1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích hiện trạng sản xuất và kinh doanh giống cá lóc ở an giang

15 514 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 403,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH GIỐNG CÁ LÓC Ở TỈNH AN GIANG Trần Nguyễn Ngọc Hiệp và Trương Hoàng Minh Khoa Thủy Sản – Trường Đại Học Cần Thơ Email: Hiep115305@student.ctu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THUỶ SẢN

TRẦN NGUYỄN NGỌC HIỆP

PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT

VÀ KINH DOANH GIỐNG CÁ LÓC Ở AN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

TRẦN NGUYỄN NGỌC HIỆP

PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT

VÀ KINH DOANH GIỐNG CÁ LÓC Ở AN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

TS TRƯƠNG HOÀNG MINH

2014

Trang 3

PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH

GIỐNG CÁ LÓC Ở TỈNH AN GIANG

Trần Nguyễn Ngọc Hiệp và Trương Hoàng Minh

Khoa Thủy Sản – Trường Đại Học Cần Thơ Email: Hiep115305@student.ctu.edu.vn

TÓM TẮT

Nghiên cứu này đã được thực hiện từ tháng 8 đến tháng 12/2014 thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 35 hộ sản xuất giống (SXG) cá lóc tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang bằng bảng câu hỏi

đã được soạn sẵn Các thông tin thu thập nhằm phân tích, đánh giá các khía cạnh kỹ thuật và tài

chính của hệ thống nuôi, cũng như xác định những thuận lợi và khó khăn của mô hình này Kết quả

điều tra cho thấy, hình thức sản xuất giống chủ yếu là ao(hộc) đất, diện tích cho cá bố mẹ đẻ và ương giống là 433,35 m 2

/hộ và diện tích trung bình mỗi hộc 12,14m 2 /hộc với độ sâu mực nước là 1,17 m Trung bình mỗi nông hộ cần 27 cặp cá bố mẹ cho một đợt sản xuất giống, mật độ và tỉ lệ sống (918,52con/m 2 ;58,68%), kích cỡ thu hoạch (1.075,28 con/kg), và năng suất (530,38 con/m 2 ) Với tổng chi phí đầu tư ban đầu (18,33 tr.đ/đợt) và giá thành (133,27 đ/con) khá thấp, lợi nhuận thu được và giá bán mỗi đợt đều khá cao (16,44 tr.đ/đợt và 235,15 đ/con) Tuy nhiên, vẫn còn 11,42% hộ thua lỗ do nhu cầu thị trường biến động Ngoài ra, các nông hộ cũng gặp phải một số khó khăn như ô nhiễm nguồn nước, các loại dịch bệnh và năng suất nuôi không ổn định Những biện pháp cơ bản được quan tâm gồm có: làm tốt hơn khâu sên vét, xử lý nước trước khi thả cá, tăng cường tập huấn kỹ thuật sản xuất giống cá lóc

Từ khóa: Giống cá lóc, khía cạnh kỹ thuật và hiệu quả tài chính, Channa sp

ABTRACT

This study, which was carried out from August to December 12/2014 by interviewing directly 35 farmers cultured small fingerling of snakehead in Chau Phu subdistrict, An Giang province is aimed to analyze and evaluate the technical-financial aspects the farming system to identify the advantages and disadvantages of this farming system According to the survey, the area for breeding fingerling and culturing fingerling were 433,35m 2 /farm and 12,14 m 2 /pond with water depth (1,17m) On average, each household needs 27 pairs of aldult snakehead per seed production , stocking density and survival rate (918,52ind./m 2 ;58,68 %), harvest size (1075,28/kg), and yeild (530,38/m 2 ) With the reasonable cost of initial production fee (18,33mill./crop) and cost (133,27

đ/ind.), profit and cost price is quite good (2,91mill./crop;17,29%) However, there was still

11,42% of farmers in the rate of nonprofit due to the market trend In addition, many farmers also face up to several difficulties such as waterpolution, many kinds of diseases and unstable yeild The basic solutions consist of: better preparation of pond before stocking small fingerling of snakehead, more technical trianings on small fingerling of snakehead culture

Key words: Small fingerling of snakehead, technical and cost-benefit analysis

Title: Analysing production efficiency and business on Snakehead culture in An Giang province

