1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá lóc trong ao đất ở tỉnh an giang

11 802 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 417,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN THỊ KIM THOA PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC TRONG AO ĐẤT Ở TỈNH AN GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH K

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THỊ KIM THOA

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH

CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC TRONG AO ĐẤT

Ở TỈNH AN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

TS NGUYỄN THANH LONG

Trang 2

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC

TRONG AO ĐẤT Ở TỈNH AN GIANG

Nguyễn Thị Kim Thoa và Nguyễn Thanh Long

Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ Email: thoa115348@student.ctu.edu.vn

Tóm tắt

Nghiên cứu mô hình nuôi cá lóc được thực hiện ở tỉnh An Giang từ tháng 1 đến tháng 5 năm

2014 thông qua phỏng vấn 33 hộ nuôi cá lóc nhằm phân tích khía cạnh hiệu quả kỹ thuật và tài chính, xác định những thuận lợi và khó khăn của mô hình Kết quả cho thấy diện tích ao nuôi trung bình là 0,12 ha/ao Cá lóc giống có kích cỡ trung bình là 824±50 con/kg, mật độ thả 26,0±4,0 con/m 2 Sau thời gian nuôi 170±18,8 ngày/vụ đạt năng suất trung bình là 123.283 ±3665 kg/ha/vụ với tỷ lệ sống là 60±22% và hệ số tiêu tốn thức ăn là 1,15±0,06 Kết quả cho thấy với tổng chi phí sản xuất là 3.530±1.010 triệu đồng/ha/vụ, tổng thu nhập là 3.774±1.058 triệu đồng/ha/vụ thì đạt lợi nhuận là 244±319 triệu đồng/ha/vụ và tỉ suất lợi nhuận là 0,07 lần Nghề nuôi cũng gặp một số khó khăn lớn là giá bán thấp và giá thức ăn cao

Từ khóa: Cá lóc, nuôi trồng thủy sản, hiệu quả tài chính

Abstract

Studying snakehead fish farming system was conducted in An Giang province from January

to May 2014 through interviewing 33 households for analyzing technical and financial aspects, and identifying advantages and disadvantages of the farming system The results showed that the average area of the pond was 0.12 ha/pond The fingerlings were stocked in pond with 170 individuals/kg of size and 26.4 individuals/m 2 of density After170 days/crop, snakehead fish were harvested with average yield of 123 tons/ha/crop, survival ratio of 60% and FCR of 1.15 With production cost of 3,530±1,010 million VND/ha/crop, gross income of 3,774±1,058 million VND/ha/crop, net income was 244±319 million VND/ha/crop and benefit ratio was 0.07 times However, farming has also had some major difficulty is the low price and high feed prices

Keyword: Snakehead fish, aquaculture, financial efficiency

Title: Technical and economical aspects of Snakehead fish farming in An Giang province

1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Nuôi trồng thuỷ sản của Việt Nam trong thời gian qua đã có những phát triển đáng kể, sản lượng nuôi trồng thủy sản (NTTS) Diện tích nuôi trồng thủy sản trong năm 2011 đạt 2.933 ha, năm 2012 diện tích nuôi trồng đạt 3.110 ha tăng qua các năm.Sản lượng thuỷ sản năm 2013 ước tính đạt 5918,6 nghìn tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 4400 nghìn tấn cho thấy tiềm năng triển vọng trong nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam đang phát triển mạnh (Tổng cục Thống kê, 2012)

Đồng bằng sông cửu Long (ĐBSCL) có nhiều điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản ở khu vực ĐBSCL tăng nhanh trong những năm gần

Trang 3

đây Năm 2009 là 1.044 nghìn ha với tổng sản lượng nuôi trồng là 2.589 nghìn tấn; năm 2010

là 1.052 nghìn ha, sản lượng 2.728 nghìn tấn; năm 2011 là 1.040 nghìn ha, sản lượng 2.933 nghìn tấn, cho thấy nuôi trồng thủy sản ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội khu vực ĐBSCL (Tổng cục Thống kê, 2012)

