Trong quá trình thu thập số liệu cho đề tài, em nhận được sự giúp đỡ tận tình của các cô chú, anh chị ở Phòng Tài nguyên – môi trường, Phòng thống kê và Ủy ban nhân dân thành phố Châu Đố
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRANG THỊ TUYẾT TRINH
PHÂN TÍCH NHẬN THỨC CỦA NGƯ DÂN
VỀ THỰC TRẠNG Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC MẶT TẠI KHU VỰC LÀNG BÈ THÀNH PHỐ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRANG THỊ TUYẾT TRINH
MSSV: 4115269
PHÂN TÍCH NHẬN THỨC CỦA NGƯ DÂN
VỀ THỰC TRẠNG Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC MẶT TẠI KHU VỰC LÀNG BÈ THÀNH PHỐ
8- 2014
Trang 3Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Phạm Quốc Hùng – giảng viên khoa Kinh tế - Quản trị Kinh doanh đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ em trong suốt quá trình làm luận văn
Con xin cảm ơn Ba, Mẹ đã động viên, ủng hộ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để con có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cảm ơn sự hỗ trợ và động viên của các bạn cùng lớp trong quá trình thực hiện đề tài!
Em xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị trong Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật Tài nguyên - Môi trường tỉnh An Giang, đặc biệt là chị Lan
và chị Loan, đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian thực hiện đề tài
Trong quá trình thu thập số liệu cho đề tài, em nhận được sự giúp đỡ tận tình của các cô chú, anh chị ở Phòng Tài nguyên – môi trường, Phòng thống kê và Ủy ban nhân dân thành phố Châu Đốc…đã cung cấp cho em các
số liệu có liên quan đến làng bè, các bài báo cáo của Ủy ban về tình hình kinh
tế xã hội thành phố Châu Đốc từ năm 2009 đến năm 2013…Những số liệu này
đã giúp em xác định được các đáp viên một cách nhanh chóng, vì thế có thể tiết kiệm được lượng thời gian đáng kế
Xin cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ của các hộ gia đình thuộc làng bè Vĩnh Ngươn – thành phố Châu Đốc - tỉnh An Giang đã nhiệt tình cung cấp thông tin để tôi hoàn thành bài nghiên cứu này
Xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày……….tháng………năm……
Người thực hiện
Trang Thị Tuyết Trinh
Trang 4TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cần Thơ, ngày……….tháng………năm……
Người thực hiện
Trang Thị Tuyết Trinh
Trang 5TRANG NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
……….……….………
.……….……….………
….……….……….………
…….……….……….………
……….……….……….………
………….……….……….………
……….……….……….………
……….……….……….………
……….……….……….………
……….……….………
……….……….………
……….……….………
Cần Thơ, ngày …… tháng …… năm 2014
Thủ trưởng đơn vị (ký tên và đóng dấu)
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Phạm vi về không gian 3
1.3.2 Phạm vi về thời gian 3
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.4 Phạm vi về nội dung 3
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Tổng quan về môi trường nước mặt Việt Nam 4
2.1.2 Các thông số khảo sát chất lượng nước 7
2.1.3 Khái niệm về nhận thức,thái độ và hành vi 10
2.1.4 Mức sẵn lòng chi trả (Willingness to pay – WTP) 11
2.2 Phương pháp nghiên cứu 13
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 13
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 15
CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU VỀ THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC – TỈNH AN GIANG 23
3.1 Điều kiện tự nhiên 23
3.1.1 Vị trí địa lý 24
3.1.2 Đơn vị hành chính 24
3.1.3 Đặc điểm khí hậu và điều kiện tự nhiên 24
3.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 24
3.2.1 Tình hình phát triển kinh tế 25
3.2.2 Văn hóa – xã hội 27
3.3 Giới thiệu tổng quan về làng bè thành phố Châu Đốc 27
3.3.1 Quá trình hình thành và phát triển 27
Trang 73.3.2 Thực trạng phát triển của nghề nuôi cá bè ở thành phố Châu Đốc 28
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ QUAN TÂM VỀ THỰC TRẠNG Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC MẶT CỦA NGƯ DÂN LÀNG BÈ THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC – TỈNH AN GIANG 30
4.1 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu 30
4.2 Tình hình sản xuất – sinh hoạt của ngư dân làng bè thành phố Châu Đốc 32
4.3 Nhận thức của đáp viên về tình trạng ô nhiễm nước mặt tại làng bè thành phố Châu Đốc – tỉnh An Giang 33
4.3.1 Nhận thức chung về các vấn đề môi trường 33
4.3.2 Nhận thức của đáp viên về tình hình ô nhiễm tại khu vực làng bè thành phố Châu Đốc 34
4.3.3 Thái độ của đáp viên về tình hình ô nhiễm nước tại khu vực làng bè thành phố Châu Đốc 38
4.3.4 Hành vi của ngư dân đối với môi trường nước mặt tại khu vực làng bè thành phố Châu Đốc 41
4.4 Tình hình ô nhiễm môi trường nước mặt tại làng bè thành phố Châu Đốc – tỉnh An Giang giai đoạn 2011 – 2013 44
4.4.1.pH 47
4.4.2 Lượng oxy hòa tan (DO) 47
4.4.3 Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) 48
4.4.4 Nhu cầu oxy sinh học (BOD5) 48
4.4.5 Amoni (N- tính theo N 49
4.4.6 Phosphate (P- 49
4.4.7 Nitrat (N- tính theo N 49
4.4.8 Coliforms 50
4.5 Phân tích sự sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện chất lượng nước mặt của đáp viên 50 49 4.5.1 Mức giá sẵn lòng trả trung bình của ngư dân 49
4.5.2 Nguyên nhân ảnh không sẵn lòng trả của đáp viên 52
4.6 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả của đáp viên 53
4.7 Một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của ngư dân trong việc bảo vệ môi trường nước mặt tại khu vực làng bè 55
4.7.1 Đối với các tổ chức môi trường 55
4.7.2 Đối với chính quyền địa phương 55
Trang 84.7.3 Đối với mỗi cá nhân 55
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Kiến nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 60
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Sự phân bố số mẫu quan sát trên địa bàn thành phố Châu
Đốc 14 Bảng 2.2: Sơ lược các biến ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả và dấu kỳ
vọng ảnh hưởng trong mô hình Logistic 20 Bảng 3.1 : Cơ cấu GDP (%) theo từng khu vực của thành phố Châu
Đốc 25 Bảng 3.2: Diện tích các loại đất ở thành phố Châu Đốc – tỉnh An
Giang 27 Bảng 3.3 : Các loại cá được nuôi ở làng bè thành phố Châu Đốc – tỉnh
An Giang 29 Bảng 4.1 : Mô tả một số thông tin về đối tượng nghiên cứu 30 Bảng 4.2 : Diện tích nuôi trồng bè cá ở làng bè Vĩnh Ngươn thành phố
Châu Đốc 32 Bảng 4.3 : Nhận thức chung về tình hình ô nhiễm môi trường tại khu
vực làng bè 35 Bảng 4.4 : Nhận thức của ngư dân về sự thay đổi của chất lượng nước
tại khu vực làng bè thành phố Châu Đốc 36 Bảng 4.5: Thái độ của đáp viên về tình hình ô nhiễm nước tại khu vực
làng bè thành phố Châu Đốc 39 Bảng 4.6 : Lý do quan tâm đến tình trạng ô nhiễm nước mặt của các
đáp viên 40 Bảng 4.7: Lý do không quan tâm đến tình trạng ô nhiễm nước mặt của
các đáp viên 40 Bảng 4.8 : Hình thức và nguyên nhân loại bỏ rác của các hộ gia đình
ngư dân làng bè thành phố Châu Đốc 42 Bảng 4.9: Loại hình nhà vệ sinh, nước thải sinh hoạt các hộ gia đình
ngư dân làng bè thành phố Châu Đốc 43
Trang 10Bảng 4.10 : Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường nước mặt tại khu vực làng bè thành phố Châu Đốc qua 3 đợt thu mẫu (DO, TSS, Amoni và Nitrat) 45 Bảng 4.11 : Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường nước mặt tại khu vực làng bè thành phố Châu Đốc qua 3 đợt thu mẫu (các chỉ tiêu còn lại) 46 Bảng 4.12: Sự sẵn lòng trả cho việc cải thiện chất lượng nước mặt của ngư dân làng bè thành phố Châu Đốc 50 Bảng 4.13: Đo lường giá trị WTP trung bình của các đáp viên 51 Bảng 4.14 : Lý do ủng hộ việc thu phí nhằm phục vụ cho việc cải thiện môi trường nước của ngư dân 51 Bảng 4.15 : Lý do không sẵn lòng trả cho việc cải thiện chất lượng nước mặt (N= 34) 51 Bảng 4.16 : Kết quả hồi quy mô hình Logistic về sự sẵn lòng trả của đáp viên 53
