Sự quan trọng môi trường được thể hiện rất rõ, nhưng hàng hóa môi trường lại không được định giá trên thị trường và theo các nhà nghiên cứu thì nhận thức con người đó là một lý do, một b
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGÔ KIM TRỌNG
ĐỊNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH TẠI
VƯỜN QUỐC GIA U MINH HẠ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGÔ KIM TRỌNG
ĐỊNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH TẠI
VƯỜN QUỐC GIA U MINH HẠ
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Trước hết em xin vô cùng biết ơn gia đình của em, cám ơn cha mẹ đã tạo điều kiện cho em ăn học và có thể bước chân vào giảng đường đại học, luôn bên cạnh ủng hộ, lo lắng và động viên em trên con đường học vấn
Qua 3.5 năm học tập tại trường Đại học Cần Thơ em xin chân thành biết ơn quý Thầy, Cô Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh nói riêng và của trường Đại học Cần Thơ nói chung đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý giá cho em trong thời gian học tập và thực hiện đề tài Đặc biệt em chân thành cảm ơn thầy Phạm Quốc Hùng đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Chân thành cảm ơn các cán bộ Ban quản lý Vườn quốc gia U Minh Hạ đã nhiệt tình giúp đỡ và hỗ trợ tài liệu nghiên cứu cho em Xin chân thành cảm ơn các đáp viên được phỏng vấn đã tạo điều kiện và hỗ trợ nhiệt tình cho em trong quá trình thu thập số liệu thực tế, giúp em hoàn thành đề tài
Do kiến thức còn nhiều hạn chế nên luận văn sẽ không tránh khỏi những sai sót Vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy/Cô và các Anh/chị cùng các bạn để luận văn của em hoàn thiện hơn
Cuối cùng em xin chúc Quý Thầy Cô Khoa Kinh tê – Quản trị kinh doanh, các thầy cô trường Đại học Cần Thơ, thầy Phạm Quốc Hùng, Ban quản lý Vườn quốc gia U Minh Hạ thật nhiều sức khỏe và thành công
Cần Thơ, ngày tháng … năm 2014
Người thực hiện
Ngô Kim Trọng
Trang 4TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập
và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực và đề tài không trùng với bất kì đề tài nghiên cứu khoa học nào
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
Người thực hiện
Ngô Kim Trọng
Trang 5MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1.1 Khái niệm 3
2.1.2 Giá trị kinh tế của chất lượng môi trường: Tổng giá trị kinh tế 3
2.1.3 Giá trị kinh tế của vườn quốc gia 8
2.2 VẤN ĐỀ VỀ MÔI TRƯỜNG 8
2.2.1Sự cần thiết của định giá giá trị hàng hóa chất lượng môi trường 8
2.2.2 Phương pháp định giá môi trường 9
2.3 PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH 12
2.3.1 Khái niệm 12
2.3.2 Các cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch 13
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 16
2.4.2 Các bước thực hiện phương pháp chi phí du lịch 19
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ VƯỜN QUỐC GIA U MINH HẠ 23
3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA VQG U MINH HẠ 23
3.1.1 Vị trí địa lý 23
3.1.2 Đăc điểm thổ nhưỡng 24
Trang 63.1.3 Khí hậu thủy văn 25
3.1.4 Hệ động thực vật 26
3.1.5 Đặc điểm về Kinh tế - Xã hội 26
3.2 THỰC TRẠNG VỀ DU LỊCH CỦA VQG U MINH HẠ 27
CHƯƠNG IV: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH ĐỂ ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ MÔI TRƯỜNG CỦA VQG U MINH HẠ 30
4.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC ĐẶC ĐIỂM NGHIÊN CỨU MẪU 30
4.1.1 Thông tin về khách du lịch 30
4.1.2 Về các hoạt động của du khách 32
4.1.3 Mức sẵn lòng chi trả cho việc duy trì, cải tạo và bảo vệ cảnh quan 35
4.2 XÁC ĐỊNH GÍA TRỊ CẢNH QUAN VÀ THẶNG DƯ TIÊU DÙNG CỦA VQG U MINH HẠ 36
4.2.1 Phân vùng xuất phát 36
4.2.2 Tỷ lệ tham quan của vùng xuất phát (VR) 38
4.2.3 Ước lượng chi phí du lịch của một chiến đi đến U Minh Hạ 39
4.2.4 Phân tích hồi quy để tìm mối liên hệ 43
4.2.5 Xây dựng hàm cầu 44
4.2.6 Thặng dư tiêu dùng và giá trị cảnh quan của VQG U Minh Hạ 44
4.3 KẾT QUẢ THU ĐƯỢC 46
4.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG NGUỒN TÀI NGUYÊN HỢP LÝ 47
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
5.1 KẾT LUẬN 48
5.2 KIẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Lượng khách du lịch đến VQG U Minh Hạ qua các năm (2008 –
2014) 28
Bảng 4.1 Đặc điểm khách du lịch VQG U Minh Hạ 2014 30
Bảng 4.2 Đặc điểm mức thu nhập của khách du lịch VQG U Minh Hạ 2014 31
Bảng 4.3 Đặc điểm trình độ học vấn của khách du lịch VQG U Minh Hạ 2014 31
Bảng 4.4: Số khách trong mỗi nhóm tại VQG U Minh Hạ 2014 33
Bảng 4.5: Các mục đích đến VQG U Minh Hạ của du khách 2014 33
Bảng 4.6: Các hoạt động yêu thích của du khách khi đến VQG U Minh Hạ 2014 34
Bảng 4.7: Đánh giá chất lượng môi trường VQG U Minh Hạ của du khách 2014 34 Bảng 4.8: Lý do không hài lòng của khách du lịch khi đến VQG U Minh Hạ 2014 35
Bảng 4.9: Mức sẵn lòng chi trả cho việc duy trì, cải tạo và bảo vệ cảnh quan của du khách VQG U Minh Hạ 36
Bảng 4.10: Phân vùng xuất phát của du khách tại VQG U Minh Hạ 2014 37
Bảng 4.11: Số lượt thăm quan của mỗi vùng trong 1 năm VQG U Minh Hạ 38
Bảng 4.12:Tỉ lệ thăm quan/1000 dân/năm (VR) của mỗi vùng VQG U Minh Hạ 2014 39
Bảng 4.13: Tổng hợp chi phí ăn uống nghỉ ngơi của du khách VQG U Minh Hạ theo vùng năm 2014 40
Bảng 4.14: Tổng hợp chi phí đi lại của du khách VQG U Minh Hạ 2014 41
Bảng 4.15: Tổng hợp chi phí cơ hội của du khách VQG U Minh Hạ 2014 42
Bảng 4.16: Tổng hợp các chi phí của du khách ở từng vùng năm 2014 42
Bảng 4.17: Giá trị VRi và TCi ở các vùng của du khách VQG U Minh Hạ 2014 43
Bảng 4.18: Tổng giá trị thặng dư của du khách từ các vùng đến VQG U Minh Hạ 2014 45
Trang 8Bảng 4.19 Tổng giá trị cảnh quan của VQG U Minh Hạ 2014 46
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1: Khái niệm TEV 4
