1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích hiệu quả tài chính và kỹ thuật trong mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh ở kiên giang

29 647 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 787,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THUỶ SẢN TRẦN LAM NGỌC PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH VÀ KỸ THUẬT TRONG MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THÂM CANH Ở KIÊN GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CH

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THUỶ SẢN

TRẦN LAM NGỌC

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH VÀ KỸ THUẬT TRONG MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THÂM CANH Ở KIÊN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN

NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

Năm 2014 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THUỶ SẢN

Trang 2

TRẦN LAM NGỌC

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH VÀ KỸ THUẬT TRONG MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THÂM CANH Ở KIÊN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN

NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

TS TRƯƠNG HOÀNG MINH

Năm 2014

Trang 4

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH TRONG NUÔI

TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THÂM CANH

Ở TỈNH KIÊN GIANG

Trần Lam Ngọc và Trương Hoàng Minh

Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ Email: ngoc115325@student.ctu.edu.vn

TÓM TẮT

Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 08 đến 11/2014 thông qua việc phỏng vấn 35 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh bằng bảng câu hỏi đã được soạn sẵn Các thông tin được thu thập nhằm đánh giá các khía cạnh kỹ thuật và tài chính của mô hình nuôi, cũng như xác định những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi này Kết quả cho thấy các hộ nuôi có diện tích nuôi bình quân là 5,31 ha/hộ, với diện tích ao nuôi trung bình là 0,64 ha/ao và độ sâu mực nước là 1,61 m Tôm giống

có kích cỡ thả nuôi từ PL8 đến PL13 với mật độ 109 con/m 2 Sau thời gian nuôi 69,97 ngày, tôm được thu hoạch với tỉ lệ sống đạt 77,26% và năng suất trung bình đạt 8,44 tấn/ha/vụ, FCR là 1,12 Tổng chi phí đầu tư trong mô hình là 559,46 tr.đồng/ha/vụ Với lợi nhuận thu được là 550,28 tr.đồng/ha/vụ

và có 5,7% số hộ nuôi có bị thua lỗ Giá thành sản xuất 83.160 đồng/kg và giá bán là 131 nghìn đồng/kg Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất là số ngày nuôi, tỷ lệ sống và mật độ Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận là năng suất, FCR, giá bán, chi phí thuốc, hóa chất

Từ khóa: Lợi nhuận, hiệu quả kỹ thuật và tài chính, năng suất, tôm thẻ chân trắng thâm canh

ASBTRACT

This study was conducted from August to November 2014 through interviewing intensive white leg shrimp farming model by the questionnaire prepared The information is collected to evaluate technical and economic aspects of the farming model and to identify advantages and disadvantages of the farming model The results showed that the average culturing white leg shrimp area for each household was 5,31±4.37ha/pond, the mean area of culturing pond is 0,64 and water depths were 1,61 meter The post larvae which has the size from PL 8 to PL 13 , stocking density (109 ind./m 2 ) After 69,97 culturing days, shrimp was harvested with high survival rate of 77,26% and average yield of productivity was 8,44 kg/ha/crop and FCR of 1,12 The total cost of the white-leg shrimp was 559,46 million VND/ha/crop and net income was 550,28 million VND/ha/crop and the percentages of net-loss farmers culture white-leg were 5,7% Product cost was VND 83.160 thousand per kg Selling price was VND 131 thousand per kg The factorial effect to yield was culturing days culturing days, survival rate survival rate, stocking density The factorial effect to profit was yield, FCR, selling price, the cost of chemistry

Keywords: profit, technical and financial efficiencies, yield, white leg shrimp intensive

Title: Analyze technical and financial efficiencies for the white leg shrimp intensive farming model in

Kiên Giang province

Trang 5

1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Ngành thủy sản chiếm vị trắ đặc biệt quan trọng trong chiến lýợc phát triển kinh tế-xã hôòi của Việt Nam Trong những nãm qua, sản xuất thủy sản đã đạt đýợc những thành tựu đáng ghi nhận cả về sản lýợng và giá trị Thủy sản Việt Nam đã xuất khẩu đến 164 quốc gia

và vùng lãnh thổ trên thế giới, nãm 2013 kim nghạch xuất khẩu Thủy sản Việt Nam đạt 6,7 tỷ USD, tãng 10,6% so với nãm 2012 Trong đó giá trị xuất khẩu tôm chân trắng đạt 1,39 tỷ USD, tãng 106,6% (Tổng cục thống kê, 2013) Tổng sản lýợng thuỷ sản cả nãm ýớc đạt 5.938 ngàn tấn, tãng 3,6% so với cùng kỳ nãm trýớc, trong đó sản lýợng khai thác ýớc đạt 2.725 ngàn tấn, tãng 3,9%, sản lýợng nuôi trồng ýớc đạt 3.213 ngàn tấn, tãng 3,3 % (Tổng cục thống kê, 2013)

