1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm sú (mùa khô) luân canh lúa – tôm càng xanh (mùa mƣa) ở huyện giá rai,bạc liêu

12 525 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 770,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN THÙY TRANG PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM SÚ MÙA KHÔ LUÂN CANH LÚA – TÔM CÀNG XANH MÙA MƯA Ở HUYỆN GIÁ RAI,BẠC LIÊU L

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THÙY TRANG

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM SÚ (MÙA KHÔ) LUÂN CANH LÚA – TÔM CÀNG XANH (MÙA MƯA) Ở HUYỆN GIÁ RAI,BẠC LIÊU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

2014

Trang 2

2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THÙY TRANG

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM SÚ (MÙA KHÔ) LUÂN CANH LÚA – TÔM CÀNG XANH (MÙA MƯA) Ở HUYỆN GIÁ RAI, BẠCLIÊU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

Cán bộ hướng dẫn PGs Ts DƯƠNG NH ỰT LONG

Ks PHAN HẢI Đ ĂNG

2014

Trang 3

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM

SÚ (MÙA KHÔ) LUÂN CANH LÚA – TÔM CÀNG XANH

(MÙA MƯA) Ở HUYỆN GIÁ RAI, BẠC LIÊU

Nguyễn Thùy Trang, Phan Hải Đăng và Dương Nhựt Long

Khoa Thủy sản – Trường Đại học Cần Thơ Email: trang115355@student.ctu.edu.vn

Tóm tắt

Nhằm đánh giá hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm sú (mùa khô) luân canh lúa- tôm càng xanh (mùa mưa), nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 12 đến 2014 thông qua phỏng vấn 30 hộ ở huyện Giá Rai, Bạc Liêu Kết quả điều tra cho thấy, diện tích nuôi trung bình 2,1 ± 1,3 ha và diện tích mặt nước 1,8 ± 1,1ha với mật độ thả tôm càng xanh trung bình 1,53±0,37 con/m 2

và tôm sú là 4,64 ± 1,21 con/m 2 Thời gian nuôi tôm sú trung bình 95,17 ± 11,25 ngày và tôm càng xanh là 147,50 ± 15,74 ngày Năng suất trung bình tôm sú 200,59 ± 72,87kg/ha/năm và tôm càng xanh là 98,52 ± 32,13 kg/ha/năm Theo kết quả cho thấy, chi phí cố định của mô hình 2,4 ± 1,5 triệu đồng/ha/năm, chi phí biến đổi của mô hình là 31,47 ± 6,94 triệu đồng/ha/năm, tổng doanh thu 73,88 ± 21,76 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận trung bình là 39,99 ± 24,94 triệu đồng/ha/năm với tỷ suất trung bình 132% Tuy nhiên, mô hình còn gặp không ít khó khăn như dịch bệnh, giá con giống tôm càng xanh cao và nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm

Từ khóa: Tôm sú, Panaeus monodon, Tôm càng xanh, Macrobrachium rosenbergii, hiệu quả tài chính

Abstract

In order to evaluate the financial efficiency of the black tiger shrimp ( season dry)

alternation with rice- giant freshwater prawn (season rainy) in integrated culture system, this study was conducted from August 2014 to December 2014 through interviewing 30 household in Gia Rai district, Bac Lieu city The results of the survey showed that the average culture area 2,1 ± 1,3 and evegare country surface area 1,8 ± 1,1 with average stocking density of giant freshwater prawn was 1,53 ± 0,37 individuals/m 2 and black tiger shrimp 4,64 ± 1,21individuals/m 2 The period of time to culture average black tiger shrimp 95,17 ± 11,25 and giant freshwater prawn was 147,50 ± 15,74 The productivity of black tiger shrimp was 200,59 ± 72,87 kg/ha/crop and freshwater prawn was 5,48 ± 0,82 kg/ha/crop In addition, fixed cost of farming sytems 2,4 ± 1,5million VND/ha/year, altered cost of farming sytems 31,47 ± 6,94 million VND/ha/year, gross income of 73,88 ± 21,76 million VND/ha/year, average profits was 39,99 ± 24,94 million VND/ha/năm with profit ratio was 132% However, there are some difficulties existing in this sytems such as shrimp disease, high freshwater prawn price and water pollution

