Tuy nhiên, cùng với cả nước, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa cùng với áp lực gia tăng dân số, đô thị hóa không kiểm soát, cũng như tập quán sinh sống lâu đời và hạn chế về ý thứ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
CAO NGUYỄN NGÂN TRINH
PHÂN TÍCH NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VẤN ĐỀ Ô NHIỄM
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
CAO NGUYỄN NGÂN TRINH
MSSV: 4115266
PHÂN TÍCH NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VẤN ĐỀ Ô NHIỄM
Trang 3i
LỜI CẢM TẠ
Trước hết em xin vô cùng biết ơn Cha, Mẹ đã tạo mọi điều kiện cho em
ăn học và có thể bước chân vào giảng đường đại học Cảm ơn Cha, Mẹ và người thân trong gia đình đã luôn bên cạnh ủng hộ, lo lắng, động viên em trên con đường học vấn
Qua quá trình học tập tại Trường Đại học Cần Thơ, em xin gởi lời cảm
ơn đến Ban Giám Hiệu Trường Đại học Cần Thơ, Ban Chủ nhiệm Khoa Kinh
Tế và Quản Trị Kinh Doanh đã tạo điều kiện cho em được học tập tại trường Cảm ơn Quý Thầy, Cô của trường cũng như Quý Thầy, Cô của Khoa Kinh Tế
và Quản Trị Kinh Doanh đã truyền đạt cho em những kiến thức và kinh nghiệm thực tế quý báo trong suốt quá trình học tập tại trường
Đặc biệt, em xin chân thành biết ơn và gởi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Phạm Lê Thông đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong thời gian làm luận văn tốt nghiệp
Trong 3 tháng được thực tập tại Phòng Tài Nguyên và Môi Trường quận Cái Răng, em cũng xin gởi lời cảm ơn đến các Cô, Chú, Anh, Chị cán bộ làm việc tại Phòng đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp nhiều tài liệu quý báu liên quan đến đề tài luận văn này
Cảm ơn sự hỗ trợ và động viên của các bạn cùng lớp trong quá trình thực hiện đề tài
Tuy nhiên, do còn hạn chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm nên trong quá trình thực hiện đề tài sẽ không tránh khỏi những sai sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý Thầy, Cô để luận văn của em được hoàn chỉnh hơn
Cuối cùng, em xin kính chúc Quý Thầy, Cô trường Đại học Cần Thơ, Quý Thầy, Cô Khoa Kinh Tế và Quản Trị Kinh Doanh, Thầy Phạm Lê Thông, các Cô, Chú, Anh, Chị cán bộ Phòng Tài Nguyên và Môi Trường quận Cái Răng nhiều sức khỏe, hạnh phúc và thành công trong công việc của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
Người thực hiện
Cao Nguyễn Ngân Trinh
Trang 4ii
TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
Người thực hiện
Cao Nguyễn Ngân Trinh
Trang 5iii
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
Thủ trưởng đơn vị
(Ký tên và đóng dấu)
Trang 6iv
MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 4
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
1.4.1 Phạm vi về không gian 4
1.4.2 Phạm vi về thời gian 4
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 4
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
2.1.1 Nhận thức 5
2.1.2 Nước mặt 5
2.1.3 Ô nhiễm nước mặt 7
2.1.4 Khái niệm về quan trắc môi trường 11
2.1.5 Các thông số đánh giá chất lượng nước mặt 11
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 14
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 15
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT CỦA SÔNG BA LÁNG 16
3.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 16
3.1.1 Lịch sử hình thành quận Cái Răng 16
3.1.2 Điều kiện tự nhiên của quận Cái Răng 16
3.1.3 Kinh tế - Xã hội của quận Cái Răng 19
3.1.4 Tổng quan về sông Ba Láng 20
Trang 7v
3.2 HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT CỦA SÔNG BA LÁNG
QUA BA NĂM (từ năm 2011 đến năm 2013) 21
3.2.1 Thông số pH 21
3.2.2 Thông số oxy hòa tan (DO) 22
3.2.3 Thông số oxy sinh học (BOD) 23
3.2.4 Thông số oxy hóa học (COD) 23
3.2.5 Thông số chất rắn lơ lửng (SS) 24
3.2.6 Thông số NH4+ 25
3.2.7 Thông số NO2- 26
3.2.8 Thông số NO3- 26
3.2.9 Thông số Fe 27
3.2.10 Thông số Coliform 28
3.2.11 Một số thông số khác 29
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ TÌNH HÌNH Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC MẶT Ở SÔNG BA LÁNG 30
4.1 MÔ TẢ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 30
4.2 NHẬN ĐỊNH CỦA NGƯỜI DÂN VỀ TÌNH HÌNH Ô NHIỄM NƯỚC MẶT CỦA SÔNG BA LÁNG 35
4.2.1 Đánh giá về mức độ ô nhiễm nước mặt của sông Ba Láng 35
4.2.2 Nhận thức của người dân về nguồn gây ô nhiễm nước sông Ba Láng 39 4.2.3 Thái độ của người dân về việc nước sông Ba Láng bị ô nhiễm 49
CHƯƠNG 5 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM LÀM GIẢM Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC MẶT Ở SÔNG BA LÁNG 54
5.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI 54
5.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỂU Ô NHIỄM NƯỚC TẠI SÔNG BA LÁNG 55
5.2.1 Giải pháp cho việc nâng cao nhận thức của người dân về tình trạng ô nhiễm môi trường 55
5.2.2 Giải pháp cho việc vứt rác, xả nước thải trực tiếp xuống sông 56
CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
Trang 8vi
6.1 KẾT LUẬN 57
6.2 KIẾN NGHỊ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 1 61
PHỤ LỤC 2 68
PHỤ LỤC 3 71
Trang 10viii
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 3.1 Bản đồ hành chính quận Cái Răng 17
Hình 3.2 Diễn biến nồng độ pH trung bình tại sông Ba Láng qua ba năm 21
Hình 3.3 Diễn biến nồng độ DO trung bình tại sông Ba Láng qua ba năm 22
Hình 3.4 Diễn biến nồng độ BOD5 (20oC) trung bình tại sông Ba Láng qua ba năm 23
Hình 3.5 Diễn biến nồng độ COD trung bình tại sông Ba Láng 24
Hình 3.6 Diễn biến nồng độ SS trung bình tại sông Ba Láng qua ba năm 24
Hình 3.7 Diễn biến nồng độ NH4+ trung bình tại sông Ba Láng qua ba năm 25 Hình 3.8 Diễn biến nồng độ NO2- trung bình tại sông Ba Láng qua ba năm 26 Hình 3.9 Diễn biến nồng độ NO3- trung bình tại sông Ba Láng qua ba năm 27 Hình 3.10 Diễn biến nồng độ Fe trung bình tại sông Ba Láng qua ba năm 27
Hình 3.11 Diễn biến nồng độ Coliform trung bình tại sông Ba Láng qua ba năm 28
Hình 4.1 Tỉ lệ độ tuổi của các đối tượng nghiên cứu 31
Hình 4.2 Cơ cấu giới tính của đáp viên 31
Hình 4.3 Trình độ học vấn của đáp viên 32
Hình 4.4 Nghề nghiệp của đáp viên 33
Hình 4.5 Thu nhập của đáp viên 34
Hình 4.6 Nhận xét về mức độ ô nhiễm tại sông Ba Láng của người dân 35
Hình 4.7 Nhận định của người dân về chất lượng nước mặt sông Ba Láng qua ba năm gần đây 36
Hình 4.8 Nguyên nhân gây ô nhiễm nước sông Ba Láng theo nhận định của người dân 37
Hình 4.9 Suy nghĩ của người dân khi thấy người khác vứt rác, xả nước thải ra sông 38
Hình 4.10 Lượng rác thải trung bình trong một ngày của các hộ dân 39
Hình 4.11 Cách xử lý rác thải của các hộ dân 40
Hình 4.12 Rác thải từ hộ dân vứt xuống sông 42
Trang 11ix
Hình 4.13 Sự sẵn lòng tham gia phong trào thu gom rác của người dân 43Hình 4.14 Tỉ lệ sử dụng nguồn nước sông cho mục đích sinh hoạt của các hộ dân trong quá khứ 44Hình 4.15 Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nguồn nước cho mục đích sinh hoạt hiện nay 45Hình 4.16 Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nguồn nước cho mục đích nấu ăn và uống hiện nay 46Hình 4.17 Tình hình sử dụng loại hình nhà vệ sinh của người dân 47Hình 4.18 Lý do xả nước thải sinh hoạt xuống sông của người dân địa phương 48Hình 4.19 Nước mương từ một hộ dân có đường ống dẫn nước thải sinh hoạt trực tiếp ra sông 49Hình 4.20 Mức độ quan tâm đến việc nước sông bị ô nhiễm của người dân địa phương 50Hình 4.21 Nhận định của người dân địa phương về mức độ ảnh hưởng đến đời sống, sức khỏe của họ do nước sông bị ô nhiễm 50Hình 4.22 Trách nhiệm bảo vệ môi trường qua nhận định của người dân địa phương 52
Trang 121
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nước là tài nguyên vô cùng quan trọng của loài người, là yếu tố cực kỳ cần thiết cho sự sống của mọi sinh vật trên trái đất, quyết định sự thành công trong các chiến lược, kế hoạch để phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh quốc gia Toàn bộ nước trên trái đất có khoảng 1.386 x 109