Kiên Giang có địa hình đa dạng, bờ biển dài, nhiều sông núi và hải đảo, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trắ và điều kiện tự nhiên thuận lợi đã tạo cho tỉnh nhiều tiềm nãng và lợi thế kinh tế Trong cõ cấu các ngành sản xuất thì Kiên Giang xem NTTS là ngành kinh tế mũi nhọn Diện tắch NTTS tỉnh Kiên Giang tãng từ 82.639 ha (nãm 2005) lên 153.920 ha (nãm 2011) với sản lýợng 110.498 tấn (Sở NN&PTNT Kiên Giang, 2005 và 2011) Trong đó nuôi tôm đang đýợc đẩy mạnh đầu tý và trở thành thế mạnh của tỉnh Nãm

2005, diện tắch nuôi tôm chiếm 80,6% tổng diện tắch NTTS của tỉnh Tắnh đến hết tháng 7 nãm 2014, diện tắch nuôi công nghiệp, bán công nghiệp ở tỉnh Kiên Giang là 1.653 ha, chủ yếu là Tôm thẻ chân trắng (TTCT) 1.578 ha (Sở NN&PTNT Kiên Giang, 2014)

Trong những năm gần đây mô hình nuôi TTCT ở tỉnh Kiên Giang ngày càng mở rộng

và được đầu tư đáng kể, một phần vì chi phắ đầu tư thấp và thời gian nuôi ngắn hơn tôm sú (giảm tỷ lệ rủi ro do dịch bệnh), tuy nhiên hiệu quả mang lại từ mô hình chưa được đánh giá

cụ thể Vì thế đề tài ỘPhân tắch hiệu quả kỹ thuật và tài chắnh trong nuôi tôm thẻ chân

trắng thâm canh ở Kiên GiangỢ đã được thực hiện

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tắch hiệu quả tài chắnh và kỹ thuật của mô hình nuôi TTCT thâm canh ở Kiên Giang nhằm tìm ra những thuận lợi và khó khãn, để từ đó đýa ra một số biện pháp phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời tạo cõ sở để phát triển cho mô hình nuôi TTCT TC trong thời gian tới

1.3 Nội dung nghiên cứu

i Phân tắch các khắa cạnh kỹ thuật của mô hình nuôi TTCT ở tỉnh Kiên Giang;

ii Phân tắch khắa cạnh tài chắnh trong nuôi TTCT thâm canh ở Kiên Giang;

iii Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng

Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh Kiên Giang từ tháng 8- 11/2014 bằng cách phỏng vấn trực tiếp 35 hộ nuôi TTCT thâm canh Các thông tin được thu thập trong nghiên cứu bao gồm:

Trang 6

(1) Số liệu thứ cấp: được thu thập từ các báo cáo của Phòng, Sở Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn, các cơ quan ban ngành trên địa bàn nghiên cứu Các nghiên cứu đã được xuất bản trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, sách, báo, luận văn Cao học,… và các website có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu

(2) Số liệu sơ cấp: được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp nông hộ nuôi TTCT

thâm canh với các thông tin (1) khía cạnh kỹ thuật (diện tích nuôi, mật độ thả nuôi, thời gian nuôi, kích cỡ thu hoạch, năng suất,…); (2) hiệu quả tài chính (chi phí, thu nhập, lợi nhuận,…) và (3) những thuận lợi và khó khăn bằng bảng câu hỏi đã được soạn sẵn

Số liệu sau khi thu thập được nhập vào máy tính và xử lý bằng phần mềm Excel và SPSS với các phương pháp

- Phương pháp thống kê mô tả: dùng để tính các số trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị

lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, tần suất và tỷ lệ phần trăm của các biến độc lập về các chỉ tiêu kinh tế

- kỹ thuật bằng phần mềm Microsoft Excel

- Phương pháp hồi quy đa biến: Được sử dụng để phân tích sự ảnh hưởng của các

biến độc lập (Xi) đến biến phụ thuộc lợi nhuận hoặc năng suất (Y) của mô hình nuôi TTCT thâm canh Mô hình tương quan được viết dưới dạng sau:

Y = β n + β 1 X 1 + β 2 X 2 + β 3 X 3 + … + β i X i +

(Trong đó: Y : Biến phụ thuộc; β n : hằng số; β 1, β 2 , … β i : Hệ số tương quan giữa Xi và Y; X1,

