Trong quá trình hoạt động, các cơ sở y tế đã thải ra môi trường những chất thải làm ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và làm lan truyền mầm bệnh tới các vùng xung quanh, đặc biệt l
Trang 1KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐOÀN NGỌC TRINH
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
Trang 2KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐOÀN NGỌC TRINH MSSV: 4115267
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
10 – 2014
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 1
GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶTVẤNĐỀNGHIÊNCỨU 1
1.2 MỤCTIÊUNGHIÊNCỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 PHẠMVINGHIÊNCỨU 2
1.3.1 Phạm vi về không gian 2
1.3.2 Phạm vi về thời gian 2
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 3
CHƯƠNG 2 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2.1 CƠSỞLÝLUẬN 4
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 4
2.1.2 Chất thải rắn y tế 5
2.1.3 Phân loại CTRYT 6
2.1.4 Tác động của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe 10
2.1.5 Tính nhạy cảm của cộng đồng đối với chất thải 18
2.1.6 Các quy chuẩn về quản lý rác thải y tế tại Bệnh viện 18
2.2 PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 18
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 18
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 19
CHƯƠNG 3 20
TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TRÀ VINH VÀ CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN 20
3.1 SƠLƯỢCVỀTỈNHTRÀVINH 20
3.1.1 Vị trí địa lý 20
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 20
Trang 43.2 SƠLƯỢCVỀBỆNHVIỆNĐAKHOATỈNHTRÀVINHVÀLỊCH
TRÀVINH 22
3.2.1 Cơ sở pháp lý 23
3.2.2 Chức năng của bệnh viện 23
3.3 QUYMÔVÀCƠCẤUTỔCHỨCCỦABỆNHVIỆN 24
3.3.1 Tình hình hoạt động y tế tại bệnh viện 24
3.4 NGUỒNPHÁTSINHCHẤTTHẢIRẮNYTẾTẠIBỆNHVIỆN 29
3.4.1 Đặc điểm thành phần và tính chất của chất thải y tế 30
3.4.2 Rác sinh hoạt trong bệnh viện 32
3.5 VIỆCTHỰCHIỆNCÔNGTÁCBẢOVỆMÔITRƯỜNGTẠIBỆNH VIỆN 32 3.5.1 Quy chế bệnh viện 32
3.5.2 Quy chế Bộ Y tế 32
3.5.3 Các văn bản pháp luật 33
3.5.4 Kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện 33
3.5.5 Công tác vệ sinh tại bệnh viện 34
3.5.6 Công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện 35
3.5.7 Công tác xử lý CTRYT trong bệnh viện 36
CHƯƠNG 4 38
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TRÀ VINH 38
4.1 CÔNGTÁCKIỂMSOÁTCHẤTTHẢIRẮNTẠIBỆNHVIỆN 38
4.1.1 Công tác quản lý hành chính đối với chất thải rắn y tế 38
4.1.2 Đánh giá các mặt kỹ thuật trong việc quản lý chất thải rắn y tế 40
4.2 CHIPHÍQUẢNLÍVÀXỬLÍHẰNGNĂM 49
4.2.1 Chi phí hoạt động quản lý chất thải rắn y tế 49
4.2.2 Các khoản chi phí xử lý rác thải y tế tại bệnh viện 51
4.2.3 Lợi ích hệ thống xử lý rác thải y tế 54
4.3 ẢNHHƯỞNGCỦAVIỆCXỬLÍCHẤTTHẢIRẮNYTẾ 54
CHƯƠNG 5 56
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
5.1 KẾTLUẬN 56
Trang 55.2 KIẾNNGHỊ 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 6DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Một số ví dụ về sự nhiễm khuẩn 12
Bảng 3.1: Công tác cấp cứu 24
Bảng 3.2: Công tác khám 24
Bảng 3.3: Điều trị nội trú 25
Bảng 3.4: Cận lâm sàng 26
Bảng 3.5: Phẫu thuật 26
Bảng 3.6: Công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và KHHGĐ 27
Bảng 3.7: Phân loại chất thải 29
Bảng 3.8: Thành phần và các đặc trưng vật lý của chất thải rắn y tế 30
Bảng 4.1: Lượng CTR từ 2011 – 9 tháng đầu năm 2014 tại bệnh viện 41
Bảng 4.2: Kinh phí cho hoạt động quản lý chất thải y tế 50
Bảng 4.3: Chi phí nhân công cho một ngày vận hành 51
Bảng 4.4: Tổng hợp các chi phí vận hành ở lò đốt 52
Bảng 4.5: Các khoản chi phí được chi trả và tự chi trả tại bệnh viện 52
Bảng 4.6: Kết quả quan trắc khí thải lò đốt chất thải rắn y tế 7/2014 54
Trang 7DANH SÁCH HÌNH
Hình 3.1: Quy trình thu gom, phân loại và xử lý chất thải tại bệnh viện 35 Hình 4.1: Lượng chất thải sinh hoạt và chất thải y tế năm 2011 – 2014 41 Hình 4.2: Phân loại CTRYT phát sinh trực tiếp trong quá trình khám chữa bệnh 42
Trang 8LỜI CẢM TẠ
Trước hết em xin vô cùng biết ơn gia đình thân yêu của em, cám ơn cha
mẹ đã tạo điều kiện cho em ăn học và có thể bước chân vào giảng đường đại học, luôn luôn ở bên cạnh, ủng hộ, lo lắng và động viên em trên con đường học vấn
Qua hơn 3 năm học tập tại trường Đại học Cần Thơ em xin chân thành biết ơn quý Thầy, Cô Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh nói riêng và của trường Đại học Cần Thơ nói chung đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý giá cho em trong thời gian học tập và thực hiện đề tài Đặc biệt em chân thành
cám ơn thầy Phạm Lê Thông đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và truyền đạt
kiến thức, kinh nghiệm cho em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Em xin cảm ơn rất nhiều sự hỗ trợ nhiệt tình của Ban giám đốc và các anh chị phòng Kế hoạch tổng hợp Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh đã cung cấp những tài liệu và kiến thức cần thiết trong thời gian thực tập
Tuy nhiên, do kiến thức còn hạn chế nên luận văn sẽ không tránh khỏi những sai sót Vì vậy em rất kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý Thầy/Cô và các Anh/Chị cùng các bạn để luận văn của em hoàn thiện hơn
Cuối cùng em xin chúc Quý Thầy Cô Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Thầy Phạm Lê Thông, và các cô, chú, anh chị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh nhiều sức khỏe, hạnh phúc và thành công
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
Người thực hiện
