2013 và những năm tiếp theo, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch An Giang sẽ phối hợp với các trường đào tạo về nghiệp
vụ du lịch tổ chức đào tạo các lớp, như: Nghiệp vụ pha chế thức uống; các lớp tiếng Anh giao tiếp dành cho lễ tân, phục vụ bàn, phục vụ buồng tại nhà hàng - khách sạn; lớp tập huấn du lịch cộng đồng (Homestay); lớp tập huấn nghiệp vụ
du lịch phục vụ trên phương tiện thủy nội địa; lớp bồi dưỡng, tập huấn cho các
Trang 33tài xế, lái xe tham gia vận chuyển khách du lịch đường bộ; quản lý nhà hàng- khách sạn
Với các giải pháp trên, sẽ giúp ngành Du lịch địa phương đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch đảm bảo chất lượng, số lượng, phù hợp về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, để đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch của tỉnh
và hội nhập quốc tế Hoạt động này cũng góp phần tạo sự chuyển dịch mạnh
mẽ lao động từ nông nghiệp, nông thôn sang lĩnh vực dịch vụ du lịch, theo đúng định hướng mà Nghị quyết Tỉnh ủy đã ban hành về đẩy mạnh phát triển
du lịch trên địa bàn tỉnh An Giang đến năm 2015 và định hướng đến năm
2020
3.2 Sự phát triển du lịch mạo hiểm ở Việt Nam
3.2.1 Điều kiện hình thành du lịch mạo hiểm
Để có thể phát triển du lịch mạo hiểm thì quốc gia hay địa phương đó phải
có những điều kiện sau: điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, nguồn vốn mạnh Vì du lịch mạo hiểm là loại hình
du lịch đòi hỏi tính an toàn cao nên việc trang bị những thiết bị tham gia và hỗ trợ hết sức chuyên dụng, đặc diểm của loại hình này là những trò chơi mang tính mạo hiểm, khám phá, đối mặt với thử thách nên nơi đến phải là nơi có khả năng thu hút lớn về địa hình, văn hóa,….bên cạnh đó bắt buột phải có đội ngũ nhân viên có chuyên môn kỹ thuật cao để đảm bảo cho việc xử lý tình huống ngoài ý muốn Cho nên nguồn vốn bỏ ra cho loại hình này là rất lớn
3.2.2 Một số trò chơi liên quan đến du lịch mạo hiểm
Theo thông tin của báo du lịch [52] cho biết hiện nay có 7 trò chơi du lịch
mạo hiểm phổ biến ở Việt Nam ( www.vnexpress.net )
HighwireHighwire là một trò chơi
trải nghiệm ngoài trời được cấu tạo
bởi nhiều tấm gỗ gắn trên trụ cáp,
buộc vào cây to hoặc trụ bê tông
Người chơi sẽ trải qua nhiều chặng
thử sức, cấp độ khó tăng dần theo
thứ tự Trên mỗi chặng phải tập
trung cao độ để vượt qua các
chướng ngại vật được đặt trên một
độ cao tương đối như leo lưới
thang, băng qua các tấm ván rỗng,
vượt cầu gỗ hay đi trên một chiếc dây cáp lơ lửng Các chướng ngại
Trang 34vật sẽ được lắp đặt trong rừng để
tạo cảm giác thân thiện, gần gũi với
thiên nhiên và tăng độ hào hứng
cho người chơi
Hình 3.2 trò chơi Highwire tại Huế
Zipline
Người chơi sẽ được treo mình
ngược trên một sợi dây cáp trên cao
mốc với một sợi dây cáp dài và di
để hút nước và đẩy cơ thể lên
không trung Trò chơi nổi tiếng thế
giới này sẽ cho người chơi một cảm
giác hoàn toàn mới như đang bay tự
do trên mặt biển bao la
Hình 3.4 Flyborad tại Nha Trang
Leo núi trên biển
Trang 35Để bắt đầu khám phá đỉnh núi người tham gia cần những dụng cụ như: giày leo núi chuyên dụng, dây đeo thắt lưng, dây thừng, mũ bảo hiểm và các móc
để giữ dây thừng vào các móc có sẵn trên vách núi nếu có
Hình 3.5 Leo vách núi trên biển tại Cát Bà