X2, …, Xi : các biến độc lập Xi có ảnh hưởng đến Y; : sai số ước lượng)

Các chỉ tiêu hiệu quả được tính dựa trên những công thức sau:

- Năng suất (kg/ha) =Tổng sản lượng thu hoạch/diện tích thả nuôi

- Tổng thu nhập = Tổng số tiền bán sản phẩm

- Tổng chi phí = Tổng chi phí biến đổi + Tổng chi phí cố định (đã khấu hao)

- Lợi nhuận = Tổng thu nhập – tổng chi phí

- Tỉ suất lợi nhuận = Tổng lợi nhuận/Tổng chi phí

- Giá thành = Tổng chi phí/Tổng sản lượng

3.1 Thông tin chung về nông hộ nuôi TTCT tại Kiên Giang

Độ tuổi trung bình của chủ hộ là 38 tuổi Đặc biệt, các chủ hộ trong mô hình khảo sát

có 100% là nam giới Việc nuôi TTCT phải thường xuyên làm ngoài trời và đa phần là các công việc nặng vì thế công việc này thích hợp với Nam giới hơn là Nữ giới kết quả nghiên

cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Lê Xuân Sinh và ctv (2006)

Số người trung bình trong gia đình là 5,63 người trong đó số lao động trong gia đình tham gia mô hình là 2,29 người/hộ Hộ có số lao động ít nhất là 1 người và nhiều nhất là 13 người, trong đó trung bình số nhân viên kỹ thuật là 0,8 người và số công nhân là 5,4 người Theo NACA (2006) người nuôi tôm khu vực ĐBSCL có trung bình 8,1 năm kinh nghiệm Trong khi số năm kinh nghiệm của các hộ nuôi TTCT tại mô hình nghiên cứu trung bình là 3,77 năm thấp hơn kết quả của NACA nhưng điều này đúng với kết quả của Nguyễn Thành Phước (2005) so với các tỉnh khác trong khu vực tỉnh Kiên Giang phát triển nghề nuôi tôm

Trang 7

muộn hơn Những hộ có kinh nghiệm nuôi lâu năm sẽ chiếm ưu thế vì họ thành thạo trong việc chăm sóc, quản lý nuôi tôm, kiểm soát khẩu phần ăn và phòng ngừa dịch bệnh hơn so với những hộ có kinh nghiệm ít

Số lao động thuê mướn trung bình là 4,89 hộ, kết quả này cho thấy tình hình sử dụng lao động để tham gia mô hình góp phần vào việc giải quyết việc làm cho những người dân sống xung quanh các hộ nuôi mô hình TTCT thâm canh Qua bảng 1 cho thấy tầm quan trọng của việc nuôi tôm trong mô hình, các hộ được khảo sát có thu nhập chủ yếu là nuôi TTCT thâm canh chiếm 94,29% Ngoài ra còn có các hộ có nguồn thu nhập chính là buôn bán và kinh doanh sản xuất giống chiếm 5,72%, đa số các hộ xem việc nuôi tôm là thu nhập chính (chiếm hơn 50% tổng thu nhập có được) Vì thế mà việc nuôi tôm được đầu tư khá cao và cũng chính là nguồn thu quan trọng

Bảng 1: Thông tin về tuổi, số lao động tham gia mô hình, số năm kinh nghiệm

(n=35)

Giá trị nhỏ nhất (n=35)

Tuổi chủ hộ (tuổi) 38,23±7,83 57 24

Số người trong gia đình (người) 5,63±1,5 10 3

Số lao động trong gia đình tham gia

Số lao động thuê mướn (người) 4,89±3,17 10 1 Năm kinh nghiệm (năm) 3,77±2,4 10 1 Thu nhập từ nuôi tôm (%) 94,29

Trong 35 hộ tham gia khảo sát, trình độ học vấn của các chủ hộ khá cao, không có tình trạng mù chữ và cấp I Đa số trình độ học vấn các chủ hộ là cấp II với 12 người chiếm 34,29% Cấp III là 10 người chiếm 28,57%, trung cấp 9 người chiếm 25,71% và đại học là 4 người chiếm 11,43% Vì trình độ học vần của các chủ hộ khá cao nên dễ dàng trong việc tiếp thu các ứng dụng khoa học công nghệ và kỹ thuật nuôi tiên tiến vào mô hình, đồng thời chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của nhà nước góp phần vào việc tăng năng suất và chất lượng tôm

