TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN LÊ QUỐC NGOAN PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH GIỮA MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC TRONG VÈO SÔNG Ở TỈNH HẬU GIANG VÀ VÈO AO Ở TỈNH VĨNH LONG LUẬN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ QUỐC NGOAN
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH GIỮA
MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC TRONG VÈO SÔNG Ở TỈNH HẬU
GIANG VÀ VÈO AO Ở TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN
2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ QUỐC NGOAN
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH GIỮA
MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC TRONG VÈO SÔNG Ở TỈNH HẬU
GIANG VÀ VÈO AO Ở TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS TRƯƠNG HOÀNG MINH
2014
Trang 3PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH
GIỮA MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC TRONG VÈO SÔNG Ở TỈNH HẬU
GIANG VÀ VÈO AO Ở TỈNH VĨNH LONG
Lê Quốc Ngoan và Trương Hoàng Minh
Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ Email: ngoan115324@student.ctu.edu.vn
TÓM TẮT
Nghiên cứu này đã được thực hiện từ tháng 08-12/2014 thông qua việc phỏng vấn 30 hộ nuôi cá lóc trong vèo sông ở tỉnh Hậu Giang và 30 hộ nuôi vèo ao ở tỉnh Vĩnh Long bằng bảng câu hỏi được soạn sẵn Việc thu thập số liệu nhằm phân tích một số chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật chủ yếu giữa 2 mô hình Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô vèo sông nhỏ hơn vèo ao lần lượt là 12,44 và 101,23 m 3
, nhưng có mật độ thả cao hơn tương ứng là 110,08 và 78,13 con/m 3
Thời gian nuôi và kích cỡ thu hoạch của vèo sông (4,4 tháng, 582g/con) thấp hơn vèo ao (5,9 tháng, 687g/con), nhưng năng suất
và tỉ lệ sống cá lóc trong vèo sông (39,3 kg/m 3 /vụ, 74%) cao hơn lần lượt là (21,7 kg/m 3 /vụ và 62%) với FCR tương ứng là 4,2 và 3,9 Tổng chi phí đầu tư của vèo sông cao hơn vèo ao lần lượt là 1,38
và 0,79 tr.đ/m 3 /vụ, giá thành không có sự khác biệt đáng kể giữa 2 mô hình Giá bán của vèo sông (32,000 đ/kg) thấp hơn vèo ao là 36,000 đ/kg, tuy nhiên thu nhập của vèo sông cao hơn lần lượt là 1,28 và 0,78 tr.đ/m 3 /vụ Lợi nhuận thu được dao động từ -0,1 đến 0,01 tr.đ/m3/vụ (P>0,05) Tỷ lệ số
hộ có lời của vèo sông là 36,7%, thấp hơn vèo ao (53,3%) Ngoài ra, một số đề xuất của mô hình cũng được đề cập trong nghiên cứu này
Từ khóa: cá lóc, channa sp, khía cạnh kỹ thuật, hiệu quả tài chính, vèo ao, vèo sông
ABSTRACT
This study was conducted from August to December, 2014 through intervewing 30 households for snakehead fish in the cage model in Hau Giang province and 30 figh farmer in the hapa model in Vinh Long province basing on the questionnaires The information collected to compare some criteria about economic-tehnology primarily between the two models The study results showed that the cage scale was smaller than the hapa one, respectively, 12.44 and 101.23 m 3 , but the density of cage model was higher, respectively 110.08 and 78.13 ind/m 3 Culture time and harvest size of the cage (4.4 months, 582g/ind) were lower than the hapa (5.9 months, 687g/ind), but productivity and survival rate of snakehead fish in cage mullet (39.3 kg/m 3 , 