Key word: Black tiger shrimp, Panaeus monodon, Giant Freshwater prawn, Macrobrachium rosenberrgii, financial efficiency

Title: Analyzing finalcial effciency of the black tiger shrimp (season dry) alternation with rice-giant freshwater prawn (season rainy) culture system in Gia Rai district, Bac Lieu city

Trang 4

4

1 GIƠÍ THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Bất chấp nền kinh tế trong nước và thế giới gặp nhiều biến động, tổng sản lượng thủy sản vẫn liên tục tăng trưởng góp phần đáng kể vào GDP của cả nước Năm 2013, tổng sản phẩm trong nước (GDP) 5,42% so với năm 2012 trong đó khu vực nông, lâm, thủy sản tăng 2,67% đóng góp 0,48 điểm phần trăm vào nền kinh tế (Tổng cục thống kê, 2014) Theo tổng cục thủy sản (2013) dự kiến đến năm 2020 thì giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 11 tỷ USD, đóng góp từ 2,8 -3% vào GDP của cả nước Với những đóng góp của ngành thủy sản vào giá trị GDP đã góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm cho hàng triệu người lao động, mang lại nguồn ngoại tệ và đảm bảo an ninh quốc phòng Năm 2013, sản lượng thủy sản cả nước đạt 6,05 triệu tấn trong đó sản lượng khai thác đạt 2,71 triệu tấn, nuôi trồng đạt 3,34 triệu tấn, tôm nước lợ đạt 548 nghìn tấn và cá tra 1,15 triệu tấn Về nuôi tôm nước lợ, tôm 548 nghìn tấn tăng 12,3% và diện tích 660 ha tăng 1,6% so với năm 2012 Bạc Liêu là một trong những tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long được coi là có sản lượng nuôi tôm lớn của cả nước Năm 2013, sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác đạt 263.000 tấn trong đó tôm đạt 104.000 tấn vượt kế hoạch so với cùng kỳ Tại đây, có rất nhiều hình thức nuôi tôm được áp dụng: thâm canh, quảng canh, luân canh, Trong đó, mô hình nuôi tôm sú luân canh lúa được xem là mô hình tiềm năng Mô hình tôm sú luân canh lúa mang lại nâng suất cao, tiết kiệm được chi phí, giảm dịch bệnh trên ao nuôi tôm Do nuôi tôm tận dụng nguồn dinh dưỡng từ lúa và nguồn thức ăn tự nhiên phong phú nên việc sử dụng chất hóa học là rất

ít, giúp ổn định môi trường Năm 2012, trước tình hình tôm sú sụt giá, bấp bênh về giá lúa, người dân quyết định lồng ghép 2 mô hình là nuôi tôm sú luân canh lúa và nuôi tôm càng xanh xen canh lúa thành nuôi tôm sú vào mùa khô và nuôi tôm càng xanh kết hợp trồng lúa vào mùa mưa trong 1 ruộng nuôi

Vì thế, đề tài “Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm sú (mùa khô) luân canh lúa-tôm càng xanh (mùa mưa) ở tỉnh Bạc Liêu” được thực hiện nhằm tìm hiểu, cung cấp những thông tin có liên quan tới mô hình nuôi và những yếu tố ảnh hưởng tới năng suất của mô hình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Nhằm phân tích hiệu quả tài chính của mô hình tôm sú (mùa khô) luân canh lúa-tôm càng xanh (mùa mưa) ở tỉnh Bạc Liêu Từ đó, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của mô hình trong thời gian tới

1.3 Nội dung nghiên cứu

Phân tích chỉ tiêu tài chính của mô hình tôm sú (mùa khô) luân canh lúa-tôm càng xanh (mùa mưa) ở tỉnh Bạc Liêu

Những thuận lợi và vấn đề khó khăn xảy ra trong mô hình

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả tài chính của mô hình

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thông tin được thu thập từ những bài báo, sách, tạp chí về tình hình nuôi tôm sú (mùa khô) luân canh với lúa-tôm càng xanh (mùa khô); số liệu thống kê của Tổng cục thống

kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,… và các website có liên quan tới để tài nghiên cứu