Trang 4

I.GIỚI THIỆU

Bên cạnh các loài cá nuôi truyền thống như cá tra, cá basa, cá rô đồng… thì cá lóc

(Channa striata Bloch, 1793) đang là đối tượng được nuôi nhiều ở đồng bằng sông Cửu

Long (ĐBSCL) do cá lóc là đối tượng tương đối dễ nuôi và có thể nuôi với nhiều mô hình khác nhau như: nuôi trong ao đất, ao nổi (nuôi trong bể bạt hoặc bể xi măng), mùng vèo,

lồng bè (Lê Xuân Sinh và ctv., 2009) Theo báo cáo của các tỉnh ĐBSCL năm 2010, tổng

sản lượng cá lóc nuôi trong năm 2009 của các tỉnh đạt hơn 40.000 tấn, tăng gấp 8 lần so với năm 2002 Do đó, nhằm cung ứng nhu cầu lớn về cá giống cho toàn vùng, nhiều hộ nuôi ở các tỉnh ĐBSCL đã mạnh dạn đầu tư xây dựng các mô hình sản xuất và ương giống cá lóc Trong đó, An Giang là một trong những tỉnh đi đầu trong việc SXG cá lóc nhờ những lợi thế và điều kiện tự nhiên sẵn có như diện tích đất ruộng lớn, kinh nghiệm ương nuôi cá giống lâu năm và đặc thù mùa nước nổi của địa phương Tuy nhiên trên thực tế cho thấy, các biện pháp ứng dụng kỹ thuật sinh sản cá lóc giống ở địa phương vẫn còn khá thô sơ, lạc

hậu và chưa đạt hiệu quả kinh tế cao Để làm rõ vấn đề đó, nghiên cứu “Phân tích hiện

trạng sản xuất và kinh doanh giống cá lóc ở tỉnh An Giang” đã được thực hiện

I.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm đánh giá và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả tài chính của mô hình SXG cá lóc ở tỉnh An Giang Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp cơ bản góp phần nâng hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng thời qua đó góp phần cung cấp thông tin hữu ích hỗ trợ việc quản lý giống thủy sản của địa phương và đóng vai trò cơ sở dữ liệu khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo

I.2 Nội dung nghiên cứu

i Khảo sát hiện trạng mô hình SXG cá lóc ở địa bàn nghiên cứu

ii Phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh giống

cá lóc

iii Phân tích những thuận lợi, khó khăn của mô hình

iv Đề xuất được những giải pháp cơ bản để cải thiện hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ nuôi nói riêng và phát triển nghề sản xuất giống tại địa bàn nghiên

cứu nói chung

II.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 08-12/2014 tại huyện Châu Phú, tỉnh An

Giang Các thông tin được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm: (1) Số liệu thứ cấp được

thu thập từ các báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn An Giang; các báo cáo khoa học, tạp chí, niên giám thống kê các năm, tài liệu từ các nghiên cứu trước, các Website chuyên ngành, các luận văn cao học và đại học có liên quan về vấn đề sản xuất và ương

nuôi giống cá lóc và (2) Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn trực

tiếp 35 cơ sở sản xuất và kinh doanh giống cá lóc ở huyện Châu Phú,tỉnh An Giang theo

Trang 5

bảng câu hỏi được soạn sẵn Các thông tin được thu thập bao gồm các khía cạnh kỹ thuật, hiệu quả tài chính và những thuận lợi – khó khăn tồn tại trong mô hình

Kết quả phỏng vấn được mã hoá và nhập vào máy tính, sau đó được kiểm tra và tính toán các chỉ tiêu cần thiết thông qua phần mềm SPSS for Window và Microsoft Excel Các

số liệu được được trình bày chủ yếu dưới dạng thống kê mô tả như: tần số xuất hiện, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tỉ lệ phần trăm, giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất

Phân tích hồi qui đa biến thông qua SPSS for Windows, với mức ý nghĩa α =0,05, được sử dụng để phân tích mối quan hệ cùng một lúc của các biến độc lập (Xi) được giả định

có ảnh hưởng đối với biến phụ thuộc Y (lợi nhuận triệu đồng/vụ và năng suất con/m2 của mô hình) Các yếu tố đồng thời có ảnh hưởng ở mức có ý nghĩa thống kê trong mô hình hồi quy

đa biến sau đó được phân tích chi tiết hơn để có những kết luận và đề xuất hợp lý Với a là hằng số và Bn là hệ số tương quan tương ứng của từng Xn và ε là sai số ước lượng thì mô hình hồi quy tuyến tính đa biến có dạng sau:

Y = A i + B 1 X 1 + B 2 X 2 + …+ B n X n + ε

Cuối cùng, phân tích thuận lợi và khó khăn của mô hình sản xuất kinh doanh giống cá lóc ở địa bàn nghiên cứu nhằm đề xuất các giải pháp phù hợp

Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính được tính dựa trên những công thức sau

Tổng chi phí = Tổng chí phí cố định + Tổng chi phí biến đổi

Lợi nhuận= Doanh thu – Tổng chi phí

Tỷ suất lợi nhuận = Tổng lợi nhuận/Tổng chi phí

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Những thông tin chung về nông hộ

Kết quả khảo sát cho thấy, các hộ sản xuất giống (SXG) đều nằm trong độ tuổi lao động, trung bình từ 34 – 46 tuổi Đa số các hộ khảo sát đều có qui mô gia đình nhỏ, chủ yếu

từ 2-4 người/hộ, trong đó thì tỷ lệ nữ tham gia lao động chiếm trung bình 46% Tuy nhiên,

do tính chất công việc nặng nhọc và phù hợp hơn với nam giới nên phần lớn các lao động

nữ chỉ đóng vai trò phụ giúp trong việc thăm nuôi, cho ăn và bán cá Nghiên cứu của Đỗ Minh Chung (2010) cũng có nhận định tương tự về vấn đề này

Nhìn chung trình độ văn hóa của các nông hộ được khảo sát còn thấp, kết quả khảo sát được cho thấy nhóm các nông hộ có trình độ từ cấp 2 trở xuống khá cao (chiếm hơn 94%), chỉ còn lại một số ít là hộ nuôi mới vào nghề sau này là có trình độ trung cấp và đại học chuyên ngành

Do An Giang là tỉnh có truyền thống nuôi cá lóc lâu đời nên số năm kinh nghiệm sản xuất giống cá lóc của các nông hộ được khảo sát là khá cao, trung bình là 8,6 năm Trong đó, đa phần các hộ SXG là làm theo truyền thống gia đình, rút kinh nghiệm từ các vụ

Trang 6

nuôi trước để phát triển nghề, rất ít hộ tham khảo kinh nghiệm từ TV/đài khuyến ngư hay các tạp chí khoa học chuyên ngành

Bảng 1: Thông tin chung về nông hộ

Diễn giải Đvt Giá trị (N=35) Giá trị lớn nhất Giá trị nhỏ nhất

Trình độ văn hóa

3.2 Các khía cạnh kỹ thuật của nghề sản xuất giống cá lóc ở An Giang

Thiết kế trại SXG

Kết quả khảo sát cho thấy 97,14% các hộ được phỏng vấn đều lựa chọn sản xuất giống cá lóc đầu nhím do ảnh hưởng bởi nhu cầu thị trường Còn lại là các hộ SXG cá lóc đầu vuông, tuy nhiên số lượng này không cao và dự đoán sẽ ngày một giảm trong tương lai

Đa số các hộ khảo sát được đều sử dụng mô hình sản xuất chính là ao đất (82,86%), còn lại là kết hợp giữa vèo ao và ao đất (17,14%) Ở mô hình ao đất, trung bình mỗi hộ SXG dành khoảng 433,35 m2 diện tích cho sinh sản và cho ương với độ sâu mực nước là

1,17 m Do các hộ SXG đều tận dụng diện tích đất sẵn có để đào các hộc nhỏ cho sinh sản

và cho ương chung nên diện tích sinh sản và diện tích cho ương là như nhau, bình quân 12,14 m2/hộc và 36,87 hộc/hộ Ở mô hình này, mỗi hộc sinh sản người ta cho thả 1 cặp cá

bố mẹ, mỗi cặp trung bình đẻ được từ 4.500-6.000 trứng tùy sức sinh sản Còn ở mô hình còn lại, các hộ cho cá bố mẹ đẻ trong ao đất, khoảng 1 tuần sau khi cá con nở được sẽ tiến hành sang thưa mật độ và chuyển sang các vèo ao thích hợp để ương cho đến đến khi đạt kích cỡ yêu cầu Với mô hình vèo ao kết hợp ao đất thì số lượng vèo sử dụng cho ương ít hơn số lượng ao/hộc dùng cho sinh sản nhưng lại lớn hơn nhiều về kích thước, diện tích bình quân 13,73 m2/hộc sinh sản và 25,46 m2/vèo cho ương

Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết các hộ SXG đều áp dụng hình thức sinh sản tự

nhiên và mùa vụ sản xuất chính từ tháng 5-9 Đều này đúng với nghiên cứu của Dương

Nhựt Long (2004) là cá lóc chủ yếu sinh sản vào mùa mưa

Trang 7

Bảng 2: Thông tin về thiết kế trại sản xuất giống

(N=30)

Vèo ao (N=5)

Sinh sản giống cá lóc

-Diện tích cho sinh sản m2/hộ 433,35±280,02 521,62±113,34

-Thể tích cho sinh sản m3/hộ 487,03±324,72 654,73±213,11

-Số ao,vèo cho sinh sản ao, vèo 36,87±24,85 39,41±16,45

-Diện tích bình quân/ao, vèo sinh

sản

m2/hộ 12,14±7,19 13,73±6,71

Ương giống cá lóc

-Diện tích cho ương m2 433,35±280,02 134,0±66,93

-Diện tích bình quân/ao, vèo ương m2 12,14±7,19 25,46±19,39

Cá bố mẹ

Nguồn cá bố mẹ của các hộ sản xuất giống cá lóc là những con cá vượt đàn được

chọn kỹ lưỡng từ các ao nuôi cá lóc tại địa phương (51,43%) Bên cạnh đó thì những nông

hộ có nuôi cá lóc thương phẩm thì sẽ tuyển chọn lại những con cá vượt đàn trong ao nuôi của mình để nuôi vỗ làm cá bố mẹ (42,86%) Một số ít còn lại thì đặt mua cá bố mẹ từ các tỉnh lân cận như Hậu Giang, Đồng Tháp nhưng tỉ lệ này ko đáng kể (5,71%) vì lý do ảnh hưởng của chi phí vận chuyển con giống Vì vậy, có thể thấy rằng nguồn cá bố mẹ để SXG

ở An Giang là hoàn toàn chủ động, có thể cung ứng tốt cho nhu cầu tiêu thụ ở địa phương với giá cả hợp lý và thời gian vận chuyển ngắn

Số lượng cá bố mẹ dùng cho một đợt trung bình từ 27 cặp, trong đó tỷ lệ đực cái là

bằng nhau Kích cỡ cá bố mẹ cũng là một trong những là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sức sinh sản và chất lượng con giống Do đó, các hộ SXG đều chọn lọc những cặp

cá bố mẹ cho sinh sản có kích thước lớn, khỏe mạnh, khối lượng trung bình từ 0,87 kg/con, với giá mua bình quân 134,96 nghìn đồng/kg Vì sức sinh sản của cá lóc là có hạn nên các cặp cá bố mẹ được được các nông hộ sử dụng cho sinh sản trung bình 6 đợt/năm, sau đó thay mới nhằm đảm bảo số lượng con giống sản xuất được là tối ưu

Trang 8

Bảng 3: Thông tin về cá b

Diễn giải

Số cặp cá bố mẹ/đợt SXG

Tỷ lệ đực/cái

Kích cỡ bình quân cá bố m

Giá mua bình quân/kg

Thức ăn

Do các mô hình sản xu

có quy hoạch đầu tư chuyên môn cao

thức ăn tươi sống như cá tạ

với tổng lượng thức ăn Kế

tiên sau khi trứng nở thành cá lóc con

thức ăn viên vào một vài ngày tr

đặc biệt là huyện Châu Phú h

hơn thức ăn công nghiệp vì ngu

hơn so với dùng thức ăn viên (

Hình 1 C

Tổng lượng thức ăn

0,82 tấn, cao hơn nhiều so v

quân cho mỗi kg thức ăn là

trung bình từ 85,41 kg thức ă

Bảng 4: Thông tin về thức ă

Diễn giải

Tổng lượng thức ăn cá bố m

Giá bình quân/kg

Tổng lượng thức ăn cá bột/

Giá bình quân/kg

cá bố mẹ cho trại SXG

Đvt Giá trị

(N=35)

Giá trị lớn nhất

n xuất giống cá lóc hiện nay ở An Giang chủ yếu là t

ư chuyên môn cao và lợi thế mùa nước lũ ở địa phương

ạp nước ngọt, cá tạp biển là khá cao, chiếm bình quân 68,71% so

ế đến là trứng nước (25,86%), chủ yếu được dùng thành cá lóc con Còn lại chỉ có một ít các nông hộ cho s

t vài ngày trước khi bán để cá tập quen dần Có thể th

n Châu Phú hầu hết các nông hộ đều ưa chuộng sử dụng th

p vì nguồn cá tạp ngoài tự nhiên khá phong phú, giá r

ăn viên (đắt hơn bình quân từ 7 đến 11 nghìn đồng/kg)

Hình 1 Cơ cấu thức ăn của trại SXG

ăn cho cá bột dùng từ giai đoạn mới cá mới nở đế

u so với nghiên cứu của Đỗ Minh Chung (2010) là 0,59 t

ăn là 9,21 nghìn đồng Ngoài ra, các hộ sản xuất gi

c ăn cho cá bố mẹ với giá mua khoảng 10,65 nghìn

c ăn cho trại SXG

Đvt

1.000đ

1.000đ

Thức

ăn viên

nước 26%

Cá tạp 69%

Giá trị nhỏ nhất

20 50,0 0,65 107,14

u là tự phát, chưa ương nên việc sử dụng

m bình quân 68,71% so

c dùng ở tuần lễ đầu cho sử dụng thêm thấy ở An Giang,

ng thức ăn tự nhiên , giá rẻ và kinh tế kg)

ến khi xuất bán là Minh Chung (2010) là 0,59 tấn Giá bình

t giống còn sử dụng 10,65 nghìn đồng/kg

Giá trị

85,41±64,09 10,65±1,79 1274,85±996,22 9,21±1,67

Trang 9

Một số bệnh thường gặp

Do ảnh hưởng của nguồn nước và biến đổi khí hậu nên có 68% các hộ nuôi cá giống

gặp phải các loại bệnh như: trắng mình (28,49%), tuột nhớt (23,71%), ghẻ lở (19,54%), đỏ

mang (10,67%), gan thận mủ (7,23%),… đều là những bệnh có thể quan sát và nhận biết được Các bệnh này chủ yếu xuất hiện từ tháng 2-3 và tháng 8-10, nguyên nhân chủ yếu do

sự thay đổi thời tiết đột ngột, mưa nắng thất thường và sự nhiễm độc nguồn nước do các chất xả thải được xả trực tiếp ra sông mà không qua xử lý, lắng lọc

Thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm

Tổng số lượng giống sản xuất 1 đợt bình quân 161,25 nghìn con (±119,17), đạt kích

cỡ trung bình từ 1.075 con/kg Giá bán bình quân từ 235,15 đ/con với kích cỡ lồng 6.Năng suất của các trại sản xuất giống cá lóc đạt bình quân từ 530,38 con/m2, trong đó tỷ lệ sống khoảng 58,68%

Trung bình mỗi hộ sản xuất 11,34 đợt/năm, mỗi đợt bình quân khoảng 30,4 ngày

Vì đa số các hộ đều ương đến kích cỡ lồng 6 mới xuất bán nên thời gian ương trung bình là 25-28 ngày, tùy tốc tăng trưởng của cá và khối lượng thức ăn mỗi hộ nuôi sử dụng Tuy nhiên, vì giá bán và nhu câu thị trường không ổn định nên cũng có một số ít hộ SXG treo

ao, chờ thời điểm giá tăng mới xuất bán nên kéo dài thời gian SXG lên đến 45 ngày

Vì phần lớn các hộ SXG ở địa bàn khảo sát có quy mô hộ gia đình, sản xuất nhỏ lẻ nên nguồn tiêu thụ chủ yếu là bán trực tiếp cho thương lái địa phương (82,06%), kế đến là chọn những con vượt đàn nuôi vỗ thành cá bố mẹ (14,09%) và một số ít còn lại là bán cho các hộ nuôi thương phẩm trong tỉnh (3,85%)

Bảng 5: Thông tin về thu hoạch cho trại sản xuất giống

Nguồn tiêu thụ

Trang 10

Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất

Với Y là năng suất (con/m2/đợt) Có 4 yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trại SXG là:

X1: Lượng thức ăn cá bố mẹ (kg/đợt); X2: Số lần sang thưa mật độ (lần/đợt); X3: Thời gian một đợt SXG (ngày/đợt); X4: Mật độ (con/m2), được trình bày qua phương trình (1):

Y = -400,925 + 29,564X 1 + 0,303X 2 – 12,712X 4 + 0,527X 5 (1)

(Với R= 0,874,R 2 = 0,829; R 2 hiệu chỉnh= 0,791; Sig = 0,00)

Qua phương trình trên cho thấy, năng suất có tương quan chặt và tỷ lệ thuận với tất

cả các biến trong mô hình như mật độ và thời gian một đợt SXG, lượng thức ăn cá bố mẹ

và số lần sang thưa mật độ Trong đó, các yếu tố lượng thức ăn cá bố mẹ và thời gian một đợt SXG được thay vào ảnh hưởng không có ý nghĩa thống kê đến lợi nhuận nhưng được giữ lại trong mô hình để thể hiện vai trò của chúng Hệ số xác định R2 = 82,9% cho thấy các yếu tố nêu trong mô hình tác động đến thu nhập là 82,9%, còn lại 17,1% là do các yếu

tố khác tác động không được nêu trong mô hình này

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất

Ảnh hưởng mật độ đến năng suất

Kết quả phân tích cho thấy, mật độ SXG có mối tương quan thuận với thu nhập Có nghĩa là nếu yếu tố này tăng lên 1 con/m2 với điều kiện các yếu tố khác giữ nguyên thì năng suất sẽ tăng lên 0,527 con/m2 Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng khi mật độ nuôi quá cao sẽ gây nên khó khăn cho việc quản lý ao nuôi, dễ xảy ra dịch bệnh

Hình 2 Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất trại SXG

y = 0.542x + 32.31 R² = 0.922

0

500

1000

1500

2000

2500

Mật độ (con/m2)

Ngày đăng: 13/11/2015, 12:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thông tin chung về nông hộ - phân tích hiện trạng sản xuất và kinh doanh giống cá lóc ở an giang
Bảng 1 Thông tin chung về nông hộ (Trang 6)
Bảng 2: Thông tin về thiết kế trại sản xuất giống - phân tích hiện trạng sản xuất và kinh doanh giống cá lóc ở an giang
Bảng 2 Thông tin về thiết kế trại sản xuất giống (Trang 7)
Hình 1. Cơ cấu thức ăn của trại SXG - phân tích hiện trạng sản xuất và kinh doanh giống cá lóc ở an giang
Hình 1. Cơ cấu thức ăn của trại SXG (Trang 8)
Bảng 4: Thông tin về thức ă - phân tích hiện trạng sản xuất và kinh doanh giống cá lóc ở an giang
Bảng 4 Thông tin về thức ă (Trang 8)
Bảng 5: Thông tin về thu hoạch cho trại sản xuất giống - phân tích hiện trạng sản xuất và kinh doanh giống cá lóc ở an giang
Bảng 5 Thông tin về thu hoạch cho trại sản xuất giống (Trang 9)
Hình 2. Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất trại SXG - phân tích hiện trạng sản xuất và kinh doanh giống cá lóc ở an giang
Hình 2. Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất trại SXG (Trang 10)
Hình 3. Cơ cấu chi phí của trại SXG - phân tích hiện trạng sản xuất và kinh doanh giống cá lóc ở an giang
Hình 3. Cơ cấu chi phí của trại SXG (Trang 11)
Bảng 7: Hiệu quả tài chính của trại SXG - phân tích hiện trạng sản xuất và kinh doanh giống cá lóc ở an giang
Bảng 7 Hiệu quả tài chính của trại SXG (Trang 12)
Bảng 6: Các chi phí sản xuất của trại SXG - phân tích hiện trạng sản xuất và kinh doanh giống cá lóc ở an giang
Bảng 6 Các chi phí sản xuất của trại SXG (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w