3.2 Các khía cạnh kỹ thuật trong mô hình

Cơ cấu mô hình nuôi TTCT

Diện tích ao nuôi không những ảnh hưởng đến CP vận hành mà còn liên quan đến sự

ổn định các yếu tố môi trường trong ao nuôi (Nguyễn Anh Tuấn và ctv, 2002) Qua kết quả

khảo sát 35 hộ nuôi ở huyện Kiên Lương tỉnh Kiên Giang cho thấy diện tích nuôi TTCT

Trang 8

trung bình là 5,31 ha/hộ (chiếm 61,01% tổng diện tích nuôi), trong đó diện tích mặt nước trung bình mỗi ao là 0,64 ha/hộ Kết quả này thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Đặng Hoàng Xuân Huy và Trần Văn Thắng (2013) là 0,975 ha/hộ nhưng cao hơn kết quả khảo sát hiện trạng nuôi thương phẩm TTCT ở huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre của Phạm Công Kỉnh (2009) là 0,449 ha/ao Những ao có diện tích nhỏ hơn 0,3 ha thường gặp khó khăn trong quá trình nuôi Do diện tích nhỏ nên các yếu tố môi trường thường biến động lớn khi thời tiết thay

đổi làm cho tôm nuôi dễ bị sốc và cảm nhiễm bệnh Ngược lại với những ao có diện tích lớn

hơn 1 ha thường khó chăm sóc và quản lý, nhưng ưu điểm của nó là điều kiện môi trường ít biến động đột ngột (Phạm Xuân Thủy, 2004; Lê Vũ Phương, 2005) Trong hầu hết các trường hợp, diện tích ao từ 0,5 - 1,0 ha có hiệu quả tốt nhất đối với nuôi tôm năng suất cao (Nguyễn

Anh Tuấn và ctv, 2002) Như vậy, diện tích ao nuôi thâm canh TTCT ở Kiên Giang là phù

hợp

Do nuôi TTCT thường với mật độ cao nên nhu cầu trao đổi nước cũng cao, chính vì vậy mà các hộ nuôi thường dành một phần diện tích tương đối để xây dựng ao lắng cho mô hình nuôi Diện tích trung bình mỗi ao lắng là 0,33 ha, chiếm 10,25% tổng diện tích nuôi Hộ nuôi có diện tích lớn thường sẽ có ao lắng với diện tích lớn Trong nghiên cứu diện tích ao lắng lớn nhất là 0,67 ha, và những hộ có diện tích nhỏ thường không sử dụng ao lắng

Mức nước ao nuôi bình quân là 1,61 m kết quả này là lớn hơn so với kết quả nghiên cứu của Dương Vĩnh Hảo (2009) với mức nước bình quân tại Sóc Trăng là 1,3 m và nghiên cứu của

Võ Văn Bé (2007) là 1,2 m Đa số các hộ sau khi nuôi một khoảng thời gian đều thay/cấp nước, số lần thay/cấp nước trung bình là 4,31 lần Số ao nuôi trung bình là 8,37 ao và số laafn thay/cấp nước trung bình là 4,11 lần/vụ (Hình 1 và Bảng 3)

Hình 1: Cơ cấu mô hình nuôi TTCT Bảng 3: Các thông số kỹ thuật của mô hình nuôi TTCT

Diễn giải

TB±ĐLC (n=35)

Lớn nhất (n=35)

Nhỏ nhất (n=35)

Tổng diện tích nuôi (ha) 5,31±4,37 20 0,65 Diện tích bình quân ao nuôi (ha) 0,64±0,26 1,3 0,3

Độ sâu mức nước trong ao (m) 1,61±0,19 2 1,3

Sổ lần thay/cấp nước/vụ (lần) 4,11±1.11 7 2

Trang 9

Các chỉ tiêu kỹ thuật chính trong mô hình

Kiên Giang là tỉnh có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm Khí hậu ở đây rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loài sinh vật (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2006), do đó mùa vụ nuôi gần như quanh năm (2,63 vụ/năm)

Mùa vụ thả giống cũng có ảnh hưởng lớn đến sự thành công trong nuôi tôm Nếu lịch thả giống phù hợp sẽ giảm thiểu rủi ro do tác động của các yếu tố môi trường, thời tiết (Nguyễn Sỹ Minh, 2012) Tháng thả giống thường tập trung vào tháng 2, tháng 5, tháng 8 do thời tiết thuận lợi Các hộ nuôi thườmg ít thả giống vào tháng 10 vì vào thời điểm này khu vực nuôi tôm vùng tứ giác Long Xuyên bắt đầu chịu ảnh hưởng của nước lũ, đồng thời lượng mưa hàng năm cũng tập trung nhiều vào thời gian này nên chất lượng nước ở các kênh cấp không còn phù hợp cho nuôi tôm Thời gian thu hoạch tôm trung bình là 69,97 ngày

