TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN THỊ HUỲNH ANH SO SÁNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH NGHỀ LƯỚI KÉO ĐƠN XA BỜ > 90 CV CÓ LIÊN KẾT VÀ KHÔNG LIÊN KẾT Ở SÓC TRĂNG ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN TỐT N
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ HUỲNH ANH
SO SÁNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH NGHỀ LƯỚI KÉO ĐƠN XA BỜ (> 90 CV)
CÓ LIÊN KẾT VÀ KHÔNG LIÊN KẾT Ở SÓC TRĂNG
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN
2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ HUỲNH ANH
SO SÁNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH NGHỀ LƯỚI KÉO ĐƠN XA BỜ (> 90 CV)
CÓ LIÊN KẾT VÀ KHÔNG LIÊN KẾT Ở SÓC TRĂNG
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN ĐẶNG THỊ PHƯỢNG
2014
Trang 3SO SÁNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH NGHỀ LƯỚI KÉO ĐƠN XA BỜ (> 90 CV)
CÓ LIÊN KẾT VÀ KHÔNG LIÊN KẾT Ở TỈNH SÓC TRĂNG
Nguyễn Thị Huỳnh Anh Khoa Thủy sản – Trường Đại học Cần Thơ Email: anh115284@student.ctu.edu.vn
ABSTRACT
This study was conducted from August to November 2014 in order to compare the financial efficiency of offshore single trawl net (> 90 CV) have linked and unlinked in Soc Trang province Primary data were collected by interviewing 30 households have linked and unlinked 30 household Results showed that annual fishing production of a unlinked boat (60,04 ton/year) was higher than fishing production of a linked boat (58,46 ton/year) However, the power of linked boats (237,76 kg/CV/year) were higher than power of unlinked boats (201,95 kg/CV/year) The average cost per year of unlinked boats (VND 210,4 million/year) were higher than linked boats (VND 207,81 million/year) The annual average net income of unlinked boats (VND 506,15 million/year) were higher than the average net income of linked boats (VND 340,88 million/year) The rate net income of unlinked boats (0,56) were 0,12 higher than linked boats (0,42) The offshore single strawl nets have level of risks is very high The risks that fishermen are common in fishing were the risk directly caused by people aboard, the risk of market, the risk of power, the risk of production In order to overcome these difficulties, the organizational forms of linked fishing is necessary However, besides the advantages of the linked are still difficults to be resolved
Keywords: offshore single trawl net, linked, unlinked, financial efficiency
Tilte: Financial efficiency of offshore single trawl nets (> 90 CV) have linked and unlinked
in Soc Trang province
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 08/2014 đến tháng 11/2014 nhằm so sánh hiệu quả tài chính của nghề lưới kéo đơn xa bờ (> 90 CV) có liên kết và không liên kết ở Sóc Trăng Số liệu được thu thập dựa trên phỏng vấn trực tiếp 30 hộ có tham gia liên kết và
30 hộ không tham gia liên kết Kết quả nghiên cứu cho thấy, sản lượng khai thác hàng năm của một tàu không tham gia liên kết (60,04 tấn/năm) cao hơn sản lượng khai thác của một tàu tham gia liên kết (58,46 tấn/năm) Tuy nhiên, năng suất của tàu tham gia liên kết (237,76 kg/CV/năm) lại cao hơn năng suất của tàu không tham gia liên kết (201,95 kg/CV/năm) Chi phí trung bình trên năm của những tàu không tham gia liên kết (210,4 triệu đồng) lớn hơn tàu tham gia liên kết (207,81 triệu đồng) Lợi nhuận trung bình mỗi năm của nhóm không tham gia liên kết (506,15 triệu đồng/năm) cao hơn lợi nhuận trung bình của nhóm liên kết (340,88 triệu đồng/năm) Tỷ suất lợi nhuận của tàu không tham gia liên kết (0,56) cao hơn tàu có tham gia liên kết (0,42) là 0,12 Nghề lưới kéo đơn xa bờ là một nghề có mức độ rủi ro rất cao Những rủi ro mà ngư dân thường gặp trong khai thác là rủi ro trực tiếp do người trên tàu gây ra, rủi ro về thị trường, rủi
ro năng suất sản lượng Để khắc phục những khó khăn này, việc tổ chức các hình thức
Trang 4khai thác tổ đội là rất cần thiết Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi do liên kết mang lại vẫn còn những vấn đề cần được giải quyết
Từ khóa: Lưới kéo đơn xa bờ, liên kết, không liên kết, hiệu quả tài chính
1.1 Đặt vấn đề
Sóc Trăng là tỉnh nằm ở phía nam cửa sông Hậu, với chiều dài bờ biển 72 km, trong đó
có 3 cửa sông lớn là Trần Đề, Định An và Mỹ Thanh, diện tích mặt nước sông là 21.655
ha, mang theo nguồn lợi thủy hải sản phong phú và đa dạng Cách cửa Trần Đề 48 hải lý
về phía Đông Nam là quần đảo Côn Sơn với nhiều vịnh là nơi trú gió và đặt cơ sở dịch
vụ hậu cần thủy sản tốt cho tàu thuyền khai thác Đây là điều kiện thuận lợi để Sóc Trăng phát triển ngành kinh tế biển (Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Sóc Trăng, 2007)
Khai thác thủy sản là nghề truyền thống lâu đời của cư dân ven biển tỉnh Sóc Trăng Khai thác thủy sản đã đem lại những kết quả đáng kể, góp phần tạo việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống ngư dân Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì ngành khai thác thủy sản của tỉnh vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cần được giải quyết Năm 2013, toàn tỉnh Sóc Trăng có 1.085 tàu thuyền khai thác thủy sản, chiếm 3,62% so với tổng số tàu thuyền của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, với tổng công suất 119.043 CV, trong
đó 911 tàu khai thác biển và 174 tàu khai thác nội đồng (Chi cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản (KT&BVNLTS) tỉnh Sóc Trăng, 2013) Bên cạnh đó, hoạt động khai thác thủy sản xa bờ gặp nhiều khó khăn, nguồn lợi thủy sản gần bờ ngày càng cạn kiệt, thu nhập và mức sống của ngư dân còn thấp Trong những năm gần đây, sản lượng khai thác hằng năm của tỉnh vẫn tăng lên, năm 2010 đạt 43.450 tấn và năm 2013 đạt 56.584 tấn (Tổng cục Thống kê, 2013) Tuy nhiên, sản lượng tăng là do tăng số tàu khai thác xa bờ, điều này cho thấy vẫn chưa tận dụng tốt ngành khai thác xa bờ để đem lại hiệu quả cao nhất Đến tháng 9 năm 2014, toàn tỉnh có 312 tàu khai thác xa bờ, cao hơn
so với năm 2013 là 27 phương tiện, trong đó số tàu theo nghề lưới kéo đơn xa bờ là 180 phương tiện, chiếm 16,59% tổng số tàu khai thác thủy sản của tỉnh (Chi cục KT&BVNLTS tỉnh Sóc Trăng, 2014) Ngoài ra, các ngư dân khai thác phải chịu nhiều rủi ro do sự độc quyền thu mua của các thương lái, cơ sở thu mua, cho nên cần phải liên kết để hạn chế những rủi ro này Để khắc phục những khó khăn trên, Liên đoàn Lao
động tỉnh Sóc Trăng phối hợp với Uỷ ban Nhân dân huyện Trần Đề tiến hành thành lập Nghiệp đoàn khai thác thủy sản đầu tiên trong tỉnh nhằm hỗ trợ phát triển sản xuất trên biển và hướng tới liên kết trong khai thác xa bờ Tuy nhiên, ngoài những lợi ích mà liên kết kinh tế đem lại thì vẫn còn tồn tại những khó khăn và chưa phát huy được hiệu quả
thực sự của mối liên kết này Vì vậy, đề tài “So sánh hiệu quả tài chính nghề lưới kéo đơn xa bờ (> 90 CV) có liên kết và không liên kết ở Sóc Trăng” được thực hiện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm so sánh hiệu quả tài chính của nghề lưới kéo đơn xa bờ có liên kết và không liên kết ở Sóc Trăng, từ đó đề xuất các giải pháp và cơ chế chính sách nâng cao hiệu quả tài chính của nghề lưới kéo đơn xa bờ (> 90 CV) có liên kết và không liên kết ở Sóc Trăng thông qua tổ chức mô hình liên kết từ khai thác đến tiêu thụ sản phẩm
Trang 51.3 Nội dung nghiên cứu
- Phân tích thực trạng khai thác của nghề lưới kéo đơn xa bờ (> 90 CV) có liên kết và không liên kết ở tỉnh Sóc Trăng
- So sánh hiệu quả tài chính của nghề lưới kéo đơn xa bờ (> 90 CV) có liên kết và không liên kết ở tỉnh Sóc Trăng
- Phân tích những ưu điểm và nhược điểm của nghề lưới kéo đơn xa bờ (> 90 CV) có liên kết và không liên kết ở tỉnh Sóc Trăng
Phương pháp thu thập số liệu:
- Đề tài được thực hiện từ tháng 8/2014 – 11/2014 tại huyện Trần Đề và Thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua các kết quả nghiên cứu, các báo cáo có liên quan đến lĩnh vực khai thác thủy sản đã được công bố từ Bộ NN&PTNT, Sở NN&PTNT tỉnh Sóc Trăng, Cục KT&BVNLTS, Chi cục KT&BVNLTS tỉnh Sóc Trăng, Tổng cục Thống kê Việt Nam, Cục Thống kê tỉnh Sóc Trăng, các tạp chí và các website có liên quan
- Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn hộ ngư dân khai thác hải sản thông qua bảng phỏng vấn soạn sẵn Phương pháp chọn mẫu phân tầng và thuận tiện Tổng số quan sát cần nghiên cứu là 60 hộ, trong đó 30 ngư dân có tham gian liên kết và 30 ngư dân không tham gian các hình thức liên kết
- Nội dung số liệu sơ cấp:
+ Hiện trạng khai thác của nghề lưới kéo xa bờ có liên kết và không liên kết
+ Số lượng tàu thuyền khai thác xa bờ có liên kết và không kết
+ Lực lượng lao động
+ Ngư trường và mùa vụ khai thác có liên kết và không liên kết
+ Các chỉ tiêu tài chính (sản lượng, doanh thu, chi phí,…)
+ Nhận thức của người khai thác
Phương pháp phân tích: Phương pháp thống kê mô tả với các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, nhỏ nhất, lớn nhất, tỉ lệ phần trăm,… được dùng để mô tả hiện trạng về đối tượng cần nghiên cứu Ngoài ra, kiểm định trung bình được áp dụng để so sánh các chỉ tiêu tài chính của mô hình có liên kết và không liên kết Kiểm định T-test được sử dụng để so sánh giá trị trung bình của các chỉ tiêu tài chính và kỹ thuật
3.1 Tình hình khai thác thủy sản của tỉnh Sóc Trăng
Năm 2013, toàn tỉnh Sóc Trăng có 1.085 tàu khai thác thủy sản với tổng công suất là 119.043 CV Đến tháng 9 năm 2014, toàn tỉnh có khoảng 1.139 chiếc với tổng công suất
là 130.713 CV, cao hơn so với năm 2013 là 54 chiếc và tổng công suất tăng lên 11.670
CV Trong đó, tàu cá khai thác xa bờ là 312 phương tiện, chiếm khoảng 27,39% tổng số tàu thuyền, tăng 27 phương tiện so với năm 2013 Số lượng tàu theo nghề lưới kéo đơn
xa bờ là 180 phương tiện, chiếm 16,59% tổng số tàu khai thác thủy sản của tỉnh Toàn tỉnh đã vận động thành lập được 27 tổ tàu thuyền sản xuất trên biển với 405 phương tiện, trong đó có 66 phương tiện theo nghề lưới kéo đơn xa bờ, chiếm 16,3%, chủ yếu tập
Trang 6trung neo đậu tại khu vực Cảng cá Trần Đề (Chi cục KT&BVNLTS tỉnh Sóc Trăng,
2013 và 2014)
Số ngày đánh bắt trong một chuyến bình quân là 21 ngày, ngư trường khai thác chính chủ yếu là ở vùng biển Đông Nam Bộ Đến tháng 9 năm 2014, tổng sản lượng ước lượng khai thác đạt khoảng 35.304 tấn, đạt 66% tổng sản lượng dự kiến cả năm (Chi cục KT&BVNLTS tỉnh Sóc Trăng, 2013 và 2014)
3.2 Thực trạng liên kết trong khai thác của tỉnh Sóc Trăng
Năm 2012, Liên đoàn Lao động tỉnh Sóc Trăng phối hợp với UBND huyện Trần Đề tổ chức lễ ra mắt Nghiệp đoàn khai thác thủy sản thị trấn Trần Đề Năm 2013, Liên đoàn Lao động thị xã Vĩnh Châu phối hợp với UBND phường 1 tổ chức lễ ra mắt Ban Chấp hành lâm thời Nghiệp đoàn đánh bắt hải sản Hải Ngư tại phường 1, thị xã Vĩnh Châu Nghiệp đoàn khai thác thủy sản ra đời không chỉ nhằm phát triển sản xuất trên biển mà còn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngư dân, giúp ngư dân khi gặp khó khăn trong cuộc sống, tạo sự gắn kết giữa ngư dân để cùng nhau bám biển, bám ngư trường,
mở rộng khai thác xa bờ, góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc Nghiệp
đoàn chú trọng việc đánh bắt hải sản theo tổ, nhóm để ngư dân kịp thời giúp đỡ, hỗ trợ
lẫn nhau khi gặp sự cố trên biển, hỗ trợ ngư dân những kiến thức cơ bản về biển để khai thác hiệu quả nguồn lợi từ biển, góp phần nâng cao thu nhập, đời sống cho ngư dân (Cổng thông tin điện tử tỉnh Sóc Trăng, 2013)
3.3 Thông tin chung về đội tàu theo nghề lưới kéo đơn xa bờ
3.3.1 Các thông số kỹ thuật của tàu
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tổng công suất đạt được là 18.305 CV Công suất trung bình của tàu không tham gia liên kết là 325 CV lớn hơn so với công suất trung bình của tàu tham gia liên kết (286 CV) là 39,2 CV Trọng tải của tàu không tham gia liên kết là 31,9 tấn cao hơn tàu có liên kết là 2,40 tấn Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long (2008) với trọng tải trung bình là 20,56 tấn Nhóm tàu không liên kết có chiều dài lưới là 41,4 m cao hơn nhóm tàu liên kết 2,10 m nhưng chiều rộng lưới lại nhỏ hơn nhóm tàu liên kết, tương ứng là 15,6 m và 19,4 m Kết quả nghiên cứu cho thấy, 100% các tàu được khảo sát đều không có nhật kí đánh bắt
Bảng 1: Thông tin kỹ thuật
Công suất máy (CV) 286±114 325±97,2 305±107 Trọng tải (tấn) 29,5±14,6 31,9±13,4 30,7±14,0
Chiều dài lưới (m) 39,3±8,40 41,4±11,3 40,4±9,90 Chiều rộng lưới (m) 19,4±6,50 15,6±4,60 17,5±5,90
3.3.2 Lao động khai thác
Thuyền trưởng trên tàu không tham gia liên kết có độ tuổi trung bình là 43,5 tuổi lớn hơn nhóm tàu tham gia liên kết (42,1) là 1,40 tuổi Thâm niên trung bình là 16,8 năm,
kết quả này khá là phù hợp với nghiên cứu trước đây của Nguyễn Trọng Tuy và ctv
(2010) với thâm niên là 17,2 năm Số lao động trung bình trên tàu khoảng 5 người, đáp
Trang 7ứng được yêu cầu công việc và đảm bảo sức khỏe cho lao động trên tàu Nhìn chung, không có sự chênh lệch nhiều về số năm kinh nghiệm của thuyền trưởng, số lao động trên tàu và số lao động thuê tại địa phương giữa nhóm tàu có tham gia liên kết và không tham gia liên kết
Bảng 2: Thông tin chung về nhóm người khai thác
Tuổi thuyền trưởng (năm) 42,1±8,90 43,5±7,60 42,8±8,20
Số năm kinh nghiệm (năm) 16,9±5,60 16,7±8,50 16,8±7,10 Xuất thân từ gia đình làm
Số lao động trên tàu (người) 5,10±0,900 5,00±1,10 5,10±1,00 Lao động thuê (người) 4,00±1,30 4,10±1,30 4,10±1,30
3.4 Mùa vụ, ngư trường và sản lượng khai thác của ngư dân
Nghề lưới kéo đơn xa bờ có thể hoạt động quanh năm nhưng những tháng cho sản lượng cao chỉ tập trung vào vụ Nam, vụ Bắc thường có sản lượng thấp do đây là những tháng gió lớn, biển động nhiều Mùa vụ khai thác có sản lượng cao của tàu tham gia liên kết là
từ tháng 3 đến tháng 9 âm lịch, tàu không tham gia liên kết là tháng 3 đến tháng 8 âm lịch Nguyên nhân chủ yếu là do trúng mùa cá và thời tiết khá ổn định, ít mưa bão và sóng to
Bảng 3: Thông tin về chuyến biển
Số ngày trên chuyến
(ngày) 32,0±11,0 35,0±11,0 34,0±11,0
Số chuyến trên năm
(chuyến) 8,00±4,00 7,00±3,00 8,00±4,00 Ngư trường khai thác chính chủ yếu là ở vùng biển Đông Nam Bộ, không có sự khác biệt về ngư trường giữa hai hình thức liên kết và không liên kết Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long (2008) Số ngày đánh bắt trong một chuyến của tàu không tham gia liên kết là 35 ngày cao hơn tàu tham gia liên kết 3 ngày Trung bình
số chuyến biển trong năm của tàu không tham gia liên kết là 7 chuyến, thấp hơn tàu tham gia liên kết với 8 chuyến (Bảng 3)
Bảng 4: Tỷ lệ các loài đánh bắt (%)
Các loài khai thác chủ yếu là tôm, mực và cá dạt Nhóm tàu tham gia liên kết có tỷ lệ tôm (19,4%) và cá dạt (46,3%) cao hơn nhóm tàu không tham gia liên kết, tương ứng 18,7 và 41,9% Tuy nhiên, tỷ lệ mực của nhóm tàu tham gia liên kết (17,7%) lại thấp hơn tỷ lệ mực của nhóm tàu không tham gia liên kết 1,20% Tỷ lệ cá dạt chiếm 44,1%
Trang 8tổng sản lượng trên một chuyến biển Kết quả này cao hơn gần gấp đôi so với nghiên cứu trước của Nguyễn Thanh Long (2008) với tỷ lệ cá dạt là 24,41% (Bảng 4)
Bảng 5 cho thấy, sản lượng khai thác cả năm của ngư dân không tham gia liên kết đạt 60,0 tấn/năm, cao hơn có tham gia liên kết 1,58 tấn/năm Nguyên nhân của sự chênh lệch sản lượng khai thác giữa hai mô hình là do chi phí đầu tư ban đầu và số ngày khai thác trên một chuyến biển của tàu không tham gia liên kết lớn hơn tàu có tham gia liên kết Tuy nhiên, năng suất khai thác của tàu không tham gia liên kết là 202 kg/CV/năm, thấp hơn tàu tham gia liên kết (238 kg/CV/năm) là 35,8 kg/CV/năm Kết quả này thấp hơn so với các nghiên cứu trước như nghiên cứu của Trịnh Kiều Nhiên và Trần Đắc
Định (2012) có năng suất khai thác đạt 370 kg/CV/năm; Nguyễn Trung Vẹn và ctv
(2013) là 350 kg/CV/năm Điều này cho thấy, năng suất khai thác đang giảm dần
Bảng 5: Sản lượng khai thác của nghề lưới kéo đơn xa bờ
Sản lượng trên chuyến (tấn) 6,44±2,04a 7,42±2,87a Sản lượng cả năm (tấn) 58,5±27,8a 60,0±32,1a Năng suất (kg/CV/năm) 238±211a 202±113a
Vụ Bắc
+ Sản lượng trên chuyến (tấn) 4,86±1,33a 5,99±2,13b + Sản lượng trên vụ (tấn) 22,4±10,5a 21,8±11,0a
Vụ Nam
+ Sản lượng trên chuyến (tấn) 8,02±2,90a 8,85±3,72a + Sản lượng trên vụ (tấn) 36,0±19,7a 38,3±21,5a
Ghi chú: Các kí tự (a,b) trong cùng một hàng khác nhau thì có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Trong vụ Bắc, sản lượng trên chuyến của nhóm tàu không tham gia liên kết là 5,99 tấn cao hơn nhóm tàu tham gia liên kết là 1,13 tấn (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,05) Trong vụ Nam, sản lượng trên chuyến của nhóm tàu không tham gia liên kết là 8,85 tấn cao hơn sản lượng trên chuyến của nhóm tàu tham gia liên kết 8,02 tấn Kết quả nghiên cứu cho thấy, sản lượng của vụ Nam cao hơn nhiều so với vụ Bắc Sự chênh lệch
về sản lượng giữa vụ Nam và vụ Bắc của tàu không tham gia liên kết là 16,5 tấn cao hơn tàu tham gia liên kết (13,6 tấn) là 2,90 tấn Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của
Nguyễn Trung Vẹn và ctv (2013)
3.5 So sánh hiệu quả tài chính của nghề lưới kéo đơn xa bờ
3.5.1 Chi phí trong khai thác
Chi phí đầu tư ban đầu của tàu không tham gia liên kết đạt 1.030 triệu đồng cao hơn tàu tham gia liên kết 117 triệu đồng Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn
Trung Vẹn và ctv (2013) là 1.370,72 triệu đồng/tàu Trong cơ cấu chi phí đầu tư thì chi
phí vỏ tàu chiếm tỷ lệ cao nhất và có sự tương đồng giữa mô hình liên kết và không liên kết, tương ứng là 64,1% và 64,0% Chi phí đầu tư ban đầu khá lớn, đặc biệt là vỏ tàu, vì đây là loại nghề cần trang bị tàu có tốc độ cao trong quá trình khai thác, tàu phải có công suất lớn để chịu đựng sóng gió, tăng khả năng bám biển thuận lợi cho việc đánh bắt Chi phí cố định trên năm của tàu không tham gia liên kết là 210 triệu đồng, cao hơn tàu tham gia liên kết là 2,00 triệu đồng/năm Tuy nhiên, chi phí cố định trên 1 CV của tàu tham gia liên kết lại cao hơn tàu không tham gia liên kết là 0,110 triệu đồng (Bảng 6)
Trang 9Bảng 6: Chi phí cố định
Chi phí đầu tư ban đầu (triệu đồng) 913±474 1.030±533
Chi phí cố định trên năm
Chi phí cố định trên CV (triệu đồng) 0,850±0,480 0,740±0,420 Bảng 7 cho thấy, chi phí biến đổi (CPBĐ) trong vụ Bắc của lưới kéo đơn xa bờ là 95,7 triệu đồng/chuyến Nhóm tàu không tham gia liên kết có CPBĐ trên chuyến là 107 triệu đồng cao hơn tàu tham gia liên kết (84,4 triệu đồng) là 22,6 triệu đồng Sự chênh lệch về CPBĐ trên CV của hai mô hình liên kết và không liên kết là rất nhỏ, tương ứng 1,05 và 1,02 triệu đồng Chi phí dầu chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng CPBĐ (82,8%) Nhóm tàu không tham gia liên kết có chi phí dầu chiếm 83,3% cao hơn nhóm tàu tham gia liên kết
là 1,10%
Trong vụ Nam, CPBĐ là 97,3 triệu đồng/chuyến, cao hơn vụ Bắc 1,60 triệu đồng/chuyến Nhóm tàu không tham gia liên kết có CPBĐ trên chuyến là 106 triệu đồng cao hơn nhóm tàu tham gia liên kết 17,4 triệu đồng Hai mô hình liên kết và không liên kết có CPBĐ trên CV gần bằng nhau, tương ứng 1,47 và 1,48 triệu đồng Chi phí dầu trung bình của vụ Nam (83,0%) cao hơn vụ Bắc là 0,2% Tỷ lệ chi phí dầu của tàu không tham gia liên kết là 83,2% cao hơn tàu tham gia liên kết với tỷ lệ 82,7%
Trung bình CPBĐ trên chuyến của tàu không tham gia liên kết (106 triệu đồng) cao hơn tàu tham gia liên kết 19,5 triệu đồng (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,05) Nhóm tàu không tham gia liên kết có tỷ lệ chi phí dầu và nước đá cao hơn nhóm tàu tham gia liên kết là 0,900% và 0,270%
Bảng 7: Chi phí biến đổi
CPBĐ/CV
(triệu đồng) 1,05±0,71 1,47±1,13 2,51±1,79 a 1,02±0,53 1,48±0,78 2,49±1,28 a CPBĐ/ chuyến
(triệu đồng) 84,44±30,35 88,57±33,64 86,50±31,29 a 107,02±33,19 105,93±30,90 106,47±30,74 b
Các kí tự (a,b) trong cùng một hàng khác nhau thì có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Trang 103.5.2 Các chỉ số tài chính của nghề lưới kéo đơn xa bờ
Hiệu quả tài chính trên năm:
Chi phí trung bình của tàu không tham gia liên kết là 997 triệu đồng/năm cao hơn tàu tham gia liên kết 127 triệu đồng Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn
Trọng Tuy và ctv (2010) với chi phí trung bình là 1.711,18 triệu đồng/năm nhưng cao
hơn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long (2008) với chi phí trung bình là 667,37 triệu đồng/năm Nhóm tàu không tham gia liên kết có lợi nhuận trung bình trên năm là
506 triệu đồng cao hơn tàu tham gia liên kết (341 triệu đồng) là 165 triệu đồng Mức lợi
nhuận này là khá cao so với nghiên cứu của Nguyễn Trung Vẹn và ctv với mức lợi
nhuận 272,06 triệu đồng/năm Tỷ suất lợi nhuận đạt 0,560 đối với tàu không tham gia liên kết và 0,420 đối với tàu tham gia liên kết Cả hai mô hình đều có tỷ lệ thua lỗ là 10,0%
Bảng 8: Hiệu quả tài chính trên năm
Chi phí (triệu đồng) 870±264 a 997±445 a Doanh thu (triệu đồng) 1.211±500 a 1.503±819 a Lợi nhuận (triệu đồng) 341±368 a 506±668 a
Tỷ suất lợi nhuận (lần) 0,420±0,420 a 0,56±0,600 a
Các kí tự (a, b) trong cùng một hàng khác nhau thì có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Hiệu quả tài chính trên CV:
Bảng 9 cho thấy, trong vụ Bắc, nhóm tàu không tham gia liên kết có chi phí trung bình/CV là 1,03 triệu đồng thấp hơn tàu tham gia liên kết (1,17 triệu đồng) là 0,14 triệu đồng Ngược lại, lợi nhuận trung bình/CV của nhóm tàu không tham gia liên kết (0,78 triệu đồng) lại cao hơn lợi nhuận của nhóm tàu tham gia liên kết (0,66 triệu đồng) Tỷ suất lợi nhuận của tàu không tham gia liên kết (0,95) cao hơn tàu tham gia liên kết (0,64)
là 0,31
Bảng 9: Hiệu quả tài chính trên CV
Nội dung
Chi phí
(triệu đồng) 1,17±0,830 1,56±0,93 3,59±2,14
a 1,03±0,53 1,31±0,580 3,22±1,36 a Doanh thu
(triệu đồng) 1,83±1,23 2,56±1,89 5,18±3,70
Lợi nhuận
(triệu đồng) 0,660±0,800 1,00±1,18 1,60±20,1
a 0,780±0,900 0,920±1,08 1,86±2,27 a
Tỷ suất lợi
nhuận (lần) 0,640±0,710 0,600±0,520 0,420±0,420
a 0,950±1,25 0,710±0,750 0,560±0,600 a
Các kí tự (a,b) trong cùng một hàng khác nhau thì có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Trong vụ Nam, chi phí trung bình/CV của nhóm tàu không tham gia liên kết là 1,31 triệu đồng, cao hơn so với vụ Bắc nhưng lại thấp hơn nhóm tàu tham gia liên kết (1,56 triệu đồng) Chênh lệch lợi nhuận trung bình/CV giữa nhóm tàu tham gia liên kết (1,00 triệu đồng) và không tham gia liên kết (0,920 triệu đồng) là 0,080 triệu đồng