Hình 2.2: Sơ đồ lượng giá tổng giá trị kinh tế và xu hướng hiện nay trong nghiên cứu lượng giá hệ sinh thái trong rừng 7
Hình 2.3: Đồ thị hàm cầu giá trị môi trường 10
Hình 2.4 : Phân vùng các khu vực lân cận vùng du lịch 15
Hình 2.5: Đồ thị hàm cầu về giải trí trong TCM 21
Hình 3.1 : Bản đồ thể hiện vị trí địa lý của VQG U Minh Hạ 24
Hình 3.2: Biểu đồ lượng khách du lịch tới vườn quốc gia U Minh Hạ qua các năm 2008-2013 28
Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện đặc điểm trình độ học vấn của khách du lịch VQG U Minh Hạ 2014 32
Hình 4.2: Đồ thị hàm cầu giải trí của vườn quốc gia U Minh Hạ 44
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BV : Bequest Value – giá trị tuỳ thuộc hay giá trị để lại
DUV : Direct Use Value – giá trị sử dụng trực tiếp
EXV : Existence Value – giá trị tồn tại
ITCM : Individual Travel Cost Method – cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch theo cá nhân
IUV : Indirect Use Value – giá trị sử dụng gián tiếp
NUV : Non Use Value – giá trị không sử dụng
OV : Option Value – giá trị tuỳ chọn
TEV : Total Economic Value - tổng giá trị kinh tế
TCM : Travel Cost Method – phương pháp chi phí du lịch
UV : Use Value – giá trị sử dụng
VQG : Vườn quốc gia
WTP : Willingness to pay - mức sẵn lòng chi trả
ZTCM: Zonal Travel Cost Method – cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch theo vùng
Trang 11CHƯƠNG I GIỚI THIỆU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay môi trường là vấn đề đang được quan tâm trên toàn thế giới, việc nhận thức về khái niệm, ý nghĩa, chức năng của môi trường cần được phổ biến sâu và rộng hơn Lý do nhận thức là nhằm bảo vệ môi trường hay bảo vệ chính cuộc sống của con người, từ những thay đổi trong nhiều thế kỉ có thể thấy khí hậu đang ngày càng khắc nghiệt, sự suy thoái của đất và nước, nguồn tài nguyên rừng đang cạn kiệt, ô nhiễm không khí đang tác động đến con người theo xu hướng xấu
Chức năng cơ bản của môi trường chính là một cách thể hiện nhanh nhất về môi trường có tác động đến sự sống và sản xuất của con người: Môi trường là không gian sống của con người và thế giới sinh vật, là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người, chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong quá trình sống, có chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người, bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài Các chức năng đã chỉ ra sự quan trọng của môi trường và cần được bảo vệ tốt nhất
Sự quan trọng môi trường được thể hiện rất rõ, nhưng hàng hóa môi trường lại không được định giá trên thị trường và theo các nhà nghiên cứu thì nhận thức con người đó là một lý do, một bộ phận dân số chưa được phổ biến hoặc hiểu sai
về sự tồn tại của môi trường và tài nguyên họ cho rằng môi trường và tài nguyên thiên nhiên là một dạng vô tận, có thể phân hủy được tất cả các chất thải của con người trong thời gian ngắn dẫn đến việc khai thác quá mức gây cạn kiệt nguồn tài nguyên, thải ra nhiều chất độc mà môi trường không có khả năng tự phân hủy ảnh hưởng đến chính con người với nhiều nguồn tài nguyên Vì vậy quản lý nguồn tài nguyên, môi trường rất khó khăn, việc ra đời của đánh giá tài nguyên và môi trường nhằm giải quyết những vấn đề cần thiết trong quản lý và hoạt động khai thác
Việt Nam một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa Nên rừng là một trong những tài nguyên thiên nhiên quan trọng của nước ta, chúng mang tổng giá trị kinh tế cao bao gồm giá trị sử dụng và phi sử dụng Đặc biệt, rừng còn cung cấp cho con người những giá trị cảnh quan cực kì phong phú phục vụ cho du lịch sinh thái đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí Hiện nay du lịch sinh thái đang ngày càng
Trang 12phá rừng lấy gỗ và khai thác những lâm sản khác, chỉ khai thác về khía cạnh môi trường cảnh quan nhưng lại đem lại giá trị kinh tế cao và đầy tiềm năng Về nguyên tắc, bất kỳ khu rừng nào có thể tới được bằng đường bộ hay đường sông đều có giá trị du lịch, nên nghiên cứu đánh giá cảnh quan du lịch là điều cần thiết tại Việt Nam nơi có nhiều rừng đặc dụng Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ hơn giá trị của rừng trong khía cạnh cảnh quan và môi trường để từ đó xây dựng cơ chế du lịch quản lý rừng tốt hơn
Vườn quốc gia U Minh Hạ là kiểu rừng đặc thù quý hiếm trên thế giới, nơi đây có những loài động thực vật nằm trong danh sách đỏ cần bảo vệ Được tiến hành khai thác du lịch vào năm 2008 và gần đây vườn quốc gia U minh Hạ trở thành địa điểm du lịch lí tưởng được nhiều người biết đến Vì vậy, việc xác định giá trị thực của vườn là điều cần thiết để khai thác hợp lý tiềm năng du lịch kết hợp với mục tiêu bảo vệ môi trường đó chính là lý do tôi chọn đề tài này:
“ Định giá chất lượng môi trường bằng phương pháp chi phí du lịch tại Vườn quốc gia U Minh Hạ-Cà Mau”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu nhằm xác định rõ giá trị chất lượng môi trường mà vườn quốc gia U Minh Hạ mang lại cho cộng đồng Các lợi ích từ môi trường tài nguyên rừng mang lại cho du lịch và để làm căn cứ cho quy hoạch phát triển
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Xác định giá trị môi trường của Vườn quốc gia U Minh Hạ
Xác đinh lợi ích cảnh quan mang giá trị kinh tế cao
Đánh giá cảm nhận của du khách về cảnh quan, chất lượng môi trường
và chất lượng dịch vụ tại địa điểm giải trí
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Về không gian nghiên cứu: VQG U Minh Hạ
Thời gian nghiên cứu: Điều tra, phỏng vấn vào tháng 9/2014
Trang 13CHƯƠNG II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái niệm
Khái niệm môi trường
Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn
tại, phát triển của con người và thiên nhiên.”