An Giang là một tỉnh ở ĐBSCL và NTTS là một trong những ngành kinh tế chủ lực có nhiều điều kiện tự nhiên thuân lợi cho nghề nuôi trồng thủy sản phát triển, trong đó phải nói đến là nghề nuôi cá lóc thương phẩm

Bên cạnh những thuận lợi cũng tồn tại nhiều khó khăn, môi trường bị ô nhiểm ảnh hưởng đến nghề nuôi thủy sản, tình trạng sản xuất và nuôi trồng thủy sản còn manh mún tự phát Để hiểu

rõ hoạt động của nghề nuôi các lóc trong ao, đề tài “Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá lóc trong ao ở tỉnh An Giang" đã được thực hiện

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá lóc trong ao đất tại tỉnh An Giang nhằm tìm hiểu khó khăn và thuân lợi của mô hình nuôi từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho mô hình nuôi

1.3 Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu của đề tài gồm các nội dung sau:

- Phân tích khía cạnh kỹ thuật của mô hình nuôi cá lóc trong ao tại An Giang;

- Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá lóc trong ao tại An Giang;

- Những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi cá lóc trong ao; và

- Vai trò của phụ nữ trong mô hình nuôi cá lóc ở tỉnh An Giang

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian thực hiện: từ tháng 1 – 5 /2014

- Địa điểm thực hiện: Huyện Thoại Sơn và thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang

2.2 Phương pháp thu số liệu

2.2.1 Số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh An Giang Các nghiên cứu có liên quan như Tạp chí chuyên ngành, luận văn tốt nghiệp đại học và cao học

2.2.2 Số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp sẽ được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 33 hộ nuôi cá lóc trong ao đất thông qua bảng câu hỏi đã được soạn sẵn

Bảng câu hỏi soạn sẵn với những nội dung chính như:

- Thông tin về chủ nuôi: Địa chỉ, họ tên chủ hộ, tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, số năm kinh nghiệm nuôi thủy sản, lý do chọn mô hình

- Kỹ thuật: Tổng diện tích nuôi/vụ, thời gian thả giống, thời gian thu hoạch, thời gian

Trang 4

nuôi 1 vụ, mật độ thả, kích cỡ con giống thả, hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR), kích cỡ thu hoạch, tỉ lệ sống, tổng sản lượng khi thu hoạch/vụ

- Tài chính: Chi phí cố định, chi phí biến đổi, tổng doanh thu, lợi nhuận và tỉ suất lợi nhuận

- Thông tin khác: Thuận lợi và khó khăn trong quá trình nuôi, vai trò phụ nữ trong mô hình nuôi

2.3 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu

Số liệu phỏng vấn được kiểm tra và nhập vào máy tính Phần mềm Excel được sử dụng để nhập và phân tích số liệu Các số liệu được thể hiện thống kê mô tả, tần số suất hiện, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tỉ lệ phần trăm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất

Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính được tính dựa trên những công thức sau (tính cho 1 vụ):

- Tổng doanh thu = tổng số tiền bán sản phẩm

- Tổng chi phí = Tổng chi phí biến đổi + Tổng chi phí cố định (chi phí khấu hao một vụ)

- Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí

- Tỉ suất lợi nhuận = Tổng lợi nhuận/Tổng chi phí

- Giá thành = Tổng chi phí/tổng sản lượng

3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN

3.1 Những thông tin chung về các mô hình nuôi cá lóc ở tỉnh An Giang

Kết quả khảo sát ở 33 hộ cho thấy số tuổi trung bình hộ nuôi là 46,0 (Bảng 1) Nhỏ nhất là

27 tuổi và lớn nhất là 73 tuổi Mô hình nuôi cá lóc đa phần tập trung ở độ tuổi trung niên,

độ tuổi tương đối lợi thế trong nuôi cá lóc Đặc biệt ở mô hình nuôi cá lóc, qua khảo sát cho thấy 90% khâu hoạt động đều do nam giới phụ trách Do tính chất của công việc nặng nên thích hợp với nam giới hơn nữ giới Nữ giới thường chỉ giúp người nam trong việc bán sản phẩm sóc và cho cá ăn