Trang 5

Thu thập thông tin bằng cách sử dụng bảng câu hỏi đã được soạn sẵn để phỏng vấn trực tiếp 30 nông hộ nuôi tôm sú (mùa khô) luân canh với lúa - tôm càng xanh (mùa mưa)

Số liệu được tổng hợp, kiểm tra, phân tích, bổ sung sau đó xử lý sơ bộ trước khi được đưa vào máy tính Sử dụng phần mềm Excel, SPSS để nhập và xử lý số liệu

Dùng phương pháp thống kê mô tả để mô tả thông tin chung của chủ hộ cũng như các chỉ tiêu về kỹ thuật - kinh tế của mô hình.thông qua các chỉ số như giá trị trung bình, giá trị nhỏ nhất, độ lệch chuẩn, tần suất

Sử dụng các công thức tính toán các chỉ tiêu kinh tế để đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình

Tổng chi phí (TC): TC = TFC + TVC (tr.d/ha/năm)

Tổng doanh thu (TR): TR = Sản lượng * giá sản phẩm (tr.d/ha/năm)

Lợi nhuận (LN): LN = TR –TC (tr.d/ha/năm)

Tỷ suất lợi nhuận = (lợi nhuận /chi phí)*100

Hiệu quả chi phí = TR/TC (lần)

Phân tích độ nhạy về giá cho mô hình nuôi tôm sú luân canh với lúa – tôm càng xanh cho biết mức độ lời lỗ của mô hình khi giá thay đổi

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thông tin chung về nông hộ

Qua khảo sát cho thấy độ tuổi của các nông hộ nuôi tôm sú luân canh lúa-tôm càng xanh ở huyện Gia Rai, tỉnh Bạc Liêu ở mức khá cao với độ tuổi trung bình 47,17 ± 12,62 Số tuổi nhỏ nhất là 26 và lớn nhất là 74 tuổi Với những nông hộ có độ tuổi khá cao sẽ có nhiều kinh nghiệm hơn trong nuôi trồng thủy sản

Số lao động trung bình trong mỗi gia đình tham gia vào nuôi trồng thủy sản 2,83 ± 1,46

Có thể nói phần lớn các nông hộ sử dụng lao động trong gia đình tham gia vào nuôi trồng thủy sản để giảm một phần chi phí lao động Số năm kinh nghiệm nuôi trồng thủy sản trung bình của người dân là 11,87 ± 2,40 nhưng số năm kinh nghiệm nuôi tôm sú luân canh lúa – tôm càng xanh trong mô hình thì thấp trung bình là 1,40 ± 0,49 trong đó cao nhất là 2 năm và nhỏ nhất là 1 năm do đây là mô hình nuôi mới nên số năm kinh nghiệm của nông hộ còn thấp Một số hộ ngoài việc tăng nuôi tôm là chính còn làm nghề phụ để tăng thêm thu nhập cho gia đình chiếm 66,7%, 33,3% còn lại nông hộ chỉ nuôi tôm

Trình độ học vấn của nông hộ chỉ ở mức tương đối Đa số các các nông hộ học cấp 1 chiếm 43,3%, trình độ cấp 2 ở mức tương đối chiếm 30%, cấp 3 chiếm 16,7% và sau cùng là trình độ chưa cao chiếm 10%

Theo kết quả điều tra thì người dân biết được thông tin kỹ thuật về mô hình phần lớn là

do kinh nghiệm bản thân chiếm 62,7%, tiếp đến là do nông dân khác chia sẽ kinh nghiệm nuôi 16,8% Bên cạnh đó, truyền thông cũng là cách người dân biết nguồn thông tin về kỹ thuật chiếm 16,3% sau cùng tỷ lệ người dân biết được nuôi trồng thủy sản nhờ vào cán bộ địa phương chiếm 3,3%

Những năm trước đây huyện Giá Rai chủ yếu là trồng lúa luân canh nuôi tôm sú trong những năm gần đây các nông hộ lại chuyển sang mô hình tôm sú luân canh lúa-tôm càng xanh, đa số các nông hộ chọn mô hình nuôi tôm sú luân canh lúa –tôm càng xanh

vì đây là mô hình đem lại thu nhập cao chiếm 93,3%, tận dụng diện tích sẵn có chiếm

