KHOA THỦY SẢN NGÔ THỊ THÚY CẦM PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH MÔ HÌNH NUÔI CÁ TRA Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1978 THÂM CANH TRONG AO ĐẤT Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ LUẬN VĂN TỐT NGHI
Trang 1KHOA THỦY SẢN
NGÔ THỊ THÚY CẦM
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH MÔ HÌNH NUÔI
CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1978)
THÂM CANH TRONG AO ĐẤT Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN
Trang 2NGÔ THỊ THÚY CẦM
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH MÔ HÌNH NUÔI
CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1978)
THÂM CANH TRONG AO ĐẤT Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGs Ts DƯƠNG NHỰT LONG
Ks PHAN HẢI ĐĂNG
2014
Trang 3THÔNG TIN LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐẠI HỌC, CAO HỌC VÀ NGHIÊN CỨU SINH KHOA THỦY SẢN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Tên đề tài Phân tích hiệu quả tài chính mô hình nuôi cá tra
(Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1978) thâm
canh trong ao đất ở Thành phố Cần Thơ
Ngành/Chuyên ngành Kinh tế thủy sản
Sinh viên/ học viên/ NCS thực hiện (MSSV) 4115287
Cán bộ hướng dẫn PGs.Ts Dương Nhựt Long và Ks Phan Hải Đăng
Nguồn kinh phí 100.000 đồng
Tóm tắt
Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1978) là một trong những mô hình nuôi quan trọng góp phần nâng cao thu nhập, lợi nhuận cho người dân ở thành phố Cần Thơ Nhằm đánh giá và phân tích hiệu quả lợi nhuận sản xuất và đề ra các biện pháp phát triển cho ngành hàng cá tra, nghiên cứu này đã được thực hiện từ tháng 08 đến tháng 12 năm
2014 thông qua phỏng vấn trực tiếp 35 hộ nuôi cá tra ở Cần Thơ Kết quả khảo sát cho thấy ao nuôi có diện tích khoảng 0,39 ± 0,18 ha/ao, tỷ lệ sống trung bình đạt 66,79 ± 0,12% và với mật độ thả là 53,68 ± 11,05 con/m2, hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) đạt 1,57 ± 0,28 thì năng suất của các hộ nuôi của vùng đạt được là 342,9 ± 82 tấn/ha/vụ Trong nghiên cứu này còn cho thấy trung bình với chi phí sản xuất là 5.396,45 ± 1.098,38 tr.đ/ha/vụ thì có 82,90% các hộ nuôi có lời với mức lời bình quân là 273,72 ± 177,65 tr.đ/ha/vụ Tuy nhiên vẫn còn một số hộ gặp khó do vấn đề về dịch bệnh, ô nhiễm nguồn nước và thiếu vốn trong quá trình sản xuất
Từ khóa: Cá tra, Pangasianodon hypophthalmus, Cần Thơ, hiệu quả tài chính
Trang 5PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH MÔ HÌNH NUÔI CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1978) THÂM CANH
TRONG AO ĐẤT Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Ngô Thị Thúy Cầm, Phan Hải Đăng và Dương Nhựt Long
Khoa Thủy Sản, Trường Đại học Cần Thơ Email: cam115287@student.ctu.edu.vn
ABSTRACT
Striped (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1978) is one of the important animal models contribute to improved income and profits for the people in the city of Can Tho
In order to evaluate and analyze the efficiency of production and profitability measure development for catfish industry, this study was conducted from May 08 to December
2014 through direct interviews with 35 farmers fish in Can Tho Survey results showed that the pond has an area of approximately 0.39 ± 0.18 ha/pond, the average survival