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1: Mô tả nhận thức, thái độ và hành vi 10
Hình 2.2 : Tổng mức sẵn lòng chi trả 13
Hình 3.1 : Bản đồ thành phố Châu Đốc – tỉnh An Giang 23
Hình 3.2 : Diện tích nuôi trồng thủy sản (ha) của thành phố Châu Đốc – tỉnh An Giang 29
Hình 4.1 : Trình độ học vấn của ngư dân làng bè thành phố Châu Đốc 31
Hình 4.2 : Thu nhập của ngư dân làng bè thành phố Châu Đốc 31
Hình 4.3 : Nguồn nước sinh hoạt của các đáp viên 33
Hình 4.4 : Nhận thức chung về các vấn đề môi trường của ngư dân làng bè thành phố Châu Đốc 33
Hình 4.5 : Nhận thức về sự thay đổi chất lượng nước của ngư dân tại khu vực làng bè thành phố Châu Đốc 35
Hình 4.6: Những nguyên nhân gây ô nhiễm nước mặt tại khu vực làng bè thành phố Châu Đốc theo ý kiến của các đáp viên 37
Hình 4.7: Tình hình sử dụng thuốc tăng trưởng/chữa bệnh cho cá của ngư dân làng bè thành phố Châu Đốc 41
Hình 4.8: Lượng rác thải trung bình 1 ngày của ngư dân ở làng bè thành phố Châu Đốc 42
Hình 4.9: Giá trị DO giữa các năm qua 3 đợt thu mẫu 47
Hình 4.10 : Giá trị BOD giữa các năm qua 3 đợt thu mẫu 48
Trang 12DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Tiếng Việt
VASEP : Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Tiếng Anh
TWTP : Total Willingness To Pay
CVM : Contigent valuation method
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Với đường bờ biển dài hơn 3.200 km, vùng đặc quyền kinh tế biển rộng hơn 1 triệu km2, và vùng mặt nước nội địa rộng hơn 1,4 triệu ha nhờ hệ thống sông ngòi, đầm phá dày đặc; Việt Nam có điều kiện rất thuận lợi để phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Năm 1981, thủy sản là ngành kinh tế đầu tiên được Chính phủ Việt Nam cho phép vận dụng cơ chế kinh tế thị trường trong sản xuất và kinh doanh Từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, việc nuôi trồng và đánh bắt thủy sản ngày càng được mở rộng và tăng trưởng với tốc độ nhanh Nhờ vào sự ưu đãi của thiên nhiên và sự cố gắng phát triển ngành thủy sản, Việt Nam đã chiếm vị trí thứ ba về nuôi trồng thủy sản (2012) và đứng thứ tư trên thế giới về xuất khẩu thủy sản (Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam VASEP – 2013)
Là một trong bốn địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), An Giang cũng có sự đóng góp đáng kể cho ngành thủy sản của nước nhà An Giang chiếm vị trí thứ ba trong việc nuôi trồng và chế biến thủy sản (sau Cà Mau và Kiên Giang) trong khu vực ĐBSCL, trong
đó sản lượng thủy sản nuôi trồng theo địa phương lớn nhất toàn quốc Do biết tận dụng ưu thế về tiềm năng nguồn nước và điều kiện tự nhiên, An Giang đã tích cực đầu tư mọi nguồn lực để nuôi trồng và khai thác thủy sản, nên phát triển thủy sản đã là một trong nhiều thế mạnh của tỉnh Việc tập trung đầu tư này đã mang lại hiệu quả đáng kể, trực tiếp góp phần quan trọng trong việc tạo
ra lượng hàng hóa xuất khẩu cao và ngày càng khẳng định là một trong những ngành hàng phát triển mạnh, có hiệu quả trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh
Thành phố Châu Đốc là một trong hai trung tâm kinh tế - chính trị, văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng của tỉnh An Giang (sau thành phố Long Xuyên) Là nơi đầu nguồn của kênh Vĩnh Tế, và cũng là nơi giao nhau giữa sông Hậu và sông Châu Đốc, thành phố này nhận được không ít lượng phù sa chảy về và lượng cá nước ngọt dồi dào, rất phù hợp để phát triển việc nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Tận dụng nguồn lợi thế này, người dân ở thành phố Châu Đốc đã dựng nên làng bè để nuôi trồng và khai thác các loại cá, phục vụ cho nhu cầu về đời sống kinh tế của chính bản thân và gia đình của họ Dần dần, làng bè đã trở thành phương tiện chủ yếu phục vụ cho đời sống kinh
tế của ngư dân, và đã trở thành một địa điểm tham quan không thể bỏ qua khi đến với thành phố Châu Đốc Dựa vào óc sáng tạo của mình, cộng thêm việc nắm bắt được nhu cầu của thị trường, người dân nơi đây đã chế biến ra đủ loại mắm: mắm cá lóc, mắm cá linh, mắm cá sặc…để phục vụ cho nhu cầu kinh tế của mình Chính vì thế, có thể nói rằng việc nuôi cá ở các làng bè đã trở thành một trong những thu nhập chủ yếu của ngư dân nơi đây
Trang 14Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, số lượng bè cá đang ngày càng giảm Lý do khiến các ngư dân từ bỏ bè cá của họ là vì số lượng cá chết quá nhiều Ô nhiễm nguồn nước mặt chính là một trong những nguyên nhân khiến cho cá chết hàng loạt Một quy luật tất yếu trong việc nuôi trồng này là phải phụ thuộc vào chất lượng môi trường nước mặt ở tại khu vực đó Theo số liệu quan trắc môi trường hằng năm của tỉnh An Giang cho thấy, chất lượng nước mặt của sông Tiền, sông Hậu, kênh rạch nội đồng đang có dấu hiệu ô nhiễm chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng và vi sinh vật, đặc biệt là tại các khu vực nuôi trồng thủy sản, các khu công nghiệp, đầu nguồn và cuối nguồn của các sông
Có nhiều nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm nước mặt ở làng bè Châu Đốc, nhưng nguyên nhân chủ yếu là do ý thức bảo vệ môi trường của ngư dân ở đó chưa cao Rác thải sinh hoạt, chất thải từ hoạt động nuôi trồng, thức ăn và thuốc cho cá dư thừa…được đa số ngư dân nơi đây thải trực tiếp ra sông Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống của các loài động vật thủy sinh nơi đây Nếu tình trạng ô nhiễm nước mặt kéo dài và không có các biện pháp khắc phục kịp thời, sẽ dẫn đến việc giảm năng suất và chất lượng nuôi trồng, ảnh hưởng đến thu nhập của ngư dân, và còn có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế của cả tỉnh An Giang nói chung
Vì các nguyên nhân trên, việc nâng cao nhận thức của ngư dân về sự ô nhiễm nước mặt ở khu vực làng bè là rất cần thiết Đây cũng là lý do tôi chọn
đề tài “Phân tích nhận thức của ngư dân về thực trạng ô nhiễm nguồn nước mặt tại khu vực làng bè thành phố Châu Đốc – tỉnh An Giang”
Thông qua đề tài này, tuyên truyền cho ngư dân nhận thức được về thực trạng
và hậu quả của ô nhiễm môi trường nước nơi đây, từ đó khiến cho ngư dân cảm thấy được sự quan trọng của môi trường nước, góp phần nâng cao ý thức của ngư dân trong việc bảo vệ môi trường nước mặt tại khu vực làng bè thành
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu 1: Mô tả, phân tích hiện trạng môi trường nước mặt của làng
bè Vĩnh Ngươn - thành phố Châu Đốc – tỉnh An Giang từ năm 2011 đến năm
Trang 15nuôi trồng và đánh bắt thủy sản của ngư dân làng bè Vĩnh Ngươn - thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
Mục tiêu 4: Đề ra giải pháp nhằm nâng cao nhận thức về vấn đề bảo vệ môi trường nước mặt của ngư dân làng bè Vĩnh Ngươn- thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 8/2014 đến tháng 11/2014
Thời gian của số liệu thứ cấp từ năm 2011 đến năm2013
1.3.3 Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung phân tích về sự nhận thức và mức sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện chất lượng nguồn nước mặt phục vụ cho việc nuôi trồng và đánh bắt thủy sản của ngư dân làng bè Vĩnh Ngươn - thành phố Châu Đốc – tỉnh An Giang
1.3.4 Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung phân tích về nhận thức của ngư dân làng bè Vĩnh Ngươn - thành phố Châu Đốc – tỉnh An Giang đối với các vấn đề về môi trường nói chung, và môi trường nước làng bè nói riêng Thông qua đó, đề tài
sẽ đánh giá sự sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện chất lượng nguồn nước mặt phục vụ cho việc nuôi trồng và đánh bắt thủy sản của ngư dân làng bè Vĩnh Ngươn - thành phố Châu Đốc – tỉnh An Giang
Trang 16CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Tổng quan về môi trường nước mặt Việt Nam
2.1.1.1 Tài nguyên nước mặt ở Việt Nam
QCVN 08: 2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt: Nước mặt là nước chảy qua hoặc đọng lại trên mặt đất: sông, suối, kênh, mương, khe, rạch, hồ, ao, đầm…
Tài nguyên nước mặt ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều thủy vực tự nhiên và nhân tạo như sông, suối, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo (hồ chứa), giếng khơi, ao, đầm phá…Trung bình hằng năm, lãnh thổ Việt Nam nhận được 1.944mm nước mưa, trong đó bốc hơi trở lại không trung 1.000mm, còn lại 941mm hình thành một trữ lượng nước mặt vào khoảng 310 tỷ m3 (Nguyễn Võ Châu Ngân, 2003)
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005), Việt Nam có khoảng 2.732 con sông lớn nhỏ có chiều dài từ 10km trở lên, trong đó có 109 sông chính và
26 phân lưu của các sông lớn Trong số này có 9 con sống (sông Hồng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang – Kỳ Cùng, sông Mã, sông Cả, sông Vu Gia – Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai và sông Cửu Long) và 4 nhánh sông (sông
Đà, sông Lô, sông Sê-San, sông Srê – Pok) đã tạo nên một vùng lưu vực trên 10.000 km2, chiếm khoảng 93% tổng diện tích mạng lưới sông ngòi ở Việt Nam Bên cạnh đó, Việt Nam còn có rất nhiều các loại hồ tự nhiên, hồ đập, đầm phá, vực nước có kích thức khác nhau tùy thuộc vào mùa, phục vụ cho việc xây dựng thủy điện, tưới tiêu và phát triển kinh tế
Mặc dù tài nguyên nước ở Việt Nam dồi dào, nhưng khả năng sử dụng
có hạn Một mặt là vì sự phân bố không đồng đều của các dòng sông, mặt khác là do sự ô nhiễm, lũ lụt, hạn hán và các tác nhân khác Chất lượng nước
bị suy giảm nghiêm trọng đã hủy hoại môi trường sống và gây ra nhiều bệnh tật cho con người
2.1.1.2 Ô nhiễm nước và nguyên nhân gây ô nhiễm nước
a) Ô nhiễm nước
Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước, có hại
do hoạt động sống bình thường của sinh vật và con người, bởi sự có mặt của một hay nhiều hóa chất vượt qua ngưỡng chịu đựng của sinh vật
Hiến chương Châu Âu về nước đã định nghĩa : “Ô nhiễm nướcsự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã”
Trang 17b) Nguyên nhân gây ô nhiễm nước
Nguồn gốc gây ra ô nhiễm nước mặt là các khu dân cư tập trung như thành phố, thị trấn, các hoạt động khai thác mỏ, cơ khí, luyện kim, hoạt động giao thông thủy bộ, sản xuất nông nghiệp…
Các khuynh hướng thay đổi chất lượng và gây ô nhiễm nước do hoạt động của con người thường là:
- Giảm chất lượng nước ngọt do ô nhiễm bởi H2SO4, HNO3 từ khí
quyển, tăng hàm lượng , trong nước
- Tăng hàm lượng các ion Ca, Mg, Si…trong nước ngầm và nước sông
hồ do nước mưa hòa tan, phong hóa các quặng cacbonat
- Tăng hàm lượng các ion kim loại nặng trong nước tự nhiên như Pb,
- Giảm độ trong của nước
- Tăng khả năng nguy hiểm của ô nhiễm nước tự nhiên do các yếu tố đồng vị phóng xạ
Các dạng ô nhiễm nước thường gặp: phú dưỡng, ô nhiễm do kim loại nặng và hóa chất độc hại, ô nhiễm vi sinh vật và ô nhiễm bởi thuốc bảo vệ thực vật
2.1.1.3 Một số đặc điểm thường thấy khi nước bị ô nhiễm
Nước bị ô nhiễm hay bẩn có thể quan sát được bằng cảm quan như: màu sắc, mùi vị
• Màu sắc: nước tự nhiên không màu, nhìn sâu vào bề dày nước sạch ta
có thể cảm giác nước có màu xanh nhẹ hơn sự hấp thụ chọn lọc các bước sóng nhất định của ánh sáng Nước có rong tảo phát triển có màu xanh đậm hơn Nước có màu vàng do nhiễm sắt, màu vàng bẩn do nhiễm axit humic có trong bùn Mỗi loại nước thải đều có những màu sắc khá đặc trưng, nhưng đa số trường hợp nhiễm bẩn đều có màu nâu hoặc đen
• Mùi vị: nước sạch không có mùi vị, khi nhiễm bẩn có mùi vị lạ (mùi hôi thối, mùi tanh, chát…) Trong nước thải chứa nhiều tạp chất hóa học làm cho nước có mùi vị lạ đặc trưng Ngoài ra quá trình phân giải các chất hữu cơ
có trong nước cứng làm cho nước có mùi vị khác thường
Trang 182.1.1.4 Những tác động của ô nhiễm nước mặt
a) Tác động đến sức khỏe con người
Quá trình đô thị hóa tương đối nhanh ở Việt Nam đã dẫn đến những ảnh hưởng đáng kể đến môi trường tự nhiên Môi trường ngày càng suy thoái, kéo theo sự xuất hiện nhiều và nhanh chóng các loại bệnh liên quan đến môi trường Trong đó, bệnh có liên quan đến ô nhiễm nguồn nước từ lâu đã được xem là một mối đe dọa lớn đới với sức khỏe cộng đồng Tác hại ô nhiễm môi trường nước đối với sức khỏe con người chủ yếu do môi trường nước bị nhiễm
vi trùng, vi khuẩn hoặc các chất hữu cơ; ô nhiễm kim loại nặng (ví dụ như thủy ngân) và ô nhiễm các hóa chất độc hại
Hiện nay, vẫn còn nhiều hộ dân sử dụng nước sông, ao hồ, kênh rạch để phục vụ cho việc sinh hoạt hàng ngày Do đó, nguy cơ nhiễm các bệnh về đường tiêu hóa là rất lớn Ngoài ra, việc tắm nước sông hoặc ao hồ có thể dẫn đến việc nhiễm nhiều loại mầm bệnh như đau mắt, viêm da, nấm da, viêm tai
và nhiều loại bệnh khác.Theo Hội thảo khoa học “Môi trường nông nghiệp – nông thôn và đa dạng sinh hoạc ở miền Trung Việt Nam”, năm 2007, cả nước
có 992.137 người dân nông thôn bị tiêu chảy, 38.529 người mắc bệnh lỵ trực khuẩn, 3.021 người mắc bệnh thương hàn do sử dụng nước sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh, trong đó 88% trường hợp mắc bệnh là do thiếu nước sạch
b) Tác động đến sự phát triển kinh tế
- Thiệt hại kinh tế do bệnh tật gia tăng: Bệnh do ô nhiễm môi trường nước ngày càng tăng, kéo theo đó là sự gia tăng chi phí khám chứa bệnh cho các bệnh này đã lên đến con số hàng trăm tỷ đồng Thêm vào đó, bệnh liên quan đến ô nhiễm môi trường còn ảnh hưởng đến người thân, tạo nên chi phó gián tiếp do nghỉ học, nghỉ làm khi người thân bị ốm Theo một khảo sát cho thấy, đa số người dân được hỏi sau khi nghỉ ốm để điều trị bệnh hoặc có người thân bị ốm thì bị giảm khoảng 20% thu nhập và suy giảm về sức khỏe khoảng 20% so với trước khi bị bệnh Kéo theo đó là sự khó tập trung cho công việc
và học hành, khiến hiệu quả năng suất không cao
- Thiệt hại kinh tế do ảnh hưởng đến thủy sản và nông nghiệp: Theo số liệu thống kê, sản lượng nuôi trồng thủy sản (đặc biệt là nuôi cá bè trên sông)
đã bị giảm sút nhiều do vấn đề ô nhiễm nước sông, đặc biệt khi xảy ra các sự
cố về môi trường nước
- Thiệt hại kinh tế do tổn thương môi trường nước: Mặc dù việc xây dựng các công trình thủy điện đem lại không ít lợi ích cho ngành kinh tế và cho cuộc sống sinh hoạt của cộng đồng, nhưng người ta vẫn không thể nào phủ nhận những tác động tiêu cực đến môi trường nướccủa những công trình này Thiệt hại do tổn thất môi trường nước từ thủy điện cũng là một vấn đề đáng được quan tâm Sự tổn thất về môi trường nước đã dẫn đến việc tiêu hao một số kinh phí để khắc phục sự cố môi trường nước mặt do các khu công nghiệp gây ra, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế của đất nước
Trang 192.1.2 Các thông số khảo sát chất lượng nước
2.1.2.1 Oxy hòa tan (Dissolved oxygen – DO)
DO là lượng oxy hòa tan trong nước được biểu diễn theo đơn vị đo là miligam trên lít (mg/L) ở một nhiệt độ xác định Oxy hòa tan trong nước sẽ tham gia vào quá trình trao đổi chất, duy trì năng lượng cho quá trình phát triển, sinh sản và tái sản xuất cho các vi sinh vật sống dưới nước Nó còn được dùng để oxy hóa các chất hữu cơ và các tác nhân khử khác
DO là yêu tố quyết định các quá trình phân hủy sinh học các chất ô nhiễm trong nước diễn ra trong điều kiện yếm khí hay hiếu khí và do đó, các
vi sinh vật yếm khí hay hiếu khí đóng vai trò phân hủy Nếu vai trò phân hủy
do các vi khuẩn yếm khí thực hiện sản phẩm thường có tính độc hại, và ngược lại đối với vi khuẩn hiếu khí Số liệu đo đạc DO là rất cần thiết để có biện pháp duy trì điều kiện hiếu khí trong các điều kiện nước tự nhiên tiếp nhận chất ô nhiễm cũng như trong các quá trình xử lí hiếu khí nước thải sinh hoạt
và công nghiệp
Nồng độ oxy hoà tan trong nước phụ thuộc vào các yếu tố sau:
• Sự khuếch tán oxy vào nước phụ thuộc vào nhiệt độ
• Sự tiêu hao oxy do quá trình phân hủy sinh học chất hữu cơ
• Sự tiêu hao oxy do quá trình phân hủy chất hữu cơ có trong kết tủa
và các nguồn bổ sung
• Sự bổ sung oxy do quá trình quang hợp xảy ra trong nước
• Sự hao hụt oxy hòa tan do hô hấp của động vật và thực vật sống trong nước
Nguồn oxy hòa tan trong nước chủ yếu được đưa vào từ không khí thông qua mặt thoáng của khối nước trao đổi với không khí Ở nhiệt và áp suất bình thường, lượng oxy hòa tan trong nước nằm trong khoảng từ 8 – 15 mg/L Trong môi trường có nhiều chất dinh dưỡng, các vi sinh vật hiếu khí hoạt động mạnh, cần tiêu thụ rất nhiều ôxy nên lượng oxy hòa tan trong nước giảm đi rõ rệt Việc giảm lượng oxy hòa tan trong nước đã tạo điều kiện cho các vi khuẩn yếm khí hoạt động nên đã sinh nhiều các hợp chất có mùi hôi uế
Chỉ số tối ưu đối với nước sạch là 9,2 mg/L ở 200C, 1 atm Hàm lượng oxy hòa tan trong nước giúp ta đánh giá chất lượng nước Khi chỉ số DO thấp,
có nghĩa là nước có nhiều chất hữu cơ, nhu cầu oxy hoá tăng nên tiêu thụ nhiều oxy trong nước Khi chỉ số DO cao chứng tỏ nước có nhiều rong tảo tham gia quá trình quang hợp giải phóng oxy Như vậy, việc xác định chỉ tiêu
DO có thể đánh giá sơ bộ mức độ ô nhiễm của môi trường nước Nước có DO thấp thường là nước bị ô nhiễm
Theo QCVN 08:2008 hàm lượng DO tối đa cho phép trong nước mặt là
≥ 6 mg/L
2.1.2.2 pH (Potential of hydrogen)
pH được đặc trưng bởi nồng độ ion H+
trong nước Tính chất của nước được xác định theo các giá trị khác nhau của pH Khi pH = 7 môi trường nước
Trang 20có tính trung tính, pH < 7 môi trường nước có tính acid, pH > 7 môi trường nước có tính kiềm pH càng thấp thì nước càng có khả năng chứa hàm lượng các ion kim loại cao pH có thể làm tăng hoặc giảm tính độc của độc tố Đồng thời pH cũng là một yếu tố môi trường có tác động rất lớn đến đời sống thủy sinh vật và ảnh hưởng lên độ độc của các chất, Ngoài ra, pH còn ảnh hưởng đến các hoạt động sinh học trong nước, tính hòa tan và tính ăn mòn Sự thay đổi các giá trị pH trong nước có thể dẫn đến những thay đổi về thành phần các chất trong nước do quá trình hòa tan hoặc kết tủa, thúc đẩy hoặc ngăn chặn các phản ứng hóa học, sinh học xảy ra trong nước pH có thể được tính bằng công thức pH = –log [H+]
Theo QCVN 08:2008 và QCVN 38:2008 hàm lượng pH tối đa cho phép trong nước mặt là 6 ≤ pH ≤ 8,5
2.1.2.3 TSS (Total Suspended Solid)
Là dạng chất rắn lơ lửng trong nước Chất rắn ảnh hưởng tới chất lượng nước khi sử dụng cho sinh hoạt, cho sản xuất, cản trở hoặc tiêu tốn thêm nhiều hoá chất trong quá trình xử lý nuớc
Chất rắn có trong nước có thể là do:
• Các chất vô cơ ở dạng hoà tan (các muối) hoặc các chất không tan như đất đá ở dạng huyền phù
• Các chất hữu cơ như các vi sinh vật (vi khuẩn, tảo, động vật nguyên sinh ), và các chất hữu cơ tổng hợp như phân bón, chất thải công nghiệp
Theo QCVN 08:2008 hàm lượng TSS tối đa cho phép trong nước mặt
là 20 mg/L
Theo QCVN 38:2008 hàm lượng TSS tối đa cho phép trong nước mặt phù hợp với đời sống của các loài động vật thủy sinh là 100 mg/L
2.1.2.4 Nhu cầu oxy sinh học (Biochemical Oxygen Demand – BOD)
BOD là lượng oxy cần thiết cho vi sinh vật phân hủy các chất hữu cơ ở điều kiện yếm khí Trong môi trường nước, quá trình oxy hóa sinh học xảy ra thì các vi khuẩn sử dụng oxy hòa tan Phản ứng hóa học như sau:
biểu thị phần tổng BOD Theo lý thuyết, để oxy hóa gần hết hoàn toàn chất hữu cơ (98 - 99%) đòi hỏi sau 20 ngày Thông thường BOD5/COD = 0,5 - 0,7
Theo QCVN 08:2008 hàm lượng BOD5 tối đa cho phép trong nước mặt là 4 mg/L
Trang 212.1.2.5 Amoni (N- )
Trong nước thiên nhiên và nước thải, nitơ tồn tại dưới 3 dạng: các hợp chất hữu cơ, amoni và các hợp chất dạng vô cơ (nitrite, nitrat) Các hợp chất của nitơ là chất dinh dưỡng, chúng luôn vận động trong tự nhiên, chủ yếu nhờ các quá trình sinh hóa Amoni là sản phẩm trung gian trong chu trình nitơ Đầu tiên, NH3 được tạo ra từ quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ chứa nitơ có nguồn gốc từ các quá trình sinh học, đó là các quá trình bài tiết, trao đổi chất của sinh vật cũng như sự phân hủy các xác chết của chúng được tạo ra khi NH3 hòa tan vào nước tạo nên phản ứng cân bằng sau:
Theo QCVN 38:2008 hàm lượng amoni tối đa cho phép trong nước mặt
phù hợp với đời sống của các loài động vật thủy sinh là là 1 mg/L
2.1.2.6 Photphate (P- )
Cùng với nitơ, phosphate là một trong những nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu cho sinh vật, phospho có trong thành phần nhiều chất đóng vai trò quan trọng bậc nhất của quá trình sống Phosphate có thể tồn tại trong nước dưới dạng orthophosphate ngưng tụ (polyphosphate) như: sodium tripoluphosphate, tetrasodium poryphosphate, sodium hexametophosphate và phospho hữu cơ hòa tan hay không hòa tan Phosphate được thực vật hấp thu cùng với đạm, tham gia vào thành phần đạm thực vật, đạm này được động vật
sử dụng Đối với động vật, phosphate có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh trưởng, tăng cường quá trình phân giải các protein Trong các thủy vực, hàm lượng các muối hòa tan của phosphate trong nước thường rất thấp, ít khi nào hàm lượng P- vượt quá 1 mg/L ngay cả thủy vực giàu dinh dưỡng
Theo QCVN 08:2008 hàm lượng phosphate tối đa cho phép trong nước mặt là 0,1 mg/L
2.1.2.7 Nitrat (N- ) tính theo N
Nitrat được tạo thành tự nhiên từ nitơ trong lòng đất Quá tình hình thanh Nitrat là một giai đoạn không thể thiếu trong vòng tuần hoàn của nitơ trong tự nhiên Nitrat hình thành khi vi sinh vật chuyển hóa phân bón, phân hủy xác động thực vật Nếu cây cối không kịp hấp thụ hết lượng nitrat này thì nước mưa và nước tưới sẽ làm cho nó ngấm vào lòng đất, làm ô nhiễm nguồn nước ngầm
Nhìn chung, so với amoni, nitrat không ảnh hưởng lớn đến sự tăng trưởng và phát triển của các loài động vật thủy sinh Tuy nhiên, nếu trong môi trường nước có hàm lượng nitrat cao trong thời gian dài cũng gây ra một số ảnh hưởng nhất định đến sức khỏe của các loài động vật thủy sinh, dẫn đến khả năng tăng trưởng sẽ kém
Trang 22Theo QCVN 08:2008 hàm lượng nitrat tối đa cho phép trong nước mặt
Sự có mặt của Coliforms chứng tỏ nguồn nước đã bị ô nhiễm bởi chất thải của con người và động vật, và cũng có khả năng tồn tại các loại vi trùng gây bệnh khác Coliforms sẽ gây ra các bệnh về đường ruột cho con người như tiêu chảy, thương hàn, kiết lị…
Theo QCVN 08:2008 hàm lượng Coliforms tối đa cho phép trong nước mặt là 2500 MPN/100mL)
2.1.3 Khái niệm về nhận thức,thái độ và hành vi
Nguồn: Organizational Behavior,McShane S.L và Von Gilnow
Trang 232.1.3.1 Khái niệm về nhận thức
Theo quan điểm triết học Mác – Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo trên cở sở thực tiễn
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người
tư duy và không ngừng tiến gần khách thể
Tóm lại, nhận thức về vấn đề môi trường là khả năng nhận thức, hiểu biết về các vấn đề về môi trường trong thế giới thực, dựa trên sự ghi nhớ và kinh nghiệm của bản thân (Lindamood, 2001) hoặc là sự chú ý, quan tâm và
sự nhạy cảm của đáp viên cho các vấn đề về môi trường (Mc.Henry và Soukhanov, 2992)
2.1.3.2 Khái niệm về thái độ
Thái độ là những phát biểu hay những đánh giá có giá trị về sự vật, con người hay đồ vật Thái độ phản ánh con người cảm thấy như thế nào về một điều nào đó cụ thể
Từ đó có thể suy rộng ra, thái độ về môi trường là một tập hợp các giá trị và cảm xúc của sự quan tâm đối với môi trường và động lực để tích cực tham gia cải thiện và bảo vệ môi trường (Dooms, 1995)
2.1.3.3 Khái niệm về hành vi
Hành vi của con người được hiểu là một hành động hay nhiều hành động phức tạp trước một sự việc hiện tượng, mà các hành động này lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong – bên ngoài, chủ quan và khách quan
Có rất nhiều yếu tố có thể tác động đến hành vi của một người như trình độ văn hóa, phong tục tập quán cộng đồng, kinh tế xã hội, chính trị, luật pháp, nguồn lực, kỹ năng, phương tiện kỹ năng, thông tin… Mỗi hành vi của một người là biểu hiện của các yếu tố cấu thành nên nó, đó là kiến thức, niềm tin, thái độ, cách thực hành (hay kỹ năng) của người đó trong một hoàn cảnh hay tình huống cụ thể nào đó Một hành vi có thể thấy ở một cá nhân, cũng có thể thấy trong thực hành của một nhóm cá nhân hay cả một cộng đồng Hành
vi được lặp đi lặp lại nhiều lần trong thời gian dài có thể trở thành thói quen
2.1.4 Mức sẵn lòng chi trả (Willingness to pay – WTP)
2.1.4.1 Mức sẵn lòng trả theo lý thuyết marketing
Breidert (2005) cho rằng khi mua sắm một sản phẩm, khách hàng sẵn lòng chi trả bao nhiêu phụ thuộc vào giá trị kinh tế nhận được và mức độ hữu dụng của sản phẩm, hai giá trị xác định mức giá một người sẵn lòng chấp nhận
là mức giá hạn chế và mức giá tối đa Tùy thuộc nhận định của khách hàng khi mua sản phẩm là sản phẩm dự định mua không có sản phẩm thay thế thì để có được độ hữu dụng của sản phẩm, khách hàng sẵn lòng chi trả khoản tiền cao nhất là mức giá hạn chế; hoặc sản phẩm thay thế của sản phẩm dự định mua có giá trị kinh tế thấp hơn mức hữu dụng thì mức giá cao nhất khách hàng chấp nhận chi trả bằng với giá trị kinh tế của sản phẩm thay thế là mức giá tối đa
Trang 24Mức sẵn lòng chi trả được định nghĩa là mức giá cao nhất mà một cá nhân sẵn lòng chấp nhận chi trả cho một hàng hóa và dịch vụ
Kerry Turner, David Pearce và Ian Bateman (1995) cho rằng mức sẵn lòng chi trả đo cường độ ưa thích của một cá nhân hay xã hội đối với một thứ hàng hóa đó Đo lường mức độ thỏa mãn khi sử dụng một hàng hóa nào đó trên thị trường được bộc lộ bằng mức giá sẵn lòng chi trả của họ đối với mặt hàng đó
2.1.4.2 Mức sẵn lòng trả theo lý thuyết kinh tế học
David Begg (2009) cho rằng cầu của người tiêu dùng về một hàng hóa được định nghĩa như là mối quan hệ tồn tại giữa giá cả và lượng cầu của hàng hóa tại một thời điểm
Thước đo trực tiếp về WTP cho hàng hóa và dịch vụ có thể được định giá bằng cách hỏi người ta một cách trực tiếp họ sẽ sẵn lòng trả bao nhiêu cho các dịch vụ hoặc sản phẩm chăm sóc sức khỏe phù hợp Thước đo trực tiếp về mức WTP của một cá nhân cho hàng hóa phi thị trường thì phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contigen Valuation Method – CVM) là thích hợp nhất
2.1.4.3 Các yếu tố tác động đến mức sẵn lòng trả
Khái niệm mức sẵn lòng chi trả được sử dụng khá nhiều trong lĩnh vực kinh tế môi trường Hanley và Spash (1993) cho rằng mức sẵn lòng chi trả của người được điều tra có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố hoặc các biến khác nhau, bao gồm đạc điểm kinh tế xã hội của người đó như thu nhập, trình độ học vấn,…và một số biến đo lượng “số lượng” của chất lượng môi trường Nói cách khác, mức sẵn lòng chi trả có thể được biểu diễn bằng hàm số như sau:
WTP = f(Ii, Ai, Ei, qi) Trong đó:
- i: chỉ số quan sát (số người được điều tra)
Trang 25Giá (P) - Tổng giá sẵn lòng trả là diện tích dưới
đường cầu, bên trái điểm Q*
Tổng WTP (TWTP)
Nguồn: Bài giảng Kinh tế môi trường, Th.S Võ Thị Lang, 2011
Hình 2.2: Tổng mức sẵn lòng chi trả Nếu muốn ước lượng TWTP của cá nhân đối với một loại hàng hóa thì ước lượng tốt nhất ban đầu về lợi ích phải là ước lượng về sức tiêu thụ (của khách hàng) đối với loại hàng hóa đó Theo Võ Thị Lang (2011), công thức xác định tổng mức sẵn lòng chi trả là:
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.1.1 Số liệu thứ cấp
Các số liệu về chất lượng môi trường nước (2011-2013) và các chỉ tiêu kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố Châu Đốc được thu thập từ Trung tâm quan trắc và kỹ thuật – tài nguyên môi trường tỉnh An Giang và Phòng thống
kê thành phố Châu Đốc – tỉnh An Giang
2.2.1.2 Số liệu sơ cấp
Số mẫu sơ cấp của bài phân tích dựa trên số liệu sơ cấp được thu thập theo danh sách được cung cấp bởi Phòng Tài nguyên – Môi trường thành phố Châu Đốc Kích thước là là 65 quan sát mẫu, 65 bảng câu hỏi được phỏng vấn thông qua 65 hộ gia đình thuộc 6 khóm trong tổng số 3 phường có các hộ nuôi
bè của thành phố Châu Đốc
Tổng mức giá sẵn lòng trả = Số lượng cầu Giá thị trường + Thặng dư
tiêu dùng
Trang 26Bảng 2.1: Sự phân bố số mẫu quan sát trên địa bàn thành phố Châu Đốc
Nguồn: Phòng Tài nguyên – Môi trường thành phố Châu Đốc
Đáp viên sẽ được khảo sát trực tiếp để đưa ra mức giá sẵn lòng trả cho
dự án cải thiện chất lượng nước mặt Nghĩa là các mức giá sẽ được đáp viên đưa ra, nếu đáp viên không đồng ý chi trả cho việc cải thiện chất lượng nước mặt có nghĩa là số tiền sẵn lòng trả của đáp viên bằng 0, từ đó sẽ tính được mức giá trung bình sẵn lòng chi trả WTP
Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp ngư dân làng bè thành phố Châu Đốc – tỉnh An Giang (có thể là chủ hộ hoặc những người trực tiếp nuôi cá bè) tại bè cá của họ
- Phần 2: Thái độ của ngư dân về vấn đề ô nhiễm nước mặt tại làng bè thành phố Châu Đốc- tỉnh An Giang
- Phần 3: Đánh giá hành vi của ngư dân ở làng bè thành phố Châu Đốc – tỉnh An Giang đối với việc ô nhiễm môi trường nước mặt tại khu vực họ sinh sống Phần này nhằm mục đích tìm hiểu các hành vi của ngư dân đối với việc ô nhiễm môi trường nước, từ đó có thể tìm hiểu một số nguyên nhân gây nên việc ô nhiễm nơi đây, từ đó, có thể đề ra các biện pháp để bảo vệ và khắc phục sự ô nhiễm
- Phần 4: Đánh giá sự sẵn lòng chi trả của ngư dân cho việc cải thiện chất lượng nước mặt ở làng bè thành phố Châu Đốc- tỉnh An Giang
Trang 27Kịch bản
Kịch bản bắt đầu với việc đầu tiên là hỏi thăm về tình hình nuôi cá bè trong 3 năm gần đây của ngư dân Thông qua đó để biết được khả năng nhận thức của ngư dân về môi trường nước ở làng bè
Tiếp theo sẽ mô tả thực trạng và hậu quả ô nhiễm môi trường nước mặt tại khu vực làng bè thành phố Châu Đốc: vấn đề ô nhiễm môi trường nước ngày càng trở nên nghiêm trọng, ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan đô thị, môi trường sống của các loài thủy sinh, đặc biệt hơn là có thể ảnh hưởng đến sản lượng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản của ngư dân làng bè thành phố Châu Đốc Nhưng vì sự quản lý của các cấp chính quyền địa phương vẫn chưa được chặt chẽ, cộng thêm việc các thói quen trong sinh hoạt hàng ngàt của ngư dân
đã vô tình làm cho vấn đề môi trường nước ở đây ngày càng trở nên nghiêm trọng
Để hướng tới việc xây dựng một làng bè với môi trường nước mặt không bị ô nhiễm, tạo điều kiện cho việc mở rộng diện tích và sản lượng nuôi trồng, phải nhờ đến sự đóng góp của các ngư dân nhằm cải thiện chất lượng nguồn nước mặt Vì vậy, nếu ngư dân không có ý thức về việc bảo vệ môi trường nước tại làng bè và không sẵn lòng đóng góp cho việc cải thiện chất lượng nước, thì môi trường nước tại khu vực làng bè sẽ ngày càng ô nhiễm, gây ảnh hưởng đến sản lượng cá nuôi trồng, từ đó ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của ngư dân và gia đình của họ
Câu hỏi WTP sau đó được đưa ra: Chúng tôi muốn biết ông/bà sẵn lòng
trả bao nhiêu cho việc cải thiện chất lượng nước mặt tại khu vực làng bè Châu Đốc?
Cách thức chi trả
Việc chi trả thông qua đáp viên Khoản thu này sẽ được cộng thêm vào hóa đơn tiền điện hàng tháng của hộ gia đình, số tiền thu được sẽ chuyển toàn
bộ cho việc cải thiện chất lượng nước mặt tại khu vực làng bè
Trong đề tài sẽ sử dụng cách đặt câu hỏi Open – Ended question để hỏi
ra mức giá mà họ sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện chất lượng nước mặt tại khu vực làng bè
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
2.2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả:
Thống kê mô tả (Descriptive statistics) là các phương pháp có liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu (Mai Văn Nam, 2008)
Tần số: tóm tắt dữ liệu, tính tỉ lệ (%) các thông số có giá trị nghiên cứu trong bảng câu hỏi mà đáp viên trả lời
Số trung bình, số lớn nhất, số nhỏ nhất và độ lệch chuẩn: mô tả thông tin đối tượng nghiên cứu của đề tài theo các chỉ tiêu độ tuổi đáp viên, số thành viên trong gia đình, mô tả theo cấu trúc bảng hỏi
Trang 28Các số liệu thống kê được nhập và xử lý bằng phần mềm Excel, Stata
và SPSS
2.2.2.2 Phương pháp đồ thị thống kê
Phương pháp đồ thị thống kê là phương pháp trình bày và phân tích các thông tin thống kê bằng các biểu đồ, đồ thị và bản đồ thống kê Phương pháp
đồ thị thống kê sử dụng con số kết hợp với các hình vẽ, đường nét và màu sắc
để trình bày các đặc điểm số lượng của hiện tượng Chính vì vậy, ngoài tác dụng phân tích giúp ta nhận thức được những đặc điểm cơ bản của hiện tượng bằng trực quan một cách dễ dàng và nhanh chóng, đồ thị thống kê còn là một phương pháp trình bày các thông tin thống kê một cách khái quát và sinh động, chứa đựng tính mỹ thuật; thu hút sự chú ý của người đọc, giúp người xem dễ hiểu, dễ nhớ nên có tác dụng tuyên truyền, cổ động rất tốt
Các loại đồ thị thống kê: biểu đồ hình cột, biểu đồ tượng hình, biểu đồ diện tích (hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật), đồ thị đường gấp khúc và biểu đồ hình mạng nhện
2.2.2.3 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối: số tuyệt đối là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh quy mô, khối lượng của sự kiện Tác dụng của so sánh là phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch, sự biến động về quy mô, khối lượng
Phương pháp so sánh bằng số tương đối: số tương đối là một chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện bằng số lần (%) phản ánh tình hình của sự kiện, khi số tuyệt đối không thể nói lên được Mục dích của phương pháp này là so sánh hai chỉ tiêu cùng loại hay khác nhau như có liên hệ nhau để đánh giá sự tăng lên hay giảm xuống của một chỉ tiêu đó qua thời gian, hoặc đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch của một doanh nghiệp, hay ngành của một địa phương, một quốc gia
2.2.2.4 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)
a) Định nghĩa
Theo Katherine Bolt, phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) là phương pháp xác định giá trị kinh tế của các hàng hóa và dịch vụ không mua bán trên thị trường Phương pháp này sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn để xác định giá trị của hàng hóa không có giá trên thị trường
Phương pháp được gọi là “ngẫu nhiên” bởi vì nó làm người được hỏi nói họ sẽ hành động như thế nào khi họ được đặt trong một tình huống giả định Nếu hàng hóa đang xem xét là hàng hóa thị trường, chúng ta chỉ cần quan sát hành vi của con người trên thị trường Nhưng khi hàng hóa không có thị trường (chẳng hạn như các đặc tính về chất lượng môi trường), chúng ta chỉ có cách hỏi sự lựa chọn của họ là như thế nào trong trường hợp được đặt vào một tình huống nhất định nào đó
Trang 29b) Các bước thực hiện phân tích
Bước 1: Xác định hàng hóa cần đánh giá
Sự thay đổi chất lượng môi trường được đo ở đây là gì?
Cần phải mô tả rõ sự thay đổi của môi trường
Mô tả thị trường: gia đình cung cấp, điều kiện cung cấp, ai sẽ hưởng lợi và thiệt hại?
Phương thức thanh toán: cá nhân hay hộ gia đình? Thời gian thanh toán? Cơ quan nào chịu trách nhiệm thu tiền?
Sử dụng bảng, hình ảnh,…để minh họa
Bước 2: Xác định đối tượng khảo sát
Là toàn bộ các đối tượng (cá nhân, hộ gia đình) hưởng lợi tiềm năng từ hàng hóa/dịch vụ đang đánh giá
Bước 3: Lựa chọn phương thức khảo sát/cách đặt câu hỏi
Cách đặt câu hỏi:
- Open – ended question: hỏi người được phỏng vấn họ muốn chi trả
bao nhiêu cho sự thay đổi hàng hóa, dịch vụ đang đánh giá
- Close – ended question: đưa ra cho người được phỏng vấn 1 con số
(số tiền phải trả) và hỏi họ có đồng ý trả hay không?
- Payment card: đề nghị người được phỏng vấn chọn một mức giá trong
một dãy số (số tiền phải trả) được ghi trên thẻ
- Stochastic payment card: đưa thẻ ghi một dãy số và hỏi người được
phỏng vấn xác suất/khả năng họ đồng ý trả cho mỗi số tiền
-Double – bounded: người được phỏng vấn trả lời mức giá ban đầu
Nếu trả lời có, hỏi mức cao hơn Nếu trả lời không, hỏi mức thấp hơn
Trong những cách đặt câu hỏi trên, đề tài sử dụng cách đặt câu hỏi Open – ended question
Phương thức phỏng vấn:
- Phỏng vấn trực tiếp: gặp mặt dể phỏng vấn (in-person interview)
thông thường là cách thu số liệu cao nhất Nhược điểm lớn nhất là cách này sẽ tốn kém hơn so với cách điện thoại hoặc gởi thư
- Phỏng vấn bằng thư/email: gởi thư có ưu điểm là ít tốn kém so với
gặp mặt để phỏng vấn Tuy nhiên, hình thức phỏng vấn này có tỷ lệ trả lời có thể rất thấp, người phỏng vấn nếu không biết chữ hoặc không hiểu ý nghĩa của câu hỏi thì sẽ không trả lời được
- Điện thoại: Đây cũng là hình thức phỏng vấn ít tốn kém, tiết kiệm
được thời gian và tỷ lệ trả lời khá cao.Tuy nhiên, người phỏng vấn sẽ khó khi
mô tả thông tin về tình huống giả định trên điện thoại và thông thường, người được phỏng vấn chỉ vui vẻ trả lời trong thời gian ngắn
Trang 30Sau khi so sánh các ưu nhược điểm của từng phương thức phỏng vấn,
đề tài sẽ chọn phương thức phỏng vấn trực tiếp để có thể thu thập được thông tin một cách chính xác nhất
Bước 4: Xây dựng công cụ khảo sát
- Xây dựng bảng câu hỏi: rất quan trọng trong CVM
Xây dựng bảng câu hỏi tốt là bảng câu hỏi cung cấp chính xác các thông tin, làm người trả lời phải suy nghĩ nghiêm túc và từ đó thu thập được WTP đúng
- Các bước xây dựng bảng câu hỏi
+ Xác định lại hàng hóa cần đánh giá
+ Thiết kế kịch bảng
+ Đặt câu hỏi về WTP
Các câu hỏi phụ liên quan đến thái độ và sự hiểu biết liên quan đến vấn
đề được hỏi (atiitude, opinion, knowledge question), các câu hỏi “tiếp theo” (follow-up question), sự hài lòng và nhu cầu sử dụng hàng hóa, dịch vụ hoặc đặc điểm kinh tế xã hội (demographic)
+ Khảo sát thử và chỉnh sửa bảng câu hỏi
- Cấu trúc bảng câu hỏi
+ Các câu hỏi về kiến thức, thái độ
+ Kịch bản
+ Mô tả các thuộc tính của hàng hóa
+ Mô tả thị trường
+ Phương thức thanh toán
+ Câu hỏi về sự hài lòng và nhu cầu
+ Câu hỏi WTP
+ Câu hỏi “liên quan tiếp theo” (follow up question)
+ Đặc điểm kinh tế xã hội
- Tính toán trung bình (WTP): theo phương pháp phi tham số và tham
số (non – parametric estimation of WTP)
Phương pháp phi tham số:
+ Xem xét một chuỗi số liệu max WTP của hộ gia đình/cá nhân
Trang 31+ Tổng quan sát N
+ Có j giá trị WTP khác nhau, j có thể nhỏ hơn N
+ Sắp xếp các giá trị WTP tj từ thấp đến cao (j = 0, j) t0 luôn bằng 0 và tj có giá trị cao nhất trong mẫu
+ Gọi hj là số hộ có cùng WTP là tj
+ Tổng số hộ gia đình có WTP cao hơn hoặc bằng tj là:
∑ + Sau đó là những khả năng còn sót lại:
S(tj) = + WTP trung bình:
∑ ( )
- Kiểm tra độ tin cậy của giá trị WTP: nhằm xác định WTP có tuân
theo các lý thuyết và kỳ vọng hay không
Hồi quy WTP theo các biến số:
+ Thu thập các đặc điểm kinh tế xã hội
+ Các biến số về thái độ
+ Thái độ đối với kịch bản
+ Kiến thức về hàng hóa đang xem xét
+ Khoảng cách đến địa điểm cung cấp hàng hóa
Các bước kiểm tra:
+ Hồi quy WTP theo các biến – kiểm tra mức ý nghĩa của các hệ
số
+ Xem xét dấu của biến có phù hợp với lý thuyết hay không? + Kiểm tra lại phần trăm dự báo đúng của mô hình để xem xét mức độ phù hợp của mô hình
Phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính bội bằng mô hình kinh tế lượng
Mô hình Logistic
Mô hình hồi quy Logistic nghiên cứu sự phụ thuộc của một biế nhị phân với các biến độc lập khác Mục đích của mô hình này là sử dụng các nhân tố có ảnh hưởng đến biến độc lập để xác định khả năng những biến độc lập này sẽ có mối quan hệ với biến phụ thuộc như thế nào
Giả sử biến giả Y phụ thuộc vào chỉ số khả dụng Y*
Phương trình hồi quy:
Y* = β1 + β2X2i +… + βkXki + ui
Trang 32Trong đó:
yi là biến phụ thuộc
xi là các biến độc lập
β là hệ số hồi quy của mô hình
Vì Y(x) là biến nhị phân nên có thể được giải thích như sau:
{
Mô hình nghiên cứu ước lượng mức sẵn lòng chi trả
Ở phạm vi bài nghiên cứu này, mô hình Logistic sẽ được ứng dụng nhằm mục đích xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng trả cho việc cải thiện chất lượng nước mặt của ngư dân Các biến sử dụng trong mô hình là giới tính, diện tích bè, trình độ học vấn, tuổi, số thành viên trong gia đình và thu nhập trung bình hàng tháng của hộ gia đình…, với kỳ vọng các biến trên
sẽ có ảnh hưởng đến sự sẵn lòng trả và mức giá sẵn lòng trả của đáp viên
Y = ɑ1 + β1gioitinh + β2tuoi + β3hocvan + β4thunhap + β5dientich +
β6thanhvien + ε
Bảng 2.2 Sơ lược các biến ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả và dấu kỳ vọng ảnh hưởng trong mô hình Logistic
cả thành viên trong gia đình
Triệu đồng/tháng
người
+ Giải thích: Dấu “+” thể hiện mối quan hệ cùng chiều với mô hình Dấu “-“ thể hiện mối quan hệ ngược chiều với mô hình
ε là phần sai số của mô hình
Trang 33Giải thích ý nghĩa của các biến”
Biến phụ thuộc (Y): Biến Y nhận giá trị 1 nếu hộ sẵn lòng chi trả cho
dự án cải thiện chất lượng nước mặt và nhận giá trị 0 nếu hộ không sẵn lòng chi trả cho dự án cải thiện chất lượng nước mặt
Giới tính của đáp viên (gioitinh): là giới tính của người được phỏng vấn
Đây là biến giả và nhận giá trị là 1 nếu đáp viên là nam, hoặc nhận giá trị 0 nếu đáp viên là nữ Do tâm sinh lý khác nhau nên đối tượng thuộc phái nam và phái nữ sẽ có khuynh hướng suy nghĩ khác nhau về vấn đề ô nhiễm môi trường và mức sẵn lòng trả cho việc cải thiện chất lượng nước mặt Có thể phụ
nữ thích quan tâm đến bên ngoài, nên mức sẵn lòng trả của họ cao hơn Tuy nhiên, cũng có thể là đa số nam giới khá rộng rãi trong việc sử dụng tiền, còn phụ nữ phải chăm lo việc gia đình nên khả năng chi trả thấp hơn nam Do vậy vẫn chưa xác định được kỳ vọng của biến mang giá trị dương hay âm
Tuổi của đáp viên (tuoi): Tuổi tác cũng có thể ảnh hưởng đến suy nghĩ
của đáp viên trong việc sẵn lòng trả cho cải thiện chất lượng nước mặt Có thể những đáp viên lớn tuổi hơn, họ quan tâm đến các vấn đề về môi trường nước
vì họ nhận thấy nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nuôi trồng của họ Tuy nhiên, cũng có thể những người trẻ tuổi họ được tiếp cận và hiểu biết về vấn
đề ô nhiễm môi trường nước nên mức sẵn lòng trả của họ cao hơn người lớn tuổi Do vậy vẫn chưa xác định được kỳ vọng của biến mang giá trị dương hay
âm
Trình độ học vấn của đáp viên (hocvan): Trình độ học vấn càng cao thì
nhận thức, hiểu biết về vấn đề ô nhiễm môi trường nước càng cao, khi đó, sự sẵn lòng chi trả của họ sẽ cao hơn Do vậy biến “hocvan” được kỳ vọng mang giá trị dương
Thu nhập (thunhap): là thu nhập từ tất cả hoạt động của thành viên
trong gia đình, kể cả việc nuôi cá bè, đơn vị tính là triệu đồng Thu nhập gia đình thấp, đáp viên sẽ không quan tâm đến vấn đề ô nhiễm môi trường nước,
mà họ chỉ quan tâm đến việc làm sao có cuộc sống ổn định hơn, khi đó họ không sẵn lòng chi trả hoặc chi trả thấp hơn những gia đình có thu nhập cao.Ngược lại, những gia đình có thu nhập cao, họ sẽ quan tâm đến việc cải thiện chất lượng nước để nâng cao chất lượng và sản lượng cá nuôi trồng của họ.Do vậy biến “thunhap” được kỳ vọng mang giá trị dương
Diện tích nuôi trồng (dientich): Nếu diện tích nuôi trồng càng lớn,
trong điều kiện môi trường nước bị ô nhiễm, thiệt hại sẽ nhiều hơn Vì vậy, những hộ có diện tích nuôi trồng càng lớn, họ sẽ càng quan tâm hơn đến các vấn đề liên quan đến môi trường nước Do vậy biến “dientich” được kỳ vọng mang giá trị dương
Số thành viên trong gia đình (thanhvien): Những gia đình có số lượng
thành viên đông hơn sẽ có xu hướng thải lượng rác thải sinh hoạt ra nhiều hơn, điều đó làm ảnh hưởng ngày càng nhiều cho vấn đề ô nhiễm môi trường nước, nên họ sẽ có mức sẵn lòng trả cao hơn Còn các gia đình có số lượng thành viên ít, lượng rác thải sinh hoạt của họ không nhiều, và với suy nghĩ rằng “ai
Trang 34gây ra người đó chịu” nên mức sẵn lòng của họ sẽ thấp hơn Do vậy biến
“thanhvien” được kỳ vọng mang giá trị dương
Tóm lại, những nhân tố mà đề tài kỳ vọng sẽ có tác động đến mức sẵn lòng trả của hộ ngư dân làng bè thành phố Châu Đốc gồm có: giới tính, tuổi, trình độ học vấn, thu nhập, diện tích nuôi trồng và số thành viên trong gia đình
Trang 35CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU VỀ THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC – TỈNH AN GIANG
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
3.1.1 Vị trí địa lý
Hình 3.1: Bản đồ thành phố Châu Đốc – tỉnh An Giang Châu Đốc là thành phố trực thuộc Tỉnh An giang, sát biên giới Việt Nam với Vương quốc Campuchia, cách Thành phố Long Xuyên 54km theo Quốc lộ 91 Đông bắc tiếp giáp huyện An phú; Tây bắc giáp Campuchia; phía Đông giáp huyện Phú tân; phía Nam giáp huyện Châu Phú; phía Tây giáp huyện Tịnh Biên
Trang 363.1.2 Đơn vị hành chính
Thành phố Châu Đốc trực thuộc tỉnh An Giang được thành lập theo Nghị quyết 86/NQ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ, với 7 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 5 phương và 2 xã:
3.1.3 Đặc điểm khí hậu và điều kiện tự nhiên
Châu Đốc có vị trí địa lý khá đặc biệt nằm ở ngã ba sông, là nơi giao nhau của sông Hậu và sông Châu Đốc; nằm giữa 4 cửa khẩu kinh tế sầm uất là: cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên - huyện Tịnh Biên, cửa khẩu quốc gia Khánh Bình - huyện An Phú và cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương - thị xã Tân Châu Nhờ vào vị trí đặc biệt này, thành phố Châu Đốc được xem là cửa ngõ thương mại quan trọng của tỉnh An Giang và vùng ĐBSCL ,là nơi tập trung hàng hoá buôn bán với Campuchia qua cả hai đường thuỷ, bộ
Thành phố Châu Đốc thuộc vùng đồng bằng của tỉnh An Giang do phù
sa sông Hậu bồi đắp Địa hình thấp dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Ở trung tâm có Núi Sam đột khởi lên giữa đồng bằng tạo nên cảnh quan độc đáo Phía đông có sông Châu Đốc và sông Hậu chảy theo chiều Bắc - Nam Phía tây có kênh Vĩnh Tế chạy song song với biên giới Campuchia, nối liền với thị
xã Hà Tiên Địa hình chia cắt bởi các kinh rạch ngang dọc Với địa hình đa dạng, Châu Đốc có điều kiện phát triển về thương mại, dịch vụ, du lịch và nông nghiệp
Thành phố Châu Đốc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mang những đặc tính chung của khí hậu vùng ĐBSCL, nóng ẩm quanh năm, nhiệt độ bình quân hàng năm 250C – 290C, nhiệt độ cao nhất từ 360C – 380C, nhiệt độ thấp nhất hàng năm thường xuất hiện vào tháng 10, dưới 180C Khí hậu hàng năm chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 trùng với gió mùa Tây Nam; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau trùng với gió mùa Đông Bắc; lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1500mm Khí hậu, thời tiết thành phố Châu Đốc có nhiều điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, thích nghi với các loại cây trồng; đặc biệt là cây lúa và cây màu Thành phố ít chịu ảnh hưởng của gió bão nhưng chịu sự tác động mạnh của chế độ thuỷ văn gây nên hiện tượng ngập lụt, sạt lở đất bờ sông…
Về thổ nhưỡng, Châu Đốc có 6 nhóm đất chính, trong đó đất phù sa ngọt và phù sa phèn chiếm tới 72% diện tích tự nhiên Đất đai nơi đây rất màu
Trang 37mỡ, phù hợp canh tác nhiều loại cây lương thực, cây ăn trái, một số cây công nghiệp nhiệt đới và một phần diện tích có khả năng dành cho chăn nuôi
Về nguồn nước: trữ lượng nước nơi đây khá dồi dào, có thể khai thác để phục vụ sản xuất công nghiệp và sinh hoạt Hiện nay, Châu Đốc vẫn tiếp tục công trình cải tạo, nâng cấp và xây mới các nhà máy nước ở các khu dân cư tập trung và các cụm công nghiệp
Về diện tích rừng: rừng ở Châu Đốc đa phần là rừng đồi núi với diện tích 210ha, tập trung chủ yếu ở Núi Sam Trong đó, rừng trồng khoảng 99ha, còn lại là rừng tự nhiên thuộc rừng ẩm nhiệt đới, đa số là cây lá rộng với 154 loài cây quý hiếm, thuộc 54 họ
Về du lịch: thành phố Châu Đốc trung tâm du lịch của tỉnh An Giang, là thành phố đồng bằng đặc biệt có sông, có núi với phong cảnh tự nhiên hấp dẫn
và nhiều di tích lịch sử - văn hoá được xếp hạng cấp Quốc gia và cấp Tỉnh; địa điểm du lịch phong phú đa dạng được trải đều và liên hoàn trên toàn thành phố
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật được đầu tư ngày càng nhiều, kinh tế - xã hội ngày càng phát triển; thu nhập bình quân đầu người tăng, đời sống nâng cao, nhu cầu vui chơi giải trí phát sinh đã tạo điều kiện cho ngành du lịch phát triển
3.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
3.2.1 Tình hình phát triển kinh tế
Xác định phát triển kinh tế là trọng tâm trong nhiệm kỳ 2010-2015, Đảng bộ thành phố Châu Đốc đã lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành được 22/25 chỉ tiêu, kinh tế liên tục tăng trưởng cao, tốc độ tăng trưởng GDP tăng bình quân 16,18% so với chỉ tiêu là 16,04%, thu nhập bình quân đầu người năm 2013 đạt 41,05 triệu đồng/người, tăng trên 12,02 triệu đồng so với năm 2011
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng dịch vụ - thương mại - du lịch chiếm 71,35%, công nghiệp - xây dựng chiếm 19,38%, nông - lâm -thủy sản giảm còn 9,27%
Bảng 3.1: Cơ cấu GDP (%) theo từng khu vực của thành phố Châu Đốc
Nguồn:Phòng thống kê thành phố Châu Đốc
Với sự tăng lên của thương mại và dịch vụ, cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo xu hướng tăng ở khu vụ III, và giảm dần ở khu vực I và II, tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch cơ cấu còn chậm so với mục tiêu đã đề ra, sự chuyển dịch trên phần lớn do giá cả hàng nông sản giảm mạnh trong năm và giá hàng hóa của khu vực III biến động mạnh Khu vực I (nông – lâm – thủy sản) từ 10,10%
Trang 38năm 2012 đã giảm xuống còn 9,27% năm 2013; khu vực II (công nghiệp và xây dựng) từ 19,43% giảm xuống 19,38%; khu vực III (dịch vụ) tăng từ 70,47% (2012) lên 71,35% (năm 2013)
Thương mại – dịch vụ - du lịch
Thương mại – dịch vụ trong năm 2013 có tốc độ tăng trưởng là 17,5%, với những ngành có tỷ trọng cao như thương mại, nhà hàng – khách sạn, vận tải…Ngoài ra, với tiềm năng là một thành phố du lịch nên thương mại – dịch
vụ của thành phố là một ngành mũi nhọn trong phát triển kinh tế xã hội Lĩnh vực dịch vụ-du lịch-thương mại đã khẳng định thế mạnh, mạng lưới chợ, siêu thị, nhà hàng, khách sạn được củng cố và phát triển, diện mạo đô thị ngày càng khởi sắc, khu du lịch Núi Sam đạt chuẩn khu du lịch cấp tỉnh và định hướng đạt khu du lịch quốc gia
Các di tích, danh lam thắng cảnh của thành phố Châu Đốc:
- Chùa Tây An
- Lăng mộ Thoại Ngọc Hầu
- Miếu Bà chúa Xứ
- Kênh Vĩnh Tế
- Núi Sam
Công nghiệp và xây dựng
Đây không phải là một ngành trọng điểm của thành phố nhưng đóng góp một phần vào sự phát triển của thành phố Các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được thành phố quan tâm đầu tư và phát triển đã giải quyết một phần lao động nhàn rỗi ở nông thôn
Nông nghiệp
Đây là một ngành đã hình thành và phát triển từ rất lâu đời ở thành phố Các cánh đồng đã được cơ giới hóa trong công tác trước, trong và sau thu hoạch; do đó năng suất không ngừng tăng và chất lượng nông phẩm cũng tăng lên
Theo Niên giám thống kê An Giang (2014), đất nông nghiệp là loại đất chiếm diện tích nhiều nhất, với tổng diện tích lên đến 7.776,86ha, chiếm hơn 70% tổng diện tích đất của cả thành phố Châu Đốc Điều này đã góp phần không nhỏ đối với sự phát triển của ngành nông nghiệp tỉnh An Giang nói riêng, và của ĐBSCL nói chung
Trang 39Bảng 3.2: Diện tích các loại đất ở thành phố Châu Đốc – tỉnh An Giang
Nguồn: Niên giám thống kê An Giang, 2014
3.2.2 Văn hóa – xã hội
Cùng với sự phát triển kinh tế, lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng nâng cao; an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo được quan tâm Sự nghiệp giáo dục và đào tạo không ngừng phát triển, chất lượng dạy và học từng bước được nâng lên, tỷ lệ học sinh đậu tốt nghiệp THPT, cao đẳng, đại học mỗi năm đều tăng, cơ sở vật chất ngày càng hoàn thiện
3.3 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ LÀNG BÈ THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
3.3.1 Quá trình hình thành và phát triển
Không một ai biết làng bè Châu Đốc được hình thành từ khi nào, có ý kiến cho rằng làng bè được hình thành từ thời kháng chiến chống Mỹ, ý kiến khác lại cho rằng nó được hình thành từ khi đất nước được giải phóng Cho dù được hình thành như thế nào đi chăng nữa, nhưng chắc chắn một điều rằng, làng bè Châu Đốc không chỉ là nghề nuôi cá truyền thống nuôi sống bao thế
hệ ở làng bè, mà đây đã là một “thương hiệu”, một thắng cảnh độc đáo thu hút
du khách đến với miền tây và đời sống làng bè cũng trở thành nét độc đáo trong sinh hoạt, văn hóa của người dân Nam Bộ
Nghề nuôi cá bè ở ĐBSCL có từ những năm 60 của thế kỷ XX, do những người Việt kiều hồi hương từ Campuchia về áp dụng tại vùng Châu Đốc và Tân Châu Ban đầu, ngư dân nuôi cá trong các bè làm từ tre, đồng thời không có mái che, số lượng rất khiêm tốn và chỉ bán làm khô cá tra phồng hoặc cá chợ để ăn
Nghề nuôi cá bè bắt đầu phát triển mạnh vào những năm đầu của thập niên 70, cá tra và basa lúc bấy giờ chủ yếu được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu một phần sang các nước Hồng Kông, Đài Loan (Trung Quốc) và Singapore Sau năm 1975 số lượng bè bò sụt giảm mạnh do công việc làm ăn của người dân gặp nhiều khó khăn Đến năm 1980, khi tình hình chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc, số lượng bè cá nuôi tăng dần lên, nghề nuôi cá bè bắt đầu phát triển mạnh
Trang 40Những năm đầu của thập niên 90, nhất là từ năm 1994, khi Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam thì nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thủy sản không ngừng tăng cao (nhất là cá tra và cá basa) Thị trường xuất khẩu được mở rộng sang Hoa Kỳ và các nước châu Âu, nhiều nhà máy chế biến đông lạnh thủy sản ra đời tại An Giang để kịp đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cá tra và cá basa philê
Để tiến theo kịp với nhu cầu chế biến, nghề nuôi thủy sản đã chuyển sang hình thức nuôi thâm canh nhằm tăng nhanh sản lượng và tăng vòng quay vốn sản xuất Theo Phạm Văn Khánh (2003), từ cuối thập niên 90 đến nay, tình hình nuôi cá bè không ngừng biến động do diễn biến của thị trường và giá cả Dù vậy, với sự nỗ lực và cố gắng từ nhiều phía, nghề nuôi cá bè đang có chiều hướng phát triển ổn định
Trong các loại cá được nuôi ở bè, thì cá basa là loại cá chiếm số lượng nuôi trồng cao nhất Đây cũng là loại cá nước ngọt có sản lượng xuất khẩu lớn nhất hiện nay Cá basa bắt đầu phát triển mạnh từ những năm 90 của thế kỷ trước, khi nguồn cá giống được lai tạo thành công, làng bè từ chỗ vài trăm chiếc tăng lên hàng nghìn chiếc Con cá basa bấy giờ không chỉ bán ở chợ mà bắt đầu được chế biến xuất khẩu, nghề nuôi cá bè càng có dịp phất lên gấp bội Vậy là nghề nuôi cá ba sa bắt đầu trở thành nghề nóng nhất vùng đất An Giang
Từ ngã ba sông Châu Đốc, những chiếc bè nối nhau lên tận biên giới chia, chạy xuống Long Xuyên Trong vòng khoảng mười năm từ 1990 đến
Cam-pu-2000, chỉ riêng khu vực làng bè ngã ba sông Hậu đã có hơn bốn nghìn chiếc Những vụ cá basa đầu tiên trúng đậm, dân làng bè đem cá bán ở chợ Châu Đốc được giá Nhà nhà phất lên, con cá basa từ dạo ấy trở thành nguồn nuôi sống dân làng bè Những thế hệ con em làng bè bắt đầu đến trường, làng bè trở
Tuy nhiên, việc nuôi cá basa không phải là dễ dàng, vì chỉ những người sống quen với sông nước và biết đặc tính của loại cá này mới có thể phát triển tốt Do nguồn lợi từ cá basa mang lại, nhiều người dân ở trên bờ bắt đầu đầu
tư ào ạt vào việc nuôi cá Việc nuôi trồng không theo tổ chức, cộng thêm việc không có kiến thức về nuôi trồng, điều này đã dẫn đến ô nhiễm nguồn nước (do dư thừa thức ăn, chất thải của cá…), cá chết do dịch bệnh, cá basa không
đủ xuất khẩu…; dần dần, số lượng bè cá ngày càng ít đi