Chèo thuyền Kayak
Chèo thuyền Kayak hiện là trò chơi
Hình 3.6 chèo thuyền Kayak ở
Vịnh Hạ Long
rất phổ biến ở Việt Nam, để tham gia trò chơi người chơi cần khởi động một chút để dễ dàng chèo, trò chơi này đòi hỏi sự bình tỉnh, kiên trì và khả năng xử lý tình huống
Dù bay trên biển
Người chơi treo mình trên một chiếc dù lớn bằng một dây đai an toàn, kết nối với ca
nô bằng một đoạn dây kéo dài 30 – 50 mét Ca nô sẽ khởi hành kéo chiếc dù bay trên không trung, khi đủ sức gió chiếc dù sẽ nhanh chóng bung rộng và bay lênh đênh trên không
Trang 36Hình 3.7Trò chơi dù bay trên biển ở Nha Trang
Lướt ván trên biển
Hình 3.8 Lướt ván buồm tại Phan Thiết
3.2.3 Du lịch mạo hiểm ở Việt Nam
Nước ta có tiềm năng du lịch đa dạng và đang nổi lên là một điểm đến mới, hấp dẫn trên bản đồ du lịch thế giới Với 3/4 địa hình là đồi núi, với các hệ thống sông ngòi chằng chịt, các dãy núi đá vôi của địa hình karst, nhiều hang động đẹp, nhiều khu rừng nguyên sinh nhiệt đới cũng như các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia rộng lớn, với hơn 3.000 km bờ biển tạo nên những cảnh đẹp vô cùng phong phú, những bức tranh sinh động trải dài từ Bắc đến Nam là những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch mạo hiểm Địa hình nước ta rất thích hợp cho việc phát triển các loại hình du lịch mạo hiểm như đi bộ (trekking), leo núi (hiking), đua ô tô, mô tô, xe đạp, lặn biển, bè mảng, đua thuyền, lướt ván, nhảy dù, dù lượn, khinh khí cầu…[40]
Trang 37Với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, tươi đẹp, nguyên sơ và bản sắc văn hoá độc đáo của đồng bào các dân tộc, khu vực miền núi Đông bắc, Tây Bắc, miền Trung Tây Nguyên là những địa chỉ tuyệt vời cho việc tổ chức các tour du lịch mạo hiểm ở Việt Nam Tuyến đường từ Đà Nẵng lên Kon Tum, từ Đà Lạt về Phan Rang, đèo Prenn, tuyến đường số 4 từ Cao Bằng đến Hà Giang, 2 tuyến đường tại Hà Giang (từ Thị xã Hà Giang lên Đồng Văn và từ Bắc Quang đến Hoàng Su Phì sang Xín Mần), tuyến đường vòng cung Tây Bắc từ Hoà Bình qua Sơn La lên Điện Biên, Lai Châu sang Sa Pa (Lào Cai) và từ thị xã Lào Cai đến Bắc Hà là những tuyến đường
có cảnh quan thiên nhiên ngoạn mục và rất thích hợp cho việc tổ chức các chương trình du lịch mạo hiểm như mô tô, ô tô, xe đạp Đỉnh Phan Xi Păng, khu vực đỉnh
Mã Pì Lèng (Mèo Vạc, Hà Giang), dãy núi Lang Biang (Đà Lạt), dãy núi Yên
Tử (Quảng Ninh), đỉnh Bạch Mã, vách núi hòn Phụ Tử ở Hà Tiên, là những nơi lý tưởng để tổ chức các hoạt động du lịch leo núi Việt Nam có rất nhiều thác nước đẹp
và hùng vĩ mà ở đó có thể tổ chức loại hình du lịch vượt thác đầy mạo hiểm và hấp dẫn như Thác Đầu Đẳng (Hồ Ba Bể), Thác Dray Sap, Dray Nu, Thác Dam Bri ở Tây Nguyên, Thác Bản Giốc (Cao Bằng) và nhiều thác nước khác ở vùng núi Đông bắc và Tây bắc của Tổ quốc Với lợi thế bờ biển dài, hàng trăm bãi biển và nhiều hòn đảo đẹp và hấp dẫn như đảo Cát Bà, đảo Cù Lao Chàm, đảo Phú Quốc, Côn Đảo, các đảo trong vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, chúng ta có thể tổ chức nhiều loại hình du lịch mạo hiểm dưới biển và trên đảo như lặn biển, đua thuyền kayak, đua thuyền buồm, lướt ván, dù bay trên biển,…[40]