consumption ratio (FCR) reached 1.57 ± 0.28, the productivity of the farmers of the gain is 342.97 ± 82 tons /ha/crop In this study also shows that the average cost produce was 5396.45 ± 1098.38 million VND/ha/crop, there are 82.90% of households have income with the word average of 273.72 ± 177 65 million VND/ha/crop However, some farmers are still having problems with disease, water pollution and lack of capital
in the production process
Keywords: Catfish, Pangasianodon hypophthalmus, Can Tho, financial efficiency Title: Analyzing financial efficiency of intensive culture system catfish in the pond of the
Can Tho city
TÓM TẮT
Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1978) là một trong những mô hình nuôi quan trọng góp phần nâng cao thu nhập, lợi nhuận cho người dân ở thành phố Cần Thơ Nhằm đánh giá và phân tích hiệu quả lợi nhuận sản xuất và đề ra các biện pháp phát triển cho ngành hàng cá tra, nghiên cứu này đã được thực hiện từ tháng 08 đến tháng 12 năm 2014 thông qua phỏng vấn trực tiếp 35 hộ nuôi cá tra ở Cần Thơ Kết quả khảo sát cho thấy ao nuôi có diện tích khoảng 0,39 ± 0,18 ha/ao, tỷ lệ sống trung
ăn (FCR) đạt 1,57 ± 0,28 thì năng suất của các hộ nuôi của vùng đạt được là 342,9 ±
82 tấn/ha/vụ Trong nghiên cứu này còn cho thấy trung bình với chi phí sản xuất là 5.396,45 ± 1.098,38 tr.đ/ha/vụ thì có 82,90% các hộ nuôi có lời với mức lời bình quân
là 273,72 ± 177,65 tr.đ/ha/vụ Tuy nhiên vẫn còn một số hộ gặp khó do vấn đề về dịch bệnh, ô nhiễm nguồn nước và thiếu vốn trong quá trình sản xuất
Từ khóa: Cá tra, Pangasianodon hypophthalmus, Cần Thơ, hiệu quả tài chính
l GIỚI THIỆU
Thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia góp phần đem nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước, cải thiện chất lượng cuộc sống và cung cấp nguồn thực phẩm cho nhu cầu của con người Trong đó, ngành sản xuất cá tra đóng vai trò quan trọng với năng suất cao diện tích nuôi khoảng 2.168 ha, sản lượng thu
Trang 62
hoạch là 311,899 tấn (Thủy sản Việt Nam, 2014) Cá tra được nuôi chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chiếm gần 95% sản lượng và nuôi nhiều nhất ở Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ,… Theo Lê Xuân Sinh và Lê Lệ Hiền (2010) cũng đã ước tính có khoảng nửa triệu lao động tham gia những việc làm trực tiếp hoặc có liên quan tới ngành hàng sản xuấtcá tra ở ĐBSCL
Cần Thơ là thành phố trung tâm của ĐBSCL nên có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển của ngành sản xuất cá tra Đặc biệt, phong trào nuôi cá tra thâm canh trong ao đất phát triển rất nhanh ở hai quận Thốt Nốt và Ô Môn, từ đó mà không ít hộ nông dân
đã vươn lên thoát nghèo làm giàu Theo Bộ kế hoạch Tổ chức ở Cần Thơ, đã thu hoạch được 2.043 ha thuỷ sản nâng tổng sản lượng thu hoạch lên 153.043 tấn Trong đó, diện tích nuôi cá tra đến ngày 13 tháng 11 năm 2014 là 796 ha, sản lượng thu hoạch là 127.514 tấn Giá cá tra nguyên liệu từ 23.500 - 24.200 đồng/kg đối với cá có kích cỡ từ 0,7 đến 0,8 kg/con (Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Cần Thơ, 2014)
Sự phát triển của ngành sản xuất cá tra ĐBSCL nói chung, thành phố Cần Thơ nói riêng cũng bị hạn chế bởi một số vấn đề Thường xuyên lâm vào cảnh hòa vốn hoặc không có lãi do chi phí đầu vào liên tục tăng, đầu ra luôn bấp bênh, giá cá nguyên liệu trong nước liên tục dưới giá thành sản, các rào cản về kỹ thuật dẫn đến làm giảm hiệu quả lợi nhuận của mô hình Xuất phát điểm từ cơ sở này, đề tài “ phân tích hiệu quả lợi nhuận mô hình
nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1978) trong ao đất ở thành phố
Cần Thơ” được thực hiện
Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích hiệu quả lợi nhuận của mô hình nuôi cá tra thâm canh trong ao đất ở Cần Thơ, nhằm cung cấp thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc xây dựng giải pháp nâng cao hiểu quả mô hình nuôi cá tra của địa phương
Nội dung nghiên cứu
Phân tích hiệu quả kỹ thuật - tài chính của mô hình nuôi cá tra thâm canh trong ao ở Cần Thơ
Phân tích và đánh giá hiệu quả lợi nhuận của mô hình nuôi cá tra thâm canh trong ao Phân tích những thuận lợi và khó khăn, từ đó đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả của mô hình nuôi cá tra thâm canh trong ao đất ở Cần Thơ
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014
Địa điểm nghiên cứu: nghiên cứu được khảo sát tại hai quận Ô Môn và Thốt Nốt thuộc địa bàn Thành phố Cần Thơ
Đối tượng nghiên cứu: các hộ nuôi cá tra thâm canh trong ao đất
2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp được thu thập từ cơ quan chức năng có liên quan như chi cục thuỷ sản Thành phố Cần Thơ, phòng kinh tế quận Thốt Nốt, sách báo, tạp chí, các nghiên cứu trước đây và website có liên quan bao gồm các nội dung sau: điều kiện tự nhiên và xu hướng nghề nuôi cá tra của Cần Thơ, tình hình nuôi cá tra của vùng ĐBSCL và Cần Thơ, diện tích và sản lượng của mô hình nuôi
Trang 7Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 35 hộ nuôi cá tra thâm canh Trong đó phỏng vấn trực tiếp 15 hộ nuôi ở quận Ô Môn và 20 hộ nuôi ở Thốt Nốt thuộc địa bàn Thành phố Cần Thơ
2.3 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu
Phần mềm SPSS và Microsoft Excel được sử dụng để xử lí và phân tích số liệu
Phương pháp thống kê mô tả
Phân tích sự ảnh hưởng của giá bán cá đến lợi nhuận của mô hình
Các chỉ tiêu tài chính được tính dựa theo công thức:
Tổng chi phí (TC): TC = TFC + TVC (tr.đ/ha/vụ)
Tổng doanh thu (TR): Sản lượng* giá sản phẩm (tr.đ/ha/vụ)
Lợi nhuận (LN): LN= TR – TC (tr.đ/ha/vụ)
Tỷ suất lợi nhuận =(LN/TC)*100 (%)
Hiệu quả chi phí = (TR/TC) (lần)
Tỷ số hộ lỗ = (số hộ lỗ/tổng số hộ khảo sát)*100
Tỷ số hộ lời = (số hộ lời/tổng số hộ khảo sát)*100
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thông tin chung của hộ nuôi
Số tuổi trung bình của chủ hộ là 42,09 tuổi, trong đó nhỏ nhất là 26 tuổi và lớn nhất là lớn nhất là 75 tuổi Qua khảo sát cho thấy, người quản lí mô hình đa phần là nam giới (100%) vì nghề nuôi trồng thủy sản đòi hỏi người có sức khỏe và thể lực tốt
Bảng 1: Thông tin về tuổi, số lao động, số năm kinh nghiệm của mô hình
Độ tuổi trung bình của chủ hộ là độ tuổi trung niên nên kinh nghiệm nuôi trồng thủy sản cao đạt khoảng 9,34 ± 4,03 năm kinh nghiệm Do mô hình nuôi chỉ mang tính chất riêng
lẽ nên chỉ giải quyết được lao động của gia đình, trung bình mỗi hộ nuôi có 3,26 ± 1,42 người thì có 1,69 ± 0,72 người tham gia mô hình còn lại 1,63 ± 1,57 người là lao động thuê mướn (Bảng 1)
Bảng 2: Trình độ học vấn của các hộ nuôi cá tra
Trang 84
Trình độ học vấn của các chủ hộ cao nhất là cấp III (40%) và có tỷ lệ tương đương là cấp II (34,29%) đều đó cho thấy đây là một thế mạnh cho các nông hộ trong vấn đề tiếp thu các tiến bộ khoa học trong nuôi trồng thuỷ sản Tuy nhiên, vẫn còn 14,28% số hộ có trình độ cấp I, nhưng không đáng ngại vì các hộ này có thể học hỏi kinh nghiệm từ các
hộ nuôi khác (Bảng 2)
Bảng 3: Lí do chọn mô hình
Qua kết quả Bảng 3 cho thấy, lí do chủ yếu các hộ nuôi chọn mô hình này là do lợi nhuận cao chiếm 32,7% Ngoài ra còn một số nguyên nhân như điều kiện tự nhiên thuận lợi (21,1%), nuôi theo phong trào (15,5%), dễ quản lý (12,4%), tận dụng đất nhà (10,6%) và một số lí do khác chiếm (7,7%) như: truyền thống gia đình, nằm trong vùng chuyên canh, thời gian nuôi ngắn,…
3.2 Các chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản của mô hình
3.2.1 Cải tạo ao
Cải tạo được xem là bước ngoặc quan trọng để mô hình nuôi đạt năng suất cao Theo kết quả ở Bảng 4 cho thấy, phần lớn các hộ đều sử dụng vôi đá (CaCO3) hay vôi bột (CaO) để cải tạo với lượng bón là 11,04 ± 2,43 kg/100 m2 Theo nghiên cứu trước đây của Dương Nhựt Long (2004) thì lượng vôi bón từ 8 - 12 kg/100 m2 cho ao không bị nhiễm phèn và 12 – 15 kg/100 m2 cho ao bị nhiễm phèn Từ đó ta thấy theo thời gian ao nuôi ngày càng nhiễm mặn nên lượng vôi sử dụng ngày càng nhiều làm tăng chi phí cải tạo của các hộ nuôi
Bảng 4: Hoạt động cải tạo ao nuôi
nhất
Giá trị trung bình
Ao nuôi cá tra rất sâu nên khâu hút bùn đáy ao và diệt khuẩn rất khó thực hiện vì vậy một số hộ nuôi chỉ thực hiện 1 lần/vụ giai đoạn trước khi thả cá Tuy nhiên nhìn chung thì phần lớn các hộ nuôi thường hút bùn khoảng 3,89 ± 1,15 lần/vụ Kết quả này tương
tự với kết quả nghiên cứu trước đây ở Cần Thơ của Trần Trọng Tân (2013) là 4,09 ± 1,51 lần/vụ Theo Dương Nhựt Long (2004) cho biết thêm khi ao nuôi có đủ các điều kiện như: pH nước từ 7–8,5, độ trong 30–35 cm, oxy >3 mg/L và nước có màu xanh đọt chuối hay vỏ đậu thì có thể bắt đầu thả cá giống
Trang 93.2.2 Diện tích, độ sâu, kích cỡ, mật độ, thời gian nuôi và thức ăn
Kết quả Bảng 5 cho thấy, diện tích mặt nước trung bình của một ao là 0,39 ± 0,18 ha/ao,
độ sâu mức nước bình quân khoảng 4,11 ± 0,54 m Theo kết quả các nghiên cứu trước đây của Phạm Thị Kim Oanh và Trương Hoàng Minh (2011) diện tích mặt nước và độ sâu mức nước trong ao nuôi cá tra ở ĐBSCL là 0,48 ha/ao và 3,98 m, Cần Thơ diện tích mặt nước thấp hơn từ 0,3 - 0,4 ha/ao (Cao Văn Thích, 2008) và độ sâu mức nước trên 3,5 m (Lâm Trường Ân, 2010) Từ đây ta thấy theo thời gian diện tích mặt nước và độ sâu mức nước không có sự biến động đáng kể và hoàn toàn phù hợp vơi kết quả trên Ngoài ra, theo Trần Trọng Tân (2013) cho biết độ sâu mức nước có tương quan với năng suất, nếu mức nước từ 4 - 4,5 m sẽ đạt năng suất cao nhất
Bảng 5: Diện tích mặt nước, độ sâu mức nước, kích thước giống, mật độ thả giống, tổng lượng thức ăn, loại thức ăn, thời gian nuôi và hệ số FCR
nhất
Giá trị lớn nhất
Giá trị trung bình
Diện tích trung bình một ao (ha/ao)
Mức nước (m)
Kích thước giống (cm)
Mật độ (con/m2)
Tổng lượng thức ăn (tấn/ha/vụ)
Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR)
Thời gian nuôi (tháng)
0,10 2,50 1,00 30,00 100,00 1,42
6
0,75 6,00 3,00 150,00 950,00 1,75
12
0,39 ± 0,18 4,11 ± 0,54 1,75 ± 0,37 53,68 ±11,05 551,49 ± 168,29 1,57 ± 0,28 7,09 ± 1,99
Kích cỡ giống từ 1,75 ± 0,37 cm, mật độ thả cá giống trung bình 53,68 ± 11,05 con/m2 Nghiên cứu trước đây ở Cần Thơ; Sóc Trăng; Trà Vinh 48 con/m2, 1,78 cm (Lâm
Trường Ân và ctv., 2010); Cần Thơ; Vĩnh Long từ 48,6 - 49,8 con/m2, 1,59 - 1,6 cm (Phạm Thị Kim Oanh và Trương Hoàng Minh, 2011) Như vậy kích cỡ giống và mật độ nghiên cứu ở Bảng 5 cao hơn so với trước đây là do chất lượng con giống không ổn định Mật độ nuôi càng dày đòi hỏi kỹ thuật càng cao và kỹ năng quản lý tốt để hạn chế rủi ro
Kết quả phân tích ở Bảng 5 còn cho ta thấy rằng 100% hộ nuôi cá tra sử dụng thức ăn công nghiệp với tổng lượng thức ăn 551,49 ± 168,29 tấn, hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) là 1,57 ± 0,28 và thời gian nuôi 7,09 ± 1,99 tháng thấp hơn nghiên cứu của Trần Trọng Tân (2013) lần lượt là 590,66 ± 221,96 tấn, FCR 1,59 ± 0,12; thời gian nuôi 7,18±1,73 tháng Theo Đỗ Văn Xê và Châu Thanh Bảo (2010) với FCR đạt giá trị từ 1,5 - 1,6 thì
mô hình nuôi rất đạt hiệu quả Điều đó cho thấy các hộ nuôi năm nay muốn có thêm lợi nhuận nên hạ lượng thức ăn cũng như do có khác biệt về tỷ lệ sống nên làm ảnh hưởng đến hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) giảm
3.2.3 Tỷ lệ sống, kích thước thu hoạch và năng suất trung bình
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2004 thì tỷ lệ sống cá tra ở ĐBSCL đạt 94% Tuy
nhiên theo nghiên cứu gần đây thì tỷ lệ sống cá tra giảm nhiều hơn so với trước cụ thể là 76,2% (Lê Lệ Hiền, 2008), 75,7% (Phạm Kim Oanh và Trương Hoàng Minh, 2011), ở Cần Thơ 67,02% (Trần Tọng Tân, 2013) còn trong nghiên cứu này thì tỷ lệ sống đạt 66,79 ± 0,12 % Như vậy, tỷ lệ sống của cá tra đang giảm dần theo thời gian chứng tỏ
Trang 106
chất lượng cá tra giống hiện nay càng giảm nên mật độ thả cá tra giống ngày càng tăng nhằm bù đắp lại tỷ lệ hao hụt do cá chết
Bảng 6: Tỷ lệ sống, kích thước thu hoạch và năng suất trung bình
Bảng 6 cho thấy năng suất đạt 342,97 ± 82,00 tấn/ha/vụ và kích cỡ cá thu hoạch trung bình là 0,89 ± 0,15 kg/con thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây Kết quả nghiên
cứu ở ĐBSCL năng suất cá tra đạt đến 416 tấn/ha/vụ (Lâm Trường Ân và ctv., 2010) và
344,58 ± 10,06 tấn/ha/vụ, kích thước thu hoạch 0,92 - 0,94 kg/con (Phạm Thị Kim Oanh và Trương Hoàng Minh, 2011) Trong đó ở Cần Thơ năng suất là 346 - 388 tấn/ha/vụ; kích thước thu hoạch là 0,93 - 0,94 kg/con Trần Trọng Tân (2013) Điều này
có thể lý giải cho sự khác nhau về mật độ, thời gian nuôi, tỷ lệ sống và kích cỡ cá thu hoạch
3.2.4 Các bệnh thường gặp trên cá tra
Hình 1: Tỷ lệ xuất hiện bệnh trong ao nuôi cá tra ở Cần Thơ
Theo kết quả điều tra ở Hình 1 cho thấy bệnh xuất huyết (43,53%), phù đầu (20,24%)
và gan thận mũ (16,12%) là xuất hiện nhiều nhất trong số các bệnh thường gặp trong ao nuôi cá tra ở Cần Thơ hiện nay Bệnh thường xuất hiện vào mùa mưa và gió Bắc nguyên nhân cụ thể là do chất lượng con giống không ổn định, sự thay đổi thất thường của thời tiết, ô nhiễm môi trường và mức độ thâm canh trong ao nuôi ngày càng cao của
các nông hộ
3.3 Phân tích các chỉ tiêu tài chính của hai mô hình
3.3.1 Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của hình thức sản xuất cá tra
Kết quả quả Bảng 7 cho thấy với chi phí bỏ ra là 5.396,45 ± 1.098,38 (tr.đ/ha/vụ) thì doanh thu đem lại là 5.661,30 ± 3.905,31 (tr.đ/ha/vụ) Kết quả này cao hơn nghiên cứu trước đây của Trần Trọng Tân (2013) với tổng chi phí và thu nhập là 5,17 tỷ đ/ha/vụ; 5,4 tỷ.đ/ha/vụ và 5,35 - 5,43 tỷ.đ/ha/vụ; 5,39 - 5,52 tỷ.đ/ha/vụ (Phạm Thị Kim Oanh và Trương Hoàng Minh, 2011)
%
Tên bệnh
50