Đoàn Ngọc Trinh
Trang 9TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực và đề tài không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
Người thực hiện
Đoàn Ngọc Trinh
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Chất thải y tế nếu không được xử lý và quản lý đúng sẽ là nguồn gây ô nhiễm môi trường, đe dọa đến sức khỏe con người, trước hết là ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên y tế, người bệnh và sau đó là toàn cộng đồng và môi trường sống Nhiệm vụ quan trọng của ngành Y tế là chữa bệnh, chăm sóc, bảo
vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân Trong quá trình hoạt động, các cơ sở y tế đã thải ra môi trường những chất thải làm ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và làm lan truyền mầm bệnh tới các vùng xung quanh, đặc biệt là hệ thống bệnh viện bởi số lượng và thành phần độc hại của chất thải y tế Theo Tổ chức y
tế thế giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% là chất thải không nhiễm khuẩn nhưng độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào, các hoá chất độc hại phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điều trị Vì vậy chất thải y tế được xác định là chất thải nguy hại, nằm trong danh mục A các chất thải nguy hại có mã số A4020-Y1 Theo niên giám thống kê năm 2013 trên toàn quốc có khoảng 13.562 cơ sở y tế với tổng số giường bệnh là 280.700 trung bình một bệnh viện thải ra môi trường khoảng 0,86kg CTYT/giường bệnh/ngày; 0,14kg CTYT nguy hại/giường bệnh/ngày Ước tính trung bình mỗi ngày các bệnh viện thải ra khoảng 241,4 tấn chất thải, trong đó có khoảng 39,3 tấn CTYT nguy hại cần phải xử lý
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các bệnh viện không chỉ phát triển về số lượng mà còn phát triển theo hướng chuyên khoa sâu nên chất thải y tế cũng tăng nhanh về số lượng và phức tạp về thành phần Nếu không được quản lý, xử lý an toàn sẽ là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lây lan, lây chéo các bệnh truyền nhiễm, tạo môi trường vi sinh vật gây bệnh kháng thuốc và ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng Theo báo cáo của tổ chức Bảo vệ môi trường của Mỹ có khoảng 162 -
321 trường hợp nhiễm virus viêm gan B có phơi nhiễm với chất thải y tế so với tổng số 300.000 trường hợp nhiễm virus viêm gan B mỗi năm Trong số những nhân viên tiếp xúc với chất thải bệnh viện, nhân viên dọn vệ sinh có tỷ
lệ tổn thương nghề nghiệp cao nhất
Những yếu tố vệ sinh môi trường bệnh viện có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả điều trị cả về chất lượng và thời gian điều trị; tác động trực tiếp tới tâm lý, tinh thần người bệnh Vì vậy, công tác quản lý, xử lý CTYT đang là vấn đề bức xúc và được coi là một trong những ưu tiên cần thực hiện giải quyết kịp thời
Trang 12Quản lý, xử lý chất thải y tế là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành
y tế và các ngành có liên quan nhằm bảo vệ môi trường sống, bảo vệ sức khỏe cho bản thân các thầy thuốc, nhân viên y tế, người bệnh và cộng đồng
Đánh giá được tính cấp bách trong công tác quản lý chất thải y tế nhằm làm giảm thiểu các nguy cơ đối với môi trường và sức khoẻ, bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh đã có nhiều cố gắng trong việc triển khai, thực hiện việc quản lý chất thải y tế Tuy nhiên, do các yếu tố khó khăn khách quan và chủ quan như: khó khăn trong việc phân loại, thu gom, xử lý CTYT, sự hạn hẹp kinh phí, sự quá tải người bệnh và người nhà bệnh nhân tại bệnh viện, làm cho môi trường bệnh viện càng xấu đi và ảnh hưởng đến chất lượng điều trị Để góp phần đề xuất giải pháp cải thiện tình trạng quản lý chất thải y tế phù hợp với điều kiện của bệnh viện, hạn chế mức độ ảnh hưởng của CTYT đối với môi trường và sức khoẻ cộng đồng, đề tài: “Đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh” được thực hiện
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh và đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích thực trạng chất thải rắn y tế phát sinh tại bệnh viện
- Phân tích chi phí, hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện
- Đề xuất biện pháp quản lý phù hợp trong hoạt động bảo vệ môi trường bệnh viện
Trang 131.3.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về việc quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh
Trang 14Chất thải thông thường là chất thải phát sinh từ hoạt động sinh hoạt hằng ngày từ các buồng bệnh
2.1.1.2 Chất thải y tế nguy hại
Là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, lây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy
an toàn
2.1.1.3 Quản lý chất thải y tế
Là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế
và kiểm tra, giám sát việc thực hiện
2.1.1.4 Giảm thiểu chất thải y tế
Là các hoạt động hạn chế tối đa sự phát thải chất thải y tế, bao gồm: giảm lượng chất thải y tế tại nguồn, sử dụng các sản phẩm có thể tái chế, tái sử dụng, quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ quá trình thực hành và phân loại chất thải xác định
2.1.1.5 Vận chuyển chất thải
Là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, tới nơi xử lý ban đầu, lưu giữ, thiêu hủy
Trang 152.1.1.6 Quan trắc môi trường
Quan trắc môi trường là việc theo dõi thường xuyên chất lượng môi trường với các trọng tâm, trọng điểm hợp lý nhằm phục vụ các hoạt động bảo
vệ môi trường và phát triển bền vững
Kế hoạch quan trắc môi trường là một chương trình quan trắc được lập ra nhằm đáp ứng một số mục tiêu nhất định, trong đó bao gồm những yêu cầu về thông tin, các thông số, các địa điểm, tần suất và thời gian quan trắc, các yêu cầu về trang thiết bị, phương pháp phân tích, đo, thử; yêu cầu về nhân lực và kinh phí thực hiện