Trang 6

6

23,3% và nguồn thức ăn dễ tìm chiếm 20% Bên cạnh đó, nông hộ có thể tận dụng lao động gia đình chiếm 10%, sử dụng ít lao động dễ quản lý chỉ chiếm 6,7%

3.2 Các chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản của mô hình

3.2.1 Thông tin về thiết kế ruộng nuôi

Qua bảng 1 cho thấy, tổng diện tích canh tác của các hộ trung bình khoảng 2,1 ± 1,3 ha, diện tích canh tác dao động trong khoảng 0,5 - 5,0 ha Diện tích mặt nước trung bình 1,8

± 1,1 ha trong đó lớn nhất là 4,5 ha và nhỏ nhất là 0,44 ha

Bảng 1 : Thông tin về thiết kế ruộng nuôi

Tổng diện tích

Diện tích mặt nước

Mực nước trên trảng

Mực nước trong ruộng

Ha/hộ

ha

m

m

0,5 0,44 0,3 0,7

5 4,5 0,6 1,3

2,1 ± 1,3 1,8 ± 1,1 0,4 ± 0,07 1,1 ± 0,1 Mực nước trên trảng trung bình 0,4 ± 0,07 m và dao động từ 0,3 m đến 0,6 m gần giống nghiên cứu Tạ Hoàng Bảnh (2011) tại tỉnh Bến Tre và Bạc Liêu với mực nước trên trảng 0,36 ± 0,1m, các nông hộ thường giữ mực nước này vì nếu nông hộ tăng mực nước lên thì sẽ ảnh hưởng đến lúa, khi hạ mực nước xuống sẽ ảnh hưởng đến môi trường sống của tôm càng xanh Mực nước trong ruộng trung bình 1,1 ± 0,1 m trong đó cao nhất là 0,6m và nhỏ nhất là 0,3m cao hơn nghiên cứu của Tạ Hoàng Bảnh (2011) 1,03 ± 0,28 m Mực nước 1,1 m được các nông hộ xem là mực nước phù hợp cho mô hình nuôi tôm sú luân canh lúa-tôm càng xanh

3.2.2 Thông tin về con giống

Giống là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp năng suất của mô hình, nguồn gốc

và chất lượng tôm phải đảm bảo thì sản lượng tôm thu hoạch cao Theo kết quả điều tra, nguồn giống các nông hộ sử dụng chủ yếu mua tại địa phương chiếm 83,3%, có một số

hộ mua nguồn giống ngoài tỉnh chiếm 16,7%, Giống với tôm càng xanh, nguồn giống tôm sú rất phong phú, các nông hộ sử dụng chủ yếu mua trong tỉnh chiếm 96,7% và 3% còn lại là người dân mua con giống ngoài tỉnh

Bảng 2 : Thông tin về con giống

Nguồn giống

-Trong tỉnh (%)

-Ngoài tỉnh (%)

Mật độ thả (con/m2

) Thời gian nuôi (ngày)

Giá tôm giống (đồng/con)

Tỷ lệ sống (%)

83,3 16,7 1,53 ± 0,37 147,50 ± 15,74 192,67 ± 23,33

19 ± 8,77

96,7 3,3 4,64 ± 1,21 95,17 ± 11,25 68,50 ± 24,21 14,66 ± 5,81 Mật độ thả tôm càng xanh trung bình 1,53 ± 0,37 con/m2 trong đó có nông hộ thả với mật độ dày 2,31 con/m2

thấp hơn nghiên cứu của Hồ Thanh Thái (2011) với mật độ thả trung bình 2,3 con/m2 và gần giống như nghiên cứu của Tạ Hoàng Bảnh (2011) với mật

Trang 7

độ thả 1,42 ± 0,85 con/m2

, mật độ thả tôm sú trung bình là 4,64 ± 1,21 con/m2 thấp hơn

so với nghiên cứu của Nguyễn Rube (2012) ở Đồng bằng sông Cửu Long với mật độ 7,98 ± 4,87 con/m2

