TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN PHẠM THANH QUYÊN PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC TRONG VÈO AO VÀ AO ĐẤT Ở TỈNH VĨNH LONG LUẬN VĂN TỐT NG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN PHẠM THANH QUYÊN
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC
TRONG VÈO AO VÀ AO ĐẤT
Ở TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN
2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN PHẠM THANH QUYÊN
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC
TRONG VÈO AO VÀ AO ĐẤT
Ở TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS TRƯƠNG HOÀNG MINH
2014
Trang 3HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC TRONG VÈO AO VÀ AO ĐẤT Ở TỈNH VĨNH LONG
Nguyễn Phạm Thanh Quyên và Trương Hoàng Minh
Khoa Thủy Sản – Trường Đại Học Cần Thơ Email: quyen115339@student.ctu.edu.vn
TÓM TẮT
Nghiên cứu này đã được thực hiện từ tháng 8 đến tháng 12/2014, thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 60 hộ nuôi cá lóc thương phẩm ở hai mô hình vèo ao và ao đất (30 hộ/mô hình), tỉnh Vĩnh Long Việc thu thập thông tin nhằm phân tích hiệu quả kỹ thuật và tài chính, cũng như xác định những thuận lợi và khó khăn của 2 mô hình nuôi này Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình vèo ao có quy mô nuôi nhỏ hơn so với ao đất lần lượt là 62,73 và 205,83 m 2 /hộ, nhưng có mật độ thả nuôi cao hơn tương ứng là 160,66 và 96,68 con/m 2 Thời gian nuôi (từ 5 – 6 tháng),
tỷ lệ sống (từ 71,55-72,83%), kích cỡ cá thu hoạch (từ 558,62 – 536,77 g/con) của 2 mô hình không có sự khác biệt đáng kể, nhưng năng suất của mô hình vèo ao cao hơn mô hình ao đất lần lượt là 25,78 và 50,06 kg/m 2 /vụ Tổng chi phí của mô hình ao đất cao hơn so với vèo ao là 932,84 và 1597,68 nghìn đồng/m 2 /vụ, tương ứng giá thành sản xuất là 38,46 và 34,01 nghìn đồng/kg Thu nhập từ mô hình vèo ao (858,16 nghìn đồng/m 2 /vụ) cao hơn mô hình ao đất (1606,19 nghìn đồng/m 2 /vụ) nhưng lợi nhuận cao hơn tương ứng là 8,25 và (âm) -69,57 nghìn đồng/m 2 /vụ, tỷ suất lợi nhuận lần lượt (-0,01 và -0,09) Tỷ lệ hộ có lời của mô hình ao đất thấp hơn so với vèo ao lần lượt là 40 và 56,7% Ngoài ra một số giải pháp để phát triển mô hình trong thời gian tới cũng được đề cập trong nghiên cứu này
Từ khóa: ao đất, Channa sp, cá lóc, hiệu quả tài chính, khía cạnh kỹ thuật, vèo ao.
ASBTRACT
This study was conducted from August to December 12/2014, by investigating 60 farmers of commercial snakehead fish in two models: hapa ponds and farming ponds (30 households/model) in Vinh Long province The collection of information in order to analyze the effectiveness of technical and financial, as well as identifying the advantages and disadvantages
of these two models The results showed that the model hapa ponds scale farming ponds smaller than, 62,73 and 205,83 m 2 /household respectively, but have higher stocking densities, 160.66 and 96.6 head/m 2 respectively Culture period (from 5-6 months), survival rate (from 71,55 to 72,83%), harvest size (from 558,62 to 536,77 g/head) were not significantly different between the two models, but theyields of the model hapa ponds higher than farming ponds, 25,78 and 50,06 kg/m 2 /crop respectively The total cost of the model farming ponds is higher than hapa ponds is 405,16 and 221,82 thousand dong/m 2 /crop, corresponding the productioncost per of model farming ponds higher than model hapa ponds was 38,46 and 34,01 thousand VND/kg Income of model hapa ponds (858,16 thousand VND/m 2 /crop) higher than farming ponds (1606,19 thousand VND/m 2 /crop) but higher profits, 8,25 and (negative) -69,57 thousand VND/m 2 /crop respectively, margins (-0,01 and -0,09) respectively Percentage of households with the words of the model is farming ponds lower than hapa ponds, 40 and 56,7% respectively
Trang 4In addition, a number of measures to develop the model in the future are also included in this study
ponds.