74%) were higher than respectively (21.7 kg/m 3 and 62%) with FCR respectively, 4,2 and 3,9 The total investment cost of the cage was higher than, 1.38 and 0.79 million VND/m 3 crop, cost was not significantly different between the two models The price of cage (32.000 VND/kg) was less than that of the hapa was 36.000 VND/kg; however, the income of the cage was higher than, respectively 1.28 and 0.78 million VND/m 3 /crop Profits gained in range from -0.1 to 0.01 million VND/m 3 /crop Percentage of households with the frofits of the cage (36.7%) is lower than that of the hapa (53.3%) In addition, a number of measures of the model are also included in this study
Keywords: snakehead, Channa sp, technical, economic, hapa , cage
Title: Comparision of economic-technical efficiency between snakehead in the cage in Hau Giang province and hapa in Vinh Long province
Trang 41 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua, nuôi trồng thủy sản (NTTS) ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
đã trở thành thế mạnh kinh tế rất quan trọng của vùng, đóng góp phần lớn cho tiêu thụ nội địa và xuất khẩu của cả nước, dần thay thế cho ngành khai thác thủy sản đã phần nào giảm
áp lực khai thác quá mức đối với nguồn tài nguyên thủy sản Việt Nam Trong giai đoạn 2007-2012, ngành thủy sản cả nước tiếp tục tăng diện tích nuôi từ 1,02-1,04 tr.ha, sản lượng tăng từ 2,12-3,11 tr.tấn, trong đó ĐBSCL chiếm bình quân 70% diện tích và 73% sản lượng (Tổng cục thống kê, 2014)
Cá lóc là loài cá nước ngọt đặc trưng ở Việt Nam và hiện nay được nuôi nhiều ở ĐBSCL
Do cá lóc là đối tượng tương đối dễ nuôi, được nuôi với nhiều mô hình khác nhau (ao đất, mùng vèo và lồng bè) và có thể nuôi qui mô nhỏ để xóa đói giảm nghèo hoặc nuôi thâm
canh với mật độ cao (Lê Xuân Sinh và ctv., 2009)
Vài năm gần đây, phong trào nuôi thủy sản của nông hộ trong tỉnh Hậu Giang và Vĩnh Long phát triển khá rầm rộ, trong đó mô hình nuôi cá lóc trong vèo là hình thức nuôi phổ biến, nhất là trong mùa nước nổi đã mang lại hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, hiệu quả giữa các mô hình (vèo sông, vèo ao) chưa được đánh giá cụ thể Nghề nuôi cá lóc gặp nhiều khó khăn như: chi phí đầu vào tăng cao, bệnh cá cũng thường xuyên xảy ra và khó kiểm soát nên ảnh hưởng xấu đến năng suất cá nuôi Bên cạnh đó, cá lóc thường xuyên bị thương lái
ép giá làm cho rất nhiều người nuôi bị lỗ vốn, tác động tiêu cực đến kinh tế của nông hộ
nuôi cá lóc trong thời gian qua Để làm rõ vấn đề đó, đề tài “Phân tích hiệu quả kỹ thuật
và tài chính giữa mô hình nuôi cá lóc trong vèo sông ở tỉnh Hậu Giang và vèo ao ở tỉnh Vĩnh Long” đã được thực hiện
1.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này thực hiện nhằm phân tích hiệu quả kỹ thuật, tài chính của 2 mô hình nuôi
cá lóc trong vèo sông ở Hậu Giang và vèo ao ở Vĩnh Long, để biết được hiệu quả của từng
mô hình, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần cải thiện hiệu quả sản xuất, ổn định kinh
tế nông hộ nuôi cá lóc ở địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới
1.2 Nội dung nghiên cứu
i Phân tích các khía cạnh kỹ thuật của mô hình nuôi cá lóc trong vèo sông ở Hậu Giang và vèo ao ở Vĩnh Long;
ii Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá lóc trong vèo sông ở Hậu Giang và vèo ao ở Vĩnh Long;
iii Đánh giá những thuận lợi, khó khăn của mô hình nuôi cá lóc và đề xuất một số biện pháp phát triển ổn định của mô hình nuôi trong thời gian tới
Trang 52 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này đã được thực hiện từ tháng 8-12/2014, số liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc khảo sát 66 hộ nuôi cá lóc, bao gồm 33 hộ vèo sông ở tỉnh Hậu Giang và 33 hộ nuôi vèo
ao ở tỉnh Vĩnh Long, thông qua bảng phỏng vấn đã được soạn sẵn Các thông tin thu thập bao
gồm: (1) Thông tin chung của hộ nuôi; (2) Các khía cạnh kỹ thuật (diện tích nuôi, độ sâu, mật
độ thả giống, kích cỡ thu hoạch, năng suất,…); (3) Hiệu quả tài chính (chi phí, thu nhập, lợi nhuận,…) và (4) Thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi
Số liệu thứ cấpđược thu thập từ các nghiên cứu trước đây (tạp chí khoa học chuyên ngành, luận văn cao học, đại học, giáo trình,…), các wesite chuyên ngành và những tài liệu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu
Số liệu phỏng vấn được kiểm tra, mã hóa và nhập vào máy tính để phân tích thông qua phần mềm Microsoft Excel và SPSS for Windows Các số liệu được xử lý thông qua các phương pháp: thống kê mô tả, thống kê so sánh và hồi qui đơn biến
Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính được tính dựa trên những công thức sau (cho 1 vụ) :
Tổng chi phí = Tổng chí phí cố định + Tổng chí phí biến đổi
Lợi nhuận = Doanh thu – Tổng chi phí Giá thành = Tổng chi phí/tổng sản lượng
Tỷ suất lợi nhuận = Tổng lợi nhuận/Tổng chi phí
3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 Thông tin chung hộ nuôi cá lóc
Hậu Giang và Vĩnh Long là có những điểm tương đồng nhau về nhân nhẩu và sự phân công lao động Hầu hết hộ nuôi cá lóc tại địa bàn nghiên cứu đều lấy công làm lời, không thuê mướn thêm lao động Công việc nuôi cá phần lớn do nam giới đảm nhận (chiếm 81,5% trong tổng thành viên), nữ giới cũng tham gia phụ giúp trong khâu chăm sóc và cho cá ăn
Độ tuổi trung bình của chủ hộ trong địa bàn nghiên cứu là 43,4 tuổi Số năm kinh nghiệm nuôi trung bình là 5,07 năm, cao hơn so với nghiên cứu của Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung (2010) trong mô hình nuôi cá lóc trong lồng bè là 4,9 năm Độ tuổi trung bình, tổng
số người trong gia đình, số lao động nữ, năm kinh nghiệm không có sự khác biệt đáng kể giữa 2 mô hình
Trình độ học vấn của các chủ hộ chủ yếu là cấp I (vèo sông 43%, vèo ao 50%), cấp II (vèo sông 40%, vèo ao 17%) và cấp III chỉ chiếm (vèo sông 7%, vèo ao 17%) và không có trình
độ cao hơn Có trình độ học vấn thấp, do đó việc tiếp cận thông tin khoa học, kỹ thuật để áp dụng vào nuôi cá lóc còn nhiều hạn chế Phần lớn hộ nuôi chủ yếu chỉ dựa vào kinh nghiệm được đúc kết từ những vụ nuôi trước (vèo sông 60%, vèo ao 58%), được cán bộ địa phương tập huấn và học hỏi kinh nghiệm từ các hộ nuôi khác
Trang 6Bảng 1: Thông tin về tuổi, trình độ học vấn và thông tin kỹ thuật
Thông tin Vèo sông (n=30) Vèo ao (n=30)
Tuổi của chủ hộ nuôi cá lóc (tuổi) 41,67±10,95 45,17±10,27
Trình độ học vấn (%)
Nguồn thông tin kỹ thuật (%)
Ghi chú: các giá trị trên cùng một hàng (vèo sông và vèo ao) có chữ cái (a,b) khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
3.2 Các khía cạnh kỹ thuật
3.2.1 Kết cấu vèo nuôi
Theo kết quả phân tích cho thấy thể tích trung bình của vèo sông nhỏ hơn vèo ao lần lượt là 12,4 và 101,2 và m3, kết quả này nhỏ hơn thể tích vèo sông và vèo ao nuôi cá lóc ở ĐBSCL lần lượt là 64,0 và 126 m3
(Lê Xuân Sinh & Đỗ Minh Chung, 2010) Ở địa bàn nghiên cứu, vèo nuôi cá lóc được làm từ lưới cước có chất lượng khác nhau, được thiết kế phù hợp với điều kiên kinh tế nông hộ, ở mô hình vèo ao do ít chịu tác động của dòng chảy nên có thời gian sử dụng lâu hơn so với vèo sông lần lượt là 4,7 và 2,1 năm Độ sâu trung bình của vèo sông thấp hơn độ sâu trung bình của vèo ao lần lượt là 1,7 và 2,2m, do không gian mặt nước của vèo ao nhỏ nên cần độ sâu lớn để tạo sự thông thoáng cũng như đảm bảo đủ oxy trong nước cho cá nuôi
Bảng 2: Kết cấu vèo nuôi cá lóc
Thông tin Vèo sông (n=30) Vèo ao (n=30)
Tổng thể tích vèo (m3/hộ) 19,85±30,68a 263,10±410,27b
Thể tích bình quân (m3/vèo) 13,50±35,67a 123,52±211,48b
Ghi chú: các giá trị trên cùng một hàng (vèo sông và vèo ao) có chữ cái (a,b) khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Trang 73.2.2 Nguồn giống, mật độ và kích cỡ giống thả nuôi
Nguồn cung cấp cá giống cá lóc trên địa bàn nghiên cứu chủ yếu từ các tỉnh ĐBSCL như Hậu Giang, An Giang và Đồng Tháp Ở mô hình vèo sông (Hậu Giang), hộ nuôi thường mua giống ở địa phương do có nhiều cơ sở sản xuất giống có chất lượng trên địa bàn, trong khi ở vèo ao (Vĩnh Long) chỉ chiếm 3,3% mà thay vào đó là mua cá giống từ các tỉnh lân cận (96,7%) Con giống thường được vận chuyển bằng xe máy, nếu quảng đường xa sẽ ảnh hưởng đến tỉ lệ sống của giống thả Việc chọn con giống tốt và phương pháp vận chuyển phù hợp cũng góp phần quan trọng để tăng tỉ lệ sống của cá lóc
Mật độ thả giống của mô hình vèo sông cao hơn có ý nghĩa thống kê so với vèo ao lần lượt
là 110,1 và 78,1 con/m3, mật độ này thấp hơn so với nghiên cứu mật độ cá lóc ở ĐBSCL (Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung, 2010) là 133,5 con/m3
(vèo sông) và 109,0 con/m3 (vèo
ao), cao hơn nghiên cứu của Tiêu Quốc Sang và ctv (2013) từ 85,7-142,8 con/m3
Kích cỡ cá giống thả nuôi của vèo sông (2,14 g/con) lớn hơn vèo ao (1,45 g/con) Việc thả giống có kích cỡ lớn hơn nhằm hạn chế tỉ tệ rủi ro của mô hình, cá tăng trưởng nhanh Nếu thả giống có kích cỡ nhỏ thường dẫn đến tỉ lệ phân đàn cao, tăng cường độ cạnh tranh thức
ăn và oxy, làm cho tỉ lệ sống và năng suất giảm Giá con giống cá lóc của vèo sông cao hơn vèo ao lần lượt là 489 và 380 đ/con, do vèo sông có kích cỡ cá lớn hơn Theo Lê Xuân Sinh
và Đỗ Minh Chung (2009), giá cá lóc giống dao động từ 370-1.100 đ/con, giá cá giống ở Hậu Giang cao hơn giá cá lóc giống ở ĐBSCL
Bảng 3: Nguồn giống và mật độ thả nuôi
Thông tin Vèo sông (n=30) Vèo ao (n=30)
Mật độ thả (con/m3
Ghi chú: các giá trị trên cùng một hàng (vèo sông và vèo ao) có chữ cái (a,b) khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
3.2.3 Thức ăn và hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR)
Những loại thức ăn được người nuôi sử dụng phổ biến ở địa bàn nghiên cứu là cá tạp nước ngọt (vèo sông 90%, vèo ao 56%), các loại thức ăn khác chiếm (vèo sông 10%, vèo ao 45%) Trong mô hình nuôi vèo sông tỉ lệ sử dụng thức ăn cá tạp nước ngọt cao hơn so với vèo ao là do Vĩnh Long có sử dụng bổ sung thức ăn công nghiệp nhiều, lượng cá tạp phải mua bổ sung chứ không tự đánh bắt toàn bộ như Hậu Giang
Tỉ lệ sử dụng thức ăn công nghiệp trung bình là 13,6%, tỉ lệ thấp hơn so với giai đoạn
2010-2011 trong nghiên cứu của Lê Xuân Sinh et al (2014) là 25% Các loại thức ăn hộ
nuôi thường dùng là Master (38,5%), Con cò (23,1%), Ewos (15,4%), Aqua (7,7%) và
Trang 8Green feed (7,7%) Hàm lượng đạm trong thức ăn không có sự biến động giữa các nhãn hiệu thức ăn (40-43% đạm)
Số lần cho ăn của mô hình vèo sông (1,6 lần) thấp hơn vèo ao là 2,1 lần Số lần cho cá ăn trong ngày phụ thuộc vào giai đoạn phát triển (cá nhỏ cho cá ăn nhiều lần) và biến động giá
cá thương phẩm trên thị trường (giá cá cao cho cá ăn nhiều lần) Tuy nhiên, việc thúc đẩy tăng trưởng của cá lóc bằng việc tăng số lần cho ăn sẽ làm tăng FCR và gây ô nhiễm môi trường nước do tỷ lệ hấp thụ dinh dưỡng trong thức ăn thấp (Phạm Minh Đức, 2012) Lượng thức ăn của mô hình vèo sông cao hơn vèo ao lần lượt là 168,2 và 97,7 kg/m3/vụ), giá thức ăn bình quân của vèo ao cao hơn mô hình vèo sông lần lượt là là 13,2 và 9 nghìn
đồng (P<0,05), do mô hình vèo ao có tỉ lệ thức ăn công nghiệp cao nên giá cao hơn, trong
đó giá thức ăn tạp và giá thức ăn viên lần lượt là 6,1-7,6 nghìn đồng và 19,30-19,32 nghìn đồng
Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) bình quân của vèo sông là 4,2 cao hơn so với vèo ao là 3,9, do
mô hình vèo ao của Vĩnh Long cho ăn cá tạp nước ngọt ít hơn, thay vào đó là thức ăn viên FCR trong nghiên cứu này lại thấp hơn so với nghiên cứu của Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh
Chung (2010) từ 4,0-4,3, cao hơn so với nghiên cứu của Huỳnh Văn Hiền và ctv (2012) và
Trần Văn Thấy (2011) với hệ số FCR lần lượt là 1,4 (thức ăn viên) và 4,0 (cá tạp) Cho cá
ăn bằng thức ăn tươi sống vừa thiếu chủ động vừa có ảnh hưởng xấu đến môi trường và nguồn lợi thủy sản tự nhiên (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009) Do đó, người nuôi cần chọn loại thức ăn, kích cỡ, phân lượng và cách cho ăn phù hợp với từng giai đoạn của cá lóc
Bảng 6: Cơ cấu thức ăn và hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR)
Thông tin Vèo sông (n=30) Vèo ao (n=30)
Lượng TA bình quân (kg/m3/vụ) 168,2±101,00b 97,7±89,77a
Ti lệ hộ sử dụng thức ăn công nghiệp (%) 1,9 36,0
Ghi chú: các giá trị trên cùng một hàng (vèo sông và vèo ao) có chữ cái (a,b) khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05) (*) Được quy từ thức ăn viên về thức ăn cá tạp, với 1,3 kg thức
ăn viên=4,3 kg thức ăn cá tạp
Trang 92.2.4 Mùa vụ nuôi và một số bệnh thường gặp
Cá lóc có thời gian sinh trưởng nhanh nên thời gian nuôi khoảng 3-4 tháng/vụ (cá lóc đầu vuông) và 5-6 tháng (cá lóc đầu nhím), nên có thể nuôi 2 vụ/năm (60,0% số hộ), đặc biệt có một số hộ nuôi đến 3 vụ/năm Mùa vụ nuôi cá lóc ở địa bàn nghiên cứu là không rõ ràng, khi đến mùa lũ (tháng 6-8 ÂL) hàng năm thì các hộ nuôi cá lóc bắt đầu thả cá giống để tận dụng được nguồn cá tạp nước ngọt khai thác được trong mùa lũ và thu hoạch thường tập trung nhiều vào tháng 9-11 ÂL Theo Pillay (1990) thì cá lóc ở Thái Lan thường được thả nuôi trong tháng 7–8, ở thời điểm này vào mùa mưa và lũ nên nguồn cá tạp, ốc, cua dễ tìm Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh của cá lóc xuất hiện ở hầu hết các giai đoạn trong quá trình nuôi, đặc biệt là thời điểm giao mùa từ tháng 1-2 ÂL (thời tiết lạnh), và từ tháng 8-10, khi mùa lũ rút xuống, nước thải ô nhiễm nông nghiệp được thải thẳng xuống sông, gây bệnh cho cá (đặc biệt vèo sông) Các bệnh có tỉ lệ xuất hiện cao nhất lần lượt là bệnh ghẻ (37,8%), xuất huyết (28,0%), trắng mình (20,7%), đỏ mang (11,0%) và gan thâm mủ (2,4%) Bệnh cá thường xảy ra là do chất lượng con giống ngày càng giảm, mật độ nuôi cao, thời gian nuôi kéo dài, chất lượng nước kém và tác động bất lợi từ thời tiết
Hình 2 Một số bệnh thường gặp trong quá trình nuôi
3.2.4 Thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm
Thời gian nuôi ở mô hình vèo sông là 4,4 tháng ngắn hơn so với mô hình vèo ao là 5,9
tháng (P<0,05) là do kích cỡ thả giống của vèo sông lớn hơn và kích cỡ thu hoạch của vèo
sông nhỏ hơn so với vèo ao lần lượt là 581,7 và 686,7g/con Kích cỡ thu hoạch trong
nghiên cứu này nhỏ hơn so với nghiên cứu của Huỳnh Văn Hiền và ctv (2012) và Phạm
Đăng Phương, (2010) lần lượt là 691,2 và 700,0 g/con
Năng suất của mô hình vèo sông cao hơn vèo ao lần lượt là là 39,3 và 21,7 kg/m3/vụ
(P<0,05), thấp hơn so với nghiên cứu của Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung (2010) lần lượt
là 47,6 kg/m3/vụ (vèo sông) và 47,6 kg/m3/vụ (vèo ao), do mô hình vèo sông (Hậu Giang) phần lớn nuôi cá đầu vuông nên năng suất cao
25,81
29,41
16,13
7,84 0
3,92 0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
Mô hình
- Bệnh ghẻ - Xuất huyết - Trắng mình - Đỏ mang - - Gan thâm mủ Gan thận mủ
Trang 10Tỉ lệ sống trong mô hình vèo sông cao hơn so với vèo ao lần lượt là 74,3 và 62,3%, do kinh nghiệm nuôi lâu hơn, mặc dù vèo sông tiềm ẩn nhiều nguy cơ dịch bệnh từ môi trường, nhưng do kinh nghiệm xử lý môi trường tốt nên cá ít bệnh, tỉ lệ sống cũng cao hơn Tỷ lệ sống cá lóc trong nghiên cứu này tương ứng với kết quả của Dương Nhựt Long (2003) và
Tiêu Quốc Sang và ctv (2013) là 52,6-77,4% và 39,7-79,6 %
Nguồn tiêu thụ cá lóc hiện nay chủ yếu là thị trường nội địa, do đó hầu hết các hộ nuôi đều bán cho thương lái địa phương (95,2%), một số ít hộ có điều kiện như xe vận chuyển nên đem trực tiếp đến các chợ bán lẻ để tăng thêm lợi nhuận cho gia đình Hình thức bán chủ yếu là bán xô cho thương lái (83,3%), còn lại là bán theo phân cỡ (16,7%)
Bảng 8: Thu hoạch và tiêu thụ
Thông tin Vèo sông (n=30) Vèo ao (n=30)
Kích cỡ thu hoạch (g/con) 581,67±177,38a 686,67±290,94b
Năng suất bình quân (kg/m3/vụ ) 39,3±22,78b 21,7±19,79a
Hình thức bán
Ghi chú: các giá trị trên cùng một hàng (vèo sông và vèo ao) có chữ cái (a,b) khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến năng suất
Kết quả phân tích tương quan giữa năng suất và mật độ cho thấy, mật độ có mối tương quan thuận với năng suất Khi tăng mật độ lên 1 con/m3
thì năng suất của vèo sông và vèo
ao tăng lên lần lượt là 0,26 và 0,22 kg/m3/vụ Theo Dương Nhựt Long (2004), mật độ thả giống từ 80 – 100 con/m3
là tốt nhất
Hình 3 Mật độ ảnh hưởng đến năng suất
(Ghi chú: Các giá trị không theo quy luật được loại bỏ, nhưng dưới 10%)
y = 0,261x + 10,53 R² = 0,674
-20
40
60
80
100
120
3 /vụ)
Mật độ (con/m 3 )
Vèo sông
y = 0,220x + 4,439 R² = 0,787
-20
40
60
80
100
120
Mật độ (con/m 3 )
Vèo ao