Các mục tiêu cụ thể của quan trắc môi trường gồm:
Cung cấp các đánh giá về diễn biến chất lượng môi trường trên quy mô quốc gia, phục vụ việc xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường
Cung cấp các đánh giá về diễn biến chất lượng môi trường của từng vùng trọng điểm được quan trắc để phục vụ các yêu cầu tức thời của các cấp quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường
Cảnh báo kịp thời các diễn biến bất thường hay các nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường
Xây dựng cơ sở dữ liệu về chất lượng môi trường phục vụ việc lưu trữ, cung cấp và trao đổi thông tin trong phạm vi quốc gia và quốc tế
Chỉ số WQI (Water quality index) là chỉ số tính toán từ các thông số quan trắc chất lượng nước để mô tả định lượng về chất lượng nước và khả năng sử dụng nguồn nước (Nguồn: Quyết định số 879/QĐ-TCMT ngày 01/07/2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường)
+ WQI 91-100 (xanh biển): sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt + WQI 76-90 (xanh lục): sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần xử lý
+ WQI 51-75 (Vàng): sử dụng cho mục đích tưới tiêu
+ WQI 26-50 (Da cam): sử dụng cho mục đích giao thông thủy
+ WQI 0-25 (Đỏ): nước ô nhiễm nặng cần xử lý
2.1.2 Chất thải rắn y tế
Chất thải y tế là một trong những loại chất thải nằm trong danh mục A của danh mục các chất thải nguy hại Chất thải y tế là một loại chất thải nguy
Trang 16hại, vì vậy việc quản lý chất thải y tế cần tuân thủ các quy định có liên quan đến quản lý chất thải nguy hại Do giới hạn đề tài chỉ tập trung vào CTRYT nên trong phần tiếp theo đề tài chỉ trình bày các nội dung liên quan đến loại CTYT này
2.1.2.1 Thành phần của CTRYT
Thành phần vật lý của CTRYT gồm các dạng sau:
▪ Bông vải sợi: gồm bông băng, gạc, quần áo, khăn lau, vải trải…
▪ Giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh
▪ Nhựa: hộp đựng, bơm tiêm, dây chuyền máu, túi đựng hàng
▪ Thủy tinh: chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm
▪ Kim loại: dao kéo mổ, kim tiêm
2.1.2.2 Thành phần hóa học
Thành phần hóa học gồm 2 loại sau:
▪ Vô cơ: hóa chất, thuốc thử
▪ Hữu cơ: đồ vải sợi, phần cơ thể, thuốc…
2.1.2.3 Thành phần sinh học
Máu, bệnh phẩm, phần cơ thể bị cắt bỏ
2.1.3 Phân loại CTRYT
Theo Quy chế quản lý chất thải của Bộ Y tế, chất thải rắn trong bệnh viện được phân thành 5 loại như sau:
Nhóm A: là chất thải nhiễm khuẩn, chất thải thuộc nhóm này có thể
chứa những mầm bệnh với số lượng và mật độ để có thể gây bệnh cho cơ thể
và vật chủ nhạy cảm Chất thải loại này có thể bị nhiễm khuẩn bởi bất kỳ một loại vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng, nấm
Trang 17Chất thải nhóm A bao gồm vật liệu bị thấm máu, thấm dịch, các chất bài tiết của người bệnh như băng, gạc, bông, găng tay, bột bó trong gãy xương hở,
đồ vải, các túi hậu môn nhân tạo, dây truyền máu, các ống thông, dây và túi đựng dịch dẫn lưu…
Chú ý: bột bó đối với các trường hợp gãy xương kín, không thẩm thấu máu và dịch là chất thải sinh hoạt không phải là chất thải nhiễm khuẩn
Nhóm B: là các vật sắc nhọn, bao gồm: bơm tiêm, kim tiêm, lưỡi và cán
dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và mọi vật liệu có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, cho dù chúng có thể bị nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn
Chú ý:
▪ Các chai đựng các dịch truyền bằng thủy tinh vẫn còn nguyên vẹn, không bị vỡ là chất thải sinh hoạt có thể sử dụng lại, tái chế hoặc cho vào các túi nilon màu xanh tiêu hủy như chất thải sinh hoạt
▪ Bao nilon đựng bơm kim tiêm nhựa dùng một lần là chất thải sinh hoạt
Nhóm C: là chất thải nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét
nghiệm, bao gồm: găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi sinh thiết/ xét nghiệm/ nuôi cấy, túi đựng máu…
Đối với một số chất thải nhiễm khuẩn cao hoặc các sinh vật phẩm nhiễm khuẩn từ các phòng xét nghiệm và các nhà đại thể phải được khử khuẩn bằng sức nóng hoặc hóa chất trước khi thiêu hủy
Nhóm D: là chất thải dược phẩm, bao gồm:
Dược phẩm quá hạn, dược phẩm bị nhiễm khuẩn, dược phẩm bị đổ, dược phẩm không còn nhu cầu sử dụng
Chú ý: những vỏ hộp thuốc, vỉ thuốc không còn thuốc, các chai nhựa và
thủy tinh đựng dung dịch truyền huyết thanh là chất thải sinh hoạt
Thuốc gây độc tế bào Các thuốc gây suy giảm miễn dịch chủ yếu dùng tại các chuyên khoa như ung bứu Chúng là các thuốc chống ung thư hoặc các thuốc hóa trị liệu ung thư Thuốc có khả năng phá hủy hoặc ngừng sự tăng trưởng của các tế bào sống Các thuốc này đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị các bệnh ung thư song cũng là thuốc gây suy giảm miễn dịch trong việc ghép các phủ tạng hoặc điều trị các bệnh có liên quan tới miễn dịch Thuốc thông thường được sử dụng bằng đường tiêm, đường truyền và đôi khi bằng đường uống dưới dạng viên nén, viên nang hoặc thức uống
Chất thải gây độc tế bào gồm:
Trang 18Các vật liệu bị ô nhiễm trong quá trình chuẩn bị và dùng thuốc cho người bệnh như bơm tiêm, kim tiêm, gạc, các lọ thuốc, hộp đóng gói…
Các thuốc quá hạn, các dung dịch còn thừa lại, các chất gây độc tế bào
từ các buồng bệnh đưa về
Nước tiểu, phân, chất nôn có thể gây nguy hại do chứa thuốc gây độc tế bào hoặc các sản phẩm chuyển hóa của chúng Các chất thải của người bệnh được điều trị bằng các thuốc gây độc tế bào cần xem như các chất gây độc trong vòng ít nhất là 48 giờ hoặc đôi khi hàng tuần sau khi dùng thuốc