Title: Technical and financial efficiency of Channa sp in farming ponds and hapa ponds
in Vinh Long province.
1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng nuôi trồng thuỷ sản lớn nhất cả nước, chiếm bình quân 70% diện tích và 73% sản lượng nuôi trồng thủy sản Theo thống
kê hiện nay của VASEP (2014), tính đến 7 tháng đầu năm 2014, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đạt 1.819 nghìn tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước Giá trị xuất khẩu thuỷ sản 6 tháng đầu năm đạt 3,45 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm 2013
Một trong những đối tượng nuôi nước ngọt mang lại hiệu quả kinh tế thì cá lóc góp phần đáng kể, do là đối tượng tương đối dễ nuôi, được nuôi với nhiều mô hình khác nhau (như nuôi trong ao đất, mùng vèo và lồng bè) và có thể nuôi qui mô nhỏ để xóa đói giảm nghèo hoặc nuôi thâm canh với mật độ cao (Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung, 2009) Tổng hợp của các tỉnh thuộc ĐBSCL năm 2009 cho thấy nghề nuôi cá lóc có tốc
độ phát triển nhanh sản lượng cá lóc nuôi cho toàn vùng đạt hơn 40.000 tấn, tăng hơn
1000 tấn so với năm 2008 Các mô hình nuôi cá lóc hiện nay chủ yếu là tự phát và sử dụng thức ăn tươi sống như cá tạp nước ngọt, cá biển, ốc bươu vàng, cua đồng làm ảnh hưởng đến môi trường và nguồn lợi thủy sản tự nhiên, chủ yếu là cá nước ngọt
Vẫn còn một số bất cập trong các mô hình nuôi cá lóc cần được giải quyết, cơ bản là việc nuôi tự phát, không có quy hoạch, thiếu định hướng, kỹ thuật nuôi hạn chế, môi trường nuôi ngày càng giảm chất lượng, thị trường bấp bênh,… đã làm cho các hộ nuôi gặp nhiều khó khăn trong sản xuất cũng như kinh tế gia đình Và 2 mô hình ao đất
và vèo ao cũng gặp phải những khó khăn tương tự Nuôi vèo sẽ giúp người nuôi dễ quản
lí, quan sát cá, giảm chi phí đầu tư ban đầu và thu hoạch, ít phụ thuộc vào mực nước lũ, tăng thu nhập cho người dân nghèo, ít đất canh tác nhưng khó khăn trong việc quản lý chất lượng nguồn nước, khả năng nhiễm bệnh, nguồn thức ăn và ô nhiễm môi trường Phương pháp nuôi cá lóc trong ao đất thì cá chậm lớn, chi phí đầu tư cao, kích cỡ cá lúc thu hoạch không đồng đều, tốn nhiều chi phí thức ăn, khâu thu hoạch tỷ lệ hao hụt khá cao do cá bị ngạt sình, nguy cơ thua lỗ cao
Từ thực tế trên nghiên cứu “Phân tích hiệu quả kỹ thuật và tài chính mô hình
nuôi các lóc trong vèo ao và ao đất ở tỉnh Vĩnh Long” đã được thực hiện nhằm góp
phần nâng cao hiệu quả sản xuất cho người nuôi trong thời gian tới
Trang 51.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích hiệu quả kỹ thuật - tài chính của mô hình nuôi cá lóc trong vèo ao và ao đất ở tỉnh Vĩnh Long, để biết được hiệu quả của mô hình và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả tài chính, ổn định kinh tế nông hộ nuôi cá lóc trong thời gian tới
1.3 Nội dung nghiên cứu
i Phân tích các khía cạnh kỹ thuật nuôi cá lóc của hai mô hình vèo ao và ao đất ở tỉnh Vĩnh Long;
ii Phân tích và so sánh hiệu quả tài chính của hai mô hình nuôi cá lóc trong vèo ao
và ao đất ở tỉnh Vĩnh Long;
iii Phân tích những thuân lợi, khó khăn của hai mô hình nuôi cá lóc ở tỉnh Vĩnh Long
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này đã được thực hiện từ tháng 8 - 12/2014 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, thông qua việc thu thập thông tin từ:
(1) Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua các nghiên cứu đã được xuất bản trên
tạp chí khoa học chuyên ngành, sách, báo, luận văn Cao học,…
(2) Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 60 hộ nuôi (30
hộ/mô hình) cá lóc trong vèo ao và ao đất ở tỉnh Vĩnh Long Các thông tin được thu thập
là (1) khía cạnh kỹ thuật (diện tích nuôi, mật độ thả nuôi, thời gian nuôi, kích cỡ thu hoạt, năng suất,…); (2) hiệu quả tài chính (chi phí, thu nhập, lợi nhuận,…) và (3) những thuận
lợi và khó khăn bằng bảng câu hỏi đã được soạn sẵn
Số liệu sau khi thu thập được nhập vào máy tính và xử lý bằng phần mềm Excel
và SPSS với các phương pháp:
Phương pháp thống kê mô tả (tần suất, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn) để mô tả
các thông tin kỹ thuật và tài chính trong mô hình
Phương pháp kiểm định thống kê (T-test) để so sánh sự khác biệt giữa các chỉ
tiêu kỹ thuật và tài chính ở 2 địa bàn nghiên cứu
Phương pháp hồi qui đơn biến để phân tích các yếu tố độc lập ảnh hưởng đến
năng suất của 2 mô hình
Một số công thức tính hiệu quả tài chính được sử dụng như sau:
Tổng chi phí = Tổng chí phí cố định + Tổng chí phí biến đổi
Lợi nhuận = Doanh thu – Tổng chi phí
Tỷ suất lợi nhuận = Tổng lợi nhuận/Tổng chi phí
Trang 63 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thông tin chung các hộ nuôi cá lóc
Cá lóc là đối tượng dễ nuôi và có mô hình nuôi đơn giản nên được nhiều hộ gia đình chọn nuôi ở nhiều độ tuổi khác nhau, dao động từ 18 đến 65 tuổi và trung bình là
45 tuổi ở cả 2 mô hình nghiên cứu Đa dạng về độ tuổi nhưng kinh nghiệm nuôi của các
hộ trung bình là 5 năm, không có sự chênh lệch đáng kể giữa 2 mô hình (biến động từ 1 đến 10 năm)
Số thành viên trong gia đình khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05) giữa mô
hình ao đất và vèo ao, nhưng số người tham gia nuôi cá lóc thì không có sự khác biệt đáng kể, chỉ từ 1 – 2 người Do quy mô nuôi cá lóc chủ yếu là tự phát và nhỏ lẻ nên đa
số các hộ nuôi đều sử dụng lao động gia đình với số lượng ít, chủ yếu là sử dụng lao động nhàn rỗi Công việc nuôi cá phần lớn do nam giới đảm nhận (chiếm 93,33%), nữ giới chỉ làm nội trợ hoặc buôn bán để tăng thêm thu nhập cho gia đình
Bảng 1: Tuổi, kinh nghiệm và trình độ học vấn của hộ nuôi
Trình độ học vấn (%)
Nguồn thông tin kỹ thuật (%)
Ở cả 2 mô hình nghiên cứu, các hộ nuôi cá lóc có trình độ học vấn không cao, trình độ cấp1 chiếm chủ yếu (từ 40 – 50%), trình độ cấp 3 chỉ chiếm từ 13 -16% (không
có hộ nào có trình độ trên cấp 3) Có trình độ học vấn thấp sẽ hạn chế việc tiếp nhận các nguồn thông tin kỹ thuật liên quan đến nuôi thủy sản, các hộ nuôi cá lóc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản thân từ 36,67 – 40% và học hỏi từ những người nuôi trước (từ 46,67 – 56,67%) là chủ yếu, rất ít hộ được tập huấn kỹ thuật từ các cán bộ kỹ thuật trong ngành Do đó, kỹ thuật nuôi củanông hộ nuôi đều tương tự nhau trên cùng mô hình khảo sát
Trang 73.2 Các khía cạnh kỹ thuật trong nuôi cá lóc
3.2.1 Thiết kế khu vực nuôi
Ao đất có diện tích bình quân thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Huỳnh Văn
Hiền và ctv., (2012) là 1.246 m2/ao và nghiên cứu ở An Giang và Trà Vinh của Trần
Hoàng Tuân và ctv., (2014) là từ 906 đến 1.000 m2/ao Vèo ao có diện tích trung bình là 62,73 m2/vèo, thể tích trung bình tương đương là 153,13 m3/vèo cao hơn nghiên cứu của
Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung (2009) là 126 m3/vèo nhưng thấp hơn khảo sát của Đỗ Minh Chung và Lê Xuân Sinh (2010) là 180,2 m3/vèo Với diện tích 62,73 m2/vèo, vèo
ao có diện tích thấp hơn so với khảo sát trước đây của La Hiền Khanh (2011) là 76,7
m2/vèo trên cùng địa bàn khảo sát
Bảng 2: Thiết kế khu vực nuôi
Số ao/vèo (cái/hộ)
Tỷ lệ ao/vèo (%)
- 1
- 2
- ≥ 3
1,41 ± 0,91
73,33 16,67
10
2,13 ± 1,94
53,33 23,33 23,33
Số lượng 1 ao/vèo của các hộ chiếm tỷ lệ cao, từ 53,33% đối với vèo ao và 73,33% số hộ đối với ao đất, cao hơn nghiên cứu của Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung (2009) lần lượt là 43,5 - 66,7% số hộ Do ao đất cần diện tích nuôi lớn nên số lượng ao nuôi không nhiều, hộ nuôi nhiều nhất là 3 ao Vèo ao có thể đặt nhiều trong một ao nên
số lượng vèo nhiều nhất trên địa bàn khảo sát là 10 vèo/hộ, chiếm phần lớn vẫn là 1 vèo/hộ (53,33%) Tuy nhiên, đa phần các hộ nuôi có ít đất canh tác, nghề chính là trồng trọt hoặc buôn bán, nuôi cá lóc chỉ là nghề phụ tăng thêm thu nhập nên không được
người dân nuôi với quy mô và số lượng lớn
3.2.2 Con giống
Nguồn giống thả nuôi trong 2 mô hình chủ yếu từ ngoài tỉnh chủ yếu từ tỉnh Đồng Tháp (51,67%), An Giang (27,05), Hậu Giang (18,33%), do rất ít cơ sở sản xuất giống trong tỉnh Cá lóc đầu nhím (86,4%) và đầu vuông (13,6%) là 2 đối tượng được nuôi chủ yếu ở cả 2 mô hình Cá lóc đầu nhím được nuôi nhiều hơn là do nhu cầu thị trường và giá cao hơn cá lóc đầu vuông, có hình dạng giống cá lóc đồng nên thường có giá bán cao hơn từ 3 - 5 ngàn đồng/kg, và dễ được người tiêu dùng chấp nhận (Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung, 2009)
Do vèo ao có độ sâu mực nước cao, không gian sống của cá rộng hơn ao đất đồng thời quan điểm của người nuôi thả ở mật độ cao để bù vào tỷ lệ hao hụt do chúng
Trang 8ăn nhau và cá dễ nhiễm bệnh ở giai đoạn còn nhỏ Mô hình ao đất trong nghiên cứu này
có mật độ thả giống cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Trần Hoàng Tuân và ctv.,
(2014) ở An Giang là 72,7 con/m2, tuy nhiên tương ứng với nghiên cứu của Huỳnh Văn
Hiền và ctv., (2012) ở An Giang và Đồng Tháp là 95,4 con/m2 Còn mật độ thả giống của vèo ao là 160,66 con/m2 (tương đương 77,73 con/m3) thấp hơn nghiên cứu của Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung (2009) là 109 con/m3 Cỡ giống thả của hai mô hình ở kích cỡ từ 1,4 - 1,45 g/con
Bảng 3: Thông tin về con giống
Nguồn giống (%)
- Trong tỉnh
- Ngoài tỉnh
13,33 86,67
3,33 96,67
Số vụ nuôi trong năm (%)
Do vị trí địa lí thuận lợi, nguồn nước dồi dào, con giống được cung cấp quanh năm và là loài sinh trưởng nhanh nên 90% hộ được khảo sát nuôi 2 vụ/năm, chỉ 10% số
hộ nuôi 1 vụ/năm và nuôi vào mùa nước lũ (tháng 7 đến tháng 10 AL) là để tận dụng nguồn thức ăn cá tạp nước ngọt tự khai thác được để tiết kiệm chi phí nuôi cá lóc
3.2.3 Thức ăn
Mô hình nuôi vèo có tỷ lệ sử dụng cá tạp nước ngọt cao hơn nhiều so với thức ăn công nghiệp chiếm 80% số hộ Trong đó 63,33% hộ chỉ sử dụng cá tạp nước ngọt trong quá trình nuôi và 16,67% số hộ sử dụng cá tạp nước ngọt cho ăn bổ sung giai đoạn cá dưới 2 tháng tuổi với lượng sử dụng trung bình là 3,29 tấn/vụ (156,77 kg/m2/vụ) tương đương với kết quả của La Hiền Khanh (2011) là 3,2 tấn/vụ nhưng thấp với nghiên cứu của Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung (2009) là 5,1 tấn/vụ Cá tạp là loại thức ăn dễ kiếm, người dân mua lại từ những người kéo lưới gần nhà, giá lại rẻ, đặc biệt là vào mùa nước lũ, các hộ nuôi sẽ tiết kiệm được phần lớn chi phí thức ăn
Phần lớn hộ nuôi trong ao đất sử dụng thức ăn công nghiệp trong quá trình nuôi
chiếm 70% thấp hơn nghiên cứu của Trần Hoàng Tuân và ctv.,(2014) là khoảng 99% Cá
tạp nước ngọt chiếm 58,62% trong mô hình ao đất, lượng thức ăn bình quân là 1,81 tấn/vụ (tương đương 24,89 kg/m2/vụ) thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung (2009) là 21,3 tấn/vụ do có 30% số hộ sử dụng cá tạp nước ngọt cho ăn bổ sung giai đoạn cá dưới 2 tháng tuổi và 26,67% số hộ cho ăn hoàn toàn bằng cá tạp nước ngọt, cá lóc được nuôi quanh năm nên lượng khai thác cá tạp không đủ
Trang 9dẫn đến thiếu hụt nguồn thức ăn và thức ăn công nghiệp giúp cá tăng trưởng đều cũng như hạn chế rủi ro về bệnh
Bảng 4: Lượng thức ăn và cho ăn
Tổng lượng thức ăn (kg/m2/vụ)
- Cá tạp nước ngọt
- Thức ăn công nghiệp
24,89 ± 45,41 a 32,08 ± 51,09 a
156,77 ± 218,87 b 23,97 ± 44,23 a
Cơ cấu thức ăn (%)
- Cá tạp nước ngọt
- Cá tạp + thức ăn công nghiệp
- Thức ăn công nghiệp
26,67
30
40
63,33 16,67 16,67
Ghi chú: Các giá trị trong cùng 1 hàng có chữ cái (a, b) khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05);*Được quy đổi từ thức ăn viên vềthức ăn là cá tạp,với tỷ lệ quy ước theo nghiên cứu của Lê Xuân Sinh (2010) là 4,1 kg cá tạp =1,3 kg thức ăn viên, FCR được quy đổi theo thức ăn công nghiệp
Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) giữa hai mô hình không có sự khác biệt đáng
kể (từ 1,53 đến 1,62), cao hơn nghiên cứu của Huỳnh Văn Hiền và ctv., (2012) từ 1,2 đến 1,4; và Trần Hoàng Tuân và ctv., (2014) từ 1,32 đến 1,33
3.2.4 Dịch bệnh
Một số bệnh xuất hiện phổ biến hiện nay trên cá nuôi là xuất huyết, trắng mình và ghẻ, trong đó bệnh xuất huyết chiếm tỷ lệ cao nhất ở 2 mô hình (Hình 1), kết quả này phù hợp với nghiên cứu trên cùng địa bàn của La Hiền Khanh (2011) Hầu hết các hộ nuôi hiện nay không biết rõ chính xác nguyên nhân cá mắc bệnh Tương ứng với biện pháp trị bệnh trong nghiên cứu này là người mang cá bệnh đến các điểm bán thuốc để người bán thuốc đưa thuốc về chữa bệnh cho cá và hiệu quả mang lại là không cao
Hình 1: Tỷ lệ nhiễm bệnh trong mô hình nuôi cá lóc
Theo kết quả khảo sát của Phạm Minh Đức và ctv., (2012) nguyên nhân bệnh
trên cá lóc là do ký sinh trùng, vi nấm và vi khuẩn gây ra và vẫn chưa tìm được cách
Trang 10phòng trị hiệu quả nên các hộ nuôi thường tốn chi phi cao để chi trả cho thuốc và hóa
chất trong phòng trị bệnh làm giảm lợi nhuận và hao hụt cao trong quá trình nuôi
3.2.5 Thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm
Sau thời gian nuôi từ 5,85 - 6,1 tháng/vụ (P>0,05) thì cá nuôi có tỷ lệ sống từ 71,55 - 72,83% (P>0,05) Kết quả tỷ lệ sống của nghiên cứu cao hơn so với nghiên cứu
của La Hiền Khanh (2011) trên cùng địa bàn khảo sát là 62,73%, nhưng thấp hơn nghiên cứu của Đoàn Hồng Vân (2012) trong mô hình vèo ao ở Đồng Tháp là 79,9% và thấp
hơn nghiên cứu của Huỳnh Văn Hiền và ctv., (2012) ở An Giang và Đồng Tháp là từ
74,8 - 75,6% đối với ao đất Kích cỡ thu hoạch không có sự khác biệt đáng kể giữa 2 mô
hình từ 536 – 558 g/con, kết quả này tương ứng với nghiên cứu của Trần Hoàng Tuân và
ctv., (2014) là từ 525 – 602 g/con, nhưng nhỏ hơn nhiều so với nghiên cứu của Đỗ Minh
Chung và Lê Xuân Sinh (2010) từ 705,2 – 715 g/con
Bảng 5: Thu hoạch và phân phối cá lóc sau khi thu hoạch
Thương lái thu mua (%)
- Trong tỉnh
- Ngoài tỉnh
82,76 17,24
80
20
Ghi chú: Các giá trị trong cùng 1 hàng có chữ cái (a, b) khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Cá nuôi trong ao đất có năng suất 25,78 kg/m2/vụ thấp hơn có ý nghĩa thống kê
so với vèo ao là 50,06 kg/m2/vụ (P<0,05) Sự khác biệt về năng suất là do mật độ thả
nuôi của vèo ao cao hơn và dễ kiểm soát hơn so với ao đất Năng suất cá nuôi trong ao
đất thấp hơn nghiên cứu của Huỳnh Văn Hiền và ctv., (2012) là từ 34,8 – 43 kg/m2/vụ, tuy nhiên năng suất mô hình vèo ao cao hơn kết quả nghiên cứu của La Hiền Khanh (2011) là 42 kg/m2/vụ Cá lóc sau khi thu hoạch chủ yếu được thương lái địa phương đến thu mua (chiếm khoảng 80 - 82%) để chuyển đến TPHCM, một số tỉnh lân cận và Campuchia, chỉ từ 17 - 20% thương lái ở các tỉnh là Đồng Tháp, Trà Vinh và Cần Thơ đến thu mua
Đối với mô hình ao đất Hình 2(a), khi mật độ thả giống càng cao thì năng suất càng cao Khi tăng mật độ thả 1 con/m2, năng suất sẽ tăng lên 0,195 kg/m2/vụ Theo biểu
đồ, đa số mật độ thả giống tập trung chủ yếu từ 27 -74 con/m2 với mức năng suất từ 10 –
29 kg/m2/vụ