Chất lượng: Tiêu chuẩn ISO 8402-1986 định nghĩa chất lượng là "toàn
bộ các tính năng và đặc điểm của một sản phẩm hoặc dịch vụ mà mang khả năng của mình để đáp ứng nhu cầu đã nêu hay ngụ ý."
Khái niệm về chất lượng môi trường:
“Chất lượng môi trường là một tập hợp các tính chất và đặc điểm của môi trường, có tác động tổng quát hoặc cục bộ đến con người và các sinh vật khác Nó là một thước đo về tình trạng của môi trường liên quan đến các nhu cầu của một hoặc nhiều loài sinh vật và với bất kỳ nhu cầu hay mục đích của con người.” (Johnson, D.L,et.at,1997)
“Chất lượng môi trường là một thuật ngữ chung mà có thể tham khảo các đặc tính khác nhau có liên quan đến môi trường tự nhiên cũng như môi trường nhân tạo, chẳng hạn không khí và nước tinh khiết hay ô nhiễm, tiếng
ồn và những hậu quả tiềm ẩn đặc biệt có thể có đối với sức khỏe thể chất và tinh thần do hoạt động của con người” (European Environment Agency,
2012 )
2.1.2 Giá trị kinh tế của chất lượng môi trường: Tổng giá trị kinh tế
Trong kinh tế thị trường, có rất nhiều loại hàng hoá được trao đổi buôn bán trên thị trường Chúng có một mức giá nhất định và việc xác định giá trị của chúng là đơn giản Tuy nhiên khi xem xét hàng hoá công cộng (những hàng hoá không xác định được giá trên thị trường và thuộc sở hữu chung) thì việc xác định giá trị của chúng dưới dạng tiền tệ sẽ gặp nhiều khó khăn Một trong số đó phải kể đến hàng hoá môi trường Đây là một dạng hàng hoá mà người ta mới đưa vào nghiên cứu trong kinh tế học môi trường Và
để xem xét được giá trị của loại hàng hoá này một cách đầy đủ thì chúng ta phải nhìn nhận trên góc độ tổng giá trị kinh tế (TEV)
Vậy tổng giá trị kinh tế (TEV): là tổng giá trị quy thành tiền của các
Trang 14Nguồn: bài giảng môn Đánh giá tài nguyên môi trường (CTU)
Hình 2.1: Khái niệm TEV
Trong đó: UV: Giá trị sử dụng
NUV: Giá trị phi sử dụng DUV: Giá trị sử dụng trực tiếp IDUV: Giá trị sử dụng gián tiếp OV: Giá trị lựa chọn
EV: Giá trị tồn tại BV: Giá trị để lại
Giá trị sử dụng (UV): được hiểu là những giá trị được con người sử dụng vào mục đích của mình và vì lợi ích của con người Trong đó có thể được sử dụng dưới hai hình thức
Giá trị sử dụng trực tiếp (DUV): Đây là những giá trị mà trong thực
tế nó liên quan đến số lượng đầu ra của sản phẩm hàng hoá môi trường mà con người có thể xác lập được chúng trên thị trường thông qua giá cả Thông thường giá được xác lập là giá thực Nghĩa là nếu xác định được khối lượng hàng hoá theo giá thị trường rồi trừ đi những khoản chi phí thì chúng
ta sẽ xác lập được giá trị của nó theo giá trị thực
Mô hình hoá: f(DUV) = f(P,Q,C) Với: P là giá cả hàng hoá
TEV
Trang 15Q là sản lượng hàng hoá
C là các khoản chi phí để có được lượng hàng hoá Đối với một sản phẩm i nào đó có giá trị hàng hóa môi trường thì giá trị được xác lập bằng: Pi x Qi - Ci Ví dụ: Khi chúng ta tính tổng giá trị kinh
tế của 1 khu rừng ngập mặn thì tôm, cá, cua, mật ong, gỗ củi…là i (hàng hóa thông thường đem mua bán trao đổi trên thị trường) trong đó có Pi là giá của sản phẩm i, Qi là số lượng của sản phẩm i đã thu hoạch, Ci là chi phí để
có được khối lượng Qi
Giá trị sử dụng gián tiếp (IDUV): Đây là những giá trị có liên quan đến chức năng của môi trường trong việc hậu thuẫn cho hoạt động kinh tế, hoạt động sống của con người Nó giúp con người phòng tránh được những thảm hoạ của thiên nhiên (lũ lụt, sóng thần, biến đổi khí hậu…) Ví dụ: Khi xem xét 1 hệ thống khu rừng ngập mặn ven biển thì giá trị sử dụng gián tiếp
là khả năng ngăn cản bão sóng biển để bảo vệ hoạt động sản xuất và đời sống của con người phía trong khu rừng ngập mặn
Trong mô hình xem xét về giá trị gián tiếp, liên quan đến chức năng của hệ sinh thái đánh giá về giá trị của nó, người ta có thể căn cứ vào thay đổi trong sản xuất mà trong đó được xác lập thông qua công thức sau:
∆p = (Qit/N – Qit) x pt
∆p: số lượng (thay đổi) trong sản xuất sản phẩm
Qit/N: khối lượng hàng hóa i được xem xét trong 1 thời gian t
Qit: khối lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà đã có được dựa trên 1 năm cơ sở
t nào đó
Giá trị lựa chọn (OV): Là những giá trị phụ thuộc vào tính chất môi trường hoặc đặc thù của hệ sinh thái mà người làm đánh giá cần phải xem xét, nghiên cứu Nó bao gồm những lợi ích từ các nguồn tài nguyên phục vụ cho nhu cầu sử dụng hiện tại của con người và nó thể hiện sự khác biệt giữa các nguồn tài nguyên đó Ví dụ: Khi chúng ta xem xét 1 khu rừng ngập mặn ngoài những giá trị trực tiếp và gián tiếp mà chúng ta đã có thì trong hệ thống sinh thái rừng ngập mặn đó còn có 1 loài cho giá trị cây thuốc dựa vào Tananh hay chất tiết ra của nó Đó chính là giá trị lựa chọn riêng của hệ sinh thái mang lại mà ở hệ sinh thái khác không có Xác định giá trị này phụ
Trang 16thuộc vào tính chất đặc thù của hệ sinh thái mà con người không quyết định được và phụ thuộc vào sự ưa thích của thị trường
Giá trị phi sử dụng (NUV): Là những giá trị thường nằm trong tiềm thức của người đánh giá về nó nhưng lại không có chỗ đứng trên thị trường (không có giá thị trường) Đây chính là vấn đề phức tạp nhất trong kinh tế học môi trường mà người ta cho rằng cần phải có những cách đánh giá tích cực để phục vụ cho việc hoạch định chính sách Hiện nay các nhà kinh tế học môi trường đã đưa ra quan điểm cho rằng có hai giá trị cơ bản thuộc nhóm này Đó là: Giá trị tồn tại (EV), giá trị tuỳ thuộc (BV)