Tại các bệnh viện chuyên khoa như ung thư, các chất thải gây độc tế bào có thể chiếm tới 1% toàn bộ chất thải của bệnh viện
Nhóm E: là các mô và cơ quan người-động vật, bao gồm: tất cả các mô
của cơ thể (dù nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn); các cơ quan, chân tay, rau thai, bào thai, xác súc vật thí nghiệm
2.1.3.2 Chất thải phóng xạ
Chất thải phóng xạ gồm: chất thải rắn, lỏng và khí
a/ Chất thải phóng xạ rắn gồm: các vật liệu sử dụng trong các xét
nghiệm, chẩn đoán, điều trị như ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, giấy thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ…
b/ Chất thải phóng xạ lỏng gồm: dung dịch có chứa nhân phóng xạ phát
sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết, nước sút rửa các dụng cụ có chứa chất phóng xạ…
c/ Chất thải phóng xạ khí gồm: các chất khí dùng trong lâm sàng, các khí
thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ
2.1.3.3 Chất thải hóa học
Chất thải hóa học phát sinh từ các nguồn khác nhau trong các hoạt động của các cơ sở y tế nhưng chủ yếu là từ các phòng xét nghiệm và các hoạt động liên quan như xét nghiệm, vệ sinh, khử khuẩn Chất thải hóa học bao gồm các chất thải rắn, lỏng và hóa chất ở dạng khí
Các chất thải hóa học có thể gây ra hàng loạt các nguy hại trong quá trình tiêu hủy dưới dạng đơn chất hoặc kết hợp với các chất hóa học khác Vì vậy, phải phân loại chất thải hóa học thành hai loại, chất thải hóa học không nguy hại và chất thải hóa học nguy hại
Chất thải hóa học được coi là nguy hại nếu có ít nhất một trong các đặc tính sau:
Trang 19Gây độc
Ăn mòn như axit có độ pH <2 hoặc bazơ có độ kiềm >12
Dễ cháy
Hoạt hóa (gây nổ, hoạt hóa trong nước)
Chất thải hóa học không gây nguy hại như đường, axit béo, một số muối
vô cơ và hữu cơ
Chất thải hóa học nguy hại bao gồm
a/ Formaldehyde:
Đây là chất thường được dùng trong bệnh viện, nó được sử dụng để làm
vệ sinh, khử khuẩn dụng cụ (như dụng cụ lọc màng bụng hoặc dụng cụ phẫu thuật), để bảo quản các bệnh phẩm hoặc khử khuẩn các chất thải lỏng nhiễm khuẩn Nó được sử dụng tại các khoa giải phẩu bệnh, lọc máu, ướp xác và dùng để bảo quản các mẫu xét nghiệm ở một số khoa khác
b/ Các hóa chất quang học khác:
Các chất này có trong các dung dịch dùng cố định và tráng phim được dùng trong khoa X-quang Các chất cố định thường chứa từ 5-10% hydroquinone, 1-5% kali hydroxide và dưới 1% bạc Các chất trắng chứa khoảng 45% glutaraldehyde
c/ Các dung môi:
Các dung môi dùng trong cơ sở y tế bao gồm: các hợp chất halogen như methylene chloride, chloroform, freons, trichloro ethylene, các thuốc mê bốc hơi như halothane; các hợp chất không có halogen như xylene, acetone, isopropanol, toluene, ethuyl acetate và acetonitrile
d/ Oxit ethylene:
Oxit ethylene được sử dụng để tiệt khuẩn các thiết bị y tế, phòng phẫu thuật nên được đóng thành bình và gắn với thiết bị tiệt khuẩn Loại khí này có thể gây ra nhiều độc tính và có thể gây ra ung thư ở người
e/ Các hóa chất hỗn hợp:
Bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn như phenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh…
Trang 202.1.3.4 Các bình chứa khí có áp suất
Các cơ sở y tế thường có các bình đựng áp suất như bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dụng và các bình đựng khí dùng một lần Các bình này dễ gây cháy, nổ
2.1.3.5 Chất thải sinh hoạt
a/ Chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại, phát sinh từ buồng bệnh, phòng làm việc, hành lang, các bộ phận cung ứng, nhà kho, nhà giặt, nhà ăn… bao gồm: giấy báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng cát tông, túi nilon, túi đựng phim, vật liệu gói thực phẩm, thức ăn dư thừa của người bệnh, hoa quả và chất thải quét dọn từ các sàn nhà của người bệnh ở khu vực bệnh không cách ly
b/ Chất thải ngoại cảnh: lá cây và chất thải từ các khu vực ngoại cảnh
2.1.4 Tác động của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe
2.1.4.1 Đối với môi trường
▪ Đối với môi trường đất:
Khi chất thải y tế được xử lý giai đoạn trước khi thải bỏ vào môi trường không đúng cách thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, các vi khuẩn
có thể ngấm vào môi trường đất gây nhiễm độc cho môi trường sinh thái, các tầng sâu trong đất, sinh vật kém phát triển làm cho việc khắc phục hậu quả về sau gặp lại khó khăn
▪ Đối với môi trường không khí:
Chất thải y tế nguy hại từ khi phát sinh tới khâu xử lý cuối cùng đều gây
ra những tác động xấu tới môi trường không khí Khi phân loại tại nguồn, thu gom, vận chuyển chúng phát tán bụi, rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất vào không khí Ở khâu xử lý (đốt, chôn, lấp) phát sinh ra các khí độc hại Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của cộng đồng dân cư xung quanh
▪ Đối với môi trường nước:
Khi chôn lấp chất thải y tế không đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh Đặc biệt là chất thải y tế được chôn lấp với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm
Trang 212.1.4.2 Tác hại của chất thải rắn y tế lên sức khỏe
a/ Các rủi ro từ chất thải y tế
Chất thải y tế bao gồm một lượng lớn chất thải có đặc điểm như chất thải sinh hoạt chung và một tỷ lệ nhỏ hơn (khoảng 20%) các chất thải có khả năng gây rủi ro cao Chất thải y tế có thể tạo nên những mối nguy cơ tiềm tàng cho sức khỏe con người
b/ Các loại hình rủi ro
Việc tiếp xúc với chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương Khả năng gây rủi ro từ chất thải y tế có thể do một hay nhiều đặc trưng cơ bản sau đây:
▪ Chất thải y tế chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, là tác nhân nguy hại trong rác thải y tế