Thời gian nuôi tôm càng xanh trung bình 147,50 ± 15,74 và tôm sú trung bình 95,17 ± 11,25 ngày Giá con giống tôm càng xanh trung bình 225 ± 16,76 đồng/con cao hơn nghiên cứu của Tạ Hoàng Bảnh (2011) và Hồ Thanh Thái (2011) với giá con giống trung bình 161,09 ± 22,34 đồng/con và 145,5 ± 7,6 đồng/con, con giống chủ yếu nhập

từ các tỉnh khác, số lượng trại sản xuất tôm càng xanh là rất ít nên giá con giống cao Tôm sú trung bình 68,50 ± 24,21 thấp hơn với nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Hà (2011) trong mô hình tôm-lúa ở tỉnh Bạc Liêu với giá con giống dao động 52,4 ± 14,6

Tỷ lệ sống trung bình của tôm càng xanh 19 ± 8,77 trong có những nông hộ tỷ lệ sống tôm càng xanh 42% và thấp nhất 5%, sở dĩ có sự chêch lệch như vậy là do chất lượng con giống và cách thức chăm sóc của nông hộ, tôm sú trung bình 13,03 ± 7,22 trong đó nhỏ nhất 5% và lớn nhất là 29%

3.2.3 Lịch thời vụ

Tháng

(AL)

Mùa khô: Thả tôm sú

Mùa mưa: Trồng lúa và tôm càng xanh

Huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu là nơi có diện tích bị phèn mặn, vào mùa khô nông hộ không thể canh tác lúa, nên các nông hộ ở huyện Giá Rai bắt đầu chuyển sang nuôi tôm

sú vào mùa khô và trồng lúa vào mùa mưa Những năm gần đây dịch bệnh trên tôm sú ngày càng phức tạp làm cho tính hiệu quả của mô hình bị giảm xuống Từ những khó khăn đó, một số nông hộ bắt đầu thử nghiệm nuôi tôm càng xanh kết hợp với trồng lúa, kết quả ban đầu cho thấy đây là một mô hình khá tốt, mang lại hiệu quả cao

3.2.4 Thông tin quản lý ao nuôi

Qua kết quả điều tra, có 6,7% hộ cho ăn thức ăn công nghiệp, một số hộ cho tôm ăn nhưng bằng nguồn thức ăn sẵn có như: cá tạp, ốc bươu,… tiết kiệm được chi phí thức

ăn Các nông hộ cho tôm ăn chủ yếu vào giai đoạn ương khoảng một tháng, sau khi thả

ra ruộng rất ít hộ cho ăn Các hộ còn lại đều không cho tôm ăn trong quá trình nuôi Kết quả cho thấy những hộ có cho tôm ăn bằng thức ăn công nghiệp đạt năng suất cao Hầu hết các hộ nuôi đều cải tạo ruộng trước khi thả giống Hầu hết các hộ đều sên vét nhưng thường các nông hộ khoảng 2 đến 3 năm mới sên vét lại Có 100% hộ nuôi bón vôi trong quá trình cải tạo vì vôi giúp hạ phèn, diệt các mầm bệnh trong ao nuôi Việc bón vôi còn giúp cho những chất độc hại ở đáy ao được phân hủy và tạo nguồn thức ăn phong phú cho tôm Bên cạnh đó, các nông hộ còn làm đất để loại bỏ chất độc hại trong đất và mang lại nguồn dinh dưỡng cho tôm Ngoài phương pháp làm đât, các nông hộ còn sử dụng dây thuốc cá để diệt tạp,…

Qua khảo sát 30 nông hộ ,cho thấy đa phần các nông hộ đều thực hiện việc thay nước hoặc cung cấp thêm nguồn nước vào ruộng Nguồn nước chủ yếu lấy từ sông, rạch, các nông hộ thay nước khi thấy nước trong ruộng có dấu hiệu không tốt và số lần thay nước trung bình khoảng 2 đến 3 lần vụ/năm Việc thay nước giúp cho tôm phát triển nhanh hơn và hạn chế nguồn nước bị ô nhiễm Vào mùa nuôi tôm càng xanh và trồng lúa thì

Trang 8

8

người dân thường thay nước nhiều lần nhằm giảm độ mặn trong ruộng, tạo điều kiện cho lúa và tôm càng xanh phát triển tốt

