1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh cà mau

13 1,3K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 121,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG Ở TỈNH CÀ MAU Triệu Nhật Phi và Nguyễn Thanh Long Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ Email: phi115334@student.ctu.ed

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

TRIỆU NHẬT PHI

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH

CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG

Ở TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

TS NGUYỄN THANH LONG

2014

Trang 2

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI

TÔM THẺ CHÂN TRẮNG Ở TỈNH CÀ MAU

Triệu Nhật Phi và Nguyễn Thanh Long Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ Email: phi115334@student.ctu.edu.vn

Tóm tắt

Tôm thẻ chân trắng hiện là một trong những mô hình nuôi thủy sản quan trọng ở vùng ven biển ở tỉnh Cà Mau Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 12/2013 đến tháng 5/2014 thông qua phỏng vấn 34 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng nhằm phân tích, đánh giá khía cạnh kỹ thuật và tài chính của hệ thống nuôi, xác định những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi này Kết quả cho thấy các hộ nuôi có diện tích đất nuôi tôm thẻ chân trắng trung bình là 0,72±0,56 ha/hộ và diện tích ao nuôi trung bình là 0,22±0,08 ha/ao Tôm giống có kích cỡ từ PL 8 đến PL 12 , có nguồn gốc từ ở các tỉnh miền Trung, và được thả nuôi với mật độ 74,7±12,6 con/m 2 Tôm được cho ăn chủ yếu bằng thức ăn công nghiệp Sau thời gian nuôi 87,4±16,4 ngày, tôm được thu hoạch với tỉ lệ sống đạt 71±10%, kích cỡ tôm thu hoạch đạt 92,4±43,1 con/kg, hệ số tiêu tốn thức ăn 1,07±0,08

và năng suất trung bình đạt 6.366±3.029 kg/ha/vụ Kết quả cho thấy với chi phí sản xuất

là 498±198 triệu đồng/ha/vụ, tổng doanh thu đạt 989±502 triệu đồng/ha/vụ và lợi nhuận bình quân khá cao là 491±378 triệu đồng/ha/vụ với tỉ suất lợi nhuận đạt 1,00±0,75 lần Tuy nhiên, nghề nuôi cũng gặp một số khó khăn lớn như chi phí thức ăn tăng cao, vốn

đầu tư lớn, dịch bệnh và giá con giống cao

Từ khóa: Tôm thẻ chân trắng, Penaeus Vannamei, hiệu quả tài chính

Abstract:

White leg shrimp culturing is one of the most important aquaculture farming systems in the coastal areas in Ca Mau province This study was conducted from December 2013 to May 2014 through interviewing 34 households culturing white leg shrimp in order to evaluate technical and economic aspects of the farming system and to identify advantages and disadvantages of the farming system Results of the survey showed that the average culturing white leg shrimp area for each household was 0.72±0.56 ha and the mean area of culturing pond is 0.22±0.08 ha/pond The post larvae which has the size from PL 8 to PL 12 sourced from central provinces were stocked at density of 74.7±12.6 PL/m 2 Shrimp was mainly feed by commercial feed After 87.4±16.4 culturing days, shrimp was harvested with high survival rate of 71±10%, average yield

of productivity was 6,366±3,029 kg/ha/crop, final body weight of 92.4±43.1 individuals/kg, and feed conversion ratio (FCR) of 1.07±0.08 In addition, with production cost of 498±198 million VND/ha/crop, gross income of 989±502 million VND/ha/crop, net income was rather high of 491±378 million VND/ha/crop and benefit ratio was 1.00±0.75 times However, there are some difficulties existing in this system

such as hight feed cost, lack of funds, shrimp disease, hight PL price

Key words: White leg shrimp, Penaeus Vannamei, financial efficiency

Title: Analyzing financial efficiency of white leg shrimp farming system in Ca Mau

province

Trang 3

1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Ngành thủy sản từ lâu đã là một ngành nghề kinh tế mũi nhọn, đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia Thủy sản vừa góp phần đem nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước vừa góp phần đóng góp vào quá trình xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, cải thiện chất lượng cuộc sống và cung cấp nguồn thực phẩm cho nhu cầu của con người Kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2012 đạt 6,13 tỷ USD tăng 0,3% so với năm 2011 Sản lượng nuôi trồng thủy sản (NTTS) năm 2012 đạt 3,27 triệu tấn, tăng 8,99% so với năm 2011 (Tổng cục Thống kê, 2012)