Hệ thống sông, hồ dày đặc cũng là những tiềm năng to lớn cho việc tổ chức các loại hình du lịch mạo hiểm Các hồ như hồ Ba Bể, hồ Hoà Bình, hồ Thác Bà, hồ Núi Cốc và các con sông lớn như sông Hồng, sông Đà, sông Mã, sông Lô, sông Hương, sông Cửu Long đều là những địa chỉ thích hợp cho việc tổ chức các tour du lịch mạo hiểm dưới nước
Thực trạng khai thác và phát triển du lịch mạo hiểm ở Việt Nam
Tổng cục Du lịch Việt Nam trong mấy năm qua đã thường xuyên tổ chức các đoàn doanh nghiệp lữ hành và báo chí đi khảo sát các tuyến điểm du lịch ở hầu khắp
cả nước và đã nhận ra rằng các khu vực và địa điểm nêu trên thực sự có đầy đủ tiềm năng và thế mạnh để hình thành các tour du lịch mạo hiểm đầy hấp dẫn để thu hút khách du lịch đến Việt Nam trong thời gian tới Tuy nhiên, vừa qua mới khai thác tài nguyên du lịch tại khu vực đồng bằng, ven biển và một số khu vực miền núi gần các thị trấn, ven đường quốc lộ,… Còn một phần rất lớn tài nguyên du lịch phong phú và quý giá để phát triển các loại hình du lịch mạo hiểm vẫn chưa được đẩy mạnh khai thác Thời gian qua, chưa có nhiều doanh nghiệp lữ hành tham gia vào việc tổ chức các tour du lịch mạo hiểm Một số doanh nghiệp lữ hành đã chủ động
Trang 38nghiên cứu, tổ chức các chương trình du lịch mạo hiểm cho khách quốc tế như chương trình chinh phục đỉnh Fan Xi Păng, đỉnh Lang Biang, đỉnh Bạch Mã, đèo Prenn, các chương trình lặn biển ở Nha Trang, Cù Lao Chàm,Phú Quốc, Côn Đảo,
đi xe đạp địa hình, xe mô tô thể thao ở vùng núi, chèo thuyền kayak trên vịnh hạ Long, đảo Cát Bà, [40]
Các chương trình này đã thu được những kết quả nhất định cho doanh nghiệp và bước đầu góp phần hình thành và phát triển loại hình du lịch mạo hiểm ở Việt Nam Năm 2002, Công ty Du lịch Việt Nam tại Hà Nội đã tổ chức chương trình du lịch thể thao mạo hiểm mang tên “Raid Gauloises” với sự tham gia của trên 800 khách
du lịch quốc tế thuộc 17 quốc gia kéo dài 14 ngày tại 9 tỉnh vùng núi Đông Bắc Việt Nam[40] Với chương trình này, khách du lịch đã tham gia rất nhiều loại hình du lịch mạo hiểm như đi bộ băng rừng, leo núi, vượt thác, đi bè mảng, đi thuyền cao su
và thuyền nan trên suối, hồ ở vùng núi, đi xe đạp đổ đèo, đi thuyền kayak trên biển Chương trình trên đã được các hãng truyền hình thể thao lớn và có uy tín trên thế giới đưa tin và truyền hình trực tiếp, góp phần quảng bá hiệu quả về du lịch Việt Nam nói chung và du lịch mạo hiểm ở Việt Nam nói riêng trên thị trường quốc tế Bên cạnh những thành công về kinh tế, chương trình du lịch mạo hiểm quy mô lớn này còn có ý nghĩa chính trị không nhỏ Qua việc thực hiện Chương trình du lịch thể thao mạo hiểm Raid Gauloises, ta đã tranh thủ tuyên truyền và minh chứng với thế giới về đất nước Việt Nam an toàn, thân thiện, giàu lòng mến khách, tuyên truyền về công cuộc đổi mới do Đảng và Nhà nước Việt Nam khởi xướng đang làm chuyển biến mọi mặt đời sống xã hội của mọi vùng, miền của đất nước Hình ảnh, tiềm năng về du lịch Việt Nam qua chương trình này được giới thiệu một cách rộng rãi, khách quan, đậm nét và có tính thuyết phục cao ở nước ngoài Đây có thể khẳng định là hiệu quả lớn nhất và có ý nghĩa nhất trong việc thực hiện Chương trình du lịch thể thao mạo hiểm ở Việt Nam Qua việc thực hiện Chương trình Raid Gauloises, nhận thức của nhiều địa phương về yêu cầu phát triển du lịch được nâng lên, tiềm năng du lịch vùng Đông Bắc được đánh thức