3.2.5 Thông tin về quản lý bệnh và thuốc, hóa chất

Bệnh là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tới tỷ lệ sống và năng suất Theo kết quả khảo sát, tôm càng xanh được cho là một đối tượng nuôi ít bệnh, dễ quản lý Trong quá trình nuôi tôm càng xanh nông hộ chỉ phát hiện 2 loại bệnh chủ yếu: đen mang và đóng rong Bệnh đóng rong chiếm tới 64,4% và bệnh đen mang chỉ chiếm 35,6%, khi phát hiện có dấu hiệu 2 bệnh này các nông hộ thường thay nước là chính chiếm 46,9%, cho các mầm bệnh theo nguồn nước ra ngoài và cung cấp nguồn nước sạch vào cho tôm, sau đó tạt vôi để kích thích quá trình lột xác ở tôm chiếm 22,4%.Ngoài ra các nông

hộ còn sử dụng chế phẩm sinh học chiếm 22,4% để tăng cường sức khỏe cho tôm và sau cùng sử dụng hóa chất chỉ chiếm 8,2%

Ngược lại với tôm càng xanh, tôm sú là đối tượng nuôi dễ bệnh và ngày càng diễn biến phức tạp, đây là một trong những nỗi lo lắng của người dân trong quá trình nuôi Đa phần nông hộ đều gặp các bệnh như đốm trắng chiếm 39,2%, đỏ thân chiếm 35,3%, đầu vàng chiếm 19,6% và đóng rong chiếm chỉ 5,9% Trong quá trình nuôi, các nông hộ khi thấy có dấu hiệu bệnh thường tạt vôi 42,9% và thay nước chiếm 40,5% là chính, một số

hộ sử dụng hóa chất chiếm 16,7%

3.2.6 Thông tin về thu hoạch

Trọng lượng tôm càng xanh thu hoạch đạt 27,47 ± 2,94 con/kg cao hơn so với nghiên cứu của Hồ Thanh Thái (2011) trọng lượng trung bình 25,5 ± 7,2con/kg và dao động từ

15 đến 40 con/kg, tôm sú trung bình 32,33 ± 3,18 con/kg trong đó dao động trong khoảng 28 đến 40 con/kg Năng suất tôm càng xanh trung bình 98,52 ± 32,13 kg/ha/năm thấp hơn nghiên cứu Tạ Hoàng Bảnh (2011) với năng suất trung bình 110 ±

55 kg/ha/năm nhưng lại cao hơn nghiên cứu Hồ Thanh Thái (2011) năng suất trung bình 84,4 ± 43,7 kg/ha/năm, tôm sú đạt 200,59 ± 72,87 kg/ha/năm thấp hơn kết quả Bùi Thị

Thanh Hà (2011) với năng suất trung bình 256,6 ± 163,3 kg/ha/năm

Bảng 3 :Thông tịn về thu hoạch

Khối lượng tôm thu hoạch(con/kg)

Năng suất(kg/ha/năm)

Tổng sản lượng tôm thu hoạch(kg/hộ/năm)

27,47 ± 2,94 98,52 ± 32,13 193,33 ± 158,83

32,33 ± 3,18 200,59 ± 72,87 385,83 ± 291,08 Tổng sản lượng thu hoạch tôm càng xanh trung bình 193,33 ± 158,33 kg/hộ/năm cao hơn nghiên cứu Tạ Hoàng Bảnh (2011) 110 kg và sản lượng thu hoạch tôm sú là 385,83

± 292,08 kg/hộ./năm Các nông hộ đều thu toàn bộ với tôm càng xanh và thu tỉa với tôm

3.3 Các chỉ tiêu tài chính của mô hình nuôi tôm sú luân canh lúa –tôm càng xanh

Chi phi giống

Chi phí thức ăn

Chi phí cải tạo

ruộng

Chi phií nhiên

liệu

Chi phí thuốc/hóa chất

Chi phí khác

Chi phi giống Chi phí thức ăn Chi phí cải tạo ruộng Chi phií nhiên liệu Chi phí thuốc/hóa chất Chi phí khác