Cà Mau có điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi cho phát triển tổng hợp toàn ngành thủy sản và trở thành vùng nuôi thủy sản trọng điểm của cả nước Ngành thủy sản Cà Mau liên tục dẫn đầu cả nước trên cả ba lĩnh vực là NTTS, chế biến và xuất khẩu Cà Mau có

ba mặt giáp biển với chiều dài bờ biển là 254 km nên có điều kiện tốt cho ngành khai thác thủy sản và NTTS phát triển Các sản phẩm NTTS chủ yếu là các loài nghêu, sò huyết, các loại tôm, cua, cá nước mặn đã và đang đem lại giá trị kinh tế lớn Trong đó nuôi tôm đang được đẩy mạnh đầu tư và trở thành thế mạnh của Cà Mau Sản lượng tôm nuôi đạt 125.483 tấn, tăng 8.131 tấn so với năm 2011 (Cục Thống kê tỉnh Cà Mau, 2013)

Hiện nay, nghề nuôi tôm thẻ chân trắng (TTCT) đang là nghề mang lại thu nhập chính của nhiều người dân trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đặc biệt là ở các tỉnh ven biển trong đó có tỉnh Cà Mau Trong những năm gần đây người nuôi tôm chuyển dần từ mô hình nuôi tôm sú sang nuôi TTCT làm cho sản lượng và diện tích nuôi

TTCT ngày càng tăng Để nắm rõ hoạt động sản xuất của mô hình này, đề tài “Phân

tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Cà Mau” đã được

thực hiện

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát hiệu quả tài chính của mô hình nuôi TTCT nhằm cung cấp thông tin làm cơ sở cho việc quản lý nghề NTTS Từ đó đưa ra các giải pháp đầu tư nuôi tôm để góp phần tăng hiệu quả tài chính của mô hình cũng như góp phần phát triển bền vững nghề nuôi TTCT của tỉnh Cà Mau

1.3 Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát khía cạnh kỹ thuật của mô hình nuôi TTCT ở tỉnh Cà Mau;

- Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng;

- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian thực hiện: Đề tài đã được thực hiện từ tháng 12/2013 đến tháng 5/2014

- Địa điểm thực hiện: Số liệu được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp

34 hộ nuôi TTCT tại tỉnh Cà Mau, như huyện Đầm Dơi và Thành phố Cà Mau

2.2 Phương pháp thu số liệu

Trang 4

2.2.1 Số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các cơ quan ban ngành địa phương cấp huyện trên địa bàn nghiên cứu Các nghiên cứu có liên quan được thực hiện trước đây đã được xuất bản như: Tạp chí chuyên ngành, luận văn tốt nghiệp đại học và cao học Bài báo và các website chuyên ngành và một số tài liệu có liên quan

2.2.2 Số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp được thu thập chủ yếu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 34 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng ở huyện Đầm Dơi và thành phố Cà Mau thông qua bảng câu hỏi đã

được soạn sẵn

Các thông tin sơ cấp được phỏng vấn trực tiếp từ các chủ nuôi bằng bảng câu hỏi soạn sẵn với những nội dung chính như:

* Thông tin về chủ nuôi: Địa chỉ, họ tên chủ hộ, tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, số năm

kinh nghiệm nuôi thủy sản, lí do chọn mô hình

* Kỹ thuật: Tổng diện tích nuôi/vụ, thời gian thả giống, thời gian thu hoạch, thời gian

nuôi 1 vụ, mật độ thả, kích cỡ con giống thả, hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR); các bệnh thường gặp; kích cỡ thu hoạch, tỉ lệ sống, tổng sản lượng khi thu hoạch/vụ

* Tài chính: Chi phí cố định, chi phí biến đổi, tổng doanh thu, lợi nhuận và tỉ suất lợi

nhuận

* Thông tin khác: Về ảnh hưởng môi trường, cộng đồng Thuận lợi và khó khăn trong

quá trình nuôi

2.3 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu

Số liệu phỏng vấn được kiểm tra và nhập vào máy tính Phần mềm Excel được sử dụng

để nhập và phân tích số liệu Các số liệu được thể hiện thống kê mô tả, tần số xuất hiện,

giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tỉ lệ phần trăm, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất

Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính được tính dựa trên những công thức sau (tính cho 1 vụ):

- Tổng thu nhập = tổng số tiền bán sản phẩm

- Tổng chi phí = Tổng chi phí biến đổi + Tổng chi phí cố định + chi phí khấu hao

- Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí

- Tỉ suất lợi nhuận = Tổng lợi nhuận/Tổng chi phí

- Giá thành = Tổng chi phí/tổng sản lượng

3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN

3.1 Những thông tin chung về nông hộ mô hình nuôi TTCT ở tỉnh Cà Mau

Số tuổi trung bình của chủ hộ là 46 tuổi Nhỏ nhất là 30 tuổi và lớn nhất là 67 tuổi Mô hình nuôi TTCT đa phần tập trung ở độ tuổi trung niên Đặc biệt ở mô hình nuôi TTCT, qua khảo sát cho thấy 100% hoạt động đều do Nam giới phụ trách Do tính chất của công việc nuôi tôm là phải làm việc ngoài trời, làm những công việc nặng nên thích hợp với Nam giới hơn Nữ giới Nữ giới thường chỉ giúp người Nam trong việc chăm sóc,

Trang 5

quản lý tôm Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Lê Xuân Sinh

và ctv (2006), tỉ lệ Nam quyết định trong hoạt động NTTS chiếm 75,7% và tham gia

thực hiện mô hình NTTS chiếm 63,6%

Số lao động trung bình trong gia đình là 3,41 người/hộ, trong đó số lao động tham gia

mô hình trung bình là 2,12 người/hộ Hộ có số lao động ít nhất là 1 người và nhiều nhất

là 6 người Số năm kinh nghiệm của hộ nuôi TTCT trung bình là 5,29 năm Hộ có kinh nghiệm lâu năm nhất là 14 năm và ít nhất là 2 năm Những hộ có kinh nghiệm lâu năm

sẽ có nhiều lợi thế hơn vì họ đã thành thạo trong việc chăm sóc tôm, phòng ngừa dịch bệnh ở tôm, chế độ thay nước và khẩu phần ăn hợp lý nên hiệu quả đạt được của mô hình sẽ khả quan hơn so với những hộ ít kinh nghiệm

Bảng 1: Thông tin về tuổi, số lao động tham gia mô hình, số năm kinh nghiệm

Tổng số lao động trong gia đình (người/hộ) 3,41±1,26

Đa số các hộ nuôi TTCT ở Cà Mau sử dụng lao động gia đình để nuôi tôm là chủ yếu

Số lao động thuê mướn của nông hộ trung bình là 0,24 người/hộ Điều này cho thấy phần lớn mô hình số lao động được thuê mướn còn quá ít chỉ giải quyết lao động trong gia đình Chỉ có những hộ nuôi TTCT có qui mô lớn mới thuê thêm lao động nên nếu qui mô của các hộ nuôi TTCT ở Cà Mau được mở rộng thì sẽ tăng thêm lao động thuê mướn, khi đó sẽ giải quyết được nhiều việc làm cho người dân ở địa phương

Về trình độ học vấn của người nuôi TTCT cho thấy học vấn của chủ hộ tương đối cao

Số chủ hộ có trình độ cấp II đạt 14,7%, trình độ cấp III chiếm tỉ lệ cao nhất (55,9%), trình độ trung cấp đạt 17,6%, trình độ đại học đạt 11,8% Trong khu vực khảo sát, không

có chủ hộ nào ở trình độ cấp I và trình độ cao đẳng Trình độ học vấn của người nuôi tôm tương đối cao nên việc tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào mô hình nuôi tốt Góp phần nâng cao năng suất và chất lượng tôm Việc tiếp thu tốt như vậy thì các chủ trương, chính sách của nhà nước sẽ được người dân thực hiện nghiêm túc Nâng cao năng suất và chất lượng tôm Góp phần phát triển bền vững nghành NTTS địa phương Bảng 2: Trình độ học vấn

Bảng 3 cho biết những lý do mà người dân đã chọn nuôi mô hình TTCT để sản xuất Lý

do chủ yếu chọn mô hình nuôi TTCT là vì mô hình mang lại lợi nhuận cao và mô hình

Trang 6

có thời gian thu hoạch ngắn (90 đến 120 ngày), ngắn hơn so với mô hình nuôi tôm sú (120 đến 150 ngày) Ngoài ra, còn những lý do khác như: Mô hình dễ nuôi, dễ quản lý, ít gặp phải rủi ro, có nhiều lợi thế khi nằm trong vùng có nhiều hộ nuôi TTCT, mô hình tận dụng được đất và lao động sẵn có từ gia đình

Bảng 3: Lý do chọn mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng

Mô hình mang lại lợi nhuận cao và thời gian thu hoạch

ngắn

Mô hình tận dụng được đất và lao động sẵn có từ gia đình 6 4

Thông qua những lý do trên cho thấy người dân quan tâm chủ yếu đến lợi nhuận mà mô hình nuôi mang lại Mô hình nuôi có phương pháp và kỹ thuật tương đối đơn giản nên những công việc trong các khâu chăm sóc và quản lý cũng được thực hiện dễ dàng Việc tận dụng được đất và lao động sẵn có sẽ giúp hộ nuôi giảm thiểu được rất nhiều chi phí mua đất và thuê mướn nhân công Trong vùng có nhiều hộ nuôi TTCT nên dễ dàng cho các nông hộ trong việc trao đổi kinh nghiệm, kỹ thuật nuôi để hỗ trợ nhau tốt hơn và nâng cao hiệu quả sản xuất, góp phần phát triển nghành NTTS Cà Mau nói riêng và

ĐBSCL nói chung

3.2 Khía cạnh kỹ thuật của mô hình nuôi TTCT ở tỉnh Cà Mau

Cà Mau là tỉnh dẫn đầu cả nước trong lĩnh vực NTTS NTTS ven biển, đặc biệt là nuôi tôm đang phát triển nhanh chóng và trở thành thế mạnh của tỉnh Cà Mau (Phạm Văn Uýnh, 2011) Nguồn nước cung cấp cho các hộ nuôi tôm ở Cà Mau chủ yếu là từ các sông nhánh hoặc các kênh thủy lợi TTCT là đối tượng nuôi tuy đã phổ biến nhưng khoảng vài năm trở lại đây mới thật sự phát triển ở tỉnh Cà Mau, diện tích NTTS trung bình của hộ không lớn (7.247 m2/hộ) so với diện tích của hộ nuôi tôm sú (3,73 ha/hộ) (Nguyễn Thanh Long và Nguyễn Thanh Phương, 2010) nên các hộ nuôi thường tận dụng gần hết diện tích để nuôi TTCT (5.853 m2/hộ)

Ao nuôi TTCT ở tỉnh Cà Mau có diện tích trung bình 2.218 m2/ao, ao nuôi có diện tích lớn nhất là 4.000 m2 và nhỏ nhất là 500 m2 Tùy diện tích và cách phân chia diện tích ao

mà mỗi hộ có số lượng ao nuôi tôm khác nhau, trung bình ở Cà Mau mỗi hộ nuôi TTCT

có khoảng 2,35 ao/hộ Hộ có số ao cao nhất là 8 ao và thấp nhất là 1 ao

Trong nuôi tôm, quản lí ao nuôi là một khâu quan trọng ảnh hưởng nhiều đến năng suất

và chất lượng của tôm Lượng vật chất dư thừa như phân tôm, thức ăn thừa… lắng đọng lâu ngày sẽ tạo ra nhiều loại khí độc như H2S, NH3, CH4 mang theo nhiều mầm bệnh

ảnh hưởng đến tôm nuôi Vì thế, ao lắng rất quan trọng đối với mô hình nuôi TTCT vì

sau một thời gian nuôi, một số đặc tính của nước sẽ bị thay đổi và cần được xử lý bằng cách thay nước Qua kết quả khảo sát, ao lắng của hộ NTTS có diện tích trung bình 921

m2/ao Gần bằng với kết quả nghiên cứu trước đây của Ngô Thế Trường (2009) Ao lắng

có diện tích lớn nhất là 2700 m2 và nhỏ nhất là 200 m2 Số lượng ao lắng còn phụ thuộc

Trang 7

vào số lượng ao nuôi và diện tích mặt nước sử dụng NTTS, trung bình mỗi hộ NTTS có 1,06 ao Cao nhất là 2 ao và thấp nhất là 1 ao Hiện nay, ao nuôi TTCT ngày càng được

mở rộng hơn vì mật độ nuôi TTCT thấp nên sử dụng ao lớn sẽ thuận tiện cho việc quản

lý ao hơn

Tôm giống là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và tỉ lệ sống của tôm Nếu thả tôm giống kém chất lượng sẽ xảy ra trường hợp tôm bệnh, chết hàng loạt, tôm chậm lớn, dẫn đến thời gian nuôi dài và FCR cao Vì vậy, việc lựa chọn con giống tốt, chất lượng, không nhiễm mầm bệnh là nhiệm vụ hàng đầu của các hộ nuôi TTCT

Bảng 4: Kết cấu mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng

Tổng diện tích mặt nước NTTS (m2/hộ) 5.853±3.638

Qua kết quả (Bảng 5) khảo sát 34 hộ nuôi TTCT cho thấy tôm thẻ có thể thả nuôi quanh năm Tùy thuộc vào nguồn giống, nhưng tập trung nhiều là vào tháng 4,10 và 11 do

đúng lịch thời vụ và thời tiết thuận lợi Vì vào các tháng 4, 10 và 11 thì ít mưa, nguồn

nước có độ mặn cao thuận lợi cho sự phát triển của tôm Thời điểm thu hoạch thường sau thời điểm thả giống khoảng 87,4 ngày Thời gian nuôi của hộ NTTS ngắn nhất là 40 ngày và dài nhất là 120 ngày Thời gian nuôi ngắn hay dài sẽ biểu hiện được mức hiệu quả sản xuất của mô hình Số vụ nuôi trung bình của hộ NTTS là 2,35 vụ/năm Hộ có số

vụ NTTS ít nhất là 2 vụ/năm và nhiều nhất là 3 vụ/năm

Tôm giống được thả nuôi khoảng thời gian là 87,4 ngày đạt khối lượng trung bình 92,4 con/kg và năng suất trung bình là 6.366 kg/ha/vụ Kết quả này thấp hơn nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và Huỳnh Văn Hiền (2012), năng suất của TTCT ở Bến Tre là 9,6±3,5 tấn/ha/vụ

Mô hình nuôi TTCT ở Cà Mau được thả nuôi với mật độ trung bình rất cao (74,7 con/m2) Hộ nuôi TTCT có mật độ thả cao nhất là 100 con/m2 và thấp nhất là 50 con/m2 Với mật độ nuôi này nên trong quá trình khảo sát thấy tôm bị bệnh khá nhiều trong thời gian đầu Tuy nhiên, kết quả này vẫn nhỏ hơn so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và Huỳnh Văn Hiền (2012) với 89 con/m2

Kết quả khảo sát cho thấy các hộ nuôi tôm ở Cà Mau rất ít thay nước, mỗi vụ các hộ mới thay nước một lần Khi nào môi trường ao nuôi tốt sau khi thu hoạch thì các hộ nuôi tôm tiến hành thả ngay tôm giống mới mà không cần phải cải tạo, thay nước Vì khi thay nước mới có thể chất lượng nước không bằng nguồn nước trong ao và tiết giảm chi phí sản xuất Vào mùa nắng thì nước sẽ bốc hơi nhiều nên cần bơm bổ sung nước vào ao nuôi Theo kết quả nghiên cứu, thời gian châm thêm nước của các hộ nuôi là 40 ngày/lần, mỗi lần bơm thêm trung bình 7,47%

Trang 8

Về thức ăn cho tôm thì hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp, mỗi ngày cho ăn trung bình

là 3,76 lần Cách thức cho tôm ăn của hộ NTTS qua khảo sát cho thấy thường sử dụng hai cách chủ yếu là rãi thức ăn trực tiếp xuống ao hoặc dùng sàn Việc cho thức ăn trên sàn vừa kiểm soát được thức ăn dư thừa vừa tránh thức ăn rơi xuống nền đáy làm nền

đáy bị xáo trộn Tuy nhiên, cách làm này vẫn chưa được sử dụng nhiều (chiếm 11,8%

tổng số hộ) ở các hộ nuôi TTCT tại địa điểm khảo sát

Nguồn gốc con giống TTCT chủ yếu là từ các tỉnh miền Trung, được thương lái mua về

và bán lại cho người nuôi (100%) Giá con giống TTCT tương đối cao, trung bình 86,6

đồng/con Nguyên nhân giá con giống cao chủ yếu là do nguồn cung cấp giống TTCT ở ĐBSCL chưa đáp ứng đủ nhu cầu khiến người nuôi phải nhập giống từ các tỉnh miền

Trung nên giá tôm cao Việc giá con giống cao như vậy sẽ ảnh hưởng nhiều đến chi phí sản xuất của hộ NTTS ở tỉnh Cà Mau

Qua khảo sát, có rất ít hộ nuôi ương con giống trước khi thả nuôi (8,82%) Con giống thả nuôi có kích cỡ từ PL8 đến PL12 Tỉ lệ sống trung bình của TTCT khá cao (71%) Con giống có chất lượng tốt nên phần lớn người nuôi không kiểm dịch mà chỉ kiểm tra bằng mắt thường (73,5%), còn lại là kiểm tra bằng PCR (26,5%) Có đến 95% hộ nuôi

đánh giá chất lượng con giống TTCT là khá tốt và tốt Chỉ có 5% hộ nuôi còn lại đáng

giá chất lượng con giống là trung bình Qua đó cho thấy người dân nhận biết tốt về nguồn tôm giống nên đa số người nuôi đều tìm được con giống tốt Kích cỡ con giống khi thu hoạch khá cao, trung bình 91 con/kg

Bảng 5: Các thông số kỹ thuật của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng

Lượng thức ăn phụ thuộc vào thời gian nuôi và tốc độ tăng trưởng của con giống Một số

hộ có lượng thức ăn thấp là do tôm thất mùa, chết sớm buộc phải thu hoạch sớm Lượng thức ăn trung bình của mô hình nuôi là 6.789 kg/ha/vụ Hệ số tiêu tốn thức ăn càng cao thì giá thành sản xuất càng cao, người nuôi càng mất nhiều chi phí và lợi nhuận Hệ số thức ăn cao hay thấp phụ thuộc vào thời gian nuôi, mật độ thả nuôi, chất lượng tôm

Trang 9

giống và chất lượng thức ăn FCR của mô hình TTCT có giá trị tương đối thấp là 1,07

Đã giảm so với trước đây vì hiện nay, kỹ thuật nuôi đã tiến bộ và con giống có chất

lượng tốt nên tôm tăng trưởng nhanh và thức ăn đỡ hao phí Nếu sử dụng thức ăn có chất lượng cao, cách thức cho ăn hợp lý thì FCR sẽ thấp hơn và lượng thức ăn cung cấp cho

ao nuôi thấp sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn

3.3 Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng

Chi phí đầu tư cho mô hình trung bình là 281 triệu đồng/ha/năm Chi phí cố định cho mô hình nuôi TTCT trung bình là 120 triệu đồng/ha/vụ và chủ yếu là chi phí cho việc đào ao (37%), hệ thống thổi khí (25,2%), máy bơm (15,8%) phục vụ sản xuất, xây cống và hệ thống cấp nước (14,5%), xây nhà phục vụ sản xuất (4,11%), chi phí ghe, xuồng, xe phục vụ sản xuất (3,44%)

Chi phí khấu hao cho mô hình nuôi TTCT trung bình là 34,2 triệu đồng/ha/vụ

Chi phí biển đổi chiếm tỉ lệ cao trong tổng chi phí, kết quả cho thấy các mô hình nuôi TTCT có chi phí biến đổi cao hơn chi phí khấu hao (Bảng 6 và 7) Đối với mô hình nuôi TTCT thì ba chi phí chiếm tỉ lệ cao nhất đó là chi phí mua thức ăn (48,3%), chi phí mua tôm giống (18,3%) và chi phí thuốc, hóa chất (16,4%) (Bảng 7)

Bảng 6: Chi phí cố định và chi phí khấu hao của mô hình nuôi

Nội dung Chi phí đầu tư

(triệu

đồng/ha/năm)

Chi phí cố định (triệu

đồng/ha/vụ)

Chi phí khấu hao (triệu

đồng/ha/vụ)

Máy bơm phục vụ sản xuất 44,5±28,6 19,4±12,8 6,24±4,40 Xây cống, hệ thống cấp

nước

40,6±43,1 16,3±16,8 7,38±6,68 Xây nhà phục vụ sản xuất 11,5±11,1 4,8±4,5 3,10±2,54 Ghe xuồng phục vụ sản xuất 9,66±21,1 3,93±8,66 3,88±3,74

Lượng thức ăn phụ thuộc vào thời gian nuôi và tốc độ tăng trưởng của con giống Chi phí thức ăn trung bình của hộ NTTS là 170 triệu đồng/ha/vụ Hộ có chi phí thức ăn cao nhất là 516 triệu đồng/ha/vụ và thấp nhất là 56,7 triệu đồng/ha/vụ Chi phí cao thứ hai

đứng sau chi phí thức ăn là chi phí con giống (18,4%) Hiện nay con giống TTCT có giá

khá cao, đa phần những hộ được khảo sát mua con giống từ miền Trung đã được kiểm dịch, ương giống sẵn và không mất chi phí vận chuyển Cho nên, tuy giá cao nhưng con giống chất lượng, không phải ương giống nên rút ngắn được thời gian nuôi Kết quả

khảo sát phù hợp với nghiên cứu của Lê Xuân Sinh và ctv (2006): Giống, thức ăn, thuốc

thú y thủy sản là ba khoản chi phí lớn nhất có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả nuôi tôm cũng như chất lượng tôm nguyên liệu

Trang 10

Qua kết quả nghiên cứu thì chi phí thuốc và hóa chất trong mô hình chiếm tỉ lệ khá cao (16,4%) điều này cho thấy mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thường xảy ra dịch bệnh Nguyên nhân xảy ra dịch bệnh là do môi trường ô nhiễm, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thời tiết thất thường và con giống mang mầm bệnh Tuy nhiên, dù tôm thường xuất hiện bệnh nhưng tỉ lệ sống của mô hình vẫn rất cao (71%)

Bảng 7: Chi phí biến đổi của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng

Chi phí mua con giống (triệu đồng/ha/vụ) 64 ,5±11,6 18,3 Chi phí thuốc và hóa chất (triệu đồng/ha/vụ)

Chi phí điện (triệu đồng/ha/vụ)

Chi phí sửa chữa (triệu đồng/ha/vụ)

57,9±32,9 31,6±18,1 10,4±4,05

16,4 8,99 2,95 Chi phí nhân công (triệu đồng/ha/vụ)

Chi phí nhiên liệu (triệu đồng/ha/vụ)

8,03±18,2 1,01±3,56

2,28 0,29 Chi phí kiểm dịch con giống (triệu đồng/ha/vụ) 0,33±1,01 0,09 Tổng chi phí biến đổi (triệu đồng/ha/vụ) 344±139 100

Đa phần các hộ NTTS ở Cà Mau sử dụng nguồn điện chủ yếu cho hệ thống thổi khí và

máy bơm Chi phí điện trung bình là 31,6 triệu đồng/ha/vụ Chi phí sửa chữa trung bình của mô hình nuôi TTCT là 10,4 triệu đồng/ha/vụ Chi phí trung bình cho nhiên liệu là 1,01 triệu đồng/ha/vụ Những chi phí này chiếm tỉ lệ không lớn so với tổng chi phí biến

đổi nên không ảnh hưởng nhiều đến giá thành và lợi nhuận

Ở mô hình nuôi này, mỗi hộ nuôi chỉ sử dụng rất ít lao động thuê mướn mà chủ yếu là

lao động gia đình Chính vì vậy mô hình sẽ tiết kiệm được chi phí nhân công Do đó, chi phí nhân công trong mô hình nuôi TTCT chiếm tỉ lệ không cao (2,4%) (Bảng 7) Như vậy, mô hình nuôi TTCT hiện tại ở tỉnh Cà Mau chưa giải quyết nhiều được việc làm cho địa phương

Trong nuôi tôm, ngoài việc nuôi tôm thành công đạt năng suất cao thì giá cả cũng ảnh hưởng rất nhiều đến lợi nhuận của mô hình nuôi TTCT có giá trị kinh tế cao, giá bán biến động từ 55.000 đồng/kg đến 181.000 đồng/kg nên mô hình có tổng thu nhập rất cao (989 triệu đồng/ha/vụ) Do tổng chi phí cho mô hình là 498 triệu đồng/ha/vụ nên lợi nhuận của mô hình đạt được rất cao (491 triệu đồng/ha/vụ) (Bảng 8) Hộ nuôi TTCT có lợi nhuận cao nhất là 1.637 triệu đồng/ha/vụ.Trong những năm gần đây, giá bán của tôm

sú cao hơn TTCT nhưng so về mặt năng suất, thời gian nuôi và cạnh tranh trên thị trường nên người nuôi vẫn ưu tiên chuyển từ nuôi tôm sú sang nuôi TTCT

Tỉ suất lợi nhuận đạt 1,00 lần, cao hơn tỉ suất lợi nhuận của mô hình nuôi tôm sú (0,66 lần) (Nguyễn Thanh Long và Nguyễn Thanh Phương, 2010) Phần lớn các hộ nuôi TTCT đều đạt lợi nhuận cao, chỉ có 8,82% hộ nuôi bị thua lỗ (Bảng 8) Giá thành của TTCT trong mô hình đạt trung bình 85.870 đồng/kg Từ kết quả trên cho thấy mô hình nuôi TTCT rất có tiềm năng phát triển, cần được hỗ trợ để đa dạng hóa loài nuôi thủy sản, nhất là vùng ven biển

Ngày đăng: 13/11/2015, 12:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thông tin về tuổi, số lao động tham gia mô hình, số năm kinh nghiệm - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh cà mau
Bảng 1 Thông tin về tuổi, số lao động tham gia mô hình, số năm kinh nghiệm (Trang 5)
Bảng 3 cho biết những lý do mà người dân đã chọn nuôi mô hình TTCT để sản xuất. Lý - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh cà mau
Bảng 3 cho biết những lý do mà người dân đã chọn nuôi mô hình TTCT để sản xuất. Lý (Trang 5)
Bảng 3: Lý do chọn mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh cà mau
Bảng 3 Lý do chọn mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng (Trang 6)
Bảng 4: Kết cấu mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh cà mau
Bảng 4 Kết cấu mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng (Trang 7)
Bảng 5: Các thông số kỹ thuật của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh cà mau
Bảng 5 Các thông số kỹ thuật của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng (Trang 8)
Bảng 6: Chi phí cố định và chi phí khấu hao của mô hình nuôi. - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh cà mau
Bảng 6 Chi phí cố định và chi phí khấu hao của mô hình nuôi (Trang 9)
Bảng 7: Chi phí biến đổi của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh cà mau
Bảng 7 Chi phí biến đổi của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng (Trang 10)
Bảng 9 thể hiện những thuận lợi của mô hình nuôi TTCT. Kết quả cho thấy người dân  tham gia mô hình nuôi TTCT là do TTCT là loài dễ nuôi, điều kiện chăm sóc dễ dàng - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh cà mau
Bảng 9 thể hiện những thuận lợi của mô hình nuôi TTCT. Kết quả cho thấy người dân tham gia mô hình nuôi TTCT là do TTCT là loài dễ nuôi, điều kiện chăm sóc dễ dàng (Trang 11)
Bảng 8: Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng - phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh cà mau
Bảng 8 Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w