Nguồn giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng tôm trưởng thành Nguồn giống chủ yếu được lấy từ ngoài tỉnh Kích cỡ giống thả trung bình là PL11 Lựa chọn kích cỡ giống càng lớn thì chi phí sẽ càng cao, vì các hộ nuôi tại đây có nguồn cung cấp chủ yếu là ngoài tỉnh nên giá con giống tương đối cao và phải chịu chi phí vận chuyển đã

được thêm vào tiền con giống Theo Nguyễn Huy Điền (2007) khuyến khích người dân nuôi

tôm chân trắng ở mật độ vừa phải 70 con/m2, tối đa là thả ở mật độ 100 con/m2 Trong mô hình khảo sát mật độ thả nuôi là 109 con/m2 Kết quả này là khá cao so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và Huỳnh Văn Hiền (2012) với 89 con/m2 Hộ có mật độ thả nhiều nhất là 200 con/m2 và ít nhất là 50 con/m2 Tuy nhiên theo Wyban (2007), mật độ nuôi thâm canh TTCT ở Thái Lan dao động từ 120-200 con/m2 thì mật độ được thả nuôi thâm canh TTCT ở tỉnh Kiên Giang vẫn còn thấp

Vì nuôi với mật độ lớn nên loại thức ăn cho tôm hoàn toàn là thức ăn công nghiệp,

được mua tại các đại lý cấp 1 Trong các điều kiện nuôi thủy sản (môi trường, đối tượng nuôi,

các biện pháp kỹ thuật được áp dụng) thì thức ăn có vai trò quan trọng đến tốc độ tăng trưởng, đến năng suất và hiệu quả kinh tế, trong những chừng mực nhất định thì thức ăn có vai trò lớn nhất, lớn hơn cả con giống và yếu tố di truyền của vật nuôi (Trần Thị Thanh Hiền, 2004) Tổng lượng thức ăn trung bình là 9,78 tấn/ha/vụ, hộ có tổng lượng thức ăn lớn nhất là

18 tấn/ha vụ và ít nhất là 4 tấn/ha/vụ Cách cho tôm ăn thường là sử dụng máy cho ăn hoạc rãi trực tiếp xuống ao, các hộ thường dùng nhá để ước tính lượng thức ăn Mỗi ngày cho ăn trung bình là 3,97 lần Hộ có số lần cho ăn nhiều nhất là 5 lần và ít nhất là 2 lần

Trong nghiên cứu, năng suất đạt được là 8,44 tấn/ha/vụ thấp hơn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và Huỳnh Văn Hiền (2012), năng suất của TTCT ở Bến Tre là 9,6±3,5 tấn/ha/vụ Tỉ lệ sống cùa mô hình TTCT ở Kiên Giang là khá cao 77,26% Hộ có tỉ lệ sống cao nhất là 89% và hộ có tỉ lệ sống thấp nhất là 68,5%.Kích cỡ trung bình là 67,89 con/kg Hộ có kích cỡ của tôm lớn nhất là 35 con/kg và nhỏ nhất là 130 con/kg

FCR là nhân tố có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của vụ nuôi Trong kỹ thuật nuôi tôm hệ số FCR cao có thể là do tôm nuôi chậm lớn, thời gian nuôi kéo dài, tỷ lệ sống thấp, kết quả ở bảng 7 hệ số tiêu tôn thức ăn là 1,12 Kết quả này cao hơn kết quả nghiên cứu của

Briggs M et al (2004) FCR của TTCT là 1,2 (Bảng 4)

Trang 10

Bảng 4: Các thông số kỹ thuật của mô hình nuôi TTCT

Diễn giải

TB±ĐLC (n=35)

Lớn nhất (n=35)

Nhỏ nhất (n=35)

Tỷ lệ sống (%) 77,26±4,92 89 68,5

Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) 1,12±0,16 1,38 0,80

Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất của mô hình

Với Y là năng suất (tấn/ha/vụ) Có 3 yếu tố ảnh hưởng đến năng suất nuôi TTCT là:

X1: Số ngày nuôi (ngày), X2: Tỉ lệ sống (%), X3: Mật độ nuôi (con/m2), được tình bày qua phương trình (1):

Y= -15,17 + 0,176 X 1 +0,132 X 2 + 0,019 X 3 (1)