Bảng 1: Thông tin về tuổi, số lao động tham gia mô hình, số năm kinh nghiệm

Tuổi của chủ hộ NTTS (tuổi) 46,0±10,2 Tổng số lao động trong gia đình (người/hộ) 3,52±1,3

Số lao động tham gia mô hình (người/hộ) 2,61±0,7

Số lao động thuê mướn (người/hộ) 1,03±0,19

Số năm kinh nghiệm (năm) 5,87±2,26

Số lao động trung bình trong gia đình là 3,52 người/hộ, trong đó số lao động tham gia mô hình trung bình là 2,61 người/hộ (Bảng 1) Hộ có số lao động ít nhất là 2 người và nhiều nhất là 5 người Số năm kinh nghiệm của hộ nuôi cá lóc trung bình là 5,87 năm (Bảng 1)

Hộ có kinh nghiệm lâu năm nhất là 13 năm và ít nhất là 3 năm Những hộ có kinh nghiệm lâu năm sẽ có nhiều lợi thế hơn vì họ đã thành thạo trong việc chăm sóc, phòng ngừa dịch

Trang 5

bệnh ở cá, khẩu phần ăn hợp lý nên hiệu quả đạt được của mô hình sẽ khả quan hơn so với những hộ ít kinh nghiệm Số hộ nuôi cá lóc thuê lao động bên ngoài thấp chỉ 1,03 người trên hộ chủ yếu là sử dụng lao động trong gia đình nên không góp phần giải quyết việc làm cho lao động nhàn rỗi tại địa phương

Về trình độ học vấn của người nuôi cá lóc cho thấy học vấn của chủ hộ còn thấp Số chủ hộ

có trình độ cấp I đạt 18,1%, trình độ cấp II chiếm tỉ lệ cao nhất (54,5%), trình độ cấp III là 27,2%, và hoàn toàn không có trình độ cao đẳng và đại học (Bảng 2) Trình độ hộc vấn của người nuôi cá lóc thấp nên việc tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào mô hình nuôi không tốt bằng người có trình độ cao.Vì vậy người nuôi cần liên tục cập nhật các thông tin khoa học kỹ thuật mới áp dụng vào mô hình sản xuất nhằm nâng cao năng suất và chất lượng cá

Bảng 2: Trình độ học vấn

Kết quả nghiên cứu cho thấy các lý do chủ yếu mà người nuôi chọn mô hình nuôi cá lóc trong ao đất chủ yếu là nâng suất cao (90,1%), ít dịch bệnh (51,5%) Ngoài ra, còn những lý

do khác như: có kinh nghiệm nuôi lâu năm, thị trường tiêu thụ tốt, chi phí đầu tư thấp, tận dụng thức ăn tự nhiên trong ao đất Thông qua những lý do trên cho ta thấy người dân quan tâm chủ yếu đến lợi nhuận mà mô hình nuôi mang lại Thị trường tiêu thụ tốt sẽ giúp cho cá lóc sau thu hoạch có thể tiêu thụ ngay giúp người nuôi thu hồi vốn nhanh chóng để đầu tư cho vụ kế tiếp

Bảng 3: Lý do chọn mô hình nuôi cá lóc

Có kinh nghiệm nuôi 10 30,3 Thị trường tiêu thụ tốt 9 27,2 Chi phí đầu tư ban đầu thấp 9 27,2 Tận dụng thức ăn trong ao đất 3 9,09 Nuôi được mật độ cao 2 0,05 Nguồn kiến thức nuôi cá lóc của hộ nuôi tiếp cận từ các nguồn thông tin kỹ thuật khác nhau

và rất đa dạng, nhưng do một số hạn chế nhất định như trình độ học vấn không cao, tình hình nuôi tự phát, nên kinh nghiệm tích lũy của bản thân qua các vụ nuôi là chủ yếu (90,9%), từ những người nông dân có kinh nghiệm khác (66,6%), tài liệu khuyến nông/khuyến ngư (63,6%), tvi/đài lần lượt chiếm (60,6%) (Bảng 4) nông dân tham khảo các nguồn thông tin trên chủ yếu muốn tìm hiểu kiến thức nuôi trồng thủy sản, khâu kỹ thuật cho ăn, kiến thức phòng trị một số loại bệnh phổ biến xuất hiện trên cá lóc hiện nay và