Mặc dù tiềm năng phát triển các loại hình du lịch mạo hiểm ở nước ta là rất lớn nhưng thời gian qua, việc triển khai các chương trình du lịch mới, mạo hiểm còn gặp nhiều trở ngại Cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu lớn nào về du lịch mạo hiểm ở Việt Nam được công bố, trong khi đó các sản phẩm du lịch thể thao mạo hiểm đã và đang được khai thác nhìn chung còn hạn chế về số lượng và chất lượng
Các doanh nghiệp lữ hành xây dựng các chương trình du lịch mạo hiểm cho khách thường là tự phát, thiếu định hướng Hơn nữa, để tổ chức được các tour du lịch mạo hiểm như ô tô, mô tô, đua thuyền, leo núi, lặn biển,…, các doanh nghiệp
Trang 39phải mất rất nhiều thời gian để làm thủ tục cho khách du lịch, phải xin giấy phép ở nhiều bộ ngành chức năng ở trung ương và địa phương nên tạo ra tâm lý e ngại, không dám bán các chương trình du lịch mạo hiểm để thu hút khách Thực tiễn cho thấy, để hoàn thiện đầy đủ các thủ tục này, doanh nghiệp thường mất một vài tháng, thậm chí hàng năm mới có được đầy đủ giấy phép Ngay cả khi có giấy phép rồi thì
do thủ tục hành chính còn rườm rà nên các doanh nghiệp lữ hành còn gặp nhiều khó khắn trong quá trình triển khai các hoạt động khảo sát để hoàn tất chương trình du lịch mạo hiểm cho khách Điều đó thực sự làm nản lòng doanh nghiệp du lịch khi muốn tổ chức các loại hình du lịch mạo hiểm và đã hạn chế lượng khách du lịch mạo hiểm đến Việt Nam cho dù tiềm năng là rất lớn
Trang 40CHƯƠNG 4 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH MẠO HIỂM
CỦA TỈNH AN GIANG 4.1 Phân tích tiềm năng phát triển loại hình du lịch mạo hiểm của tỉnh
4.1.1 Điều kiện, cơ sở phục vụ du lịch
4.1.1.1 Nhà hàng, khách sạn
Theo thống kê của sở văn hóa thể thao và du lịch trên địa bàn tỉnh hiện có hơn
94 trong đó có 1 khách sạn 4 sao, 3 khách sạn 3 sao, 5 khách sạn 2 sao, 31 khách sạn 1 sao, 15 nhà nghỉ du lịch….Đây là những nơi lưu trú đạt chuẩn phần lớn các khách sạn nằm ở TP Long Xuyên và TP Châu Đốc đây cũng là hai khu du lịch trọng điểm của tỉnh Ngoài ra tại 2 thành phố này còn tập trung nhiều nhà hàng độc lập nhằm phục vụ cho du lịch
4.1.1.2 Các doanh nghiệp lữ hành
theo báo cáo của sở văn hóa thể thao và du lịch tính đến thời điểm này có 13 doanh nghiệp lữ hành đủ chuẩn [20], có 7 doanh nghiệp lữ hành quốc tế trong đó công ty cổ phần du lịch An Giang được tổng cục du lịch Việt Nam cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế hoạt động chủ yếu là hướng ra ngoài tỉnh, công ty đã nhận được cúp “Top Ten doanh nghiệp nội địa” hàng đầu Việt Nam vào năm 2012 Một số công ty lữ hành tại An Giang như:
Công ty cổ phần du lịch An Giang
17 Nguyễn Văn Cưng, TP Long Xuyên, An Giang
Email: angiangtour@hcm.vnn.vn
Công ty cổ phần Việt Mỹ Châu
Đường núi Sam, Khóm 8, P Núi Sam, TP Châu Đốc
Email: dangdung@adventure_vietnam.com
Công ty cổ phần dịch vụ lữ hành An Giang
563/39 Trần Hưng Đạo, P Bình Khánh, An Giang
Email: agitravel@hcm.vnn.vn
Trung tâm du lịch Hòa Bình
130 Trần Hưng Đạo, TP Long Xuyên, An Giang
Công ty cổ phần du lịch Sài Gòn-Mê Kông
53 Bis Đường Lê Lợi, TP Châu Đốc, An Giang
Công cổ phần Du Lịch thương mại Hàng Châu II
10 Lê Văn Thoại, An Giang
Email: hangchau2agg@hcm.vnn.vn