▪ Các hóa chất dược phẩm có thành phần độc, tế bào nguy hiểm
▪ Các chất chứa đồng vị phóng xạ
▪ Các vật sắc nhọn có thể gây tổn thương
▪ Chất thải có yếu tố ảnh hưởng tâm lý xã hội
c/ Những đối tượng có thể tiếp xúc với nguy cơ
Tất cả mọi cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm chất thải do hậu quả của sự bất cẩn và tắc trách trong các khu quản lý và kiểm soát chất thải
Dưới đây là những nhóm đối tượng có nguy cơ cao đối với tác hại của chất thải y tế:
▪ Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện, những người thực hiện các thủ thuật xâm lấn, tiêm, thay băng,
▪ Những người thực hiện nhiệm vụ phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải y tế từ ngay tại nguồn về nơi tập kết của bệnh viện
▪ Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc bệnh nhân điều trị ngoại trú
▪ Khách tới thăm người nhà bệnh nhân, người thăm nuôi
Trang 22▪ Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ bệnh viện phục vụ cho các cơ sở khám chữa bệnh và điều trị, chẳng hạn như giặt là, lao công, vận chuyển bệnh nhân, vệ sinh tẩy uế
▪ Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại bãi đổ rác thải, các lò đốt rác) và những người bới rác, thu rác
Chất thải y tế nguy hại phát sinh từ dịch vụ cơ sở y tế tư nhân, qui mô lẻ, nằm rải rác cũng là nguồn thải có tiềm năng gây rủi ro về môi trường và sức khỏe do nguồn chất thải này thường khó kiểm soát và ít khi được chú ý tới Đôi khi, ngay cả những tủ thuốc gia đình hoặc một số tệ nạn xã hội như tiêm chích ma túy cũng là nguồn phát sinh chất thải y tế nguy hại có tiềm năng gây rủi ro cao về môi trường và sức khỏe
Các nguy cơ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn: Các vật thể trong thành phần chất thải y tế nguy hại có thể chứa đựng một lượng rất lớn bất kỳ tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào như tụ cầu, HIV, viêm gan B Các tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua các hình thức sau:
- Qua da (qua một vết thủng, trầy xước hoặc vết cắt trên da do vật sắc nhọn gây tổn thương)
- Qua các niêm mạc (màng nhầy)
- Qua đường hô hấp (do xông, hít phải)
- Qua đường tiêu hóa (do nuốt, ăn phải)
Các ví dụ về sự nhiễm khuẩn do tiếp xúc với chất thải y tế được liệt kê trong bảng dưới đây qua đường truyền là các dịch thể như máu, dịch não tùy, chất nhờn, nước mắt, tuyến nhờn
Có một mối liên hệ đặc biệt giữa sự nhiễm khuẩn do virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch người (HIV) và virus viêm gan B, C đó là bằng chứng của việc lan truyền các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm qua đường phát thải chất thải rắn y tế Những virus này thường lan truyền qua vết tiêm hoặc các tổn thương do kiêm tiêm có nhiễm máu người bệnh
Trong các cơ sở y tế, tính kháng đa thuốc kháng sinh của các vi khuẩn đối với hàng loạt họ kháng sinh và hóa chất sát khuẩn cũng có thể tạo ra những mối nguy cơ do sự quản lý yếu kém chất thải y tế Điều này đã được chứng minh, chẳng hạn các plasmid từ các động vật thí nghiệm có trong chất thải y tế được truyền cho vi khuẩn gốc qua hệ thống xử lý chất thải Hơn nữa,
vi khuẩn E.coli kháng thuốc đã cho thấy nó vẫn còn sống trong môi trường
Trang 23bùn hoạt tính mặc dù ở đó có vẻ không phải là môi trường thuận lợi cho loài sinh vật này trong điều kiện thông thường của hệ thống xử lý và thiêu hủy chất thải y tế
Độ tập trung các tác nhân gây bệnh và các vật sắc nhọn bị nhiễm các vi sinh vật gây bệnh (đặc biệt là những mũi kim đã được tiêm qua da) hầu như là những mối nguy cơ tiềm ăn sâu sắc đối với sức khỏe trong các loại chất thải bệnh viện Các vật sắc nhọn có thể không chỉ là nguyên nhân gây ra những vết cắt, vết đâm thủng mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu nó bị nhiễm các tác nhân gây bệnh Như vậy, những vật sắc nhọn được coi là một loại chất thải y tế rất nguy hiểm bởi nó gây ra những tổn thương kép: vừa gây tổn thương lại vừa lây truyền các bệnh truyền nhiễm Những vấn đề đáng lưu tâm
là sự nhiễm trùng có thể được lây truyền bởi sự xâm nhập qua da do các tác nhân gây bệnh, ví dụ như nhiễm khuẩn huyết do virus Các loại kim tiêm đã tiêm qua da là một thành phần quan trọng nhất của loại chất thải sắc nhọn và
là mối nguy hiểm đặc biệt bởi chúng thường bị dính máu bệnh nhân
Bảng 2.1: Một số ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại chất thải y
tế, các loại sinh vật gây bệnh và phương thức lây truyền
Các dạng nhiễm khuẩn Tác nhân gây bệnh Chất truyền
Nhiễm khuẩn đường
tiêu hóa
Vi khuẩn đường tiêu hóa như: Salmonella, Shigella, Vibrio Cholera, (thương hàn, lỵ, tả) trường giun
Phân và chất nôn
Nhiễm khuẩn hô hấp Vi khuẩn lao, vi rút sởi, phế cầu khuẩn Chất tiết đường hô hấp, nước bọt
Viêm gan B và C Vi rút viêm gan B và C Máu và dịch cơ thể
Nguồn: Tài liệu hướng dẫn thực hành quản lý chất thải y tế, Bộ Y tế, năm 2000
Những mối nguy cơ từ loại hóa chất và dược phẩm
Nhiều loại hóa chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế là mối nguy cơ đe dọa sức khỏe con người như các độc dược, các chất gây độc gen, chất gây độc tế bào, chất ăn mòn, các chất gây phản ứng, gây nổ, gây sốc
Trang 24phản vệ các chất này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế hoặc đôi khi với tỷ lệ khá lớn nhưng trong các dạng thuốc, sinh phẩm bị quá hạn, thuốc thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ Chúng có thể gây nhiễm độc do tiếp xúc cấp tính và gây nhiễm độc mãn tĩnh, gây ra các tổn thương như bỏng Sự nhiễm độc này có thể là do kết quả của sự hấp thụ hóa chất, hoặc dược phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hóa Việc tiếp xúc với các chất dễ cháy, chất ăn mịn, các hố chất gây phản ứng (formandehyt và các chất dễ bay hơi khác) có thể gây nên những tổn thương tới da, mắt, hoặc niêm mạc đường hô hấp Các tổn thương hay gặp nhất là vết bỏng