Trình độ học vấn N Tỷ lệ (%)

Trang 6

tìm hiểu thêm kiến thức về kỹ thuật nuôi nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho mô hình nuôi Bảng 4: Hình thức chuyển giao kỹ thuật mô hình nuôi

Kinh nghiệm NTTS của chủ hộ 30 90,9 Học tập từ nông dân khác 22 66,6 Tài liệu khuyến nông - khuyến ngư 21 63,6

Qua các lớp tập huấn kỹ thuật NTTS 14 42,4

3.2 Khía cạnh kỹ thuật của mô hình nuôi cá lóc trong ao tại An Giang

Cá Lóc là đối tượng nuôi mới ở tỉnh nhưng có khá nhiều mô hình nuôi đa dạng như nuôi trong ao đất, lưới, bè, nuôi trong mùng, bể nylon (Nguyễn Văn Thường, 2004) tùy thuộc vào điều kiện kinh tế mà mỗi hộ có thể lựa chọn mô hình thích hợp Diện tích NTTS trung bình của hộ (41.500 m2/ha/hộ) Ao nuôi cá lóc ở tỉnh An Giang có diện tích trung bình 0,12 ha/ao

và mực mức bình quân trong ao là 2,6 m (Bảng 5) So với kết quả nghiên cứu trước đây là 300-1000 m2/ao (Dương Nhựt Long, 2011) thì hiện nay diện tích ao nuôi cá lóc ngày càng được mở rộng hơn do người dân thu hẹp dần diện tích lúa để tăng diện tích nuôi cá lóc nhằm gia tăng nâng suất (Bảng 5)

Bảng 5: Kết cấu mô hình nuôi cá lóc

Tổng diện tích sử dụng NTTS (m2/hộ) 41.500 ±708 Mực nước bình quân ao nuôi (m) 2,6±0,5 Dện tích mặt nước trung bình 1 ao nuôi (m2/ao) 1.200±0,07 Con giống là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và tỉ lệ sống của cá lóc Nếu thả cá giống kém chất lượng sẽ xảy ra trường hợp cá bệnh, chết hàng loạt, dẫn đến thời gian nuôi dài và FCR cao Vì vậy con giống tốt, chất lượng, không nhiễm mầm bệnh là lựa chọn hàng đầu của các hộ nuôi cá lóc ở tỉnh An Giang

Qua kết quả khảo sát 33 hộ nuôi cá lóc cho thấy cá lóc có thể thả nuôi từ 2 vụ trở lên tùy thuộc vào giá cả nếu thấy giá cao có lợi nhuận thì người dân thả nuôi tiếp Thời điểm thu hoạch thường sau thời điểm thả giống khoảng 170 ngày (Bảng 6) Thời gian nuôi ngắn nhất là 120 ngày và dài nhất là 180 ngày Thời gian nuôi ngắn hay dài sẽ biểu hiện được mức hiệu quả sản xuất của mô hình Số vụ nuôi trung bình của hộ nuôi cá lóc là 2 vụ/năm Hộ có số vụ cá lóc ít nhất là 1 vụ/năm và nhiều nhất là 3 vụ/năm Con giống được thả nuôi khoảng thời gian là 170 ngày đạt khối lượng trung bình 803 g/con và năng suất trung bình là 123.283 kg/ha/vụ (Bảng 6) kết quả này thấp hơn nghiên cứu của Nguyễn Thị Diễm Thúy (2010) là 478 tấn/ha/vụ do

mô hình nuôi được thả nuôi với mật độ thấp (26,0 con/m2) Hộ nuôi có mật độ thả cao nhất là

32 con/m2 và thấp nhất là 15 con/m2 Với mật độ nuôi này nên trong quá trình khảo sát thấy cá