Giá trị tồn tại (EV): Đây là giá trị nằm trong bản thân của sự vật mà con người cho rằng nó không thể mất đi Nó phải được duy trì vì ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội của nó Ví dụ: Khi chúng ta đánh giá dự án đầu tư khai thác 1 khu rừng gỗ ôn đới của Canada Trên quan điểm phân tích tài chính thì giá trị khu rừng này cho phép nhà đầu tư khai thác gỗ (NPV>0) nhưng trên quan điểm phân tích kinh tế các nhà kinh tế học môi trường đã tính toán là không thể cho nhà đầu tư khai thác khu rừng này (NPV<0) Nguyên nhân người ta cho rằng nếu khai thác khu rừng đó tính toán cho thấy rằng sẽ mất đi nơi cư trú của loài cú trắng vì nó có nhiệm vụ cân đối đàn chuột trong rừng Như vậy trong trường hợp khu rừng đó có giá trị tồn tại của con cú được đánh giá cao vì nó được tính trên cơ sở nhiệm vụ cân đối đàn chuột trong rừng
Giá trị để lại (BV): Đây là giá trị phụ thuộc vào khả năng đáp ứng dịch vụ sinh thái hoặc dịch vụ môi trường cho thế hệ tương lai và nằm trong tầm nhận thức của con người về vấn đề đó Ví dụ khi đánh giá hệ thống cây xanh trên đường phố Có nhiều quan điểm nhìn nhận đối với cây cổ thụ Thứ nhất: Đối với các nhà sản xuất đồ gỗ thì họ sẽ đánh giá là số cây
đó cho bao nhiêu sản lượng gỗ
Thứ hai: Đối với các nhà sinh thái thì họ sẽ cho đây là loài cây quý hiếm, cần được bảo vệ hoặc sử dụng một cách hợp lý
Thứ ba: Đối với các nhà đô thị thì cho đó là cảnh quan
Thứ tư: Đối với các nhà lịch sử thì các cây này sẽ phản ánh một mốc lịch sử nào đó
Trang 17Thông qua hai giá trị vừa nêu thuộc nhóm giá trị phi sử dụng cho phép chúng ta khẳng định một điều: Trong thực tế những giá trị phi sử dụng của hàng hoá chất lượng môi trường luôn tồn tại nhưng vấn đề nhận dạng, đánh giá, quy đổi chúng ra giá trị tiền tệ là thách thức lớn nhất đối với các nhà kinh tế học môi trường Do đó lựa chọn được phương pháp để đánh giá những giá trị này là không hề đơn giản
Để cụ thể hơn, đối với tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái rừng ngập mặn, đề tài xin nêu ra cách xác định các giá trị của tác giả Adger (1996) Các giá trị do ông xác định được thể hiện ở bảng dưới đây:
Hình 2.2: Sơ đồ lượng giá tổng giá trị kinh tế và xu hướng hiện nay trong
nghiên cứu lượng giá hệ sinh thái trong rừng
Nguồn: Adger (1996)
Trang 182.1.3 Giá trị kinh tế của vườn quốc gia
A Giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng là những lợi ích thu được từ việc sử dụng các nguồn tài nguyên Có thể hiểu giá trị sử dụng là giá trị các cá nhân gắn với việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các dịch vụ do nguồn tài nguyên cung cấp Giá trị sử dụng bao gồm: giá trị sử dụng trực tiếp, giá trị sử dụng gián
tiếp và giá trị lựa chọn
B Giá trị phi sử dụng
Giá trị phi sử dụng là thành phần giá trị của VQG thu được không phải
do việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các hàng hóa dịch vụ do VQG cung cấp Nó phản ánh giá trị từ nhận thức của con người về sự tồn tại của các giống loài hoặc của cả hệ sinh thái Giá trị về dịch vụ đa dạng sinh học và giá trị về ý nghĩa xã hội, văn hóa là các giá trị phi sử dụng Giá trị
phi sử dụng bao gồm: giá trị lưu truyền và giá trị tồn tại
2.2 VẤN ĐỀ VỀ MÔI TRƯỜNG
2.2.1Sự cần thiết của định giá giá trị hàng hóa chất lượng môi trường
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường khi mà tất cả các loại hàng hóa được định một mức giá nhất định để thuận tiện cho việc trao đổi mua bán, thì hàng hóa chất lượng môi trường cũng ngày càng khẳng định vai trò của nó trong hệ thống kinh tế Và việc định giá nó là rất cần thiết bởi
các lý do sau:
Chất lượng môi trường trước hết nó là một loại hàng hóa bởi nó có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng Hàng hóa chất lượng môi trường ngoài thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu để duy trì sự sống của con người đó là: ăn, mặc, ở Mà còn thỏa mãn vô số những yêu cầu khác của con người thong qua việc cung cấp các điều kiện sống, cung cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho các hoạt động sản xuất và sinh hoạt (giá trị) Đồng thời phục hồi chất lượng môi trường do hoạt động sản xuất của con người gây ra (gía trị sử dụng) Bởi vì là hàng hóa nên chất lượng môi trường cần
được đánh giá để tránh thất bại thị trường
Những năm trước đó con người cho rằng tài nguyên là vô tận vì thế họ khai thác không tính đến những hậu quả trong tương lai Việc định giá môi trường là một cách nhắc nhở con người bảo vệ môi trường, và cho thấy
được đọ khan hiếm dần của tài nguyên môi trường
Khi định giá được chất lượng môi trường cũng như những hoạt động gây thiệt hại cho chất lượng môi trường sẻ góp phần tạo công bằng cho việc
Trang 19ra quyết định Định giá góp phần hiện thực quan điểm “người gây ô nhiễm
phải trả tiền” và “trả bao nhiêu tiền”
Khi môi trường được định giá tức là các giá trị của nó bao gồm giá trị
sử dụng và giá trị phi sử dụng sẽ được định giá từ đó tính thuyết phục được nâng cao hơn trong việc giáo dục nâng cao nhận thức người dân cũng như
chỉ dẫn quá trình thực hiện về mặt kinh tế
Nếu tiến hành định giá một cách cẩn thận nguồn tài nguyên sẻ tạo ra một chính sách an toàn và hợp lý, qua đó sẽ hiểu được và sử dụng môi
trường một cách hợp lý hơn, tránh thất thoát các nguồn tài nguyên
Như vậy việc định giá hàng hóa môi trường là một việc cần thiết nhằm mục đích đưa ra nhũng giãi pháp tối ưu hướng đến một sự phát triển bền
vững
2.2.2 Phương pháp định giá môi trường
Trên cơ sở tổng giá trị kinh tế của vườn quốc gia, chúng ta sẽ có được các phương pháp đánh giá cụ thể ứng với từng giá trị đó Cụ thể có thể dựa trên quan điểm kinh tế và mô hình để chia các phương pháp đó thành 2
nhóm sau:
Phương pháp đánh giá không sử dụng đường cầu
Đây là phương pháp dựa trên cơ sở các cách tiếp cận không đòi hỏi phải sử dụng hàm cầu Nghĩa là việc xác định tổng lợi ích không cần phải
xem xét miền giới hạn cho bởi hàm cầu Về cơ bản có các phương pháp sau:
nên kết quả không có tính thuyết phục
Phương pháp chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội là chi phí người ta chấp nhận để bỏ tiền ra nhằm đạt được 1 mục đích nào đó Dạng chi phí này rất phù hợp trong bối cảnh kinh
tế thị trường khi chúng ta đứng trước 1 sự lựa chọn có nhiều lợi ích hoặc dịch vụ mà chúng ta bỏ tiền ra để cuối cùng chấp nhận 1 phương án nào đó
Trang 20Số tiền bỏ ra đó chính là chi phí cơ hội.Đây là phương pháp dễ tiến hành, độ tin cậy cao song vẫn có thể gặp khó khăn trong quá trình điều tra
Phương pháp chi phí thay thế
Đây là phương pháp không sử dụng đường cầu nhưng người ta dựa trên 1 vật thay thế khác để khẳng định giá trị và giá trị này phản ánh chất lượng môi trường mang lại Vì vậy người ta coi kết quả lượng giá được tương ứng với giá trị của hàng hoá môi trường
Phương pháp dựa trên nguyên lý khôi phục lại chất lượng môi trường vốn có vì vậy nó có tính thuyết phục cao và việc xác lập không khó khăn Tuy nhiên phương pháp này chỉ áp dụng ở những nơi phải có nhu cầu khắc phục và làm sạch môi trường và người thực hiện phương pháp này phải có chuyên môn sâu và toàn diện
Các phương pháp sử dụng đường cầu
Là các phương pháp được sử dụng trên cơ sở xây dựng đường cầu để đánh giá giá trị hàng hoá môi trường Khi đánh giá chất lượng hàng hoá môi trường ở một khu vực nào đó người ta phải xác lập cho được hàm cầu mà dựa trên nguyên lý kinh tế trong mối quan hệ giữa chất lượng môi trường và
giá cả Đây là những phương pháp dùng để đo lường phúc lợi
Hình 2.3: Đồ thị hàm cầu giá trị môi trường
Nguồn: bài giảng môn Đánh giá tài nguyên môi trường (CTU)
Các phương pháp sử dụng đường cầu bao gồm:
Phương pháp chi phí du lịch (TCM: travel cost method)
Trang 21Phương pháp đánh giá theo hưởng thụ (HPM: Hedomic pricing method) đánh giá các dịch vụ môi trường mà sự hiện diện của nó ảnh hưởng trực tiếp đến một số giá thị trường nào đó, thường sử dụng phương pháp này trong việc đánh giá tác động của môi trường lên thị trường bất động sản.Ví
dụ, ở các nước phát triển trên thế giới, người ta ước tính được tỷ lệ tăng giá
nhà ở so với diện tích nước lộ thiên ở gần đó
Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM: Contigent valuation method) Chọn ngẫu nhiên một số người để hỏi về đánh giá của họ đối với một hàng hóa hay một dịch vụ môi trường nào đó, các nhà phân tích ước lượng WTP của những người được hỏi thông qua các câu trả lời, ngoại suy
số lượng WTP đối với toàn bộ dân cư Ví dụ: Những người phỏng vấn được yêu cầu chọn trên một chuỗi liên tục giữa mức thấp của chất lượng nước tương ứng với mức thuế thấp, cho đến mức chất lượng nước cao tương ứng với mức thuế cao Các sự kết hợp được xếp thứ tự từ ưa thích nhất đến ghét nhất Các xếp loại sau đó được tổng hợp thống kê và sử dụng để ước lượng
WTP
Trong Kinh tế môi trường: Hướng dẫn thực hành lại chia ra thành 5
cách tiếp cận cơ bản với hàng hoá chất lượng môi trường, đó là:
Đánh giá theo giá thị trường (market price – based) Được ứng dụng
khi dịch vụ hàng hoá môi trường cần thẩm định có thể chuyển được sang thị trường của hàng hoá thông thường, chẳng hạn các nguồn tài nguyên có thể khai thác được như gỗ, khoáng sản và những động vật quí hiếm Bao gồm: phương pháp tiếp cận phần còn lại – đánh giá giá trị tô kinh tế và định giá
mờ
Định giá bằng thị trường ẩn hoặc thị trường thay thế (surrogate market
– based): Được sử dụng khi hàng hóa và dịch vụ môi trường không có trên
thị trường thông thường Ở đây giá trị của nó có thể suy ra từ việc quan sát tác động của nó trong thị trường liên quan Những kỹ thuật hay dùng là phương pháp đánh giá theo hưởng thụ (HPM), phương pháp chi phí du lịch
(TCM) và tiếp cân thay đổi năng suất (CoP)
Xây dựng thị trường giả định (hypothetical market – based): Một số hàng hoá và dịch vụ môi trường không hề tồn tại giá trị trên thị trường, và cũng không có thị trường thay thế Vì thế trong trường hợp này, ta cần xây
Trang 22dựng một thị trường giả định Kĩ thuật thông dụng nhất là phương pháp
đánh giá ngẫu nhiên (CVM)
Đánh giá dựa vào chi phí (cost – based): Dựa trên nguồn thông tin liên
quan đến chi phí ẩn hoặc hiện của các dịch vụ môi trường có được nhờ quan sát trực tiếp hành vi của cá nhân trên thị trường Hàng hoá chất lượng môi trường sẽ được phản ánh dựa trên sự biểu hiện của “Giá” Kỹ thuật đánh giá này khá hữu hiệu, nó đã khắc phục được các khó khăn trong việc đo lường giá trị môi trường Có hai hình thức tiếp cận chi phí chính, đó là dựa vào chi
phí phòng ngừa và chi phí thay thế
Chuyển giao lợi ích (benefit transfer): Cho phép chuyển những ước tính hiện hành của giá trị môi trường từ nơi này sang nơi khác (cụ thể ở đây
là từ nơi nghiên cứu sang nơi hoạch định chính sách) Phương pháp này được sử dụng khi không đủ thời gian, nguồn vốn hoặc thiếu thông tin,
không thể thực hiện các cách đánh giá lợi ích khác bằng dữ liệu sơ cấp
2.3 PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH
Phương pháp chi phí du lịch được phát triển từ một đề nghị thực hiện bởi Harold Hotelling vào năm 1947, trong một báo cáo về kinh tế giải trí trong công viên quốc gia thuộc Cục Công viên quốc gia Hoa Kỳ Cục công viên quốc gia muốn biết làm thế nào các nguyên tắc kinh tế có thể được sử dụng để chứng minh giá trị kinh tế của công viên quốc gia, các khu du lịch với hy vọng rằng công viên có thể tạo ra lợi ích vượt quá chi phí của người nộp thuế Cục công viên liên lạc với một số nhà kinh tế nổi bật trong ngành
để tìm hiểu những gì có thể được thực hiện để đánh giá giá trị của các công viên Trong số rất nhiều câu trả lời họ nhận được, chỉ có một câu trả lời Hotelling nhận được dựa trên các nguyên tắc kinh tế vững chắc Đây là một cột mốc đánh dấu sự phát triển sau này của phương pháp chi phí du lịch
Trang 23tắm nắng / quan sát thiên nhiên dã ngoại) Nó cũng có thể phục vụ cho việc đánh giá như thế nào một chi phí tăng lên một công viên thiên nhiên sẽ ảnh hưởng đến số lượng khách tham quan và tổng doanh thu của công viên bởi chi phí đó Tuy nhiên, nó không thể ước tính lợi ích của việc cung cấp môi trường sống cho các loài đặc hữu
Đây là phương pháp người ta dựa trên cơ sở thực tiễn là những nơi, địa điểm có chất lượng môi trường tốt, thường là những nơi thu hút được nhiều khách du lịch Vì vậy thông qua lượng khách du lịch này để xem xét, đánh giá, nghiên cứu trong mối quan hệ giữa chi phí cho 1 chuyến đi với số lần tham quan vị trí đó, làm cơ sở cho việc xây dựng hàm cầu về du lịch Như vậy chất lượng môi trường được đánh giá thông qua nhu cầu về giải trí bằng với nhu cầu đáp ứng của khu vực tự nhiên cần đánh giá
Nếu xét về cầu thì:
Nhu cầu về giải trí = Nhu cầu về khu vực tự nhiên
Bản chất của phương pháp chi phí du lịch là sử dụng các chi phí của khách du lịch làm đại diện cho giá Mặc dù chúng ta không quan sát được con người mua chất lượng hàng hoá môi trường nhưng chúng ta lại quan sát được cách họ đi du lịch để hưởng thụ tài nguyên môi trường Đi du lịch là tốn tiền và cũng tốn thời gian Các chi phí du lịch này có thể làm đại diện cho cái giá mà con người phải trả để hưởng thụ được cảnh quan môi trường
Có thể sử dụng phương pháp chi phí du lịch để xây dựng đường cầu cho các cảnh quan môi trường này Bằng cách thu thập số lượng lớn số liệu chi phí
du lịch và một số yếu tố khác có liên quan (thu nhập, số lần đến thăm…), chúng ta có thể ước lượng giá sẵn lòng trả tổng cộng cho những cảnh quan môi trường cụ thể
2.3.2 Các cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch
Hai phương pháp tiếp cận của TCM được phân biệt - cá nhân và vùng Trong TCM theo vùng, khu vực xung quanh các vường quốc gia chia thành các khu, có thể là một vùng địa lý tỉnh, huyện hành chính Trong trường hợp này, số lần truy cập từ mỗi khu vực được tính Thông tin này đôi khi có sẵn (ví dụ như từ việc quản lý khu du lịch), mà làm cho thu thập dữ liệu từ các du khách đơn giản và ít tốn kém
Trang 24 Cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch theo cá nhân (Individual
Travel Cost Method – ITCM)
TCM cá nhân tính toán chi phí đi lại riêng cho từng cá nhân và yêu cầu
một cuộc điều tra chi tiết hơn về du khách
Cách tiếp cận này xác định mối quan hệ giữa số lần đến điểm du lịch
hàng năm của một cá nhân với chi phí du lịch mà cá nhân đó phải bỏ ra
Vi = f(TCi, Si)
Trong đó : Vi là số lần đến điểm du lịch của cá nhân i trong 1 năm
TCi là chi phí du lịch của cá nhân i
Si là các nhân tố khác có ảnh hưởng đến cầu du lịch của cá nhân, ví dụ như: thu nhập, chi phí thay thế, tuổi, giới tính, tình trạng
hôn nhân, và trình độ học vấn
Đơn vị quan sát của ITCM là các cá nhân đến thăm điểm du lịch, giá trị giải trí của mỗi cá nhân là diện tích phía dưới đường cầu của họ Vì vậy, tổng giá trị giải trí của khu du lịch sẽ được tính bằng cách tổng hợp các
đường cầu cá nhân
Theo Georgiou et al, 1997, "ITCM yêu cầu phải có sự dao động trong
số lần đến địa điểm du lịch của một cá nhân hàng năm để ước lượng ra hàm cầu" Vì vậy, cách tiếp cận ITCM sẽ gặp phải khó khăn khi sự dao động là quá nhỏ hoặc khi các cá nhân không đến điểm du lịch một vài lần trong năm
Do đó, nếu mọi khách du lịch chỉ đến địa điểm du lịch 1 lần trong năm thì
khó có thể chạy hàm hồi quy
Cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch theo cá nhân chỉ phù hợp cho các khu du lịch mà du khách đến nhiều lần trong năm như công viên
du khách đơn giản và ít tốn kém
Trang 25Phân vùng khách du lịch tại các điểm nghiên cứu là bước đầu tiên và cũng là bước quan trọng nhất trong một nghiên cứu về giá trị cảnh quan bằng phương pháp tiếp cận chi phí du lịch theo vùng Phương pháp tiếp cận này đòi hỏi người nghiên cứu phải xác định được sự biến động của số lượng
khách du lịch theo các mức chi phí khác nhau
Hầu hết các chi phí có liên quan tới chuyến du lịch của du khách thì phụ thuộc vào khoảng cách từ nơi họ xuất phát tới điểm du lịch Mặc dù khách du lịch có thể đến từ các địa phương khác nhau, nhưng nếu khoảng cách từ nơi họ xuất phát tới điểm du lịch giống nhau thì cách họ lựa chọn phương tiện đi lại, lựa chọn thời gian lưu trú là tương đối giống nhau nhất
là tại những điểm du lịch có ít lựa chọn về loại hình du lịch và các dịch vụ
du lịch
Hình 2.4 : Phân vùng các khu vực lân cận vùng du lịch
Trong đó: 0 - là nơi có điểm du lịch sinh thái
1 - cách địa điểm du lịch … Km
2 - cách địa điểm du lịch … Km
Các khoảng cách do từng đề tài mà xác định dựa vào kết quả thu thập
từ các mẩu mà chia vùng theo khảng cách
Cách tiếp cận này xác định mối quan hệ giữa tỷ lệ tham quan của vùng xuất phát tới vị trí nghiên cứu với tổng chi phí du lịch của vùng xuất phát
Vzi = V(TCzi, Szi) Trong đó : Vzi là số lần viếng thăm từ vùng i tới điểm du lịch
TCzi Chi phí du lịch của du khách vùng Z tới địa điểm i
Szi là các biến kinh tế xã hội ví dụ như thu nhập trung bình của mỗi vùng
2
1
0
Trang 26Thông thường biến phụ thuộc được biểu hiện dưới dạng (Vzi/POPzi) hay tỉ lệ số lần tham quan trên 1000 dân – VR (POPzi dân số của vùng i)
Áp dụng ZTCM thì diện tích xung quanh điểm du lịch sẽ được chia thành các vùng với khoảng cách khác nhau tới điểm du lịch, vì vậy đơn vị quan sát của ZTCM là các vùng Những hạn chế nói trên của ITCM lại được khắc phục khi sử dụng ZTCM ZTCM sử dụng tỷ lệ số lần viếng thăm của mỗi vùng tới điểm du lịch (VR) là hàm của chi phí du lịch, bởi vậy số lần một cá nhân đến điểm du lịch không ảnh hưởng đến hàm
Tuy nhiên, ZTCM cũng có những hạn chế riêng của nó Theo Georgiou et al 1997, "Mô hình chi phí du lịch theo vùng thống kê không hiệu quả bởi nó tổng hợp dữ liệu từ số lượng lớn các cá nhân thành 1 vài vùng quan sát Thêm vào đó, mô hình chi phí du lịch theo vùng coi tất cả các cá nhân đến từ một vùng có các chi phí du lịch như nhau trong khi điều này không phải lúc nào cũng đúng"
Tuy nhiên, mô hình chi phí du lịch theo vùng ZTCM vẫn được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam và cũng được áp dụng để tính giá trị cảnh quan của VQG U Minh Hạ
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu thứ cấp:
Các dữ liệu bao những thông tin chung như dân số ở các tỉnh, thu nhập bình quân… được cung cấp bởi Tổng cục thống kê tại trang web http://www.gso.gov.vn
Thông tin về lượng khách du lịch hàng năm đến VQG U Minh Hạ được cung cấp bởi Ban Quản Lý VQG U Minh Hạ
Ngoài ra, một số thông tin về hoạt động của du khách và chi phí ăn ở của du khách được cung cấp bởi nhà ăn trong vườn và xung quanh U Minh
Hạ chỉ có một nhà nghỉ duy nhất
Trang 27Dữ liệu sơ cấp:
Thông tin sơ cấp được thu thập bằng cách thiết kế bảng câu hỏi và phỏng vấn trực tiếp khách du lịch đến VQG U Minh Hạ trong hai tháng , tháng 9 và tháng 10 năm 2014
Kích thước mẫu nghiên cứu
Để đảm bảo được độ tin cậy của thông tin thu thập, dung lượng mẫu điều tra phải đủ lớn Dung lượng mẫu điều tra được xác định như sau:
2 2 / 2 0
2
) (
Thiết kế bảng câu hỏi
TCM sử dụng bảng hỏi để thu thập được thông tin về chi phí du lịch của khách và có thể thu thập được lượng mà du khách sẵn lòng chi trả (WTP) Có 4 phần trong bảng hỏi:
Thông tin về điều kiện kinh tế - xã hội của du khách: trong bảng hỏi
cần phải có những thông tin cá nhân của khách du lịch như: giới, tuổi, thu nhập, học vấn Những thông tin này không chỉ hữu ích trong việc nắm bắt tâm lý của du khách mà còn giúp cho việc xây dựng đường cầu du lịch và phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới nó
Trang 28Chi phí cho chuyến du lịch của du khách đến VQG U Minh Hạ: bảng
hỏi được thiết kế để có được các chi phí trong chuyến đi của du khách đến VQG U Minh Hạ, trong đó bao gồm các câu hỏi về chi phí mà khách phải trả trong VQG, câu hỏi về phương tiện tới vườn và về mục đích tới vườn Chúng ta cần phải quan tâm đến câu hỏi về phương tiện đến VQG U Minh
Hạ của khách để ước lượng ra chi phí đi lại và chi phí thời gian (hay còn gọi
là chi phí cơ hội) tới vườn Ngoài ra, câu hỏi về mục đích đến VQG cũng cần thiết bởi nếu chúng ta không chú ý đến giá trị của thời gian thì rất khó
có thể tính toán được chính xác chi phí du lịch Chi phí cơ hội của những khách nhàn rỗi sẽ thấp hơn so với chi phí du lịch của những khách phải nghỉ việc để đi du lịch
Thông tin về kinh nghiệm du lịch tại VQG của du khách: sở thích của
du khách đến U Minh Hạ thường là đi dạo, ngắm cảnh, khám phá thiên nhiên và thưởng thức khí hậu trong lành Đồng thời, ngoài những câu hỏi về
sở thích của khách tại vườn cũng có những câu hỏi đánh giá của du khách
về chất lượng của vườn và những điểm chưa hài lòng của du khách Điều này sẽ góp phần giúp các nhà quản lý tại VQG U Minh Hạ cố gắng đáp ứng các nhu cầu của khách và cải thiện các điều kiện môi trường nơi đây VQG
U Minh Hạ ở cách trung tâm thành phố 33 Km, bởi vậy thông thường khách
du lịch chỉ đến đây 1 lần trong năm và có thể kết hợp du lịch đến một địa điểm khác chẵng hạn như: Vườn chim Cà Mau, vườn dâu Cái Tàu, Hòn Đá Bạc… những địa điểm gần vườn quốc gia U Minh Hạ Do đó những thông tin về các điểm đến khác trong chuyến đi của du khách được sử dụng để tính toán và phân bổ chi phí du lịch một cách chính xác hơn
Thông tin về mức sẵn lòng chi trả của du khách để bảo vệ và duy trì cảnh quan thiên nhiên: câu hỏi WTP đặt ra cho các cá nhân để nhằm thăm
dò ý kiến của du khách về các kế hoạch của vườn cũng như tính toán mức sẵn lòng chi trả của du khách cho VQG U Minh Hạ tuy nhiên khuôn khổ luận văn chỉ phân tích 3 yếu tố trên mà không phân tích yếu tố này
Phương pháp phân tích dữ liệu
Thống kê mô tả: dùng để mô tả thông tinkhách du lịch Phân tích hiện trạng của khu du lịch VQG U Minh Hạ Các công cụ cơ bản để tóm tắt và trình bày dữ liệu trong thống kê mô tả là: bảng tần số, các đại lượng thống
kê mô tả, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất,
Trang 292.4.2 Phương pháp chi phí du lịch theo vùng
Các bước tiến hành:
Bước 1: Phân chia khu vực xung quanh địa điểm du lịch được nghiên
cứu thành các vùng xuất phát khác nhau theo khoảng cách địa lý Các vùng này có thể được phân chia theo các đường tròn đồng tâm kể từ điểm du lịch nhưng cũng có thể phân chia theo khu vực hành chính có cùng khoảng cách đến địa điểm giải trí Thông thường, số liệu về dân số thu thập theo địa giới hành chính dễ dàng hơn thu thập theo các đường tròn đồng tâm nên cách phân chia theo khu vực hành chính được sử dụng nhiều hơn Số lượng các
vùng có thể tương đối lớn tùy theo tính chất của địa điểm nghiên cứu
Bước 2: Thu thập thông tin về tổng số lượng du khách và tổng số lượt
tham quan Thông tin về lượng khách có thể thu thập từ số liệu thứ cấp tại địa điểm nghiên cứu hoặc thu thập từ các công ty du lịch, lữ hành Tính số lượng khách đến từ 1 vùng dựa trên thông tin tỷ lệ khách đến từ vùng trong tổng số
mẫu thu thập và thông tin tổng số lượng du khách
Bước 3: Tính tỷ lệ du khách đến tham quan điểm du lịch trên 1000 dân mỗi
vùng được xác định bằng tổng số du khách đến điểm du lịch trong năm của mỗi vùng chia cho tổng dân số của vùng đó (tính theo đơn vị nghìn người)
Trang 30Bước 4: Ước lượng khoảng cách trung bình, thời gian di chuyển và chi
phí du lịch từ các vùng tới điểm du lịch
Xác định khoảng cách trung bình, thời gian di chuyển từ các vùng đến điểm du lịch: Giả định tại vùng 0 (vùng kề cận điểm du lịch) thì khoảng cách
và thời gian di chuyển trung bình đến điểm du lịch bằng 0 Khoảng cách trung
bình và thời gian di chuyển sẽ tăng dần theo khoảng cách địa lý
Chi phí toàn bộ được thể hiện như sau:
P = e + f + ac + OC + ct Trong đó: e (entrance free): chi phí vé tham quan
f ( food and drink) chi phí ăn uống
ac ( accomodation) chi phí nghỉ ngơi
OC (opportunity cost) chi phí cơ hội
Ct (cost of transport) chi phí đi lại Trong đó chi phí ăn uống và nghỉ ngơi được tính bằng :
Vm
ac f
Vm: là số lượng khách trong 1 năm của mổi vùng xuất phát
fi : là chi phí ăn uống của từng cá nhân
aci : chi phí nghỉ ngơi của từng cá nhân
Cti : chi phí đi lại của từng cá nhân Chi phí cơ hội về thời gian dành cho chuyến đi được tính toán phức tạp hơn, đơn giản nhất để ước tính chi phí cơ hội về thời gian là xác định chi phí thời gian dựa trên mức lương theo ngày hoặc theo giờ
Bước 5: Sử dụng phân tích hồi quy để tìm ra mối liên hệ giữa tỷ lệ du khách
với chi phí du lịch và một số biến xã hội quan trọng khác Hàm mô tả mối quan hệ này có dạng:
Trang 31Vzi = V(TCzi, Szi)
Bước 6: Xây dựng đường cầu du lịch cho địa điểm nghiên cứu trên cơ sở
kết quả của phân tích hồi quy Mức chi phí du lịch sẽ tăng lên cho đến khi số lần tham quan của khách giảm xuống bằng 0, tức là có ít hơn một khách sẵn sàng bỏ ra mức phí đó để được tham quan khu du lịch Điểm đầu của đường cầu là số lượng du khách đến với điểm giải trí trong trường hợp chi phí du lịch bằng 0 Các điểm khác trên đường cầu được xác định bằng số lượng du khách ứng với từng mức chi phí khác nhau Trên cơ sở xác định số lượt du khách ứng với từng mức phí vào cửa khác nhau sẽ xây dựng đường cầu giải trí
Bước 7: Ước lượng giá trị cảnh quan của địa điểm nghiên cứu thông
qua tính thặng dư tiêu dùng của du khách hoặc xác định phần diện tích nằm phía dưới đường cầu
Hình 2.5: Đồ thị hàm cầu về giải trí trong TCM
Tuy nhiên, để phương pháp chi phí du lịch có thể áp dụng được, một
số giả thiết sau phải được thoả mãn:
Chi phí đi lại và giá vé vào cổng có ảnh hưởng như nhau tới hành vi, nghĩa là các cá nhân nhận thức và phản ứng về sự thay đổi trong chi phí đi lại theo cùng một kiểu đối với những thay đổi trong giá vé vào cổng Điều này có ý nghĩa quan trọng để xác định tổng chi phí một cách chính xác Từng chuyến đi tới điểm giải trí chỉ nhằm mục đích thăm riêng điểm
đó Nếu giả thiết này bị vi phạm, tức là chi phí đi lại sẽ bị tính chung giữa
TC i
Vùng dưới đường cầu = lợi ích của giải trí
= lợi ích của khu vực tự nhiên (theo giả định)
VR i
TC i
Số lần đến Chi phí đi lại
Đường cầu về giải trí
Trang 32nhiều nơi tham quan, thì rất khó có thể phân bổ chi phí một cách chính xác giữa các mục đích khác nhau
Toàn bộ các lần viếng thăm đều có thời gian lưu lại giống nhau, có như vậy thì ta mới đánh giá được lợi ích của điểm giải trí thông qua số lần viếng thăm
Không có tiện ích hoặc bất tiện nào khác trong thời gian di chuyển tớiđiểm giải trí để đảm bảo chi phí đi lại không bị tính vượt quá mức