Trang 9

Hình 1:Cơ cấu chi phí biến đổi tôm càng xanh

Qua hình 1 cho ta thấy, tổng chi phí tôm càng xanh là 7,85 ± 2,42 triệu đồng/ha/năm cao hơn với nghiên cứu của Hồ Thanh Thái (2012) chi phí cho tôm càng xanh chỉ 6,5 ± 2,9 triệu đồng/ha/năm.Tổng chi phí tôm càng xanh trong đó chi phí giống chiếm tỉ lệ cao nhất 40%,chi phí giống tôm càng xanh cao như vậy do giá giống tôm càng xanh cao, kế đến là chi phí cải tạo ruộng chiếm 24% Bên cạnh đó, hầu hết người dân dùng máy bơm cho tôm nên chi phí nhiên liệu chiếm tới 13%, đa số các nông hộ cho ăn bằng thức ăn tự nhiên hoặc không cho ăn nên chi phí thức ăn của tôm càng xanh chỉ chiếm 10%, tôm càng xanh chỉ có 2 loại bệnh chủ yếu là đóng rong và đen mang mà khi có dấu hiệu tôm bị bệnh thì đa số nông hộ thay nước và tạt vôi để kích thích tôm lột xác, phát triển nhanh để giảm tỷ lệ chết và nguồn nước giảm ô nhiễm nên chi phí hóa chất

chỉ chiếm 8% và còn lại chi phí khác chiếm 5%

Chi phí giống 33%

Chi phí thức ăn 2%

Chi phí cải tạo 30%

Chi phí nhiên liệu 19%

Chi phí thuốc, hóa chất 11%

Chi phí khác 5%

Hình 2: Cơ cấu chi phí biến đổi của tôm sú Đối với tôm sú, chi phí giống cũng chiếm tỷ lệ cao nhất 33,11% là do giá giống tôm sú

rẻ và đa số các nông hộ ở đây không cho ăn, chỉ có ít hộ cho ăn nhưng thức ăn chủ yếu

là tự nhiên do nông hộ tự tìm kiếm nên chi phí thức ăn chỉ chiếm một phần nhỏ Chi phí cải tạo ruộng chiếm tới 30,29% trong tổng chi phí do hằng năm sau khi trồng lúa xen canh với tôm càng xanh xong thì các nông hộ thường sên vét, tạt vôi, thuốc cá để cải thiện môi trường sống cho tôm Chi phí thuốc, hóa chất của tôm sú nhiều hơn tôm càng xanh do tôm sú dễ bị bệnh và chi phí thức ăn tôm sú Bên cạnh đó, chi phí khác chiếm 4,42% do và cuối cùng là chi phí thức ăn chiếm 2,28% do chỉ có một số ít hộ cho ăn thức ăn công nghiệp nên chi phí thức ăn rất thấp

Trang 10

10

Bảng 4: Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm sú luân canh lúa-tôm càng xanh

Tổng chi phí (triệu đồng/ha/năm)

Chi phí cố định( triệu đồng/ha/năm)

Chi phí biến đổi(triệu đồng/ha/năm)

Doanh thu(triệu đồng/ha/năm)

Lợi nhuận (triệu đồng/ha/năm)

Số hộ lời(%)

Số hộ lỗ(%)

Tỷ suất lợi nhuận(%)

Hiệu quả chi phí(%)

13,75 ± 3,60

13,57 ± 3,60 17,47 ± 4,49 3,92 ± 5,97 66,7 33,3

40

140

7,85 ± 2,42

7,85 ± 2,42 16,63 ± 6,11 8,77 ± 6,06 93,3 6,7

123

223

12,45 ± 4,15 2,4 ± 1,5 10,04 ± 3,25 39,75 ± 15,64 27,29 ± 17,54 96,7

3,3

262

362

33,88 ± 8,07 2,4 ± 1,5 31,47 ± 6,94 73,88 ± 21,76 39,99 ± 24,94 93,3

6,7

132

232 Theo kết quả điều tra, tổng chi phí trung bình của mô hình 33,88 ± 8,07 triệu

đồng/ha/năm bao gồm chi phí lúa chỉ khoảng 10,99 ± 3,22 triệu đồng/ha/năm thấp hơn

nghiên cứu của Tạ Hoàng Bảnh (2011) là 9,68 ± 1,03 triệu đồng/ha/năm Chi phí tôm sú

là 12,45 ± 4,15 triệu đồng/ha/năm cao hơn chi phí trung bình của Tạ Hoàng Bảnh

(2011) 9,57 ± 5,05 triệu đồng/ha/năm và tôm càng xanh 7,85 ± 2,42 triệu đồng/ha/năm

cao hơn so với nghiên cứu của Tạ Hoàng Bảnh (2011) 5,55 ± 2,09 triệu đồng/ha/năm

Nhìn chung ta có thể thấy lúa là đối tượng chiếm tỷ trọng cao nhất 36,75% và tôm càng

xanh chiếm nhỏ nhất 23,17% trong cơ cấu tổng chi phí của mô hình

Doanh thu tôm sú đem về cao nhất 39,75 ± 15,64 triệu đồng/ha/năm cao hơn nghiên cứu