(Với R=0,928; R 2 =0,86: R 2 hiệu chỉnh=0.847; Sig= 000)

Qua phương trình trên cho thấy, năng suất có tương quan chặt và tỷ lệ thuận với số ngày nuôi, tỉ lệ sống và mật độ nuôi Khi số ngày nuôi tăng 1 ngày thì năng suất sẽ tăng 0,176 tấn/ha/vụ (giả định các yếu tố khác không đổi) Tuy nhiên khi số ngày nuôi tăng lên tức là người nuôi sẽ tốn thêm các khoản chi phí về thức ăn, công lao động hay thuốc hóa chất, điều này ảnh hưởng về mặt kinh tế, nên nếu quyết định nuôi tiếp tục để tăng năng suất người nuôi tôm cần phải lưu ý đến các yếu tố như giá bán, hay một số chi phi cơ hội phải bỏ ra Khi cố

định biến X1, X3 là số ngày nuôi và mật độ thì nếu tỉ lệ sống tăng 1% thì năng suất sẽ tăng 0,132 tấn Trong phương trình nếu mật độ nuôi tăng lên 1 con/m2/vụ thì năng suất sẽ tăng 19 kg/ha/vụ (giả định các yếu tố khác không đổi) Tuy nhiên khi nuôi với mật độ quá cao sẽ dẫn

đến sự mất cân bằng trong ao nuôi, thiếu thức ăn, tôm nuôi chậm lớn, đặc biệt việc quản lý

mô hình nuôi trở nên khó khăn hơn dẫn đến năng suất sẽ giảm Do đó, việc chọn mật độ tôm nuôi còn phụ thuộc vào điều kiện nuôi khả năng quản lý, kinh nghiệm và trình độ kỹ thuật của từng nông hộ

3.3 Hiệu quả tài chính của mô hình

Cơ cấu chi phí trong mô hình

Tổng chi phí cố định đã qua khấu hao chiếm 5% tổng chi phí Do diện tích nuôi lớn

và mật độ của nuôi tôm thâm canh cao nên nhu cầu về oxy trong ao nuôi cao đòi hỏi người nuôi cần cung cấp đa dạng thành phần trong chi phí cố định Trong đó, chi phí dàn quạt chiếm 38% Tiếp theo là chi phí máy bơm chiếm 20% Chi phí xây dựng/đào chiếm 15% Hệ

Trang 11

thống điện chiếm 13% trong tổng chi phí Xây nhà phục vụ sản xuất và chi phí ghe xuồng chiếm tỉ lệ không đáng kể so với các chi phí khác khoảng 5% (Hình 2)

Hình 2: Cơ cấu CP cố định của mô hình và bảng CP cố định đã khấu hao

Phần lớn chi phí cho nuôi TTCT thâm canh là chi phí biến đổi chiếm khoàng 95% so với tổng chi phí Trong đó chủ yếu là chi phí thức ăn với tổng chi phí trung bình chiếm tỉ lệ là 54,1%, kết quả này xấp xỉ so với kêt quả của Nguyễn Sỹ Minh (2012) chi phí thức ăn chiếm 54% và cao hơn so với kết quả của Đàm Thị Phong Ba (2007) trong nghề nuôi tôm thì thức

ăn chiếm 51,5% tổng chi phí biến đổi Chi phí cao thứ hai là chi phí con giống, do đa phần

các hộ nuôi lấy con giống từ ngoài tỉnh nên chi phí giống là khá cao chiếm tỉ lệ là 18,39%

Kế đến là chi phí thuốc/hóa chất/chế phẩm sinh học chiếm 15,34%, kết quả này gần bằng với kết quả khảo sát của Nguyễn Sỹ Minh (2012) trong mô hình TTCT thâm canh có chi phí từ 15-16% trong tổng chi phí biến đổi Chi phí cải tạo ao trung bình là 3,89% Phần còn lại là các chi phí như: lao động, chi phí sửa chữa, nhiên liệu Những chi phí này chiếm tỉ lệ không lớn so với tổng chi phí biến đổi nên không ảnh hưởng nhiều đến giá thành và lợi nhuận (Hình 3)

Chi phí sửa chữa 1.86±0.69

Hình 3: Cơ cấu CP biến đổi của mô hình và bảng chi phí biến đổi

Hiệu quả tài chính mô hình nuôi

Các khoản chi phí đầu tư trong mô hình chủ yếu là thức ăn, con giống và chi phí thuốc/hóa chất/chế phẩm sinh học Kết quả khảo sát phù hợp với nghiên cứu của Lê Xuân

Trang 12

Sinh và ctv (2006): Giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản là ba khoản chi phí lớn nhất có ảnh

hưởng trực tiếp đến hiệu quả nuôi tôm cũng như chất lượng tôm nguyên liệu Ngoài ra do mô hình nuôi TTCT thâm canh đòi hỏi nhiều kỹ thuật, công nghệ và máy móc thiết bị nên vốn để

đầu tư cho cơ sở vật chất ban đầu là khá cao

Trong nuôi tôm, ngoài việc nuôi tôm thành công đạt năng suất cao thì giá cả cũng ảnh hưởng rất nhiều đến lợi nhuận của mô hình nuôi TTCT có giá trị kinh tế cao, giá thành của TTCT trong mô hình đạt trung bình 83.160 đồng/kg và giá bán biến động từ 80.000 đồng đến 170.000 đồng/kg nên mô hình có tổng thu nhập rất cao 1109,74 tr.đồng/ha/vụ Do tổng chi phí cho mô hình là 559,46 tr.đồng/ha/vụ nên lợi nhuận của mô hình đạt được rất cao 550,28 tr.đồng/ha/vụ Trong những năm gần đây, giá bán của tôm sú cao hơn TTCT nhưng so về mặt năng suất, thời gian nuôi và cạnh tranh trên thị trường nên người nuôi vẫn ưu tiên chuyển từ nuôi tôm sú sang nuôi TTCT

Tỉ suất lợi nhuận đạt 0,92 lần, cao hơn tỉ suất lợi nhuận của mô hình nuôi tôm sú 0,66 lần (Nguyễn Thanh Long và Nguyễn Thanh Phương, 2010) Trong mô hình khảo sát có 5,7%

đối tượng bị thua lỗ Từ kết quả trên cho thấy mô hình nuôi TTCT rất có tiềm năng phát triển,

cần được hỗ trợ để đa dạng hóa loài nuôi thủy sản, nhất là vùng ven biển (Bảng 5)

Bảng 5: Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi TTCT

Hạn mục

TB±ĐLC (n=35)

Tổng chi phí (tr.đồng/ha/vụ) 559,46±138,39 952,25 308,47 Giá thành sản xuất (1000đ/kg/vụ) 83,16±64,63 150,16 50,88 Giá bán (1000đ/kg/vụ) 131,11±23,22 170 80 Doanh thu (tr.đồng/ha/vụ) 1109,74±465,79 2175 80 Lợi nhuận (tr.đồng/ha/vụ) 550,28±360,93 1409.83 -281,16

Tỉ suất lợi nhận (lần) 0.92±0,58 2,07 -0,78

Tỷ lệ hộ bị thua lỗ (%) 5,7

Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của mô hình

Có 4 yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của trong mô hình nuôi TTCT là: X1: FCR, X2: Giá bán (1000 đồng/kg), X3: số ngày nuôi (ngày) được trình bày qua phương trình (2):

Y= -1445 - 632 X 1 + 8,14 X 2 – 23,9 X 3 (2)

(Với R= 0,93; R 2 = 0,865; R 2 hiệu chỉnh= 0,851; Sig= 000)

Khi cố định các biến độc lập X1, X2, X3, X4 thì trung bình giá trị lợi nhuận là -1445 Trong hầu hết các trường hợp, số hạng tung độ gốc không có ý nghĩa kinh tế (Damodar N Gujarati, 1995) Kết quả cho thấy, lợi nhuận có tương quan chặt và tỷ lệ thuận với giá bán, nhưng tương quan tỷ lệ nghịch với FCR và số ngày nuôi Nghĩa là khi năng suất càng tăng thì lợi nhuận mang lại từ mô hình nuôi càng cao Trong trường hợp, cố đinh các biến ngoài biến FCR, thì với mỗi mức tăng lên của FCR thì lợi nhuận sẽ giảm 632 tr.đồng/vụ Khi giá bán

Trang 13

tăng 1.000 đồng/kg thì lợi nhuận sẽ tăng 8,14 tr.đồng/vụ (giả định các yếu tố khác không

đổi)

3.4 Những thuận lợi và khó khăn của nghề nuôi TTCT ở tỉnh Kiên Giang

Bảng 6 thể hiện những thuận lợi của mô hình nuôi TTCT Kết quả cho thấy người dân

tham gia mô hình nuôi TTCT là do TTCT là loài dễ nuôi, điều kiện chăm sóc dễ dàng, thời

gian nuôi ngắn hơn so với tôm sú Nhờ thời gian nuôi ngắn mà các hộ nuôi ít tốn chi phí hơn nên lợi nhuận đạt được cao Thêm vào đó là do TTCT có khả năng thích nghi tốt cũng là một

lợi thế trong mô hình này

Bảng 6: Thuận lợi của mô hình nuôi TTCT ở tỉnh Kiên Giang

Khả năng thích nghi tốt 6 4

Các khó khăn nhất hiện nay mà người nuôi tôm gặp phải trong hoạt động sản xuất của mình đó là tình hình bệnh tôm đang diễn ra ngày càng phổ biến và mức độ nghiêm trọng ngày càng cao Một khi dịch bệnh xảy ra thì làm ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất, vì vậy cần phải chú trọng phòng ngừa dịch bệnh ngay từ đầu, từ lúc cải tạo ao, cấp nước, con giống

và thức ăn Chi phí đầu tư trong nuôi tôm là yếu tố quyết định lợi nhuận của người nuôi, và

đó là một khó khăn lớn đối với các hộ nuôi Giá cả trên thị trường ngày càng tăng nhanh đẩy

chi phí nuôi tôm tăng lên rất mạnh, làm giảm lợi nhuận của người nuôi Thời tiết, giá không

ổn định, thiếu kỹ thuật cũng là các nguyên nhân làm cho nghề nuôi tôm TC tại Kiên Giang

Bảng 7: Khó khăn của mô hình nuôi TTCT ở tỉnh

-Mô hình với quy mô tương đối lớn và mức đầu tư cao và mô hình cũng đem lại hiệu quả tài chính khá cao (606,28 tr.đồng/ha/vụ) Tỷ lệ bị thua lỗ thấp vì thế mà mô hình này sẽ

có cơ hội phát triển nhiều hơn trong tương lai

Trang 14

- Khi thực hiện mô hình nuôi tôm người nuôi cũng gặp một số khó khăn chủ yếu như: dịch bệnh, vốn đầu tư cao, thời tiết, giá không ổn định, thiếu kỹ thuật

Ngày đăng: 13/11/2015, 12:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thông tin về tuổi, số lao động tham gia mô hình, số năm kinh nghiệm - phân tích hiệu quả tài chính và kỹ thuật trong mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh ở kiên giang
Bảng 1 Thông tin về tuổi, số lao động tham gia mô hình, số năm kinh nghiệm (Trang 7)
Bảng 2: Trình độ học vấn - phân tích hiệu quả tài chính và kỹ thuật trong mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh ở kiên giang
Bảng 2 Trình độ học vấn (Trang 7)
Bảng 4: Các thông số kỹ thuật của mô hình nuôi  TTCT - phân tích hiệu quả tài chính và kỹ thuật trong mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh ở kiên giang
Bảng 4 Các thông số kỹ thuật của mô hình nuôi TTCT (Trang 10)
Hình 3: Cơ cấu CP biến đổi của mô hình và bảng chi phí biến đổi - phân tích hiệu quả tài chính và kỹ thuật trong mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh ở kiên giang
Hình 3 Cơ cấu CP biến đổi của mô hình và bảng chi phí biến đổi (Trang 11)
Hình 2: Cơ cấu CP cố định của mô hình và bảng CP cố định đã khấu hao - phân tích hiệu quả tài chính và kỹ thuật trong mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh ở kiên giang
Hình 2 Cơ cấu CP cố định của mô hình và bảng CP cố định đã khấu hao (Trang 11)
Bảng 5: Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi  TTCT - phân tích hiệu quả tài chính và kỹ thuật trong mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh ở kiên giang
Bảng 5 Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi TTCT (Trang 12)
Bảng 6 thể hiện những thuận lợi của mô hình nuôi TTCT. Kết quả cho thấy người dân  tham gia mô hình nuôi TTCT là do TTCT là loài dễ nuôi, điều kiện chăm sóc dễ dàng, thời  gian nuôi ngắn hơn so với tôm sú - phân tích hiệu quả tài chính và kỹ thuật trong mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh ở kiên giang
Bảng 6 thể hiện những thuận lợi của mô hình nuôi TTCT. Kết quả cho thấy người dân tham gia mô hình nuôi TTCT là do TTCT là loài dễ nuôi, điều kiện chăm sóc dễ dàng, thời gian nuôi ngắn hơn so với tôm sú (Trang 13)
Bảng 6: Thuận lợi của mô hình nuôi  TTCT ở tỉnh Kiên Giang - phân tích hiệu quả tài chính và kỹ thuật trong mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh ở kiên giang
Bảng 6 Thuận lợi của mô hình nuôi TTCT ở tỉnh Kiên Giang (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w