ít bệnh và tỷ lệ sống 60% cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Thị Diệp Thúy (2010) là 55%

Về thức ăn cho cá chủ yếu là sử dụng thức ăn công nghiệp nhưng có sử dụng thêm thức ăn cá tạp để cho cá quen dần với thức ăn trong một tháng đầu mới thả con giống chiếm tỷ lệ (1,5%)

Trang 7

trong tổng chi phí thức ăn Cho cá ăn mỗi ngày trung bình là 2 lần Cách thức cho ăn của hộ nuôi cá lóc qua khảo sát là rãi thức ăn trực tiếp xuống ao Cho cá ăn bằng thức ăn công nghiệp

có hệ số FCR trung bình là 1,15, hộ có hệ số FCR cao nhất là 1,3 và thấp nhất là 1,1 thấp hơn

sử dụng thức ăn cá tạp với hệ số là 4,0 kết quả nghiên của Trần Văn Thấy (2011) Cho ăn bằng thức ăn tươi sống như: cá tạp, ốc bưu vàng, cua đồng vừa thiếu chủ động vừa có ảnh hưởng xấu đến môi trường và nguồn lợi thủy sản tự nhiên (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009) nuôi cá lóc bằng thức ăn công nghiệp hộ dân có thể chủ động nguồn thức ăn cho cá không còn bị lệ thuộc vào nguồn thức ăn tự nhiên và tình trạng ép giá của người bán thức ăn tươi sống

Bảng 6: Các thông số kỹ thuật của mô hình nuôi các lóc

Kích cỡ con giống (con/kg) 824,2±50 Giá giống bình quân (đồng/con) 200 0,15 Mật độ thả (con/m2) 26,0±4,0 Thời gian nuôi (số ngày/vụ) 170±18,8 Kích cỡ thu hoạch (g/con) 803±118

Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) 1,15±0,06

Năng suất (kg/ha) 123.283±3665

3.3 Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá lóc ở tỉnh An Giang

Cơ cấu chi phí đầu tư trong quá trình nuôi cá lóc của mô hình nuôi gồm 2 loại chi phí chi, trong đó chi phí cố định chiếm tỷ lệ khá thấp chủ yếu là chi phí biến đổi chiếm tỷ lệ rất lớn Chi phí khấu hao cho mô hình nuôi cá lóc trung bình là 33,6triệu đồng/ha/vụ chủ yếu là chi phí xây dựng công trình (49,7%), mua máy móc (37,9%) và chi phí thuê đất (12,4%) cho hệ thống ao nuôi (Bảng 7)

Bảng 7: Chi phí khấu hao của mô hình nuôi cá lóc ở tỉnh An Giang

Nội dung Chi phí cố định

(triệu đồng/ha/vụ)

Khấu hao

(triệu đồng/ha/vụ) Tỉ lệ (%) Chi phí xây dựng công trình 112±27,8 11,2±2,78 49,7 Chi phí mua máy móc 85,0±26,0 8,50±2,60 37,9 Chi phí thuê đất 27,8±14,6 13,9±7,32 12,4 Tổng 225±68,5 33,6±9,09 100

Chi phí biển đổi chiếm tỉ lệ cao trong tổng chi phí, kết quả cho thấy các mô hình nuôi cá lóc

có phí biến đổi cao hơn chi phí khấu hao (Bảng 7 và 8) Đối với mô hình nuôi cá lóc thì chi phí chiếm tỉ lệ cao nhất đó là chi phí mua thức ăn (85,0%) (Bảng 8)

Lượng thức ăn phụ thuộc vào thời gian nuôi và tốc độ tăng trưởng của con giống Chi phí thức ăn trung bình của hộ NTTS là 2974 triệu đồng/ha/vụ (Bảng 8) Hộ có chi phí thức ăn cao

Trang 8

nhất là 6160 triệu đồng/ha/vụ và thấp nhất là 1500 triệu đồng/ha/vụ

Bảng 8: Chi phí biến đổi của mô hình nuôi các lóc

Chi phí thức ăn (triệu đồng/ha/vụ) 2974 ±944 85,0 Chi phí thuốc phòng bệnh (triệu đồng/ha/vụ) 62,5±30,7 2,96 Chi phí nhân công (triệu đồng/ha/vụ) 85,9±47,1 2,46 Chi phí thuốc hóa chất (triệu đồng/ha/vụ) 73,4± 20,9 2,10 Chi phí mua con giống (triệu đồng/ha/vụ) 62,5±9,90 1,76 Chi phí sên vét (triệu đồng/ha/vụ) 48,9±18,8 1,40 Chi sữa chữa nhỏ (triệu đồng/ha/vụ) 46,6 ± 17,7 1,33 Chi phí vận chuyển (triệu đồng/ha/vụ) 40,9±16,0 1,17 Chi phí cấp thoát nước (triệu đồng/ha/vụ) 28,8±14,0 0,80 Chi phí lặt vặt (triệu đồng/ha/vụ) 20,1±18,1 0,57 Chi phí điện thoại (triệu đồng/ha/vụ) 14,4 ±7,8 0,41 Tổng chi phí biến đổi (triệu đồng/ha/vụ) 3497±1005 100 Qua kết quả nghiên cứu cho thấy chi phí thuốc phòng trị bệnh trong mô hình chiếm tỉ lệ thấp (2,96%) do nuôi mật độ thấp nên mô hình nuôi cá lóc ít xảy ra dịch bệnh Đa phần các hộ nuôi

sử dụng máy bơm để cấp thoát nước Chi phí cấp thoát nước trung bình là 28,8 triệu đồng/ha/vụ Chi phí sửa chữa trung bình của mô hình nuôi cá lóc là 46,6 triệu đồng/ha/vụ Chi phí vận chuyển trung bình là 40,9 triệu đồng/ha/vụ (Bảng 8) Những chi phí này chiếm tỉ

lệ không lớn so với tổng chi phí biến đổi nên không ảnh hưởng nhiều đến giá thành và lợi nhuận

Ở mô hình nuôi này, mỗi hộ nuôi chỉ sử dụng rất ít lao động thuê mướn mà chủ yếu là lao động gia đình do lợi nhuận không cao nên người nuôi giảm bớt chi phí thuê nhân công Do đó, chi phí nhân công trong mô hình nuôi cá lóc chiếm tỉ lệ không cao (2,46%) (Bảng 8) Cho thấy mô hình nuôi cá lóc ở tỉnh An Giang chưa giải quyết nhiều được việc làm cho lao động nhàn rỗi tại địa phương

Trong nuôi cá lóc, ngoài việc nuôi thành công đạt năng suất cao thì giá cả cũng ảnh hưởng rất nhiều đến lợi nhuận của mô hình nuôi Cá có giá bán trung bình 30.818 đồng/kg Mô hình có tổng doanh thu 3774 triệu đồng/ha/vụ và tổng chi phí 3530 triệu đồng/ha/vụ nên mô hình lợi nhuận 244 (triệu đồng/ha/vụ) (Bảng 9) Hiện nay giá cá lóc đã giảm nhiều so với các năm trước nguyên nhân là do các hộ dân bỏ canh tác lúa đào ao chuyển sang nuôi cá lóc một cách

ồ ạt do thấylợi nhuận cao dẫn đến tình trạng cung vượt quá cầu Cá lóc chủ yếu tiêu thụ thị trường nội địa xuất khẩu rất ít sang thị trường nước ngoài, vì thế khi cung vượt quá cầu cùng tình trạng thương lái ép giá làm cho lợi nhuận người nuôi giảm Từ kết quả trên cho thấy mô hình nuôi cá lóc cần phải có hướng phát triển bền vững tránh tình trạng đào ao nuôi ồ ạt không theo định hướng quy hoạch của tỉnh làm ảnh hưởng đến ngành hàng nuôi cá lóc Mô hình có tỉ suất lợi nhuận (0,07 lần) và có 12,1% hộ nuôi bị thua lỗ do giá cả ngày càng giảm

mà giá thức ăn thì luôn biến động theo chiều hướng tăng

Trang 9

Bảng 9: Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá lóc

Tổng doanh thu (triệu đồng/ha/vụ) 3.774±1.058 Tổng chi phí (triệu đồng/ha/vụ) 3.530±1.010 Lợi nhuận (triệu đồng/ha/vụ) 244±319 Gía thành (đồng/kg) 28.815±1.659

Tỉ lệ số hộ bị thua lỗ (%) 12,1

Tỉ suất lợi nhuận (lần) 0,07±0,09 Qua kết quả khảo sát, hầu hết các hộ nuôi cá lóc đều chọn cách bán cho các thương lái ở trong địa phương Do bán cho các thương lái dễ dàng, thương lái tự thu hoạch và kiểm tra chất lượng tương đối dễ, ít kiểm tra các chỉ tiêu an toàn thực phẩm Ngoài ra, người dân rất thích bán cho các thương lái là do hình thức thanh toán chủ yếu của các thương lái là bằng tiền mặt

và thanh toán liền trong lúc mua

3.4 Những thuận lợi và khó khăn của nghề nuôi cá lóc ở tỉnh An Giang

Bảng 10 thể hiện những thuận lợi của mô hình nuôi cá lóc Kết quả cho thấy người dân tham gia mô hình nuôi cá lóc do có thị trường tiêu thụ rộng lớn, loài dễ nuôi, được hỗ trợ kỹ thuật nuôi, nguồn thức ăn dễ tìm, con giống dễ mua là những điều kiện thuận lợi của mô hình nuôi Điều này một lần nữa chứng tỏ mô hình nuôi cá lóc có thể phát triển để bổ sung, đa dạng hóa loài nuôi thủy sản ở tỉnh An Giang nói riêng và ĐBSCL nói chung

Cá lóc là loài dễ nuôi không đòi hỏi quá hiều kỹ thuật phức tạp lại được sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật của cán bộ thủy sản ở xã đã tạo điều kiện thuận lợi cho người nuôi phát triển mô hình Con giống được ương nuôi nhiều trong tỉnh và các tỉnh lân cận nên người nuôi có thể chủ động lựa chọn cơ sở cung cấp giống Nguồn thức ăn cho cá chủ yếu là thức ăn công nghiệp

do các đại lý bán thức ăn thủy sản cung cấp nên người nuôi có thể chủ động được không bị

lệ thuộc vào nguồn cung cấp thức ăn tự nhiên như trước đây

Bảng 10: Thuận lợi của mô hình nuôi cá lóc ở tỉnh An Giang

Thị trường tiêu thụ tốt 30 1

Được hỗ trợ kỹ thuật nuôi 19 3

Hiện nay mô hình nuôi các lóc đem lại cho người dân gặp nhiều khó khăn Chính vì giá bán cao hơn giá thành sản xuất không nhiều nhưng giá thức ăn lại tăng cao (Bảng 11) Do lợi nhuận của hộ nuôi thấp nên xảy ra tình trạng thiếu vốn để tái đầu tư cho vụ sau Hiện nay vay vốn ngân hàng với lãi suất thấp rất khó vì vậy mà các hộ nuôi thiếu vốn sản xuất chủ yếu đi vay bên ngoài với lãi suất cao Giá thức ăn thì luôn biến động theo chiều hướng tăng làm gia

Trang 10

tăng chi phí sản xuất ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận của hộ nuôi thêm vào đó là tình trạng ép giá của thương lái mua cá gây cản trở không nhỏ cho mô hình nuôi cá lóc phát triển Bảng 11: Khó khăn của mô hình nuôi cá lóc ở tỉnh An Giang

Vì vậy để nghề nuôi cá lóc phát triển cần có chính sách hỗn trợ cho người dân vay vốn với lãi xuất thấp để sản xuất, ổn định thị trường và hạn chế tình trạng nuôi cá ồ ạt dẫn đến giá cả sụt giảm gây thiệt hại cho người nuôi cá