Các hóa chất khử trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng của nhóm chất thải y tế dạng hóa chất Chúng thường được sử dụng với số lượng lớn và thường là những chất ăn mòn Cũng cần phải lưu ý rằng đây cũng là loại hóa chất gây phản ứng và cũng có thể tạo nên các dạng hỗn hợp thứ cấp
Các sản phẩm hóa chất được thải thẳng vào hệ thống cống thải có thể gây nên bất lợi tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải (nhất là hệ thống xử lý công nghệ phân hủy sinh học) hoặc gây ảnh hưởng độc hại tới hệ sinh thái tự nhiên tiếp nhận nguồn nước này Những vấn đề tương tự như vậy cũng có thể xảy ra do sản phẩm của quá trình bào chế dược phẩm bao gồm các kháng sinh
và các loại thuốc khác, do các kim loại nặng như thủy ngân, phenol và các dẫn xuất, các hóa chất khử trùng và tẩy uế
Những nguy cơ từ chất thải gây độc gen tế bào
Đối với các nhân viên y tế do nhu cầu công việc phải tiếp xúc và xử lý loại chất thải gây độc gen tế bào mà mức độ ảnh hưởng và chịu tác động từ các rủi ro tiềm tàng sẽ phụ thuộc vào các yếu tố như tính chất, liều lượng gây độc của chất độc và khoảng thời gian tiếp xúc với chất độc đó Quá trình tiếp xúc với các chất độc trong công tác y tế có thể xảy ra trong lúc chuẩn bị hoặc trong quá trình điều trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc bằng phương pháp hóa trị
Trang 25liệu Những phương thức tiếp xúc chính là hít phải hóa chất có tính nhiễm độc
ở dạng bụi hoặc hơi mùi qua đường hô hấp, bị hấp thụ qua da do tiếp xúc trực tiếp, qua đường tiêu hóa do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc Việc nhiễm độc qua đường tiêu hóa thường là do ảnh hưởng của những thói quen xấu, chẳng hạn như dùng miệng để hút ống pitpet trong các công việc như khi định lượng dung dịch, xét nghiệm sinh hóa Mối nguy hiểm cũng có thể xảy ra khi tiếp xúc với các loại dịch thể và chất tiết nhất là các bệnh phẩm cần xét nghiệm của những bệnh nhân đang trong giai đoạn điều trị bằng phương pháp hóa trị liệu Độc tính đối với tế bào của nhiều loại thuốc chống ung thư là tác động đến các chu kỳ đặc biệt của tế bào, nhằm vào các quá trình tổng hợp hoặc quá trình phân bào nguyên phân Các thuốc chống ung thư khác, chẳng hạn như nhóm ankyl hóa, không phải là pha đặc hiệu, chỉ biểu hiện độc tính tại một vài điểm trong chu kỳ tế bào Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy nhiều loại thuốc chống ung thư lại gây nên ung thư và gây đột biến
Nhiều loại thuốc có tính độc gây kích thích cao độ và gây nên những hậu quả hủy hoại cục bộ sau khi tiếp xúc trực tiếp với da hoặc mắt, chúng có thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da
Cần phải đặc biệt cẩn thận trong việc sử dụng, vận chuyển chất thải gây độc gen tế bào Việc làm thoát thải những chất thải như vậy vào môi trường có thể gây nên những hậu quả sinh thái không thể lường trước được, nhiều khi tác hại tới môi trường và sinh thái rất nghiêm trọng
Những nguy cơ từ các loại chất phóng xạ
Loại bệnh và hội chứng gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi chất thải, đối tượng và phạm vi tiếp xúc Chất thải phóng xạ cũng như chất thải dược phẩm là loại độc hại tới tế bào, gen, và cũng có thể ảnh hưởng đến các yếu tố di truyền Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao, ví dụ như: các nguồn phóng xạ của các phương tiện chuẩn đoán như máy X-quang, máy chụp cắt lớp,…có thể gây ra một loại các tổn thương chẳng hạn như phá hủy các mô, nhiều khi gây bỏng cấp tính (với một số trường hợp mức độ bị ảnh hưởng trầm trọng tới việc xử lý loại bỏ hoặc cắt cụt các phần cơ thể bị ảnh hưởng)
Các nguy cơ từ các loại chất thải có chứa các đồng vị hoạt tính thấp có thể phát sinh do việc nhiễm xạ trên bề mặt của các vật chứa, do phương thức hoặc thời gian lưu trữ loại chất thải này Các nhân viên y tế hoặc những người làm nhiệm vụ thu gom và vận chuyển rác khi phải tiếp xúc với chất thải có chứa các loại đồng vị phóng xạ này là những người thuộc nhóm nguy cơ cao
Trang 26 Đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp CTRYT
Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người ở ngoài các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai sót trong khâu quản lý chất thải Dưới đây là những nhóm chính có nguy
cơ cao:
- Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện
- Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú
- Khách tới thăm người nhà bệnh nhân
- Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ
sở khám chữa bệnh và điều trị, chẳng hạn như giặt, là, lao công, vận chuyển bệnh nhân…
- Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đỗ rác thải, các lò đốt rác) và những người bới rác, thu gom rác…
Tác động từ CTRYT
a/ Từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc, nhọn
Các vật thể trong thành phần của CTRYT có thể chứa đựng một lượng rất lớn bất kỳ tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm Một mối nguy cơ rất lớn hiện nay đó là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch (HIV) cũng như các virus lây qua đường máu như viêm gan B, C có thể lan truyền ra cộng đồng qua con đường rác thải y tế Những virus này thường lan truyền qua vết tiêm hoặc các tổn thương qua kim tiêm có nhiễm máu người bệnh Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức sau:
- Qua da (qua một vết thủng, trầy xước hoặc vết cắt trên da)