Tạ Hoàng Bảnh (2011) với doanh thu 23,08 ± 12,69 triệu đồng/ha/năm Doanh thu lúa

thấp hơn so với tôm sú, doanh thu lúa 17,47 ± 4,49 triệu đồng cao hơn so với Tạ Hoàng

Bảnh (2011) 12,11 ± 6,04 triệu đồng/năm/ha Bên cạnh đó, tôm càng xanh cũng đóng

góp một phần doanh thu không nhỏ cho mô hình, doanh thu tôm càng xanh 16,63±6,11

triệu đồng trong đó doanh thu lớn nhất tôm càng xanh lớn nhất 30,80 triệu đồng/ha/vụ

và thấp nhất 5,00 triệu đồng Tổng thu nhập của mô hình là 73,88 ± 21,76 triệu

đồng/ha/năm

Lợi nhuận là phần nông hộ thu lại được sau khi doanh thu trừ đi các khoản chi phí của

mô hình Qua bảng 5, ta có thể thấy lợi nhuận trung bình của mô hình 39,99±24,94 triệu

đồng/ha/năm trong đó tôm sú chiếm 27,29 ± 17,54 triệu đồng/ha/năm cao hơn nghiên

cứu của Tạ Hoàng Bảnh (2011) là 22,9 ± 6,13 triệu đồng/ha/năm,lợi nhuận từ tôm sú

lớn nhất 68,77 triệu đồng/ha/năm và thấp nhất là -1,37 triệu đồng/ha/năm Lý do có sự

chêch lệch giữa các hộ nuôi là do vấn đề quản lý ao nuôi và nguồn giống và thức ăn,…

lợi nhuận tôm càng xanh trung bình 8,77 ± 6,06 triệu đồng/ha/năm cao hơn so với

nghiên cứu của Tạ Hoàng Bảnh (2011) với mức lợi nhuận trung bình 6,55 ± 5,71 và

thấp nhất là lợi nhuận của lúa trung bình 3,92 ± 5,97 triệu đồng/ha/năm Qua khảo sát,

số nông hộ lời chiếm 93,3% và số hộ lỗ chiếm 6,7%

Tỷ suất lợi nhuận của tôm sú 262% cao hơn so với tôm càng xanh là 123% và lúa 40%

Có nghĩa là khi bỏ ra 1 đồng để sản xuất tôm sú thì mức lời mà nông hộ thu được là

2,62 đồng và khi bỏ ra một đồng để sản xuất tôm càng xanh thì thu lại 1,23 đồng Hiệu

Ngày đăng: 13/11/2015, 12:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Thông tin về thiết kế ruộng nuôi - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm sú (mùa khô) luân canh lúa – tôm càng xanh (mùa mƣa) ở huyện giá rai,bạc liêu
Bảng 1 Thông tin về thiết kế ruộng nuôi (Trang 6)
Bảng 2 : Thông tin về con giống - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm sú (mùa khô) luân canh lúa – tôm càng xanh (mùa mƣa) ở huyện giá rai,bạc liêu
Bảng 2 Thông tin về con giống (Trang 6)
Hình 2: Cơ cấu chi phí biến đổi của tôm sú - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm sú (mùa khô) luân canh lúa – tôm càng xanh (mùa mƣa) ở huyện giá rai,bạc liêu
Hình 2 Cơ cấu chi phí biến đổi của tôm sú (Trang 9)
Bảng 4: Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm sú luân canh lúa-tôm càng xanh - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm sú (mùa khô) luân canh lúa – tôm càng xanh (mùa mƣa) ở huyện giá rai,bạc liêu
Bảng 4 Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm sú luân canh lúa-tôm càng xanh (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm