TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THUỶ SẢN TRẦN THỊ SAMACH PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH TRONG NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THÂM CANH Ở HUYỆN DUYÊN HẢI VÀ CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH LU
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
TRẦN THỊ SAMACH
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH TRONG NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THÂM CANH
Ở HUYỆN DUYÊN HẢI VÀ CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH
LUẬN VẶN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN
2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
TRẦN THỊ SAMACH
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH TRONG NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THÂM CANH
Ở HUYỆN DUYÊN HẢI VÀ CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH
LUẬN VẶN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts TRƯƠNG HOÀNG MINH
2014
Trang 3PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH
TRONG NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THÂM CANH
Ở HUYỆN DUYÊN HẢI VÀ CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH
Trần Thị Samach và Trương Hoàng Minh
Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ Email: samach115340@student.ctu.edu.vn
TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn huyện Duyên Hải (DH) và Châu Thành (CT) tỉnh Trà Vinh từ tháng 8-12/2014, thông qua việc phỏng vấn 64 hộ (32 hộ/huyện) nuôi tôm thẻ chân trắng (TCT) thâm canh Các thông tin được thu thập nhằm phân tích khía cạnh kỹ thuật, tài chính cũng như xác định những thuận lợi, khó khăn tồn tại trong mô hình Kết quả nghiên cứu cho thấy huyện DH có diện tích nuôi lớn hơn so với CT lần lượt là 5,46 và 4,07 ha/hộ, nhưng có mực nước
ao nuôi thấp hơn tương ứng 1,2 m và 1,47 m Mật độ thả giống ở huyện DH thấp hơn huyện CT, nên có năng suất thấp hơn lần lượt là 7,02 tấn/ha/vụ và 9,12 tấn/ha/vụ Giá thành sản xuất ở cả 2 huyện từ 87.100 đồng/kg đến 87.810 đồng/kg với tổng chi phí ở DH (560,96 Tr.đồng/ha/vụ) thấp hơn CT (703,02 Tr.đồng/ha/vụ) Lợi nhuận (Tr.đồng/ha/vụ) huyện CT cao hơn DH, lần lượt là 373,57 và 348,30 nhưng tỷ suất lợi nhuận huyện CT thấp hơn DH, tỷ lệ hộ có lời ở hai huyện bằng nhau (87,5%) Kết quả phân tích hồi quy cho thấy mật độ thả giống, mực nước ao nuôi, thời gian nuôi và tỷ lệ sống là những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trong mô hình nuôi, còn lợi nhuận thì phụ thuộc vào giá bán, mật độ thả giống và tỷ lệ sống
Từ khóa: Hiệu quả tài chính, khía cạnh kỹ thuật, tôm thẻ chân trắng
ABSTRACT
This study was conducted in Duyen Hai (DH) and Chau Thanh (CT) districts, Tra Vinh province from 8/2012 to 12/2014 through interviewing 64 houses (34 households/ district) culturing intensive white leg shrimp The assembled information is to evaluate technical and economic (financial) aspects and identify advantages and disadvantages of the farming system
As a result of this study showed that the average culturing white leg shrimp area of DH district (5.46 ha/ household) was larger than CT district (4.07ha/household), yet the water depth of farm platfom of DH district (1.27m) was lower than CT district (1.47m) The average yield of productivity was 7.02 and 9.12 mt/ha/crop corresponding to two districts Production cost in both two districts was 87 100 to 87 810 VND/kg The investment cost in DH (348 300 million VND/ha/crop) was lower than CT (373 576 million VND/ha/crop) The income in CT (373 57 million VND/ha/crop) was higher than DH (348 30 million VND/ha/crop), yet the benefit ratio in
CT was lower than DH, and the rate of profited households in two district was the same (87.5%) The result of recurrent analysis showed that stocking density, the water depth of farm platform, culturing days and survival rate are factors that affected productivity of farming system The profit depends on selling price, stocking density and survival rate
Key words: Financial efficiency, Penaeus Vannamei, white leg shrimp,
Title: Analyzing technical and financial efficiency of white leg shrimp farming system in Tra Vinh
province
Trang 41 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, tôm TCT đang có vị thế quan trọng trong cơ cấu sản xuất, xuất khẩu (XK) tôm của Việt Nam, cung cấp nguyên liệu cho chế biến, duy trì và đẩy mạnh giá trị XK tôm nói riêng và kim ngạch XK thủy sản của cả nước nói chung (Tổng cục Thủy sản, 2014) Đây cũng là một trong những đối tượng mang lại nguồn thu nhập chính của nhiều người dân trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đặc biệt là ở các tỉnh ven biển trong đó có tỉnh Trà Vinh
Trà Vinh là tỉnh có điều kiên tự nhiên thuận lợi để nuôi trồng thủy sản (NTTS) với sản lượng NTTS năm 2013 đạt 81.265 tấn, sản lượng tôm đạt 20.600 tấn, riêng tôm TCT chiếm sản lượng hơn 3.000 tấn (Cục Thống kê Trà Vinh, 2014) Người nuôi tôm trên địa bàn tỉnh đang chuyển dần từ mô hình nuôi tôm sú sang nuôi tôm TCT làm cho sản lượng và diện tích nuôi tôm TCT ngày càng tăng ở một số huyện như DH, Cầu Ngang, Trà Cú và CT Chỉ riêng trong sáu tháng đầu năm 2014 diện tích nuôi tôm TCT tăng lên 4.500 ha, trong khi cuối năm 2013 diện tích nuôi tôm TCT trên địa bàn tỉnh chỉ đạt 2.300 ha (Cục Thống kê Trà Vinh, 2014) Tuy nhiên, sự chuyển đổi tự phát đó đã làm phá vỡ quy hoạch vùng nuôi, mất cân đối cung và cầu sản phẩm Tôm TCT lại là đối tượng mới, người dân chưa nắm vững kỹ thuật nuôi trong khi dịch bệnh xuất hiện nhiều
và dễ lây lan, nhưng hiệu quả sản xuất của mô hình chưa được đánh giá cụ thể Từ thực tế
đó, việc “Phân tích hiệu quả kỹ thuật và tài chính trong nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh ở huyện Duyên Hải và Châu Thành tỉnh Trà Vinh” đã được thực hiện để từ đó đề
ra các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm TCT thâm canh ở Trà Vinh
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích kỹ thuật và hiệu quả tài chính trong nuôi tôm TCT thâm canh tại huyện
DH và CT tỉnh Trà Vinh, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho người nuôi
1.3 Nội dung nghiên cứu
i Phân tích và so sánh các chỉ tiêu kỹ thuật của mô hình nuôi tôm TCT thâm canh ở hai huyện DH và CT;
ii Phân tích và so sánh các chỉ tiêu tài chính của mô hình nuôi tôm TCT thâm canh
ở hai huyện DH và CT;
iii Phân tích các yếu tố ảnh hưởng năng suất và lợi nhuận trong mô hình nuôi tôm TCT thâm canh ở hai huyện DH và CT;
Trang 5iv Phân tích những thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển bền vững mô hình nuôi tôm TCT ở Trà Vinh
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh Trà Vinh từ tháng 8-11/2014 bằng cách phỏng vấn trực tiếp 64 hộ (32 hộ/huyện) nuôi tôm TCT thâm canh Các thông tin được thu thập trong nghiên cứu bao gồm:
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn tỉnh Trà Vinh, cục thống kê tỉnh Trà Vinh Các nghiên cứu đã được xuất bản trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, luận văn Cao học
Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp nông hộ nuôi tôm TCT thâm canh với các thông tin (1) khía cạnh kỹ thuật (diện tích nuôi, mật độ thả nuôi, thời gian nuôi, kích cỡ thu hoạch, năng suất,…); (2) hiệu quả tài chính (chi phí, thu nhập, lợi nhuận,…) và (3) những thuận lợi và khó khăn bằng bảng câu hỏi đã được soạn sẵn
Số liệu sau khi thu thập được nhập vào máy tính và xử lý bằng phần mềm Excel
và SPSS với các phương pháp: phương pháp thống kê mô tả (tần suất, giá trị trung bình,
độ lệch chuẩn) để mô tả các thông tin kỹ thuật và tài chính trong mô hình; phương pháp kiểm định thống kê (T-test) để so sánh sự khác biệt giữa các chỉ tiêu kỹ thuật và tài chính
ở hai địa bàn nghiên cứu; phương pháp phân tích hồi qui đa biến để phân tích các yếu tố
ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận của mô hình
Một số công thức tính các chỉ tiêu tài chính cũng được sử dụng là:
Tổng chi phí (TC) = Chi phí cố định + Chi phí biến đổi
Thu nhập = Tổng số tiền bán sản phẩm Giá thành = Tổng chi phí/Tổng sản lượng Lợi nhuận (LN) = Thu nhập – tổng chi phí
Tỉ suất lợi nhuận = Tổng lợi nhuận/Tổng chi phí
3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 Thông tin chung về nông hộ
Nhìn chung độ tuổi trung bình của hộ nuôi tôm TCT ở huyện DH (40 tuổi) chênh lệch không lớn so với CT (41 tuổi), nhưng số năm kinh nghiệm trung bình ở CT cao hơn, tương ứng là 2,0 năm và 1,7 năm Hầu hết các hộ nuôi đều mới chuyển đổi sang nuôi tôm TCT nên số năm kinh nghiệm thấp, ở huyện DH chỉ có 1 hộ có số năm kinh nghiệm nuôi cao nhất là 10 năm do trước đây chủ hộ đã tham gia mô hình nuôi tôm TCT ở tỉnh Bến Tre, riêng huyện CT thì 3 năm kinh nghiệm là cao nhất, nên việc quản lý và chăm sóc tôm ở cả hai huyện vẫn còn nhiều khó khăn và hạn chế
Trang 6Qua kết quả khảo sát 64 hộ ở hai huyện cho thấy mọi hoạt động trong mô hình nuôi tôm TCT đều do nam giới phụ trách và quyết định, bởi vì việc nuôi tôm mang tính chất nặng nhọc nên phụ nữ chỉ có vai trò hỗ trợ trong việc chăm sóc (Lê Xuân Sinh và
ctv., 2006) Phần lớn các hộ nuôi với diện tích khá nhỏ nên sử dụng lao động gia đình là
chủ yếu (1-2 người/hộ), chỉ có 6 hộ ở DH và 4 hộ ở CT có thuê thêm lao động
Trình độ học vấn của các hộ nuôi tôm TCT ở khu vực nghiên cứu tương đối thấp,
do các hộ nuôi ở khu vực vùng sâu vùng xa, không có điều kiện đến trường nên phần lớn chỉ học đến cấp I, cấp II Ở DH người nuôi học đếp cấp II chiếm tỷ lệ cao nhất (40%) cao hơn ở CT (34,3%), nên có tỷ lệ hộ tiếp cận nguồn thông tin kỹ thuật từ sách báo và các tạp chí chuyên ngành cũng cao hơn, lần lượt là 28,6% và 14,3%, nhưng sự khác biệt này
không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Hầu hết các hộ nuôi ở DH và CT học hỏi kinh
nghiệm từ các hộ nuôi lân cận và tỷ lệ này ở hai huyện gần bằng nhau (87,7% và 97,1%) nên việc chăm sóc, quản lý, lựa chọn giống, thức ăn, thuốc hóa chất thường có xu hướng giống nhau giữa các hộ trong một khu vực nuôi
Bảng 1: Các thông tin chung về nông hộ nuôi tôm TCT
Số lao động trong gia đình
1,5±0.9a 1,3±0.5a
Trình độ học vấn (%)
Ghi chú: Các giá trị trong cùng một hàng có chữ cái (a, b) khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05) Sử dụng kiểm định T-test
Trang 73.2 Khía cạnh kỹ thuật của mô hình nuôi tôm TCT
Diện tích ao trung bình ở DH là 5,5 ha lớn hơn huyện CT, nhưng sự khác biệt này
không có ý nghĩa thống kê (P>0,05), do các hộ nuôi ở huyện CT nằm trên cù lao nên
diện tích đất tương đối nhỏ, cơ sở hạ tầng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nuôi qui mô lớn nên diện tích trung bình chỉ bằng 4,1 ha với mực độ sâu trung bình là 1,5 m, cao hơn
có ý nghĩa thống kê (P<0,05) so với huyện DH là 1,3 m, kết quả nghiên cứu tại huyện
CT tương ứng kết quả nghiên cứu của Võ Nam Sơn và ctv (2014) tại tỉnh Sóc Trăng,
mực nước trung bình là 1,4 m
Tuy nhiên, trong 64 hộ được khảo sát ở hai huyện, chỉ có 31,3% hộ ở DH có sử dụng ao lắng, tỷ lệ này cao hơn ở huyện Châu thành (20% hộ) Hầu hết các hộ nuôi ở hai khu vực đều tận dụng đất sản xuất để nuôi tôm và lấy nước trực tiếp từ sông bơm vào ao, nên có đến 48,7% hộ ở cả hai khu vực không sử dụng ao lắng trong mô hình nuôi tôm TCT thâm canh Từ thực trạng trên, nguy cơ xảy ra dịch bệnh ở khu vực này rất cao do mầm bệnh dễ dàng lây lan từ bên ngoài vào ao nuôi
Mật độ thả giống trung bình ở DH và CT từ 71,9 con/m2 đến 77,9 con/m2, giữa hai huyện chênh lệch không đáng kể nhưng nhỏ hơn mật độ 89,2 con/m2 của các hộ nuôi tôm TCT ở tỉnh Bến Tre trong nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và Huỳnh Văn Hiền (2012), do kinh nghiệm nuôi tôm TCT ở tỉnh Trà Vinh còn thấp nên hầu hết người dân chưa dám thả với mật độ cao Kích cỡ giống trung bình mà người nuôi ở huyện DH thả là
PL12 nhỏhơn ở CT (PL13), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Thời gian nuôi trung bình ở DH cao hơn CT, tương ứng là 75,7 ngày/vụ và 72,2 ngày/vụ, lớn nhất là 90 ngày/vụ, thấp nhất là 30 ngày/vụ, sự khác biệt không có ý nghĩa
thống kê (P>0,05) Kết quả này thấp hơn khảo sát của Trần Chí Duẫn (2013), thời gian
nuôi tôm TCT trung bình là 104,1 ngày/vụ, nhưng tương ứng với kết quả của Nguyễn Thanh Long và Huỳnh Văn Hiền (2012) có thời gian nuôi trung bình là 81,8 ngày/vụ Kích cỡ thu hoạch tôm huyện CT nhỏ hơn huyện DH, lần lượt là và 72,7 con/kg và 102,5
con/kg, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05) Kết quả ở DH chênh lệch đáng kể so
với nghiên cứu của Thái Bá Hồ và Lưu Trọng Lư (2006) có kích cỡ thu hoạch tôm TCT trung bình là 63 con/kg Nguyên nhân do một số hộ ở DH có tôm bệnh, phải thu hoạch sớm nên kích cỡ lớn nhất lên đến 400 con/kg và có 3 hộ phải thu hoạch ở kích cỡ từ
200-300 con/kg, nên kích cỡ trung bình ở huyện DH cao hơn những nghiên cứu trước đây Tôm TCT là loài nuôi có tốc độ tăng trưởng nhanh ở giai đoạn nhỏ, tôm nuôi trên 60 ngày thì người nuôi đã có thể có lời, hạn chế được rủi ro và nuôi được nhiều vụ trong năm nên đây là ưu điểm để thu hút người nuôi chuyển đổi từ nuôi tôm sú sang tôm TCT, nhưng cần chăm sóc và quản lí tôm chặt chẽ để tôm phát triển đạt kích cỡ tốt nhất, giá bán cao
Trang 8Qua kết quả khảo sát, hệ số FCR trung bình ở DH (1,2) thấp hơn CT (1,2), trong
đó, FCR nhỏ nhất là 0,8 và lớn nhất là 2,1 đều là các hộ ở huyện DH, đây là những hộ nuôi lỗ do tôm chết sớm buộc phải thu hoạch nên năng suất không cao FRC trung bình
cả hai huyện tương ứng với hệ số FCR từ 1,1–1,3 trong nghiên cứu của Nguyễn Khắc Hường (2007)
Tỷ lệ sống trung bình của tôm TCT ở huyện DH (80,2%) cao hơn huyện CT 3,5% nhưng năng suất thu hoạch trung bình ở huyện DH (7,0 tấn/ha/vụ) thấp hơn huyện Châu
Thành (9,1 tấn/ha/vụ), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Bảng 2 Khía cạnh kỹ thuật trong nuôi tôm TCT ở Trà Vinh
Mật độ thả tôm giống (con/m2) 71,9±20,6a 77,9±13,3a Nguồn giống (%)
Thời gian nuôi (ngày/vụ) 75,7±16,2a 72,2±10,9a Kích cỡ thu hoạch (con/kg) 102,5±75,3a 72,7±21,4b
Ghi chú: Các giá trị trong cùng một hàng có chữ cái (a, b) khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05) Sử dụng kiểm định T-test
Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất (tấn/ha/vụ)
Y = -24,25 + 4,3X 1 + 0,1X 2 + 0,1X 3 + 0,1X 4
(R2 = 0,701; R2 hiệu chỉnh = 70%; Sig = 0,00) Với Y là năng suất, có:
X1: Mực nước ao nuôi
X2: Mật độ thả giống
X3: Tỷ lệ sống
X4: Thời gian nuôi
Kết quả phân tích hồi quy đa biến giữa năng suất và các biến độc lập cho thấy có
4 yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của các hộ nuôi tôm TCT thâm canh ở Trà Vinh, gồm: mực nước ao nuôi, mật độ thả giống, tỷ lệ sống và thời gian nuôi Mực nước ao nuôi là
Trang 9biến tỷ lệ thuận với năng suất của hai huyện, mực nước ao nuôi càng cao thì năng suất tăng càng tăng nhưng không ổn định, theo kết quả khảo sát thì năng suất cao nhất khi mực nước ao nuôi là 1,7 m, do đó người nuôi cần chú ý đến mực nước trong ao nuôi để đạt được năng suất và lợi nhuận cao nhất
Mật độ thả giống càng nhiều thì năng suất tôm nuôi tăng, tuy nhiên khi mật độ quá cao sẽ dẫn đến tình trạng thiếu thức ăn, tôm chậm lớn Trên địa bàn nghiên cứu, năng suất cao nhất (17,6 tấn/ha/vụ) khi thả ở mật độ từ 80-100 con/m2, người nuôi cần tăng mật độ nuôi tôm thích hợp để tăng lợi nhuận nhưng không nên vượt quá mật độ đã được khuyến cáo của Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn của tỉnh (100-120 con/m2) Năng suất còn phụ thuộc vào tỷ lệ sống của tôm, khi tỷ lệ sống tăng 1 đơn vị thì năng suất tăng
0,1 đơn vị, tỷ lệ sống trên 88% cho năng suất cao nhất Vì vậy, chọn lọc giống tốt, thời vụ
thả giống thích hợp, xử lý nguồn nước và quản lý ao nuôi chặt chẽ để giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong quá trình nuôi
Ngoài ra, thời gian nuôi là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, năng suất trung bình cao (trên 10 tấn/ha/vụ) khi thời gian nuôi tôm từ 70-90 ngày, năng suất cao nhất (17,6 Tr.đồng/ha/vụ) khi có thời gian nuôi 80 ngày/vụ, tuy nhiên vẫn có một số hộ có năng suất thấp do tỷ lệ sống của tôm không cao Kết quả này khác biệt với nghiên cứu của Trần Ngọc Tùng (2010), năng suất cao nhất khi có thời gian nuôi trên 120 ngày Thời gian nuôi càng ngắn thì năng suất càng giảm, có đến 63% hộ lỗ trong tổng số
hộ có thời gian nuôi nhỏ hơn 45 ngày do tôm không lớn, tôm bệnh và chết sớm
3.3 Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng
Cơ cấu chi phí của mô hình
Chi phí biến đổi ở CT (682,0 Tr.đồng/ha/vụ) cao hơn 1,26 lần so với DH (561
Tr.đồng/ha/vụ), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05), chi phí cố định ở CT cao hơn
DH 2,51 Tr.đồng/ha/vụ, kết quả cho thấy chi phí đầu tư ở DH phù hợp với kết quả nghiên
cứu trước đây của Nguyễn Thanh Long và ctv (2012) tại tỉnh Bến Tre (chi phí biến đổi
trung bình là 560,7 Tr.đồng/ha/vụ và chi phí cố định khấu hao là 15,4 Tr.đồng/ha/vụ) Vì các hộ nuôi ở CT nằm trên cù lao, cơ sở hạ tầng vẫn còn hạn chế, phải vận chuyển máy móc phương tiện phục vụ sản xuất từ đất liền vào nên tổng chi phí đầu tư cao hơn
Trong cơ cấu chi phí biến đổi, thức ăn luôn chiếm tỷ lệ cao nhất và có vai trò quan trọng Tại DH chi phí thức ăn chiếm 56% chi phí biến đổi, khác biệt không lớn so với huyện CT (54,8%) Chi phí quan trọng kế tiếp là chi phí thuốc, hoá chất, chi phí giống, điện, nhiên liệu, và chi phí cải tạo Còn lại là các chi phí chiếm tỷ lệ thấp gồm chi phí mua bạc lót ao, thuê lao động, lãi vay ngân hàng và các khoản khác Nhìn chung, cơ cấu chi phí biến đổi giữa hai huyện chênh lệch không nhiều
Trang 10Tổng chi phí trung bình trong nuôi tôm TCT thâm canh huyện DH thấp hơn CT, huyện DH trung là 561 Tr.đồng/ha/vụ, trong khi huyện các hộ nuôi ở CT lên đến 703
Tr.đồng/ha/vụ (hình 1), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Hìn
h 1: Tổ
ng chi phí tro
ng nuô
i tôm TCT
Bảng 3: Chi phí trong nuôi tôm TCT thâm canh ở tỉnh Trà Vinh
(n=32)
Chi phí cố đinh khấu hao (Tr.đồng/ha/vụ) 18,5±7,8a 21±6,3a Chi phí biến đổi (Tr.đồng/ha/vụ) 540±219,6a 682±255,6b
Ghi chú: Những ký tự khác nhau cùng một dòng thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05) Sử dụng kiểm định T-test
Hiệu quả tài chính của mô hình
Giá thành sản suất tôm TCT ở DH và CT gần bằng nhau, lần lượt là là 87,1 ngànđồng/kg và 87,8 ngàn đồng/kg Giá thành sản xuất trung bình ở khu vực khảo sát
gần bằng với kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Hồng Gấm và ctv (2014) giá thành sản
xuất là 82,2 ngàn đồng/kg
Trong nuôi tôm TCT thâm canh, giá bán là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của người nuôi, giá bán trung bình ở huyện DH là 115,3 ngàn đồng/kg
0
200
400
600
800
1000