3.5 Vai trò phụ nữ trong mô hình nuôi cá lóc tại tỉnh An Giang

Phụ nữ tham gia vào mô hình nuôi cá lóc chủ yếu là bán sản phẩm và cho cá ăn còn các khâu đào ao, mua thức ăn, con giống, thu hoạch cá phụ nữ cũng có tham gia vào nhưng rất ít chiếm

tỷ lệ không đáng kể (Bảng 12)

Bán sản phẩm chủ yếu là tiêu thụ số lượng cá không đạt tiêu chuẩn về kích cỡ, trọng lượng và

dị tật sẽ được đem đi tiêu thụ, khâu này phù hợp với nữ giới hơn nam giới nên số lượng phụ

nữ tham gia vào rất cao (90,9%), khâu cho cá ăn đơn giản không đòi hỏi cao về kỹ thuật và sức khỏe nên số lượng nữ giới tham gia vào cao (60,6%) (Bảng 12)

Qua kết quả khảo sát cho thấy phụ nữ trong mô hình nuôi cá lóc chỉ đóng vai trò phụ và chủ yếu tham gia vào các khâu đơn giản không đòi hỏi cao về kỹ thuật và sức khỏe

Bảng 12:Vai trò phụ nữ trong mô hình nuôi cá lóc tại tỉnh An Giang

Vai trò của phụ nữ N Tỷ lệ (%)

Mua sắm đầu tư cho vụ sau 5 15,2

Ngày đăng: 13/11/2015, 12:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thông tin về tuổi, số lao động tham gia mô hình, số năm kinh nghiệm - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá lóc trong ao đất ở tỉnh an giang
Bảng 1 Thông tin về tuổi, số lao động tham gia mô hình, số năm kinh nghiệm (Trang 4)
Bảng 3: Lý do chọn mô hình nuôi cá lóc - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá lóc trong ao đất ở tỉnh an giang
Bảng 3 Lý do chọn mô hình nuôi cá lóc (Trang 5)
Bảng 2: Trình độ học vấn - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá lóc trong ao đất ở tỉnh an giang
Bảng 2 Trình độ học vấn (Trang 5)
Hình thức  N  Tỷ lệ (%) - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá lóc trong ao đất ở tỉnh an giang
Hình th ức N Tỷ lệ (%) (Trang 6)
Bảng 6: Các thông số kỹ thuật của mô hình nuôi các lóc - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá lóc trong ao đất ở tỉnh an giang
Bảng 6 Các thông số kỹ thuật của mô hình nuôi các lóc (Trang 7)
Bảng 7: Chi phí khấu hao của mô hình nuôi cá lóc ở tỉnh An Giang - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá lóc trong ao đất ở tỉnh an giang
Bảng 7 Chi phí khấu hao của mô hình nuôi cá lóc ở tỉnh An Giang (Trang 7)
Bảng 8: Chi phí biến đổi của mô hình nuôi các lóc - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá lóc trong ao đất ở tỉnh an giang
Bảng 8 Chi phí biến đổi của mô hình nuôi các lóc (Trang 8)
Bảng 10 thể hiện những thuận lợi của mô hình nuôi cá lóc. Kết quả cho thấy người dân tham  gia mô hình nuôi cá lóc do có thị trường tiêu thụ rộng lớn, loài dễ nuôi, được hỗ trợ kỹ thuật  nuôi, nguồn thức ăn dễ tìm, con giống dễ mua là những điều kiện thuậ - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá lóc trong ao đất ở tỉnh an giang
Bảng 10 thể hiện những thuận lợi của mô hình nuôi cá lóc. Kết quả cho thấy người dân tham gia mô hình nuôi cá lóc do có thị trường tiêu thụ rộng lớn, loài dễ nuôi, được hỗ trợ kỹ thuật nuôi, nguồn thức ăn dễ tìm, con giống dễ mua là những điều kiện thuậ (Trang 9)
Bảng 12:Vai trò phụ nữ trong mô hình nuôi cá lóc tại tỉnh An Giang - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá lóc trong ao đất ở tỉnh an giang
Bảng 12 Vai trò phụ nữ trong mô hình nuôi cá lóc tại tỉnh An Giang (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm