1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu nhu cầu tiêu dùng sản phẩm cá lóc thương phẩm của hộ gia đình ở tỉnh an giang

11 376 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 522,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỨU NHU CẦU TIÊU DÙNG CÁC SẢN PHẨM CÁ LÓC THƯƠNG PHẨM Ở HỘ GIA ĐÌNH Ở AN GIANG Trần Yến Nhi Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ TÓM TẮT Nghiên cứu này được thực hiện từ thá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

TRẦN YẾN NHI

NGHIÊN CỨU NHU CẦU TIÊU DÙNG SẢN PHẨM CÁ LÓC THƯƠNG PHẨM CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở TỈNH AN

GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN TH.S HUỲNH VĂN HIỀN

2014

Trang 2

NGHIÊN CỨU NHU CẦU TIÊU DÙNG CÁC SẢN PHẨM

CÁ LÓC THƯƠNG PHẨM Ở HỘ GIA ĐÌNH Ở AN GIANG

Trần Yến Nhi

Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ

TÓM TẮT

Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 01/2014 đến tháng 05/2014 nhằm phân tích hiện trạng và

xu hướng tiêu dùng cá lóc thương phẩm đồng thời phân tích thuận lợi và khó khăn đối với tiêu dùng

cá lóc thương phẩm của hộ gia đình ở An Giang Quy mô hộ gia đình trung bình là 4,4 người, chi phí sinh hoạt trung bình là 3 triệu đồng/hộ/tháng trong đó 71,6% là chi cho thực phẩm Lượng cá lóc tiêu thụ trung bình là 6,8 kg/hộ/tháng (±2,8) Trong tổng lượng cá lóc tiêu thụ thì có 96,3% số hộ tiêu thụ ở dạng tươi sống Các yếu tố được người tiêu dùng ưu tiên đó là chất lượng và giá cả (9,0 và 9,4), đây là hai yếu tố quan trọng nhất được các hộ gia đình quan tâm khi mua cá lóc Các yếu tố đồng thời ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến lượng cá lóc tiêu thụ (mức 5%) của hộ gia đình gồm có: (i) Tần suất mua cá lóc tươi sống (ngày/lần); (ii) Khu vực sống (nông thôn hoặc thành thị); (iii) Giá mua bình quân (1000đ/kg) Ngoài ra, số nhân khẩu (người) và chất lượng cá lóc tươi sống cũng

có ảnh hưởng ở mức ý nghĩa 10% Thuận lợi trong tiêu dùng cá lóc là tính thuận tiện trong mua và

sử dụng được đánh giá là khá tốt (41,3%) và xu hướng sẽ ngày càng thuận tiện hơn (82,6%) đồng thời nguồn thông tin cung cấp cho mua bán ngày càng được chú trọng và phổ biến (37,5%) Khó khăn chủ yếu trong tiêu dùng cá lóc là chất lượng cá lóc nuôi có xu hướng giảm, do đó chất lượng

cá lóc cần được bảo đảm khi tiêu dùng

Từ khóa: Cá lóc, nhu cầu tiêu dùng, hộ gia đình, An Giang

Title: Study on consumption demands of snakehead fish product of households in An Giang province

ABSTRACT

This study was conducted from Jenuary 2014 to June 2014 to analyze the status situation and trends consumption of snakehead fish and analysis of advantages and disadvantages for consumption snakehead fish of households in An Giang province The households size average is 4.4 persons, the average living cost is 3 million/household/month in which 71.6% were spent on food Snakehead fish average consumption of 6.8 kg/households/month The fresh snakehead fish consumption of households was 96.3 % of the total snakehead fish household consumption Factors that consumers priorities are quality and price ( 9.0 per 10 point and 9.4 per 10 point) These are the two most important factors households interested to buy snakehead fish The factors effected statistical significance (5 %) to the amount of households consumption include: (i) Frequency of purchase fresh snakehead fish (day/time) ; (ii) Living Area; (iii) the average price (1000d/kg) In addition, the number of household members (people) and snakehead fish quality also affects at 10% significance Advantages consumption of snakehead fish is convenience in purchase is considered very good (41.3

%) and it will become increasingly more convenient (82.6 %) Information for saling is popular focus (37.5 %) The main difficulty consumption snakehead fish is the quality of snakehead fish to decrease, so the quality of snakehead should be interested while buying to consumption

Key words: snakehead fish, demand consumption, households, An Giang province

Trang 3

1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Trong hai thập kỷ qua, sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế xã hội là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhu cầu thuỷ sản trên toàn cầu không ngừng tăng cao với tốc độ tăng hằng năm 4,3% Thị trường tiêu thụ ngày nay quan tâm nhiều hơn đến thuỷ sản như nguồn thực phẩm dinh dưỡng quan trọng không chỉ cung cấp 16% nhu cầu prôtêin của con người mà còn đáp ứng các chất khoáng

và axit Omega 3 cần thiết cho cơ thể để phát triển trí não và ngăn ngừa một số bệnh Cùng với sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế xã hội, mức tiêu thụ thuỷ sản trên thị trường thế giới ngày càng tăng cao Theo báo cáo của FAO (2008) thì lượng thủy sản tiêu dùng bình quân trên đầu người trên thế giới có xu hướng tăng lên qua các năm (từ năm 2000 là 16,0 kg/người lên đến 16,7 kg/người năm

2006 và dự báo đến năm 2020 là 19,1 kg/người) Việt Nam có mức tiêu dùng thủy sản bình quân đầu người đạt 19,4 kg trong năm 1999, năm 2007 là 22 kg và ước đạt 26,4 kg vào năm 2010 (Lê Xuân Sinh, 2010) Việt Nam luôn có mức tiêu dùng thủy hải sản theo đầu người cao hơn mức trung bình của thế giới, riêng ĐBSCL thì cao hơn gấp đôi so với cả nước khoảng 55,9 kg/người/năm (Lê Xuân Sinh và Nguyễn Thị Kim Quyên, 2011) Tiêu thụ thủy sản ở hộ gia đình và nhà hàng ngày càng tăng,

do sở thích về các loài và các dạng sản phẩm khác nhau là lý do dẫn đến nguồn cung cấp phong phú Theo dự báo, tiêu thụ thủy sản tươi sống nội địa năm 2015 là 1814 nghìn tấn và năm 2020 là 1820 nghìn tấn (Viện kinh tế quy hoạch thủy sản, 2012) An Giang với 73% diện tích là đất phù sa màu

mỡ từ hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, diện tích mặt nước ngọt lớn, An Giang có thế mạnh về sản xuất lúa gạo và thủy sản Thời gian vừa qua, An Giang không chỉ nổi tiếng về xuất khẩu lương thực,

mà còn vươn lên là một trong những tỉnh đứng đầu về xuất khẩu thủy sản của cả nước Do cá tra gặp nhiều khó khăn nên nhiều hộ dân chuyển sang nuôi cá lóc với lợi nhuận khá cao chủ yếu là phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa Cá lóc phân bố rộng trong tự nhiên và thường thấy ở các thủy vực nước ngọt, có thể thích nghi cao với điều kiện môi trường, tăng trưởng nhanh và nhất là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Theo cục Thống kê tỉnh An Giang (2009), tổng diện tích nuôi cá lóc trên địa bàn An Giang 80,5 ha trong đó diện tích nuôi ao 74,6 ha Đặc biệt thịt cá rất ngon, ngọt, được ưa chuộng để chế biến thực phẩm trong bữa ăn thường ngày của các hộ gia đình, thị trường tiêu thụ của

cá lóc chủ yếu là thị trường nội địa Xu hướng tiêu dùng của hộ gia đình s thay đổi và yêu cầu của người tiêu dùng cao và thiên về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm Vì vậy nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu là nhằm phân tích thực trạng và xu hướng tiêu dùng cá lóc thương phẩm của hộ gia đình ở An Giang để từ đó xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lượng tiêu thụ cá lóc thương phẩm của hộ gia đình ở An Giang

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Nhằm phân tích thực trạng và xu hướng tiêu dùng cá lóc của hộ gia đình ở An Giang để từ đó xây dựng được hàm cầu trong tiêu dùng sản phẩm cá lóc thương phẩm của hộ gia đình ở An Giang

1.3 Nội dung nghiên cứu

- Phân tích hiện trạng tiêu dùng các sản phẩm cá lóc thương phẩm của hộ gia đình ở An Giang

- Xây dựng hàm cầu tiêu dùng sản phẩm cá lóc thương phẩm của hộ gia đình ở An Giang

- Phân tích thuận lợi và khó khăn đối với tiêu dùng cá lóc thương phẩm của hộ gia đình ở An Giang

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2014 đến tháng 05/2014 thông qua việc khảo sát 80 hộ gia đình tiêu thụ cá lóc thương phẩm ở An Giang Nghiên cứu này chỉ tập trung về khía cạnh cầu cá lóc thương phẩm nên không xét về hàm cung và động thái cung của cá lóc thương phẩm tại địa bàn nghiên cứu

Số liệu thứ cấp được thu thập từ các nghiên cứu có liên quan, báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn An Giang, các tạp chí các luận văn cao học và các website có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu

Trang 4

Số liệu sơ cấp: Số liệu sau khi thu thập bằng cách phỏng vấn ngẫu nhiên hộ tiêu dùng tại Huyện Thoại Sơn và Thành phố Long Xuyên, An Giang Sau đó số liệu được kiểm tra và mã hoá trước khi được nhập vào máy tính

Một số biên cơ bản được sử dụng để thu thập như sau:

+ Thông tin chung về nông hộ

+ Qui mô nhân khẩu nông hộ

+ Các nguồn thu nhập của nông hộ

+ Chi phí sinh hoạt hàng tháng của hộ

+ Các loại thực phẩm tiêu dùng, trong đó có thuỷ hải sản

+ Các dạng sản phẩm thay thế khi cá lóc tăng giá

+ Xu hướng tiêu dùng thuỷ sản trong những năm sau

+ Các khó khăn trong tiêu dùng

+ Các thông tin khác sao cho đáp ứng được mục tiêu của đề tài

Sử dụng phần mềm SPSS for Windows để nhập số liệu và phân tích thống kê

+ Dùng thống kê mô tả cho các chỉ tiêu như: tần suất, giá trị trung bình, phần trăm, độ lệch chuẩn và phân tích bảng chéo để mô tả hiện trạng các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá các thông tin về nhu cầu tiêu thụ Phương pháp thống kê nhiều chọn lựa được áp dụng để phân tích nhận thức của người dân

+ Phân tích hồi quy đa biến để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lượng tiêu thụ cá lóc thương phẩm

Y = A + β1.X1 + β2.X2 + β3X3 + … + βi.Xi + ε

+ Sử dụng khung lý thuyết về hàm cầu trong tiêu dùng để xây dựng hàm cầu trong tiêu dùng cá lóc

thương phẩm

3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN

3.1 Đặc điểm của hộ tiêu dùng các sản phẩm cá lóc của hộ gia đình ở An Giang

Số nhân khẩu trung bình của những hộ sống ở nông thôn là 4,5 người, nhiều hơn so với các hộ sống

ở thành thị là 4,3 người Kết quả này tương tự với kết quả nghiên cứu của Lê Xuân Sinh và Đỗ Thị Kim Quyên (2011) là số nhân khẩu trung bình của nhũng hộ sống ở nông thôn là 4,6 người, ở thành thị là 4,3 người Tuy nhiên, tỷ lệ Nam và Nữ trong gia đình thì không có sự khác biệt giữa nông thôn

và thành thị Trình độ học vấn của các chủ hộ được khảo sát nhìn chung ở thành thị cao hơn so với nông thôn, ở nông thôn có khoảng 6,4% số hộ mù chữ, có 23,8% số hộ có trình độ cấp 3 và 9,5% số

hộ có trình độ cao hơn Trong khi đó, ở thành thị có 58,8% số hộ có trình độ cấp ba và không có số

hộ mù chữ

Lợi nhuận trung bình sau khi trừ đi các khoảng chi phí của tất cả các hoạt động kinh tế của các hộ ở nông thôn là 5,9 triệu đồng/hộ/tháng thấp hơn so với thành thị là 7,1 triệu đồng/hộ/tháng Lợi nhuận bình quân/hộ/tháng ở thành thị cao hơn 1,2 lần so với ở nông thôn và có sự chênh lệch trong cùng một nhóm là khá cao (5,9±2,5 triệu đồng so với 7,1±3,7 triệu đồng) Kết quả này cao hơn kết quả của Đặng Thị Phượng và Lê Xuân Sinh (2010) là lợi nhuận trung bình của hộ là 5,1 triệu đồng/hộ/tháng

Do các hộ ở nông thôn hoạt động kinh tế chủ yếu là trồng lúa và chăn nuôi, đây là nghề truyền thống lâu đời ở nông thôn mang lại 59,5% lợi nhuận, trong khi đó các hộ ở thành thị lựa chọn hoạt động kinh doanh mua bán và làm công nhân, cán bộ các cấp nên lợi nhuận đem lại là cao hơn (60,4%) Chi phí sinh hoạt trung bình ở nông thôn là 2,8 triệu đồng/hộ/tháng tương ứng 0,62 triệu đồng/người/tháng trong đó 67,7% chi cho thực phẩm

Trang 5

Bảng 1: Thông tin chung về hộ được khảo sát trong địa bàn nghiên cứu

Chỉ tiêu theo khu vực Nông thôn Thành thị

Thu nhập hàng tháng (tr.đ/hộ/tháng) 5,9a±2,5 7,1b±3,7

Chi phí sinh hoạt (tr.đ/hộ/tháng) 2,8a±1,7 3,2b±0,7

Chi thực phẩm (tr.đ /hộ/tháng) 1,9a±0,6 2,4b±0,4

Chi cho thực phẩm (%) 67,7 75,5

Ghi chú: trên cùng một hàng nếu kí tự khác nhau là khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Ở thành thị có mức chi phí sinh hoạt cao hơn khoảng 1,1 lần so với nông thôn (3,2 triệu đồng/hộ/tháng tương ứng là 0,74 triệu đồng/người/tháng và dành cho thực phẩm là 75,5%) do sự chênh lệch về lợi nhuận và mức sống Kết quả này tương tự với kết quả nghiên cứu của Lê Xuân Sinh và Nguyễn Thị Kim Quyên (2011), chi phí sinh hoạt ở thành thị cao hơn 1,1 đến 1,3 lần so với nông thôn (chi phí sinh hoạt/người/tháng (triệu đồng) ở thành thị là 0,8±0,7 và ở nông thôn là 0,5±0,3) Khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở mức 5% giữa nông thôn và thành thị

3.2 Hiện trạng tiêu dùng thuỷ sản nước ngọt và cá lóc của hộ gia đình ở An Giang

Thủy sản nước ngọt (TSNN) và thịt heo là những loại thực phẩm được sử dụng nhiều nhất trong các

hộ gia đình với tần suất mua lần lượt là 14,3 lần/tháng và 16,1 lần/tháng Do quy mô hộ nhỏ nên số lượng mua trung bình từ 0,5 đến 2 kg/lần Ngoài ra còn có thịt bò, gia cầm, trứng và hải sản tần suất mua lần lượt là 1,6, 3,3, 3,4 và 2,9 lần/tháng Hiện nay dịch bệnh trên thịt gia cầm nên tâm lý người tiêu dùng lo sợ và ít sử dụng thịt gia cầm, còn thịt bò giá quá cao so với thu nhập và chi phí thực phẩm của các hộ gia đình nên ít được sử dụng làm thực phẩm

Bảng 2: Các loại thực phẩm tiêu dùng

Chỉ tiêu Lần mua/tháng Lượng mua (kg or trứng/lần)

Giá mua (ngàn/kg or

trứng)

TSNN 14,3±2,5 1,2±0,6 42,5±6,4 Thịt bò 1,6±0,8 0,7±0,3 218±23,5 Thịt heo 16,1±2,8 1,1±0,3 83,8±4,2 Gia cầm 3,4±1,6 1,4±0,4 49,9±5,2 Trứng 3,5±1,1 9,1±1,1 2,8±5,9 Hải sản 2,9±1,4 0,6±0,3 118,2±27 Theo FAO (2003) từ năm 1950-1970 lượng tiêu thụ thuỷ sản bình quân theo đầu người tăng gấp đôi

và từ đó ổn định ở mức 9-10 kg/đầu người Tuy nhiên, tiêu thụ thuỷ sản bình quân theo đầu người dự kiến s tiếp tục tăng cao cùng với sự tăng trưởng dân số thế giới Lượng cung cấp thuỷ sản có thể s

bị hạn chế do các yếu tố môi trường và phạm vi nhu cầu có thể là 150 đến 160 triệu tấn, hoặc 19-20 kg/đầu người vào năm 2030 Theo báo cáo của FAO (2008) thì lượng thủy sản tiêu dùng bình quân trên đầu người trên thế giới có xu hướng tăng lên qua các năm (từ năm 2000 là 16,0 kg/người lên đến 16,7 kg/người năm 2006 và dự báo đến năm 2020 là 19,1 kg/người) Tăng tiêu thụ thực phẩm thuỷ sản toàn cầu chủ yếu diễn ra ở các nước đang phát triển nơi dân số đang ngày càng tăng và thu nhập cao tạo điều kiện cho người dân tăng sức mua các mặt hàng thuỷ sản giá trị cao

Thị trường tiêu thụ ngày nay quan tâm nhiều hơn đến thuỷ sản như nguồn thực phẩm dinh dưỡng quan trọng không chỉ cung cấp 16% nhu cầu prôtêin của con người mà còn đáp ứng các chất khoáng

và axit Omega 3 cần thiết cho cơ thể để phát triển trí não và ngăn ngừa một số bệnh

Theo Đặng Thị Phượng và Lê Xuân Sinh (2010): Trong tổng lượng thủy sản giá trị cao mua để tiêu dùng thì trung bình có khoảng 83,1% là thủy sản nước ngọt và 90,1% trong số đó là thủy sản tươi sống Trong tổng số lượng thủy sản giá trị thấp được mua để tiêu dùng làm thực phẩm trong gia đình

Trang 6

thì có 85,0% là thủy sản nước ngọt và 86,7% ở dạng tươi sống Điều này cho thấy TSNN là loại thưc phẩm quan trọng đới với người dân trong mỗi bữa ăn hàng ngày

TSNN được các hộ ưu tiên sử dụng với mức tiêu dùng 173,3 kg/hộ/năm Giá mua các loài TSNN trung bình là 42,5 ngàn đồng/kg Kết quả này cao hơn mức 158,1±152,5 kg/hộ/năm ở ĐBSCL (theo

Lê Xuân Sinh và Nguyễn Thị Kim Quyên, 2011) Các loài TSNN được các hộ gia đình yêu thích và

ưu tiên sử dụng là cá lóc, cá rô, cá tra/basa và cá điêu hồng tương ứng với 80%, 70%, 60%, 48,6%

Lý do lựa chọn các loài TSNN này chủ yếu là do: rẻ (75,5%), ngon (60,4%), dễ mua (35,8%), cung cấp nhiều chất dinh dưỡng và dễ chế biến (13,2%), đồng thời là do thói quen (3,8%) trong tiêu dùng bởi người dân Việt Nam từ lâu đã gắn với nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên thủy sản rất đa dạng và phong phú về giống loài

0 10 20 30 40 50 60 70 80 90

Cá lóc Cá rô Cá

tra/basa

Cá điêu hồng

Cá trê Cá sặc Cá rô phi

Hình 1: Các loài TSNN các hộ gia đình sử dụng

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hưng (2009) cho biết, mức tiêu dùng thủy sản của Việt Nam có xu hướng tăng theo mức tăng thu nhập bình quân GDP/người, tăng từ 1,22 triệu tấn (1995) lên tới 2,21 triệu tấn (2007) Tác giả này cũng dựa vào mức thu nhập bình quân đầu người để dự báo nhu cầu tiêu dùng thủy sản trong năm 2015 của Việt Nam là 2,7-2,9 triệu tấn và đến năm 2020 có thể đạt trong khoảng 3,1-3,3 triệu tấn

Hiện nay, thuỷ sản trong thực đơn hằng ngày của người dân vùng nông thôn đang dần thay đổi, do việc giảm nguồn lợi khai thác, chuyển đổi nghề nghiệp và sự thay đổi cơ chế quản lý nguồn nước Thực phẩm từ nguồn nuôi trồng đang dần thay thế thuỷ sản từ nguồn khai thác tự nhiên Cùng với xu hướng của thế giới, mức tiêu thụ thủy sản của Việt Nam cũng tăng trong những năm qua Theo dự báo, tiêu thụ thủy sản tươi sống nội địa năm 2015 là 1814 nghìn tấn và năm 2020 là 1820 nghìn tấn (Viện kinh tế quy hoạch thủy sản, 2012) Cá lóc thương phẩm là đối tượng quan trọng cung cấp thực phẩm chủ yếu hiện nay cho tiêu dùng ở nhiều hộ gia đình cả nông thôn và thành thị do thịt cá ngon, ngọt và là loài cá đã từ lâu gắn với nhiều món ăn quen thuộc dễ chế biến trong bữa ăn hằng ngày của các hộ gia đình