- Qua các niêm mạc (màng nhầy)
- Qua đường hô hấp (do xông, hít phải)
- Qua đường tiêu hóa
b/ Từ loại chất thải hóa chất và dược phẩm
Rất nhiều hóa chất và dược phẩm dùng trong các cơ sở y tế là chất thải nguy hại (gây độc, ăn mòn, dễ cháy, gây nổ, gây sốc phản vệ, độc tính di truyền) Chúng có thể gây độc cho người tiếp xúc lần đầu hoặc thường xuyên
Trang 27tiếp xúc với chúng, như tổn thương da hoặc bị bỏng…Sự nhiễm độc có thể là kết quả của sự hấp thụ các hóa chất, dược phẩm qua da, do hít hoặc ăn phải Thương tích có thể do bị cháy, ăn mòn, tác động trở lại trên da, mắt hoặc niêm mạc đường thở Thương tổn hay gặp nhất là gây bỏng
Các hóa chất khử khuẩn tạo ra một nhóm đặc biệt quan trọng Vì chúng được sử dụng với một khối lượng lớn và thường ăn mòn Cũng cần chú ý các hóa chất phản ứng có thể sinh ra những hợp chất thứ cấp với độc tính rất cao Các chất thải hóa học thải bỏ vào hệ thống cống rãnh tác động tới sự hoạt động sinh học của các bể xử lý nước thải hoặc các dược phẩm cũng có thể tạo
ra ảnh hưởng tương tự vì chúng chứa kháng sinh, một số kim loại nặng như thủy ngân, phenol, chất sát khuẩn hoặc khử khuẩn khác
c/ Từ chất thải gây độc tế bào
Đối với các nhân viên y tế chịu trách nhiệm tiếp xúc và xử lý chất thải gây độc gen, mức độ ảnh hưởng của những mối nguy cơ bị chi phối bởi sự kết hợp giữa bản chất độc và phạm vi, khoảng thời gian tiếp xúc với chất độc đó Quá trình tiếp xúc với các chất độc trong công tác y tế có thể xảy ra trong lúc chuẩn bị hoặc trong quá trình điều trị bằng các dạng thuốc đặc biệt hoặc bằng hóa trị liệu Những phương thức tiếp xúc chính là hít phải dạng bụi hoặc dạng phun sương qua đường hô hấp; hấp thụ qua da; qua đường tiêu hóa do ăn phải thực phẩm bị nhiễm thuốc, hóa chất hoặc chất bẩn có tính độc Việc nhiễm độc qua đường tiêu hóa là kết quả của những thói quen xấu chẳng hạn dùng miệng
để hút ống pitpet trong khi định lượng dung dịch Mối nguy hiểm cũng có thể xảy ra khi tiếp xúc với các loại dịch thể và các chất bài tiết của những bệnh nhân đang được điều trị bằng hóa trị liệu
Nhiều thuốc gây độc tế bào có tính kích thích cực kỳ mạnh gây ra tác động nguy hại tại chỗ sau khi tiếp xúc trực tiếp với da hoặc mắt Chúng còn có thể gây ra ngủ gà, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da
Bất kỳ loại chất thải gây độc tế bào nào, nếu đào thải bừa bãi vào môi trường có thể gây ra các biến đổi về sinh thái học, vì vậy cần có biện pháp trong việc vận chuyển và tiêu hủy các chất gây độc tính di truyền
d/ Từ các chất thải phóng xạ
Những bệnh do các chất phóng xạ gây nên được xác định bởi liều lượng
và kiểu phơi nhiễm Nó có thể gây ra hàng loạt các dấu hiệu như: đau đầu, ngủ
gà, nôn, đồng thời ảnh hưởng tới các chất liệu di truyền Những người làm công tác xử lý các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao cũng có thể bị nhiều tổn
Trang 28thương nghiêm trọng (như phải cắt cụt một phần của cơ thể), vì vậy những chất thải này phải được xử lý nghiêm ngặt theo đúng quy định
Biến cố có thể xảy ra bởi các chất thải có tính hoạt hóa thấp do lớp bề mặt bên ngoài của các thùng chứa bị ô nhiễm hoặc do bảo quản không đúng cách Mọi nhân viên y tế tiếp xúc với chất thải phóng xạ đều có nguy cơ mắc bệnh cao
2.1.5 Tính nhạy cảm của cộng đồng đối với chất thải
Bên cạnh việc gây ra nguy hại cho sức khỏe, cộng đồng rất nhạy cảm đối với các chất thải từ các hoạt động phẫu thuật nếu như họ nhìn thấy các bộ phận, cơ quan của cơ thể hoặc bào thai Bởi vì không có nơi nào trên thế giới chấp nhận các chất thải phẫu thuật này lại trộn lẫn với các chất thải công cộng Một số nền văn hóa như ở Châu Á, tập quán và tín ngưỡng đòi hỏi phải cho vào quan tài nhỏ các phần cơ thể cắt ra để đưa về chôn cất ở nghĩa trang quê hương người bệnh
2.1.6 Các quy chuẩn về quản lý rác thải y tế tại Bệnh viện
Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế
Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT về việc ban hành 21 tiêu chuẩn vệ sinh lao động, 05 nguyên tắc và 07 thông số vệ sinh lao động
QCVN 02:2012/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế Quy định giá trị tối đa cho phép của các thông số ô nhiễm trong khí thải lò đốt chất thải rắn y tế
Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/04/2011 của Bộ Tài nguyên
và môi trường Quy định về quản lý chất thải nguy hại
Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 04 năm 2007 của Chính phủ quy định hoạt động quản lý chất thải rắn, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến chất thải rắn
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thu thập được là những số liệu thứ cấp về chất thải rắn y tế trong giai đoạn 2011-9/2014 do Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh cung cấp Những
số liệu liên quan đến các thông tin về: lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh, thực trạng môi trường nước và tình hình chất thải rắn y tế phát sinh
Trang 29Ngoài ra, còn thu thập ở các báo cáo thống kê của Bộ Tài nguyên, niên giám thống kê, tạp chí khoa học, xử lý môi trường và các tư liệu của doanh nghiệp Các trang thông tin điện tử, các đề tài nghiên cứu và các tài liệu có liên quan
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Thông qua phương pháp thống kê để trình bày về hiện trạng chất thải y tế phát sinh cũng như các tác động đến môi trường của các chất thải nếu chưa được xử lý
Phân tích chi phí quản lý chất thải rắn y tế phát sinh được trong các quý của những năm gần đây và hiệu quả công tác quản lý chất thải
So sánh chi phí và hiệu quả của việc quản lý chất thải theo chuẩn mực của Bộ Y tế