km3, trong đó 70% diện tích bề mặt trái đất là đại dương chứa nước mặn chiếm khoảng 97,3% tổng lượng nước Nước ngọt chỉ chiếm khoảng 2,5%, trong đó 70% ở dạng rắn (băng tại 2 cực trái đất và trên các núi băng) và 30%
ở dạng lỏng với khoảng 98% là nước ngầm, và 2% là nước mặt trong các ao
hồ, sông, suối Như vậy, chỉ có khoảng 0,6% tổng lượng nước (gồm cả nước mặt và nước ngầm) chúng ta có thể sử dụng được trong cuộc sống hàng ngày (Trương Quang Học, 2011)
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, môi trường nước phải đối mặt với nhiều tác nhân gây ô nhiễm nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khách quan (thiên tai, lũ lụt, …) lẫn chủ quan (hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người) làm suy thoái và cạn kiệt nguồn tài nguyên nước Theo thống kê của Viện Nước Quốc Tế (SIWI) được công bố tại Tuần lễ Nước Thế Giới (World Water Week tại Stockholm, Thụy Điển 9/2010) thì trung bình mỗi ngày có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị trực tiếp đổ ra các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển Thực tế trên khiến nguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người bị ô nhiễm nghiêm trọng Tại một số nước, có tới một nửa số bệnh nhân phải vào điều trị tại các bệnh viện là do không được tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp vì thiếu nước và các bệnh liên quan đến nước Thiếu
vệ sinh, thiếu nước sạch là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm Nguy cơ thiếu nước đặc biệt là nước ngọt và sạch là một hiểm họa lớn đối với sự tồn vong của con người cũng như toàn bộ sự sống trên trái đất
và Việt Nam cũng không nằm ngoài nguy cơ đó
Việt Nam là quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á (Châu Á), với diện tích là 331,7 nghìn km2 Việt Nam có địa hình đồi núi chiếm ¾ diện tích lãnh thổ, tập trung phần lớn ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc và miền Trung, phần diện tích còn lại là châu thổ và đồng bằng phù sa (chủ yếu là Đồng bằng Sông
Trang 132
Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long) Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Mặc dù lượng mưa trung bình vào khoảng 1.940 mm/năm, nhưng do ảnh hưởng của địa hình đồi núi nên lượng mưa phân bố không đều trên cả nước và biến đổi mạnh mẽ theo thời gian, đã và đang tác động lớn đến trữ lượng và phân bố tài nguyên nước ở Việt Nam
Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đô thị hóa đòi hỏi nhu cầu nước cho sản xuất và dân sinh ngày càng tăng cả về khối lượng lẫn chất lượng Theo Báo cáo Môi trường quốc gia (2012), tổng lượng nước mặt của các lưu vực sông trên lãnh thổ Việt Nam vào khoảng 830 – 840
tỷ m3/năm, nhưng chỉ có khoảng 310 – 315 tỷ m3/năm (37%) là nước nội sinh, còn lại 520 – 525 tỷ m3 (63%) là nước chảy từ các nước láng giềng vào lãnh thổ Việt Nam, và cùng với lượng mưa trung bình 1.940 mm/năm, nhìn chung thì nguồn nước ở Việt Nam khá dồi dào Tuy nhiên, với dân số khoảng 88 triệu người, Việt Nam có tổng lượng nước bình quân đầu người theo năm chỉ đạt khoảng 9.560 m3
thấp hơn chuẩn 10.000 m3/người/năm của các quốc gia
có tài nguyên nước ở mức trung bình theo quan điểm của Hiệp hội Nước Quốc
Tế (IWRA) Tính theo lượng nước nội sinh thì hiện nay Việt Nam chỉ mới đạt khoảng 4.000 m3/người/năm, và đến năm 2025 có thể bị giảm xuống 3.100
m3/người/năm (so với chỉ tiêu đánh giá của IWRA thì quốc gia có lượng nước bình quân đầu người dưới 4.000 m3/người/năm là quốc gia thiếu nước) Do đó, với mức nước bình quân đầu người là 4.000 m3/người/năm của nước ta hiện nay thì nguy cơ khan hiếm, thiếu nước trong tương lai gần đang lên mức báo động
Cần Thơ là một trong năm thành phố lớn trực thuộc Trung ương của Việt Nam, là thành phố cửa ngõ của vùng hạ lưu sông Mê Kông và ở vị trí trung tâm vùng Đồng bằng châu thổ Sông Cửu Long, là trung tâm kinh tế, văn hóa, đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long và của cả nước Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt đã tạo cho nơi đây ưu thế phát triển kinh tế cả về công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, cùng với cả nước, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa cùng với áp lực gia tăng dân số, đô thị hóa không kiểm soát, cũng như tập quán sinh sống lâu đời và hạn chế về ý thức bảo vệ môi trường của người dân đã dẫn đến sự suy giảm chất lượng môi trường, đặc biệt
là chất lượng nước mặt Theo sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ, hiện các khu công nghiệp tập trung ở Cần Thơ thải ra khoảng 30.000 m3
nước/ngày đêm, nhưng thiếu hệ thống xử lý dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng
Trang 143
nguồn nước mặt sông Hậu và một số kênh rạch lân cận Bên cạnh đó, lượng nước thải sinh hoạt tại các khu dân cư khoảng 70.000 m3/ngày đêm vẫn thải trực tiếp ra sông rạch Tài nguyên nước mặt ở thành phố Cần Thơ đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng Trong đó, quận Cái Răng là nơi tập trung dân cư, trung tâm thương mại, dịch vụ với tốc độ đô thị hóa ồ ạt trong tương lai gần Song song với tốc độ phát triển kinh tế, xã hội đáng mong đợi như vậy là sự tồn tại tiềm ẩn về nguy cơ ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm môi trường nước nói riêng ở quận Cái Răng Theo số liệu từ Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ thì kết quả quan trắc chất lượng nước mặt trên địa bàn quận từ năm 2005 đến nay tại các điểm quan trắc có chiều hướng xấu đi, thể hiện qua hàm lượng chất ô nhiễm ngày càng có
xu hướng gia tăng, đặc biệt là tại các khu vực đông dân cư và khu vực chợ Theo kết quả quan trắc thì hầu hết các điểm quan trắc đều có hàm lượng BOD, COD, NH4+, N-NO2-, Coliform, TSS vượt QCVN 08:2008/BTNMT ở cột A2(dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng phải áp dụng công nghệ xử lý phù hợp, bảo tồn động thực vật thủy sinh, hoặc các mục đích sử dụng như loại
B1 và B2)
Nguồn tài nguyên nước mặt tại đây (quận Cái Răng) đang suy giảm cả về
số lượng lẫn chất lượng, đáng quan tâm nhất là sông Ba Láng, nơi đang hàng ngày phải gánh chịu ô nhiễm từ nhiều nguồn và có nguy cơ trở thành “kênh rạch chết”, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe và đời sống người dân
trong khu vực Do đó, đề tài: “Phân tích nhận thức của người dân về vấn đề
ô nhiễm nước mặt tại sông Ba Láng trên địa bàn quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ” là cần thiết Chính vì vậy, em chọn đề tài này làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình, từ đó giúp người dân sống quanh khu vực sông Ba Láng nhận thức được sự quan trọng của tài nguyên nước để xây dựng chính sách khuyến khích người dân tham gia bảo vệ nguồn tài nguyên này
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đề tài phân tích nhận thức của người dân về vấn đề ô nhiễm nước mặt ở sông Ba Láng, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước mặt ở khu vực này
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt của sông Ba Láng, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ
Trang 154
- Phân tích nhận thức của người dân về tình hình ô nhiễm nước mặt của sông Ba Láng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân và
biện pháp làm giảm ô nhiễm cho sông Ba Láng
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Hiện trạng ô nhiễm nước mặt tại sông Ba Láng qua 3 năm gần đây như thế nào?
- Nhận thức của người dân trong khu vực sông Ba Láng về vấn đề ô nhiễm nước mặt của sông ra sao?
- Cần phải làm gì để nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo
vệ và cải thiện chất lượng môi trường nước nặt tại đây?
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phạm vi về không gian
Địa điểm nghiên cứu để thực hiện đề tài là toàn bộ lưu vực sông Ba Láng chảy qua thuộc địa phận phường Ba Láng, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ (bao gồm các khu vực 1, 3, 4, 5)
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Những người dân sống quanh lưu vực sông Ba Láng
Trang 16cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan
2.1.1.2 Các giai đoạn của nhận thức
Nhận thức cảm tính: là giai đoạn mở đầu của quá trình nhận thức Con người sử dụng các giác quan để tiến hành phản ánh các sự vật khách quan Giai đoạn này nhận thức chỉ phản ánh các sự vật, hiện tượng một cách tổng quan bên ngoài của sự vật mà chưa phản ánh được bản chất, quy luật, nguyên nhân của hiện tượng đó
Nhận thức lý tính: là giai đoạn cao hơn của quá trình nhận thức Phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát những thuộc tính, đặc điểm, bản chất của sự vật khách quan, nắm lấy bản chất, có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng
Nhận thức khoa học: được hình thành một cách tự giác và gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm, bản chất, những quan hệ tất yếu của đối tượng nghiên cứu Nhận thức khoa học vừa có tính khách quan, trừu tượng, khái quát vừa có tính
hệ thống, có căn cứ và có tính chân thực
2.1.2 Nước mặt
2.1.2.1 Khái niệm về nước mặt
Tài nguyên nước: là tất cả các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc
có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau, cho sinh hoạt, cho các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường (Trương
Trang 176
Quang Học, 2012) Điều 2 luật Tài nguyên Nước Việt Nam (2012) quy định
“Tài nguyên nước bao gồm nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Tài nguyên nước mặt: là nước trong sông, suối, ao, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên do mưa
và chúng mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống (Trương Quang Học, 2012) Điều 2 luật Tài nguyên Nước Việt Nam (2012) quy định
“Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo”
Lưu vực sông: là vùng đất mà trong phạm vi đó nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông và thoát ra một cửa chung hoặc thoát ra biển (Điều 2 luật Tài nguyên nước Việt Nam 2012)
2.1.2.2 Vai trò của nước mặt
Đối với con người: nước là nguồn tài nguyên vô cùng cần thiết cho hoạt động sống của con người cũng như các sinh vật Nước cần thiết cho sự tăng trưởng và duy trì cơ thể bởi nó liên quan đến nhiều quá trình sinh hoạt, trao đổi chất quan trọng Nước chiếm khoảng 70% trọng lượng cơ thể, 65 - 75% trọng lượng cơ, 50% trọng lượng mỡ, 50% trọng lượng xương Đã có nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học trên Thế giới cho thấy con người có thể sống nhịn ăn trong 5 tuần, nhưng không thể nhịn uống quá 5 ngày Khi đói trong một thời gian dài, cơ thể sẽ tiêu thụ hết lượng glycogen, toàn bộ mỡ dự trữ, một nữa lượng protein để duy trì sự sống Nhưng nếu cơ thể chỉ cần mất hơn 10% nước là đã nguy hiểm đến tính mạng và mất 20 – 22% lượng nước sẽ dẫn đến tử vong ngay Nước tham gia vào quá trình chuyển hóa các chất, đảm bảo cân bằng chất điện giải và điều hòa thân nhiệt, điều hòa áp xuất thẩm thấu trong cơ thể (như: Iot, Flour, Mangan, Kẽm, Sắt, Vitamin, Axit amin) Đồng thời nước cũng giúp cho cơ thể lọc vào đào thải các chất độc, chất thải bên trong cơ thể ra ngoài
Đối với hoạt động sản xuất phục vụ đời sống con người:
- Trong các ngành nông – lâm – ngư nghiệp: tất cả các cây trồng, vật nuôi đều cần đến nước để phát triển Ông bà ta xưa thường nói: Nhất nước, Nhì phân, Tam cần, Tứ giống Nước tưới và phân bón là hai nguyên tố quyết định hàng đầu, là nhu cầu thiết yếu, đồng thời có vai trò điều tiết các chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí trong đất Đối với Việt Nam, nước đã cùng với con người làm nên nền văn minh lúa nước Hiện nay nước ta đứng thứ ba trên Thế giới về xuất khẩu lúa gạo Đồng bằng Sông Cửu Long lại là một trong hai vựa lúa lớn nhất của cả nước, nên nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất nông nghiệp là vô cùng lớn, trong đó người dân chủ yếu là sử dụng nguồn nước mặt để cung cấp cho nhu cầu này
Trang 187
- Trong hoạt động công nghiệp: nước cũng đóng vai trò rất quan trọng Theo ước tính có khoảng 15% lượng nước sử dụng cho công nghiệp trên toàn Thế giới như: các nhà máy điện, sử dụng nước để làm mát hoặc như một nguồn năng lượng, quặng và các máy lọc dầu sử dụng nước trong quá trình hóa học, và các nhà máy sản xuất sử dụng như một dung môi
Nước góp phần làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế Nếu không
có nước thì chắc chắn toàn bộ các hệ thống sản xuất công nghiệp, nông nghiệp,… trên hành tinh này đều ngừng hoạt động và không tồn tại
2.1.2.3 Sự cần thiết về sử dụng tài nguyên nước mặt có hiệu quả
Sử dụng nước bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả đã trở thành chiến lược quan trọng mang tính toàn cầu Nó đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại, bởi nhiều vấn đề:
- Tài nguyên nước là vô cùng quý giá
- Nước mặt hiện nay ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng do gia tăng dân số, đô thị hóa, công nghiệp hóa và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật
- Các hoạt động sinh hoạt hay sản xuất của con người hiện nay chủ yếu dựa vào nguồn nước mặt, nhưng do các điều kiện tự nhiên kèm theo đó là các hoạt động của con người gây ô nhiễm nguồn nước, làm cho diện tích nước mặt
có thể sử dụng đang bị thu hẹp, dẫn đến tình trạng hạn chế khả năng sản xuất
và nhiều hậu quả nghiêm trọng khác
2.1.3 Ô nhiễm nước mặt
2.1.3.1 Khái niệm về ô nhiễm nước mặt
Ô nhiễm môi trường nước là sự có mặt của một hay nhiều chất hóa học trong môi trường nước, làm biến đổi chất lượng của nước, gây tác hại đối với sức khỏe của con người khi sử dụng nước trong sinh hoạt, trong công nghiệp, nông nghiệp, trong chăn nuôi, trong thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí (Lê Thanh Vân, 2009) Điều 2 luật Tài nguyên Nước Việt Nam (2012) quy định
“Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học, và thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”
Các khuynh hướng thay đổi chất lượng và gây ô nhiễm nước do hoạt động của con người thường là:
- Giảm chất lượng nước ngọt do ô nhiễm bởi H2SO4, HNO3 từ khí quyển, tăng hàm lượng SO42-, NO3- trong nước
- Tăng hàm lượng các ion Ca, Mg, Si,… trong nước ngầm và nước sông hồ do nước mưa hòa tan, phong hóa các quặng cacbonat
- Tăng hàm lượng các ion kim loại nặng trong nước tự nhiên như Pb,
Cd, Hg, As, Zn, và cả PO4-, NO3-, NO2-,…
Trang 19- Giảm độ trong của nước
- Tăng khả năng nguy hiểm của ô nhiễm nước tự nhiên do các yếu tố đồng vị phóng xạ
2.1.3.2 Nguồn gây ô nhiễm nước mặt
Có nhiều nguồn gây ô nhiễm nước bề mặt và nước ngầm Hầu hết các nguồn gây ô nhiễm là do hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, giao thông thủy, dịch vụ và sinh hoạt của con người tạo nên
- Nước thải sinh hoạt: bao gồm nước thải từ các khu dân cư, nước thải xuất phát từ sinh hoạt của con người Tùy theo các khu dân cư (đồng bằng, nông thôn, miền núi) mà tính chất nước thải có khác nhau Nước thải sinh hoạt thường có các chất protein, chất béo, chất tẩy rửa, chất hữu cơ khác (phân, nước tiểu, thức ăn thừa,…), vi sinh vật, một lượng nhỏ các chất vô cơ hòa tan hay rắn Nước thải sinh hoạt có các chất gây ô nhiễm thường dễ bị phân hủy bới các vi sinh vật
- Nước thải công nghiệp: chứa những chất gây ô nhiễm không hoặc khó
bị phân hủy bởi sinh vật, mặt khác chúng còn chứa nhiều chất độc hại cho vi sinh vật có vai trò quan trọng trong việc phân hủy sinh học trong các nguồn nước trong tự nhiên Nước thải công nghiệp còn được gọi là nước thải sản xuất bao gồm:
+ Nước thải từ các nhà máy, cơ sở sản xuất lớn, cơ sở sản xuất nhỏ + Nước thải từ các khu vực giao thông vận tải,…
Đặc tính của nước thải phụ thuộc vào từng ngành sản xuất và quy trình sản xuất
- Nước thải nông nghiệp: bao gồm các dư lượng phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật, nước thải, chất thải của động vật Việc sử dụng nước cho các mục đích nông nghiệp có tác động đến sự thay đổi chế độ nước và sự cân bằng nước Trong tương lai, do thâm canh, tăng vụ nên lưu lượng nước các con sông sẽ bị giảm đi Ngoài việc làm thay đổi sự cân bằng nước, sử dụng nước trong nông nghiệp còn dẫn đến việc làm giảm đi chất lượng nước Nước tưới tiêu từ các đồng ruộng và nước thải từ các chuồng trại chăn nuôi là nguồn ô
Trang 209
nhiễm nước tại các sông, hồ, kênh, rạch,… Bên cạnh đó, việc sử dụng phân bón hóa học, một lượng lớn chất dinh dưỡng của nitơ và photpho có thể xâm nhập vào nguồn nước, gây nên hiện tượng phú dưỡng trong nước
- Nước thải đô thị: là hỗn hợp các loại nước thải có trong đô thị, gặp trong các hệ thông cống rãnh của một thành phố Nó bao gồm nước thải từ các khu sinh hoạt của dân cư có thể đã được thu bởi hệ thống thoát nước, qua các trạm xử lý trước khi xả ra nguồn và bao gồm hỗn hợp nước thải và nước chảy tràn trực tiếp ra nguồn nước mà không qua xử lý
Đặc điểm của nước thải đô thị là trong đó có hàm lượng cao của các chất hữu cơ, khi thải vào hệ thống kênh rạch, sông hồ,… sẽ gây ô nhiễm nguồn nước với các biểu hiện:
+ Gia tăng lượng chất rắn lơ lửng, độ đục, màu
+ Tăng hàm lượng chất hữu cơ, làm giảm oxy hòa tan
+ Tăng hàm lượng chất dinh dưỡng, dẫn tới sự phú dưỡng hóa
+ Gia tăng vi trùng, vi khuẩn ảnh hưởng đến sức khỏe con người
2.1.3.3 Tác nhân gây ô nhiễm nước mặt
- Ô nhiễm do chất hữu cơ: đây là dạng ô nhiễm phổ biến nhất Nguồn gốc gây ô nhiễm dạng này cũng đa dạng, trong đó quan trọng nhất là các chất thải từ vùng dân cư, công nghiệp và chế biến thực phẩm Các chất gây ô nhiễm:
+ Các chất protein: protein là những hợp chất hữu cơ có phân tử lượng lớn, tồn tại trong cơ thể con người, động vật và thực vật Khi được thải ra sông
hồ, kênh rạch,… hay một thể nước nào đó, các protein nhanh chóng bị phân hủy dưới tác dụng của vi sinh Rất nhiều chất trong số những chất được tạo ra
có tính chất độc hại và có mùi hôi
+ Chất béo: bao gồm mỡ động vật, dầu thực vật đều là những este của glycerin và axit béo Dưới tác dụng của vi khuẩn, các chất béo bị phân hủy thành glycerin và các axit béo; các axit béo tạo ra bằng cách này lại tiếp tục bị phân hủy bởi vi khuẩn thành những axit axetic, butyric,… gây mùi hôi
+ Xà phòng: là muối của một kim loại với axit béo Nước thải sinh hoạt chứa hàm lượng K, Na lớn làm tăng pH của nước gây khó khăn cho việc phân giải sinh học các chất bẩn khác
+ Các chất tẩy rửa tổng hợp: có thành phần chủ yếu là những chất hữu
cơ hoạt động bề mặt, có phân tử phân cực và phân tử lượng lớn Ảnh hưởng của hiện tượng ô nhiễm nước bởi các chất tẩy rửa tổng hợp thể hiện ở các mặt: tạo lớp váng bọt trên mặt nước làm mất mỹ quan và ngăn cản sự khuếch tán oxy từ không khí vào nước, gây độc hại với cá và các sinh vật khác
- Ô nhiễm do chất vô cơ: nguyên nhân là do:
Trang 2110
+ Axit, kiềm: khi thải vào nước tự nhiên các axit hay kiềm sẽ phá hoại
hệ đệm tự nhiên của nước và làm thay đổi pH bình thường của nước Nồng độ
pH cao quá hay thấp quá điều làm cho cá và thủy sản khác chịu tác hại hoặc bị tiêu diệt Ngoài ra, khi pH thấp sẽ làm cho H2S được tạo ra, đặc biệt từ các lớp bùn đáy, gây hôi thối và ô nhiễm không khí
+ Các muối hòa tan: trong nước thải và nước tự nhiên thường gặp những muối vô cơ hòa tan như các clorua, sunphat, nitrate, bicacbonat, phot-phat, ở nồng độ thấp, các muối này không gây hại cho cá nước ngọt, nhưng nếu nồng độ lớn sẽ ảnh hưởng xấu đến cá và thực vật sống trong nước ngọt
+ Phân bón hóa học: bên cạnh những lợi ích trong sản xuất nông nghiệp, chúng cũng gây những ảnh hưởng xấu như gây phì hóa nước, tăng nồng độ ion NO3- trong nước, hiện tượng phú dưỡng trong nước làm cho tảo
và thực vật bậc thấp sống trong nước phải phát triển có tốc độ nhanh
- Ô nhiễm về mặt vật lý: một đặc tính vật lý chủ yếu của nước thải sinh hoạt và các loại nước thải công nghiệp là độ đục lớn và chứa các chất có màu
Độ đục do các chất lơ lửng gây ra, những chất này có kích thước rất khác nhau, từ cỡ các hạt keo đến những thể phân tán thô, phụ thuộc vào trạng thái xáo trộn của nước Màu sắc là do những chất màu hữu cơ gây nên, tuy nhiên cũng có một số chất vô cơ có màu, đặc biệt là những hợp chất của Fe và Crom Khi nước bị ô nhiễm màu và độ đục thì làm mất vẻ mỹ quan, giảm chất lượng
sử dụng của nước, quá trình quang hợp trong nước bị giảm, nồng độ oxy hòa tan vì thế bị giảm, nước dễ trở nên yếm khí Khi khử trùng nước bằng Clo, những hợp chất hữu cơ tự nhiên có trong nước này sẽ tạo ra những sản phẩm phản ứng độc hại
- Ô nhiễm do vi sinh vật gây bệnh: khi xả nước thải ra sông hồ, kênh rạch,… đặc biệt là nước thải sinh hoạt một cách trực tiếp mà không qua xử lý hoặc xử lý không đúng mức sẽ gây ô nhiễm nguồn nước, xét về mặt sinh học gồm những điều sau:
+ Sự có mặt của vi khuẩn, vi rút, động vật nguyên sinh gây bệnh + Sự có mặt của các chất gây ô nhiễm làm giảm số lượng cá và số lượng loài sinh vật, tức làm giảm tính đa dạng của hệ sinh thái, bởi vậy làm mất tính ổn định của hệ
+ Các quá trình sinh hóa diễn ra trong nước ô nhiễm (phân hủy sinh học, phát triển vi sinh vật,…) dẫn đến hậu quả là tạo nên những sản phẩm độc hại làm cho nồng độ oxy giảm xuống dưới mức cần thiết để duy trì sự sống của động vật trong nước
Trang 2211
2.1.4 Khái niệm về quan trắc môi trường
Theo Lê Trình (1997), quan trắc môi trường là sự đo đạc, phân tích đánh giá diễn biến chất lượng môi trường theo các thông số chọn lọc trong một không gian theo tần số nhất định
Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam (2005) quy định “Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin phục vụ đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường”, với các mục tiêu cụ thể như sau:
- Cung cấp các đánh giá về diễn biến chất lượng môi trường trên quy
mô quốc gia, phục vụ việc xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường
- Cung cấp các đánh giá về diễn biến chất lượng môi trường của từng vùng trọng điểm, được quan trắc để phục vụ yêu cầu tức thời của các cấp quản
2.1.5.2 Hàm lượng oxy hòa tan (Dissolve – DO)
Oxy hòa tan trong nước, một mặt được hòa tan từ oxy không khí, một mặt sinh ra từ các phản ứng tổng hợp quan hóa của tảo và các thực vật sống trong nước Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hòa tan oxy vào nước là nhiệt độ, áp suất khí quyển, dòng chảy, đặc điểm địa hình,… Ngoài ra, giá trị oxy hòa tan trong nước cũng phụ thuộc vào tính chất vật lý, tính chất hóa học và các hoạt động sinh học xảy ra trong nó Bên cạnh đó, phân tích DO cũng cho ta đánh giá được mức độ ô nhiễm nước và kiểm tra quá trình xử lý nước thải
Trang 2312
Các dòng sông, hồ có DO cao, có nhiều loài sinh vật sinh sống trong đó Khi DO tan trong nước làm giảm khả năng sinh trưởng của động vật thủy sinh, thậm chí làm biến mất một số loài nếu như hàm lượng này giảm đột ngột Nếu
DO quá thấp, thậm chí không còn, nước sẽ có mùi và trở nên đen do trong nước lúc này diễn ra chủ yếu là các quá trình phân hủy yếm khí, các sinh vật không thể sống được trong nước này nữa
Nguyên nhân làm giảm DO trong nước là do nước thải công nghiệp, nước mưa chảy tràn lôi kéo các chất thải nông nghiệp chứa nhiều chất hữu cơ,
lá cây rụng,… Vi sinh vật sử dụng oxy để tiêu thụ các chất hữu cơ làm cho lượng oxy giảm (Trương Mạnh Tiến, 2005)
2.1.5.3 Nhu cầu oxy sinh hóa (Biochemical Oxyen Demand – BOD)
Nhu cầu oxy sinh hóa là lượng oxy cần thiết cho vi sinh vật để oxy hóa
và ổn định các chất hữu cơ hoặc vô cơ trong nước, trong những điều kiện nhất định BOD không những là chỉ tiêu dùng để xác định mức độ nhiễm bẩn của nước mà còn gián tiếp chỉ ra mức độ ô nhiễm do các chất có khả năng bị oxy hóa sinh học, mà đặc biệt là các chất hữu cơ
Trong thực tế, người ta không thể xác định lượng oxy cần thiết để phân hủy hoàn toàn chất hữu cơ vì như thế tốn quá nhiều thời gian (mất 20 ngày),
mà chỉ xác định lượng oxy cần thiết trong 5 ngày đầu ở nhiệt độ ủ 20o
C, ký hiệu là BOD5 vì lúc này đã có khoảng 70 – 80% các chất hữu cơ đã bị oxy hóa Đơn vị tính là mg/l
2.1.5.4 Nhu cầu oxy hóa học (Chemical Oxygen Demand – COD)
Nhu cầu oxy hóa học là lượng oxy cần thiết oxy hóa hoàn toàn các chất hữu cơ khi mẫu nước được xử lý với chất oxy hóa mạnh (K2Cr2O7), trong những điều kiện nhất định Bên cạnh đó, COD còn là chỉ tiêu để đánh giá mức
độ ô nhiễm của nguồn nước (nước thải, nước mặt, nước sinh hoạt) kể cả chất hữu cơ dễ phân hủy và khó phân hủy sinh học
Chỉ số COD biểu thị lượng chất hữu cơ có thể oxy hóa bằng hóa học, bao gồm cả lượng và chất hữu cơ không thể bị oxy hóa bằng sinh vật, do đó giá trị COD cao hơn BOD, nói cách khác COD/BOD >1 Phép phân tích COD có ưu điểm là cho kết quả nhanh (khoảng 2 giờ) nên đã khắc phục được nhược điểm của phép đo BOD (Lê Trình, 1997)
2.1.5.5 Chất rắn lơ lửng (Suspended Solids – SS)
Các chất rắn lơ lửng (các chất huyền phù) là những chất rắn không tan trong nước Hàm lượng các chất lơ lửng là lượng khô của phần chất rắn còn lại trên giấy lọc sợi thủy tinh khi lọc 1 lít nước mẫu qua phễu lọc rồi sấy khô ở nhiệt độ 105oC cho tới khi khối lượng không đổi Đơn vị tính là mg/l
Trang 2413
Chất rắn lơ lửng nói riêng và tổng các chất rắn nói chung có ảnh hưởng đến chất lượng nước trên nhiều phương diện Hàm lượng chất rắn trong nước cao làm hạn chế sự sinh trưởng hoặc ngăn cản sự sinh sống của thủy sinh Phân tích chất rắn lơ lửng để kiểm soát các hoạt động sinh học, đánh giá quá trình xử lý vật lý nước thải, đánh giá sự phù hợp của nước thải với tiêu chuẩn giời hạn cho phép (Trương Mạnh Tiến, 2005)
2.1.5.6 Các hợp chất của Nitơ
Nitơ là nguyên tố chính cần thiết cho các sinh vật nguyên sinh và thực vật phát triển Chúng được biết đến như là chất dưỡng hoặc kích thích sinh học Nitơ có thể tồn tại ở các dạng chính như sau: nitơ hữu cơ, amoniac, nitrit, nitrat
Bên cạnh đó, Nitơ là nguyên tố chính xây dựng tế bào tổng hợp protein nên số liệu về chỉ tiêu nitơ sẽ rất cần thiết để xác định khả năng có thể xử lý một loại nước thải nào đó bằng quá trình sinh học
Các hợp chất nitơ rất đa dạng, thường tồn tại dưới dạng ammoniac, nitrit, nitrate và cả dạng nguyên tố Nitơ (N2) Sự phân giải các chất sống đến cuối cùng đã tạo ra ammoniac (NH3) hòa tan tốt trong nước Trong môi trường kiềm, khí ammoniac thoát ra có mùi khai khó chịu, cạnh tranh sự hòa tan oxy trong nước, gây độc cho các thủy sinh vật Trong môi trường trung tính và axit, ammoniac tồn tại dưới dạng các cation amoni (NH4+), tạo điều kiện cho rêu tảo phát triển khi có ánh sáng Vì vậy ở sông, rạch bẩn, nước thường có màu xanh lục Khi có oxy các vi khuẩn tự dưỡng, ammoniac (NH3) được oxy hóa thành các oxyt của nitơ với các hóa trị khác nhau Các hợp chất này đều độc với người và động vật ở các mức độ khác nhau
2.1.5.7 Chỉ tiêu vi sinh của nước (Coliform)
Khi xả nước thải ra sông hồ, đặc biệt là nước thải sinh hoạt một cách trực tiếp và không qua xử lý hoặc xử lý không đúng mức sẽ gây ô nhiễm nước Xét
về mặt sinh học bao gồm các điều sau:
- Sự có mặt của các vi khuẩn, virus, động vật nguyên sinh gây bệnh, trứng của kí sinh trùng, bào tử
- Sự có mặt của các chất độc làm giảm số lượng cá và các sinh vật, giảm tính đa dạng của hệ sinh thái
- Các quá trình sinh hóa diễn ra trong nước ô nhiễm dẫn đến hậu quả là tạo nên những sản phẩm độc hại làm cho nồng độ oxy giảm xuống mức cần thiết để duy trì sự sống của động vật trong nước
Nước là một phương tiện lan truyền các nguồn bệnh trong thực tế Các bệnh lây lan bằng đường nước là một nguyên nhân chính gây ra ốm đau và tử vong Chất lượng về mặt vi sinh của nước thường được biểu thị bằng nồng độ
Trang 2514
của vi khuân chỉ thị, đó là những vi khuẩn dạng trực khuẩn hay Coliform liform được đặc trưng bởi E.coli (Escherrichia coli) va Streptococci Chúng sống trong đường ruột của người và được thải ra với số lượng lớn trong phân người và động vật máu nóng khác (trung bình khoảng 50 triệu Coliform trong 100ml) Nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý chứa trên 3 triệu Coli/100ml Các tiêu chuẩn nước uống thường định rõ sự an toàn bằng một phương pháp xét nghiệm xác định phát hiện ra ở mức trung bình và không vượt quá 1 Coli-form/100ml
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu được thu thập từ các loại sách, báo cáo khoa học, tạp chí chuyên ngành, các số liệu được cung cấp bởi phòng Tài nguyên và Môi trường quận Cái Răng
2.2.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu được thu thập bằng cách tiến hành phỏng vấn trực tiếp người dân sống quanh khu vực sông Ba Láng bao gồm những nội dung:
- Nhận thức của người dân về tình trạng nước sông Ba Láng bị ô nhiễm
- Nhận định của người dân về mức độ ảnh hưởng của tình trạng nước sông bị ô nhiễm đến sức khỏe và đời sống sinh hoạt của người dân
- Thu thập các ý kiến của người dân nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm nước sông Ba Láng
Trong đó, phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên để đảm bảo ý nghĩa thống kê của mẫu điều tra và có thể đại diện cho tổng thể Cỡ mẫu dự kiến là 60 hộ gia đình (kèm theo bảng câu hỏi) Các hộ gia đình sẽ được chọn
Trang 2615
một cách ngẫu nhiên để phỏng vấn, chọn ngẫu nhiên một hộ để phỏng vấn sau
đó tiếp tục cho đến khi hết số lượng bảng câu hỏi cần phỏng vấn
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Sử dụng phương pháp so sánh các thông số đánh giá chất lượng nguồn nước mặt tại sông Ba Láng với giá trị giới hạn theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt, qua đó, rút ra nhận xét về tình hình chất lượng nước mặt của sông Ba Láng hiện nay
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau Thống kê mô tả cung cấp những tóm tắt đơn giản về mẫu và các thước đo cùng với phân tích đồ họa đơn giản, chúng tạo ra nền tảng của mọi phân tích định lượng về số liệu Để hiểu biết các hiện tượng và ra quyết định đúng đắn, cần nắm được các phương pháp cơ bản mô tả dữ liệu Có rất nhiều
kỹ thuật hay được sử dụng Có thể phân loại các kỹ thuật này như sau:
- Biểu diễn dữ liệu bằng đồ họa, trong đó các đồ thị mô tả dữ liệu hoặc giúp so sánh dữ liệu
- Biểu diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu
Trong quá trình phân tích số liệu trong đề tài này, phương pháp thống kê
mô tả được sử dụng để khái quát hiện trạng chất lượng nước mặt của sông Ba Láng và đánh giá nhận thức của người dân về tình trạng ô nhiễm của sông Trên cơ sở đã phân tích, từ đó đề xuất một số giải pháp cần thiết đề nâng cao nhận thức của người dân trong việc cải thiện chất lượng nước của sông
Trang 2716
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT CỦA
SÔNG BA LÁNG
3.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Lịch sử hình thành quận Cái Răng
Ngày 02/04/2004, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 05/2004/NĐ-CP về việc thành lập các quận Ninh Kiều, Ô Môn, Cái Răng, Bình Thủy, huyện Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thốt Nốt và các xã, phường, thị trấn thuộc thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương
Quận Cái Răng được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân
số xã Hưng Thạnh, một phần của phường Hưng Phú (thuộc thành phố Cần Thơ cũ); toàn bộ diện tích tự nhiên là 246,37 ha và 13.968 nhân khẩu của thị trấn Cái Răng; 1.305,81 ha diện tích tự nhiên và 10.431 nhân khẩu của xã Đông Thạnh; 2.013,29 ha diện tích đất tự nhiên và 12.781 nhân khẩu của xã Phú An; 806,66 ha diện tích tự nhiên và 6.386 nhân khẩu của xã Đông Phú thuộc huyện Châu Thành, 531,52 ha diện tích tự nhiên và 6339 nhân khẩu của
xã Tân Phú Thạnh thuộc huyện Châu Thành A
3.1.2 Điều kiện tự nhiên của quận Cái Răng
3.1.2.1 Vị trí địa lý
Quận Cái Răng nằm ở phía Đông Nam của thành phố Cần Thơ, có tọa độ
từ 105o13’38” đến 105o50’35” kinh độ Đông, từ 09o55’08” đến 10o19’38” vĩ
độ Bắc Địa giới hành chính của quận xác định như sau:
- Phía Đông giáp với tỉnh Vĩnh Long
- Phía Tây giáp với huyện Phong Điền
- Phía Nam giáp với tỉnh Hậu Giang
- Phía Bắc giáp với quận Ninh Kiều
Trang 28
P.Tân Phú
P.Hưng Thạnh
QUẬN CÁI RĂNG
(Nguồn: Phòng Tài Nguyên và Môi trường quận Cái Răng)
Hình 3.1 Bản đồ hành chính quận Cái Răng
Tổng diện tích tự nhiên theo Niên giám thống kê quận Cái Răng (2012)
là 6.832,5 ha, dân số năm 2012 là 89.453 người, chiếm 4,85% diện tích và 7,33% dân số thành phố Cần Thơ Quận Cái Răng bao gồm 7 phường: Lê Bình, Phú Thứ, Hưng Phú, Hưng Thạnh, Ba Láng, Tân Phú, Thường Thạnh
Do quận Cái Răng nằm trong vùng Tây Sông Hậu, ít bị ảnh hưởng ngập
lũ, kế cận với quận Ninh Kiều (trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ, khoa học kỹ thuật của thành phố), nằm trên nhiều tuyến giao thông thủy, bộ huyết mạch quan trọng (quốc lộ 1A, đường nối Cần Thơ – Vị Thanh, Nam Sông Hậu, sông Hậu, sông Cần Thơ) nên quận Cái Răng có nhiều thuận lợi cho phát triển đô thị, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, cảng mang tính chất liên vùng, vai trò của quận được thể hiện:
- Đối nội: quận Cái Răng có vị trí quan trọng về kinh tế - xã hội, là động lực phát triển cho khu vực phía Nam của thành phố, ảnh hưởng đến một
TỈNH HẬU GIANG
B
Trang 29Thế mạnh của quận là công nghiệp, dịch vụ cảng, phát triển đô thị đã và đang là trung tâm thương mại, giao dịch, buôn bán, trao đổi hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho các địa phương lân cận Ngoài ra, hệ thống cơ sở hạ tầng, kinh
tế - xã hội của quận đang từng bước hoàn chỉnh, nhất là mạng lưới giao thông thủy, bộ, thông tin liên lạc, điện, thủy lợi, các công trình văn hóa, du lịch, công cộng, phúc lợi, di tích lịch sử,… là tiền đề đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phát triển kinh tế bền vững với cơ cấu kinh tế, sản xuất hợp lý
3.1.2.2 Địa hình
Quận Cái Răng có địa hình tương đối bằng phẳng, cao trình biến đổi từ 0,8 m đến 1,0 m có xu hướng thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam Địa mạo của vùng được hình thành chủ yếu qua quá trình biển lùi, bồi lắng trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long, trên bề mặt ở độ sâu 50 m có 2 loại trầm tích: Holocene (phù sa mới) và Pleistocene (phù sa cổ)
Nhìn chung, với nền địa hình yếu, cường độ chịu tải tự nhiên chỉ đạt từ 0,24 – 0,5 kg/cm2, đồng thời với nhiều kênh rạch chằng chịt nên khi xây dựng các công trình đòi hỏi chi phí gia cố nền móng rất cao và tốn kém
3.1.2.3 Khí hậu
Quận Cái Răng nói riêng và Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu gió mùa nhiệt đới cận xích đạo Các yếu tố khí hậu được phân bố theo hai mùa trong năm khá rõ rệt
Nhiệt độ bình quân năm và các tháng cao đều (bình quân năm là 27,7o
C, bình quân tháng từ 26,4oC đến 28,6o
C), cùng với số giờ nắng bình quân năm cao (7 giờ/ngày) nên rất thuận lợi cho thâm canh tăng năng suất và nâng cao chất lượng nông sản, nhất là vào mùa khô nếu có đủ nước tưới
Độ ẩm khá ổn định trong khoảng từ 76 – 93% Trong năm độ ẩm thấp nhất thường từ tháng 1 đến tháng 4, cao nhất từ tháng 5 đến tháng 12
Lượng mưa chỉ vào mức trung bình (1.635 mm/năm) và chia làm hai mùa rõ rệt, trong đó mùa mưa đạt 1.512 mm, chiếm 92% lượng mưa cả năm
và mùa khô đạt 123 mm, chỉ chiếm 8% lượng mưa cả năm, dẫn tới mùa mưa
Trang 3019
thường bị ngập úng ở các khu vực địa hình thấp và mùa khô thường thiếu nước cho canh tác, nhưng nhờ có nguồn nước tưới chủ động từ sông Hậu, nên rất thuận lợi cho thâm canh tăng vụ, rải vụ và tăng năng suất cây trồng, có thể đáp ứng nhu cầu nông sản hàng hóa chính như lúa gạo, trái cây, rau đậu, thủy sản gần như quanh năm Đặc biệt là sản xuất nông nghiệp khá ổn định do hầu như không có thiên tai (giông, bão, lũ) nghiêm trọng
3.1.2.4 Thủy văn
Trên địa bàn quận có hai con sông lớn chảy qua: sông Hậu chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, đoạn chảy qua quận có chiều dài khoảng 8,7 km, sông Cần Thơ (một nhánh sông Hậu) đoạn chảy qua quận có chiều dài khoảng 8,5 km Ngoài ra còn có hệ thống kênh, rạch với mật độ khá dày đặc nối với nhau, nối liền với sông Cần Thơ và Sông Hậu
Chế độ dòng chảy trên hệ thống sông, kênh và rạch của quận chịu nhiều
sự chi phối của dòng chảy sông Mê Kông, thủy triều biển Đông, mưa nội vùng
và hệ thống hạ tầng cơ sở, trong đó sự giao thoa giữa chế độ dòng chảy thượng nguồn sông Mê Kông và chế độ thủy triều biển Đông chi phối mạnh nhất
3.1.3 Kinh tế - Xã hội của quận Cái Răng
Nhìn chung, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của quận giai đoạn 2006 – 2012 đạt được những kết quả đáng mong đợi:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế của quận luôn duy trì ở mức cao (bình quân trên 19%/năm), nhiều chỉ tiêu phát triển ngành, lĩnh vực đóng góp lớn vào sự phát triển chung của thành phố Thu thập bình quân đầu người tính theo giá trị thực tế tăng từ 9,5 triệu đồng/người/năm năm 2005 (tương đương 743 USD năm 2005) lên 24,6 triệu đồng năm 2010 (tương đương 1.277,7 USD năm 2010), bằng 65,5% của thành phố và lên 36,2 triệu đồng năm 2012 (tương đương 1.875,6 USD), cao hơn nhiều so với mục tiêu đề ra trong quy hoạch đến năm 2010 là 1.134 USD
- Các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng tăng mạnh, hoạt động thương mại, dịch vụ khá phát triển, hàng hóa đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu sản xuất, mua bán, tiêu dùng của người dân
- Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật đã được đầu tư, nâng cấp, góp phần phát triển kinh tế của quận và thành phố (cầu Cần Thơ, cầu Quang Trung, cảng Cái Cui, các Quốc lộ, mạng lưới cấp điện,…), các cơ sở vật chất
kỹ thuật, thương mại – dịch vụ khá phát triển
- Các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư mới, nâng cấp mở rộng, góp phần đổi mới diện mạo quận; các công trình xây dựng cơ bản có bước chuyển biến tích cực, huy động nhiều nguồn lực (nguồn vốn ngân
Trang 3120
sách và huy động trong dân), tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng (đường, trường, trạm)
- Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, đội ngũ cán bộ khoa học và quản
lý có trình độ cao, tiềm lực khoa học kỹ thuật khá lớn so với các địa phương khác Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40% năm 2012 Trên địa bàn quận đã và đang hình thành các trung tâm đào tạo lớn của thành phố và cấp vùng
- Giải quyết việc làm, hệ thống các trường, mạng lưới y tế được đầu tư nâng cấp, mở rộng, chất lượng được nâng cao Khoa học công nghệ có bước phát triển mới, quy mô, hiệu quả, tiềm lực và trình độ khoa học công nghệ tăng lên
3.1.4 Tổng quan về sông Ba Láng
Sông Ba Láng có chiều dài khoảng 3,1 km, đoạn chảy qua địa phận của phường Ba Láng, quận Cái Răng Dân cư ở đây sống dọc theo hai bờ sông với khoảng 320 hộ gia đình Hoạt động kinh tế hằng ngày của người dân trong khu vực phần lớn là tiểu thương buôn bán nhỏ lẻ trong khu vực chợ, lao động đơn giản, các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ
Khảo sát thực tế cho thấy nhiều hộ dân xây dựng nhà cập hai bên con rạch và có nhiều ghe xuồng thường đậu tại bến chợ Số Mười Vào các con nước ròng trong ngày, mực nước hạ thấp xuống sẽ thấy vô số rác các loại nằm dọc hai bên bờ sông, cống xã nước thải xuống sông có màu đen và mùi hôi, rất nhiều rác trôi nổi,…
Đây cũng là nơi tập trung của nhiều nhà máy, xí nghiệp như:
- Xí nghiệp chế biến thủy sản Thuận Hưng
- Nhà máy chế biến thực phẩm nông trường sông Hậu
Do đó sông Ba Láng không những chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nguồn thải của hoạt động xả thải của cư dân sống dọc theo hai bên bờ sông, một số
hộ sống trên ghe gần khu vực chợ mà còn chịu ảnh hưởng từ các nguồn thải của các xí nghiệp, nhà máy, khu chế xuất, khu công nghiệp,… làm cho mức độ
ô nhiễm của con sông ngày càng trầm trọng hơn
Trang 32Để đánh giá và theo dõi tình hình diễn biến chất lượng nước của sông Ba Láng, trung tâm Quan trắc Tài Nguyên và Môi Trường (sở Tài Nguyên và Môi Trường thành phố Cần Thơ) đã thực hiện thu mẫu nước tại ba vị trí: Vàm Ba Láng, đoạn giữa Rạch Ba Láng, cầu Rạch Chiếc trên lưu vực sông Ba Láng, chia làm 12 đợt thu mẫu trong một năm (một tháng thu mẫu một lần) và các mẫu nước được đưa đi phân tích với nhiều thông số ô nhiễm như: pH, BOD, COD, DO, SS, NH4+, NO2-, NO3-, Coliform, một số kim loại nặng,… sau đó so sánh thông số đã phân tích với quy chuẩn QCVN 08 : 2008 ở cột A2 của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường đã ban hành vào năm 2008
3.2.1 Thông số pH
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài nguyên và Môi trường Tp Cần Thơ)
Hình 3.2 Diễn biến nồng độ pH trung bình tại sông Ba Láng qua ba năm
Qua kết quả quan trắc chất lượng nước trong ba năm ở ba điểm thu mẫu (Vàm Ba Láng, đoạn giữa rạch Ba Láng và Cầu Rạch Chiếc) của sông Ba Láng cho thấy nồng độ pH tại các điểm quan trắc luôn dao động (được trình bày ở Hình 3.2)
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 QCVN 08:2008 (A2) QCVN 08:2008 (A2)
Trang 3322
Tại điểm Cầu Rạch Chiếc từ năm 2012 đến năm 2013 nồng độ pH có chiều hướng giảm nhưng không đáng kể, vào năm 2012 là 7,12 và năm 2013
là 7,11 (chỉ giảm 0,01), còn lại tại các điểm quan trắc khác vào các năm nồng
độ pH đều có chiều hướng tăng trong khoảng từ 6,81 đến 7,16 Tuy nhiên các chỉ số pH trong ba năm này đều dao động nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn QCVN 08 : 2008/BTNMT ở cột A2 (pH: từ 6 đến 8,5) Qua kết quả
đã phân tích trên cho thấy nước ở sông Ba Láng mang tính axit yếu đến trung tính
3.2.2 Thông số oxy hòa tan (DO)
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài nguyên và Môi trường Tp Cần Thơ)
Hình 3.3 Diễn biến nồng độ DO trung bình tại sông Ba Láng qua ba năm
Kết quả quan trắc (được trình bày ở Hình 3.3) vào năm 2011 trên sông
Ba Láng cho thấy hàm lượng DO trong nước tại ba điểm quan trắc Vàm Ba Láng, đoạn giữa rạch Ba Láng và Cầu Rạch Chiếc lần lượt có chỉ số là 4,98 mg/l, 3,88 mg/l và 4,83 mg/l thấp hơn so với quy chuẩn là DO >= 5 mg/l của QCVN 08 : 2008/BTNMT ở cột A2 Nhưng khi đến năm 2012 và năm 2013 thì hàm lượng DO trong nước tại ba điểm quan trắc được cải thiện hơn, mặc dù hàm lượng DO năm 2012 tại điểm Cầu Rạch Chiếc là 4,97 mg/l vẫn thấp hơn quy chuẫn kỹ thuật đã đưa ra nhưng cũng đã tăng hơn so với năm 2011 (4,83 mg/l)
Hàm lượng DO trong hai năm (2012 và 2013) đã được cải thiện nhiều hơn và đã tăng khoảng 1,5 lần so với năm 2011, tuy nhiên vẫn chưa cao Do
đó, cần tiếp tục các biện pháp về môi trường nhằm làm tăng lượng DO trong nước vì đây là chỉ tiêu quyết định đến khả năng làm sạch của dòng sông
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 QCVN 08:2008 (A2)
Trang 3423
3.2.3 Thông số oxy sinh học (BOD)
Qua kết quả quan trắc chất lượng nước mặt của sông Ba Láng qua ba năm thì hàm lượng BOD5 đo được có giá trị dao động từ 4,25 mg/l đến 11,08 mg/l (được trình bày ở Hình 3.4)
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài nguyên và Môi trường Tp Cần Thơ)
Hình 3.4 Diễn biến nồng độ BOD 5 (20 o C) trung bình tại sông Ba Láng
qua ba năm
Vào năm 2011 tại ba điểm thu mẫu, hàm lượng BOD5 có giá trị cao hơn năm 2012 và năm 2013, cao nhất là tại vị trí đoạn giữa Rạch Ba Láng có giá trị
là 11,08 mg/l và cao hơn 1,9 lần so với quy chuẩn QCVN 08 : 2008/BTNMT
ở cột A2 (BOD5 = 6 mg/l) Ngoại trừ vị trí Vàm Ba Láng năm 2012 có hàm lượng BOD5 = 4,25 mg/l thấp hơn quy chuẩn cho phép thì tất cả những điểm quan trắc còn lại qua ba năm đều vượt quy chuẩn cho phép từ 1,1 đến 1,9 lần Điều này cho thấy mức độ ô nhiễm chất hữu cơ của sông Ba Láng là rất cao Giá trị DO không cao, cùng với BOD5 ở mức cao cho nên đây là vấn đề cần phải quan tâm vì rất dễ gây ô nhiễm hữu cơ và ảnh hưởng tới sự sống của thủy sinh vật tại sông Ba Láng và lân cận
3.2.4 Thông số oxy hóa học (COD)
Theo kết quả quan trắc qua ba năm tại ba vị trí thu mẫu trên sông Ba Láng cho thấy nồng độ COD có giá trị dao động từ 6,71 mg/l đến 16,08 mg/l (được trình bày ở Hình 3.5) Hầu hết giá trị COD tại ba vị trí thu mẫu đều nằm trong giới hạn quy chuẩn QCVN 08 : 2008/BTNMT (theo cột A2 COD = 15 mg/l) Tuy nhiên giá trị COD tại vị trí đoạn giữa Rạch Ba Láng vào năm 2011
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 QCVN 08:2008 (A2)
Trang 3524
lại cao hơn quy chuẩn cho phép là 1,1 lần, điều này cho thấy đã có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ tại khu vực này
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài nguyên và Môi trường Tp Cần Thơ)
Hình 3.5 Diễn biến nồng độ COD trung bình tại sông Ba Láng qua ba
năm 3.2.5 Thông số chất rắn lơ lửng (SS)
Qua kết quả quan trắc qua ba năm tại ba vị trí thu mẫu trên sông Ba Láng
ta thấy hàm lƣợng SS có giá trị dao động từ 19,58 mg/l đến 39,58 mg/l (đƣợc trình bày ở Hình 3.6)
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài nguyên và Môi trường Tp Cần Thơ)
Hình 3.6 Diễn biến nồng độ SS trung bình tại sông Ba Láng qua ba năm
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 QCVN 08:2008 (A2)
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 QCVN 08:2008 (A2)
Trang 3625
Kết quả quan trắc vào năm 2011 tại ba vị trí thu mẫu đều có hàm lượng
SS vượt quá quy chuẩn QCVN 08 : 2008/BTNMT ở cột A2 là 30 mg/l từ 1,1 đến 1,3 lần Đến năm 2012 thì hàm lượng SS có phần cải thiện hơn so với năm
2011, cả ba điểm thu mẫu đều có hàm lượng SS thấp hơn so với giới hạn quy chuẩn kỹ thuật đã đưa ra Cụ thể là tại Vàm Ba Láng vào năm 2011 có chỉ số
SS là 34,33 mg/l nhưng đến năm 2012 thì giảm còn 19,58 mg/l, tại đoạn giữa Rạch Ba Láng năm 2011 có hàm lượng SS là 37,33 mg/l đến năm 2012 giảm còn 24,17 mg/l và tại điểm Cầu Rạch Chiếc năm 2011 có chỉ số SS là 39,58 mg/l đến năm 2012 giảm còn 29,67 mg/l Riêng chỉ có năm 2013 tại điểm Vàm Ba Láng thì hàm lượng SS tăng đột ngột so với năm 2012 từ 19,58 mg/l tăng vọt đến 38,08 mg/l, nhưng hai điểm thu mẫu còn lại là đoạn giữa Rạch Ba Láng và Cầu Rạch Chiếc đều có hàm lượng SS thấp hơn quy chuẩn kỹ thuật
và có chiều hướng giảm hơn so với năm 2012 Nhìn chung thì hàm lượng SS tại sông Ba Láng có chiều hướng giảm
3.2.6 Thông số NH 4 +
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài nguyên và Môi trường Tp Cần Thơ)
Hình 3.7 Diễn biến nồng độ NH 4 + trung bình tại sông Ba Láng qua ba
năm
Theo kết quả quan trắc (được trình bày ở Hình 3.7) cho thấy rằng chỉ có
vị trí Vàm Ba Láng vào năm 2012 và 2013, điểm Cầu Rạch Chiếc năm 2013 là
có hàm lượng NH4+ thấp hơn quy chuẩn QCVN 08 : 2008/BTNMT ở cột A2(NH4+ = 0,2 mg/l), cụ thể tại điểm Vàm Ba Láng năm 2012 và 2013 có hàm lượng NH4+
là 0,02 mg/l, tại điểm Cầu Rạch Chiếc năm 2012 là 0,17 mg/l,
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 QCVN 08:2008 (A2)
Trang 3726
những điểm quan trắc còn lại vào các năm điều vượt quy chuẩn kỹ thuật từ 1,3 đến 3,4 lần (nồng độ NH4+ cao nhất là ở điểm Cầu Rạch Chiếc vào năm 2013
là 0,67 mg/l)
Nhìn chung, riêng chỉ có điểm Vàm Ba Láng có chiều hướng giảm qua
ba năm, nhưng còn lại hai điểm thu mẫu còn lại (đoạn giữa Rạch Ba Láng và Cầu Rạch Chiếc) thì nồng độ NH4+ trong nước ở đây có chiều hướng tăng mạnh, kết quả đo được vào năm 2013 ở điểm Cầu Rạch Chiếc có nồng độ
NH4+ = 0,67 mg/l tăng gấp 4 lần so với năm 2012 và tăng 2,5 lần ở vị trí đoạn giữa Rạch Ba Láng
3.2.7 Thông số NO 2
-(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài nguyên và Môi trường Tp Cần Thơ)
Hình 3.8 Diễn biến nồng độ NO 2 - trung bình tại sông Ba Láng qua ba
năm
Theo kết quả quan trắc (được trình bày ở Hình 3.8), giá trị NO2- thu được qua ba năm dao động từ 0,023 mg/l đến 0,05 mg/l Tất cả các chỉ số đo được tại ba điểm thu mẫu quan trắc qua ba năm đều vượt quy chuẩn QCVN 08 : 2008/BTNMT (ở cột A2 NO2- =0,02 mg/l) Đáng quan tâm hơn là hàm lượng
NO2- này trong nước không có chiều hướng giảm mà còn có chiều hướng tăng dần qua các năm Ở điểm Cầu Rạch Chiếc là nơi có hàm lượng NO2- cao nhất trong ba điểm thu mẫu qua ba năm, vượt quy chuẩn cho phép đến 2,5 lần
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 QCVN 08:2008 (A2)
Trang 3827
rằng thông số NO3- hiện diện còn ở mức cho phép, chưa vượt quy chuẩn QCVN 08: 2008/BTNMT ở cột A2 (NO3- = 5 mg/l) Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là hàm lượng NO3- có chiều hướng gia tăng qua từng năm, điển hình như ở điểm Cầu Rạch Chiếc trong vòng ba năm thì nồng độ NO3- trong nước nơi đây đã tăng gấp 3 lần (từ 0,79 mg/l năm 2011 tăng lên 2,38 mg/l năm 2013) và đây cũng là nơi có hàm lượng NO3- cao nhất trong ba điểm thu mẫu quan trắc trên sông Ba Láng
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài nguyên và Môi trường Tp.Cần Thơ)
Hình 3.9 Diễn biến nồng độ NO 3 - trung bình tại sông Ba Láng qua ba
năm 3.2.9 Thông số Fe
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài nguyên và Môi trường Tp Cần Thơ)
Hình 3.10 Diễn biến nồng độ Fe trung bình tại sông Ba Láng qua ba năm
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 QCVN 08:2008 (A2)
Điểm thu mẫu
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 QCVN 08:2008 (A2)
Trang 3928
Qua kết quả quan trắc (được trình bày ở Hình 3.10) ta thấy rằng tại ba điểm thu mẫu được phân tích có hàm lượng Fe dao động với giá trị trong khoảng 0,15 mg/l đến 0,96 mg/l Tất cả các giá trị Fe tại ba vị trí thu mẫu đều nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn QCVN 08 : 2008/BTNMT ở cột
A2 Fe = 1 mg/l Từ năm 2011 đến năm 2013 thì hàm lượng Fe trong nước tại
ba điểm quan trắc đều có chiều hướng suy giảm, vào năm 2012 tại điểm Vàm
Ba Láng có mức giảm mạnh còn 0,15 mg/l so với năm 2011 là 0,60 mg/l
3.2.10 Thông số Coliform
(Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài nguyên và Môi trường Tp.Cần Thơ)
Hình 3.11 Diễn biến nồng độ Coliform trung bình tại sông Ba Láng qua
ba năm
Qua kết quả quan trắc trong ba năm (được trình bày ở Hình 3.11) ta thấy rằng hàm lượng Coliform trung bình có trong nước đo được tại ba điểm quan trắc trên sông Ba Láng đa số đều chưa vượt chuẩn QCVN 08 : 2008/BTNMT
ở cột A2 (Coliform = 5.000 MPN/100ml) Riêng chỉ duy nhất vào năm 2012 tại điểm thu mẫu đoạn giữa Rạch Ba Láng tăng đột biến (5.225 MPN/100ml)
và vượt quy chuẩn kỹ thuật cho phép, nhưng đã giảm xuống dưới quy chuẩn vào năm tiếp theo, đây là tính hiệu khả quan cho chất lượng nước tại sông Ba Láng Tuy nhiên cũng vẫn phải theo dõi quan sát thông số này vì vẫn có nguy
cơ hàm lượng Coliform tăng lên do nhiều nguồn thải khác nhau chảy trực tiếp
ra sông, và có thể dẫn đến một số bệnh (tả, lỵ, thương hàn, tiêu chảy,…) nếu người dân sử dụng trực tiếp nguồn nước từ sông
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 QCVN 08:2008 (A2)
Trang 4029
3.2.11 Một số thông số khác
Qua kết quả quan trắc qua ba năm thì hai thông số F- và Cr6+ có nồng độ hiện diện trong nước trung bình hầu như là không có hoặc rất nhỏ so với quy chuẩn QCVN 08 : 2008/BTNMT ở cột A2 (F- = 1,5 mg/l và Cr6+ = 0,02 mg/l) Trong hai năm 2011 và 2012 tần số xuất hiện của thông số F-
và Cr6+ trong 12 đợt quan trắc rất ít và không liên tục Riêng vào năm 2013 thì hai thông số này (F- và Cr6+) được phát hiện với tần số nhiều hơn tuy nhiên vẫn chưa vượt mức quy chuẩn kỹ thuật cho phép
Đối với thông số Hg, trong kết quả thu được ở ba năm tại ba điểm thu mẫu trên sông Ba Láng thì hoàn toàn không phát hiện sự hiện diện của thông
số này
Đối với thông số Pb, trong kết quả phân tích được thì hàm lượng Pb này
ở ba điểm thu mẫu đều thấp và không vượt quá quy chuẩn QCVN 08 : 2008/BTNMT ở cột A2 (Pb = 0,02 mg/l) Vào năm 2011 thì không phát hiện đến năm 2012 thì Pb được phát hiện duy nhất ở vị trí đoạn giữa Rạch Ba Láng hai lần vào tháng Bảy và tháng Tám với chỉ số là 0,004 mg/l, năm 2013 thì hàm lượng Pb cũng chỉ phát hiện ở điểm Cầu Rạch Chiếc vào tháng Hai và tháng Ba với giá trị là 0,002 mg/l và cũng chưa vượt quy chuẩn cho phép Thông số As theo kết quả quan trắc trong ba năm thì hàm lượng của thông số này đều xuất hiện nhưng không liên tục Nhìn chung trong ba năm, hàm lượng As trung bình tại sông Ba Láng vẫn chưa vượt quá quy chuẩn QCVN 08 : 2008/BTNMT ở cột A2 (As =0,02 mg/l)
Tóm lại: từ các kết quả trình bày nêu trên, ta nhận thấy các thông số
BOD, SS, NH4+, NO2- qua ba năm tại ba điểm thu mẫu quan trắc đều có giá trị vượt quy định của QCVN 08 : 2008/BTNMT (cột A2) Một số thông số có giá trị vượt cao hơn quy chuẩn gấp nhiều lần như NO2-, NH4+ Do đó ta thấy rằng chất lượng nước sông Ba Láng đã và đang bị ô nhiễm, nguyên nhân là do phải tiếp nhận trực tiếp nước thải từ các cơ sở chế biến, sản xuất, xí nghiệp, khu công nghiệp,… và nước thải sinh hoạt từ người dân sống dọc theo hai bờ sông Tuy hiện tại sự ô nhiễm tại sông Ba Láng chỉ mới mang tính cục bộ ở những điểm tập trung các cơ sở chế biến, sản xuất, xí nghiệp, khu công nghiệp,… dọc theo hai bờ sông nhưng các thông số ô nhiễm có xu hướng tăng lên cho nên cần phải có biện pháp khắc phục, ngăn chặn và quản lý các nguồn gây ô nhiễm
để bảo vệ môi trường cũng như chất lượng nước sông