Trên thị trường hiện tại rất đa dạng về các loại cá, trong đó con cá lóc là một trong những con cá giàu dinh dưỡng và dễ chế biến được nhiều người tiêu dùng lựa chọn hiện nay

Cá lóc được nhiều hộ gia đình sử dụng với tần suất mua bình quân là 5 ngày/lần (±1,9), số lượng mua trung bình là 1,2 kg/lần (±0,6), kích cỡ cá trung bình là 3,1 con/kg với giá bình quân là 39,6 ngàn đồng/kg (±10,6) Kết quả này cao hơn (về tần suất mua) so với kêt quả của Đỗ Minh Chung (2010), người tiêu dùng thường mua cá lóc đen bình quân khoảng 7 ngày thì mua một lần với số lượng bình quân 0,7 kg/lần với kích cỡ mua khoảng 0,5 con/kg với giá mua bình quân 44,6 ngàn đồng Số lần mua trong tháng và số lượng mua ở nông thôn nhiều hơn so với thành thị Giá cá lóc ở thành thị cao hơn so với nông thôn nhưng không nhiều Con cá lóc từ người nuôi tới người tiêu dùng

nó phải qua hai trung gian là người bán sỉ và người bán lẻ Nó được người bán sỉ mua từ các hộ nuôi,

Trang 7

về bán lại cho các bạn hàng bán lẻ, từ người bán lẻ mới tới người tiêu dùng Để đến được với người tiêu dùng thì giá trị con cá lóc đã được nâng lên vì nó chứa luôn phần chi phí marketing và chi phí vận chuyển Giá cá ở nông thôn thấp hơn là do chi phí vận chuyển và trung gian ít hơn

Bảng 3: Thông tin tiêu dùng về cá lóc của các hộ gia đình tại An Giang

Số ngày mua/lần 4,9±2,1 5,1±1,1 Khoảng cách tới chợ (km) 2,0±1,7 1,5±0,9

Số lượng (kg/lần) 1,3±0,7 1,0±0,3 Kích cỡ cá lóc (con/kg) 3,1±0,9 2,9±1 Giá bình quân (1000đ/kg) 39,4±12 40,4±2,1

Giá cao nhất (1000đ/kg) 52,1±13,2 53,2±4,3

Giá thấp nhất (1000đ/kg) 30,6±8,1 29,9±0,5

Cá lóc chủ yếu là tiêu thụ nội địa nên giá bán phụ thuộc nhiều vào lượng và giá bán của các loài khác phục vụ tiêu dùng nội địa, nguồn cá khai thác tự nhiên vào mùa lũ cũng ảnh hưởng mạnh đến giá cá lóc thương phẩm Theo kết quả khảo sát thì cá lóc có giá cao nhất vào tháng 1-2 âm lịch (68,5% số hộ) do đây là dịp lễ tết nên nhu cầu tăng caođược rất nhiều người ưa chuộng nhằm thay đổi khẩu vị, giá thấp nhất vào các tháng 7-8 âm lịch (63,8% số hộ) vì đây là mùa nước các loài TSNN khác phong phú, đa dạng về số lượng và loài tạo nên nguồn cung tăng nên giá cá lóc thấp hơn so với các tháng khác

Cá lóc là sản phẩm quen thuộc với người dân Việt Nam đặc biệt nguồn cung cấp ở ĐBSCL rất phong phú nên người tiêu dùng có thể dễ dàng mua cá lóc để chế biến trong những bữa ăn hàng ngày Cá lóc là loài cá được ưa chuộng tiêu thụ hàng đầu ở Việt Nam, nhất là ở ĐBSCL và đang được người dân An Giang nuôi nhiều với đặc điểm dễ chăm sóc, có thể nuôi ở dạng bán thâm canh, thâm canh với nhiều hình thức như nuôi trong ao đất, trong lồng b , trên bể lót bạt Thị trường tiêu thụ chủ yếu

là nội địa Từ năm 1990 đến nay, nghề nuôi cá lóc đang trở nên rất phổ biến Sản lượng nuôi cá lóc tăng liên tục trong giai đoạn 2003- 2011 Năm 2003 là 2.671 tấn, năm 2011 tăng lên 22.496 tấn Tốc

độ tăng trưởng sản lượng trung bình năm 2003- 2011 khoảng 7% (Kim Hồng, 2013)

Hầu hết các hộ gia đình mua cá lóc từ người bán lẻ ngoài chợ và người bán rong mang đến tận nhà

do nguồn cung cấp phong phú và sự phát triển của cơ sở hạ tầng, các chợ ở địa phương, với lý do chủ yếu là thuận tiện (66,7%) và do người quen (33,3%)

Do điều kiện tự nhiên ở An Giang có hai sông lớn chảy qua là sông Tiền và sông Hậu, ngoài ra còn

có hệ thống sông ngòi chằn chịt mang lại một nguồn cá rất dồi dào và là nơi có điều kiện rất thích hợp để nuôi cá lóc với nhiều mô hình, do đó nơi đây có nguồn cung cấp cá lóc phong phú và thuận lợi cho người tiêu dùng Các hộ gia đình chọn con cá cho các bữa ăn là một lựa chọn sáng suốt, nhất

là cá lóc, vì hàm lượng đạm cao và đặc biệt là từ con cá lóc có thể chế biến rất nhiều món ăn, có sức khoẻ tốt là quan trọng nhất Cá nhiều đạm, có giá trị dinh dưỡng cao, những món ăn chế biến từ cá luôn được nhiều người ưa chuộng vì thịt cá dễ tiêu và không tăng cân

Hiện nay thì nguồn cá tự nhiên rất hiếm, đặc biệt là cá lóc, vì thế người tiêu dùng lựa chọn cá lóc nuôi trong bể thay thế bởi chất lượng cá lóc nuôi tương tự như cá lóc đồng

Trong tổng số 104 triệu tấn thực phẩm thuỷ sản của thế giới được tiêu thụ trong năm 2003, những mặt hàng được người tiêu dùng ưa thích nhất là thuỷ sản tươi/ướp đá, đạt mức tiêu thụ nhiều hơn cả, ước tính khoảng 52,1% tổng thuỷ sản thương mại toàn cầu (FAO, 2003) Ở các nước đang phát triển mức tiêu thụ thuỷ sản cao nhất là các mặt hàng tươi sống chiếm 65,6%, tiếp theo là thuỷ sản đông lạnh khoảng 18,4%, các sản phẩm chế biến bảo quản 8,6% và đóng hộp là 7,4% (FAO, 2003) Cũng giống như các loài thủy sản khác hình thức tiêu thụ cá lóc chủ yếu là tươi sống (chiếm 96,3%), khô (2,5%), khác (1,2%)

Trang 8

Khi được hỏi sản phẩm nào thay thế khi thiếu cá lóc thì phần lớn số hộ chọn TSNN khác tươi sống (71,3%) và khác (21,3% bao gồm hải sản tươi sống, mắm lóc và các loài thực phẩm khác) để thay thế khi thiếu cá lóc Điều này cho thấy người dân rất ưa chuộng các loài TSNN và TSNN không thể thiếu trong các bữa ăn hàng ngày của các hộ gia đình Xu hướng ngày nay người tiêu dùng chuyển sang sử dụng cá trong hầu hết các bữa ăn, để đảm bảo sức khoẻ và chế biến được nhiều món ăn ngon

mà còn hấp dẫn

0 10 20 30 40 50 60 70 80

1=Hải sản tươi sống

2=TSNN khác tươi sống

Hình 2: Sản phẩm thay thế cá lóc

Nếu xếp mức độ ưu tiên từ 1-10 (1=Rất ít ưu tiên;….10=Rất ưu tiên) mà người tiêu dùng quan tâm khi mua cá lóc thì kết quả có 8/11 yếu tố được liệt kê và đều có mức ảnh hưởng cao với số điểm 5/10 trở lên Trong đó chất lượng và giá cả là hai yếu tố quan trọng nhất (9,0 và 9,4) Ngoài ra các yếu tố khác như: khoảng cách đi mua, sự tiện lợi khi mua, thuận tiện trong chế biến, dịch vụ hỗ trợ từ người bán, thái độ của người bán và kích cỡ cá cũng được người tiêu dùng quan tâm và ưu tiên khi mua sản phẩm Kết quả này tương tự với kết quả nghiên cứu của Lê Xuân Sinh và Nguyễn Thị Kim Quyên (2011) chất lượng và giá cả là hai yếu tố quan trọng nhất khi chọn mua thủy hải sản (tương ứng 8,9/10 và 8,4/10) Thái độ của người bán và các dịch vụ hỗ trợ từ người bán là một yếu tố kích thích người tiêu dùng trở lại mua hàng hóa

3.3 Xây dựng hàm cầu tiêu dùng cá lóc của hộ gia đình ở An Giang

Nhu cầu cá lóc trên thị trường không cố định mà thay đổi theo thời gian và mùa vụ Trong điều kiện chất lượng cá lóc là khá tốt và các yếu tố khác không đổi thì các hộ ở nông thôn s tiêu dùng cá lóc trung bình là 9,7 kg/hộ/tháng nhiều hơn so với các hộ ở thành thị là 8,2 kg/hộ/tháng tương ứng với mức tiêu thụ là 25,8 kg/người/năm ở nông thôn và 22,9 kg/người/năm ở thành thị Đối với các nhóm chất lượng cá lóc khác nhóm khá tốt thì ở nông thôn được tiêu dùng bình quân là 8,7 kg/hộ/tháng và 8,2 kg/hộ/tháng ở thành thị Giá cá lóc tương đối rẻ so với các loại thực phẩm khác nên phù hợp với thu nhập và chi phí sinh hoạt của người dân ở nông thôn, do đó ở nông thôn tiêu dùng cá lóc nhiêu hơn ở thành thị 1,5 kg

Hàm cầu tiêu dùng cá lóc dạng tổng quát là:

Y = 9,90+0,42X 1 –0,92X 2 +1,53X 3 – 0,76X 4 + 0,93X 5

Trong đó:

Y: Sản lượng cá lóc tiêu thụ/hộ/tháng (kg)

X1: Số nhân khẩu (người)

X2: Tần suất mua cá lóc tươi sống (ngày/lần)

X3: Khu vực sống (1=Nông thôn, 0=Thành thị)

Trang 9

X4: Giá mua bình quân (1000đ/kg)

X5: Chất lượng cá lóc tươi sống (1=khá và tốt, 0=khác)

Với R = 0,77; R2

= 0,59; Sig.F = 0,000 Giải thích về phương trình ở mức tổng quát như sau:

X1: Khi số người trong gia đình tăng thêm 1 người thì sản lượng cá lóc tiêu thụ trong hộ gia đình/tháng tăng lên 0,42kg

X2: Khi số ngày mua cá lóc/lần tăng lên thêm 1 ngày (tần suất mua giảm) thì số lượng cá lóc mua giảm 1,53 kg/hộ/tháng

X3: Mức tiêu dùng cá lóc ở nông thôn nhiều hơn 1,5 kg so với thành thị

X4: Khi giá tăng 1000đ/kg thì lượng cá lóc tiêu dùng s giảm 0,76 kg/hộ/tháng

X5: Lượng tiêu dùng cá lóc tươi sống có chất lượng khá và tốt nhiều hơn 0,93 kg so với các nhóm chất lượng trung bình và thấp, điều này cho thấy người tiêu dùng rất quan tâm đến chất lượng cá lóc thương phẩm

Theo kết quả nghiên cứu của Vũ Vi An (2007), trong đó sản lượng tiêu dùng thủy sản của người dân

ở ĐBSCL trung bình là 62 kg/người/năm Mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người của Việt Nam năm 2003 là 19,4kg và tỷ lệ thuận với thu nhập của hộ, những hộ ngh o có mức tiêu dùng thủy sản trên đầu người là 46,4 gram/người/ngày và hộ khá giàu là 70,6 gram/người/ngày (Hà Xuân Thông, 2004) Trong các loài TSNN thì cá lóc là loài cá được các hộ gia đình sử dụng nhiều nhất

3.4 Phân tích thuận lợi và khó khăn đối với tiêu dùng cá lóc của hộ gia đình ở An Giang

Thu nhập trung bình là 3 triệu đồng/hộ/tháng trong đó 71,6% là chi cho thực phẩm Đây là mức thu nhập khá cao và cũng là điều kiện thuận lợi do người dân có thu nhập cao và sẵn lòng đầu tư cho nhu cầu thực phẩm cao

Thủy sản các loại là nguồn thực phẩm hàng ngày không thể thiếu trong bữa ăn của mỗi gia đình ở vùng ĐBSCL Cá lóc là đối tượng tiêu thụ phổ biến, nguồn cung cấp rất nghiều từ nuôi và khai thác

tự nhiên để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của hộ dân tại địa bàn nghiên cứu nên đây là điểm thuận lợi khi mua cá lóc tại địa phương Khi đánh giá về chất lượng cá lóc có 65% trả lời chất lượng khá tốt và 62,8% cho rằng chất lượng cá lóc bình thường Và phần lớn số hộ cho rằng xu hướng chất lượng cá lóc s tăng ít (46,3%), 43,3% số hộ cho rằng chất lượng cá lóc s không đổi nhưng cũng có 10% số hộ nhận định chất lượng cá lóc s giảm do việc sử dụng quá nhiều thức ăn công nghiệp

và việc sử dụng các loại kháng sinh, hóa chất bị cấm trong nuôi trồng thủy sản Có đến 52,5% số hộ cho rằng giá cá lóc tươi sống có xu hướng giảm do có nhiều hộ nuôi nguồn cung cấp ngày càng phong phú An Giang với 73% diện tích là đất phù sa màu mỡ từ hai nhánh sông Tiền và sông Hậu rất thuận lợi cho việc nuôi cá lóc

Sự phát triển của xã hội, công nghệ và cở sở hạ tầng giao thông, chợ mang lại cho con người nhiều

sự thuận tiện hơn trong việc mua và chế biến thức ăn Có 41,3% số hộ nhận định rằng tính thuận tiện trong mua và sử dụng là khá tốt và xu hướng s ngày càng thuận tiện hơn (82,6%) Nguồn thông tin cung cấp cho mua và sử dụng ngày càng được chú trọng và phổ biến 37,5% số hộ cho rằng nguồn thông tin là khá tốt, xu hướng thông tin s ngày càng được chú trọng và nguồn thông tin s tăng tính

đa dạng và độ chính xác hơn

Khó khăn của việc tiêu dùng cá lóc hiện nay là giá cao (8,8%) và có 13,8% số hộ gia đình lo ngại về vấn đề chất lượng cá lóc khi người nuôi sử dụng các loại kháng sinh, hóa chất bị cấm trong nuôi trồng thủy sản nhằm mục đích là hạ giá thành sản xuất để có lợi nhuận Gây khó khăn trong quản lý nguồn nước và nguồn thức ăn cá tạp tươi đảm bảo chất lượng và số lượng cá.Việc sử dụng các loại thuốc kháng sinh, hóa chất gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng và đối với môi trường xung quanh

Trang 10

4 KẾT LUẬN

Quy mô hộ nông thôn thường lớn hơn so với thành thị, tuy nhiên thu nhập thường thấp hơn nên chi phí sinh hoạt và chi phí dành cho thực phẩm cũng thấp hơn Thịt heo và TSNN là hai loại thực phẩm chủ yếu trong bữa ăn hàng ngày của các hộ gia đình Loại TSNN được chọn mua nhiều nhất là cá lóc với tần suất mua 5 ngày/lần và lượng mua trung bình là 1,2 kg/lần, lượng mua ở nông thôn nhiều hơn

so với thành thị Cá lóc được tiêu dùng chủ yếu ở dạng tươi sống sau khi được mua từ người bán l Nhu cầu tiêu thụ cá lóc trung bình của hộ gia đình là 6,8 kg/hộ/tháng (±2,8) Nhu cầu tiêu thụ cá lóc của hộ gia đình phụ thuộc vào các yếu tố gồm có: (i) số nhân khẩu (người); (ii) Tần suất mua cá lóc tươi sống (ngày/lần); (iii) Khu vực sống (nông thôn hoặc thành thị); (iv) Giá mua bình quân (1000đ/kg) và (v) chất lượng cá lóc tươi sống, trong đó có hai yếu tố là tần suất mua cá lóc tươi sống

và giá mua cá lóc bình quân tỷ lệ nghịch với số lượng cá lóc tiêu thụ bình quân của hộ/tháng, các yếu

tố còn lại tỷ lệ thuận với sản lượng cá lóc tiêu thụ của hộ/tháng (kg)

Khó khăn lớn nhất của hộ tiêu dùng cá lóc hiện nay là lo ngại về an toàn vệ sinh thực phẩm, để giải quyết vấn đề này ngành Thủy sản cần đẩy mạnh công tác khuyến ngư, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát vùng nuôi cá tiêu thụ nội địa Cần tăng cường, hướng dẫn ngư dân sử dụng các loại thuốc được cho phép - trong điều trị bệnh cho cá Xử lý nghiêm các hộ nuôi sử dụng các loại kháng sinh, hóa chất cấm để điều trị bệnh cho cá Bên cạnh đó, cần bố trí những cán bộ có chuyên môn để làm nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát Nhà cung cấp nên mở rộng kênh phân phối bán đúng giá tuân thủ các quy định về kiểm dịch an toàn vệ sinh thực phẩm và tăng cường các dịch vụ hỗ trợ người tiêu dùng Người tiêu dùng cần theo dõi thông tin thị trường và thông tin an toàn vệ sinh thực phẩm để có lựa

chọn an toàn cho gia đình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Cục Thống kê An Giang, 2009 Số liệu Thống kê kinh tế xã hội tỉnh An Giang

Đặng Thị Phượng & Lê Xuân Sinh, 2011 Tiêu dùng thủy sản thực phẩm của hộ gia đình ở vùng

ngập lũ của đồng bằng sông Cửu Long Kỷ yếu Hội thảo khoa học Thủy sản lần 4, Đại học

Cần Thơ NXB Nông nghiệp Tp Hồ Chí Minh, tr.499-511

Đỗ Minh Chung, 2010 Phân tích chuỗi giá trị cá lóc nuôi ở ĐBSCL Luận văn tốt nghiệp cao học

ngành nuôi trồng thủy sản Đại học Cần Thơ

FAO, 2003 The state of world fisheries and aquaculture FAO Fisheries and Aquaculture

Department , 2003 Food And Agriculture Organization Of The United Nations Rome, 2004 FAO, 2008 The state of World fisheries and aquaculture FAO Fisheries and Aquaculture

Department, 2008 Food And Agriculture Organization Of The United Nations Rome, 2009

Hà Xuân Thông, 2004 Kết quả phân tích đánh giá tác động của phát triển thủy sản tới kinh tế - xã

hội Việt Nam thời kỳ 1996-2000 Hội thảo toàn quốc về khai thác, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá Ngày 08-09/12/2004 Trang 36-46

Kim Hồng, 2013 Xây dựng thí điểm chuỗi giá trị cá lóc tỉnh An Giang Trung tâm giống thủy sản

http://sonongnghiep.angiang.gov.vn/wps/portal/!ut/p/c4/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP 0os3j3oBBLczdTEwMLyzADA89QA2dzLx9HA09Dc_2CbEdFAFCFCaI!/?WCM_GLOBA L_CONTEXT=/wps/wcm/connect/sonongnghiep2/sonongnghiepsite/chuyentranggiong/thuys an/chuoigiatricaloc Cập nhật ngày 15/05/2013

Lê Xuân Sinh và Nguyễn Thị Kim Quyên, 2011 Tiêu dùng thủy hải sản của hộ gia đình ở Đồng

Bằng sông Cửu Long Việt Nam Tạp chí thương mại Thủy sản, số 143 ngày 23/11/ 2011,

trang 431-439

Lê Xuân Sinh, 2010 Giáo trình kinh tế thủy sản Nhà xuất bản Đại học Cần Thơ năm 2010

Ngày đăng: 13/11/2015, 12:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Các loại thực phẩm tiêu dùng - nghiên cứu nhu cầu tiêu dùng sản phẩm cá lóc thương phẩm của hộ gia đình ở tỉnh an giang
Bảng 2 Các loại thực phẩm tiêu dùng (Trang 5)
Hình 1: Các loài TSNN các hộ gia đình sử dụng - nghiên cứu nhu cầu tiêu dùng sản phẩm cá lóc thương phẩm của hộ gia đình ở tỉnh an giang
Hình 1 Các loài TSNN các hộ gia đình sử dụng (Trang 6)
Bảng 3: Thông tin tiêu dùng về cá lóc của các hộ gia đình tại An Giang - nghiên cứu nhu cầu tiêu dùng sản phẩm cá lóc thương phẩm của hộ gia đình ở tỉnh an giang
Bảng 3 Thông tin tiêu dùng về cá lóc của các hộ gia đình tại An Giang (Trang 7)
Hình 2: Sản phẩm thay thế cá lóc - nghiên cứu nhu cầu tiêu dùng sản phẩm cá lóc thương phẩm của hộ gia đình ở tỉnh an giang
Hình 2 Sản phẩm thay thế cá lóc (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w