Từ các kết quả phân tích và so sánh nhằm đề ra các giải pháp giúp công tác quản lý được tốt hơn, phát triển bền vững trong thời gian tới Hiệu quả
quản lý tốt hơn
Trang 30CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TRÀ VINH VÀ CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN
3.1 SƠ LƯỢC VỀ TỈNH TRÀ VINH
3.1.1 Vị trí địa lý
Bệnh viện được xây dựng trên toàn bộ diện tích là 34.289,8 m2 với vị trí các mặt tiếp giáp như sau
- Phía Bắc giáp: Đường Nguyễn Văn Trỗi
- Phía Nam giáp: Đường Phạm Ngọc Thạch
- Phía Tây giáp: Đường Điện Biên Phủ
- Phía Đông giáp: Đường Đồng Khởi
3.1.2 Điều kiện tự nhiên
Thành phố Trà Vinh là thành phố trực thuộc tỉnh có diện tích tự nhiên 6.816,20 ha, thành phố Trà Vinh có 10 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Phường 1, phường 2, phường 3, phường 4, phường 5, phường 6, phường 7, phường 8, phường 9, xã Long Đức
Thành phố Trà Vinh nằm ở phía Nam sông Tiền có tọa độ địa lý từ
106018’46’’ đến 106025’ kinh độ Đông và từ 9030’16’’ đến 1001’ vĩ độ Bắc
- Phía Bắc giáp tỉnh Bến Tre (sông Cổ Chiên)
- Phía Tây giáp huyện Càng Long
- Phía Đông và Nam giáp huyện Châu Thành
Thành phố Trà Vinh nằm trên Quốc lộ 53, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 200km và cách thành phố Cần Thơ 100km, cách bờ biển Đông 40km Với hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy khá hoàn chỉnh, thành phố
có điều kiện thuận lợi để giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và với các huyện trong tỉnh
Đặc điểm địa hình
Thành phố Trà Vinh có địa hình đồng bằng ven biển, ảnh hưởng bởi sự giao thoa giữa sông và biển, hình thành các vùng trũng, phẳng xen lẫn các giồng cát, địa hình cao ở khu vực nội thành và thấp dần ra các cánh đồng xung quanh
Trang 31Địa hình có cao trình phổ biến từ 0,6- 1,4m; chiếm 86% diện tích tự nhiên, đất thấp trũng có cao trình tuyệt đối trên 1,4m chiếm 11% diện tích tự nhiên
Địa hình của thành phố được chia làm 2 khu vực khác nhau:
- Khu vực đất giồng cát chạy dài từ phía Bắc xuống phía Nam, có chiều rộng 300-400m, dài từ 10-15km, cao độ trung bình 2m là đất thuận lợi cho mục đích xây dựng và làm đất ở do không bị ngập úng bởi mưa, lũ và có khả năng thoát nước tốt
- Khu vực đất ruộng nằm về 2 phía của giồng cát có độ cao trung bình 0,8m; có khả năng tưới tiêu tự chảy tốt, ít bị ngập úng, hiện đang sử dụng vào các mục đích nông nghiệp cho hiệu quả cao
Khí tượng thủy văn
Khí hậu
Thành phố Trà Vinh mang đặc điểm khí hậu vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long, có mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 28,50C (tháng 4), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 250C (tháng 1)
- Mưa và lượng bốc hơi: Tổng lượng mưa hàng năm khoảng 1600mm, cao nhất 1875mm và thấp nhất 1200mm
- Độ ẩm không khí: Thành phố Trà Vinh nằm ở vùng khí hậu khô, độ ẩm trung bình 82%, độ ẩm cao nhất 90% ở các tháng mùa mưa và thấp nhất 75% vào các tháng mùa khô
Thủy văn
Thành phố Trà Vinh có mạng lưới sông rạch tương đối nhiều nhưng phân
bố không đều, chủ yếu tập trung ở phía Bắc (sông Cổ Chiên) và phía Tây Sông rạch trên địa bàn chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều biển Đông
- Sông Cổ Chiên: Nằm ở phía Bắc thành phố, là 1 trong 3 nhánh sông lớn của sông Tiền Đoạn chảy qua thành phố với chiều dài khoảng 11km, chiều rộng 1,5-2km (kể cả cù lao giữa sông), chiều sâu từ 3-6m, hướng dòng chảy từ Tây Bắc xuống Đông Nam
- Sông Trà Vinh (sông Long Bình): Là sông đào chảy dọc phía Đông, có
01 đoạn đi qua phường 9 và nằm kẹp giữa phường 5 với phường 3, phường 4, phường 6 của thành phố Con sông này một đầu nối với sông Cổ Chiên (ở phía
Trang 32Bắc thành phố), đầu còn lại nối với kênh Thống Nhất (phía Nam thành phố) Sông Long Bình có chiều dài khoảng 9,5km (đoạn chảy qua thành phố), rộng 20-30m, sâu 3-6m và có vai trò quan trọng trong việc tiêu nước và vận tải hàng hóa của thành phố
- Sông Láng Thé: Bắt nguồn từ sông Cổ Chiên, cách biển 38km, chạy dọc theo ranh giới giữa thành phố Trà Vinh và huyện Càng Long, dài 8km rộng từ 30- 32m, sâu từ 3-6m, sông này có nhiệm vụ chính là cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp
Ngoài các con sông lớn còn có các kênh rạch nhỏ, phần các kênh rạch này đều đấu nối với sông Cổ Chiên, tạo nên mạng lưới cấp – thoát nước và giao thông thủy của thành phố
Chế độ thủy văn
Do ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều ở biển Đông trên địa bàn thành phố, mỗi ngày có 2 lần triều lên, 2 lần triều xuống, trong 1 tháng có 2 lần triều cường và 2 lần triều kém, đỉnh triều dao động trung bình từ 0,6m đến 1,52m Chế độ thủy văn tạo khả năng tưới tiêu tự chảy quanh năm làm giảm chi phí cho sản xuất nông nghiệp, nhưng cũng đưa mặn xâm nhập sâu vào nội đồng hàng năm từ tháng 4 đến tháng 6, gây ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
3.2 SƠ LƯỢC VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TRÀ VINH VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TRÀ VINH
Tên bệnh viện: Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh
Địa chỉ: 27 Điện Biên Phủ - P6 – TP Trà Vinh – Tỉnh Trà Vinh
Tòa nhà mới của Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh ngày nay gồm 3 tầng
và chia thành các khu như sau:
Khu 1: khoa Nhi, khoa Nội, khoa Vật lý trị liệu phục hồi chức năng
Trang 33Khu 2: khoa Sản, khoa Phẫu thuật gây mê hồi sức, khoa Nội
Khu 3: khoa Thần Kinh, khoa Ngoại tổng hợp, khoa Mắt
Khu 4: khoa Chấn thương chỉnh hình, khoa Giải phẩu bệnh, khoa Dinh Dưỡng
Ngoài ra, còn có các khoa phòng còn lại đặt ở các khu khác và khoa Nhiễm đặt ở khu cách ly
3.2.1 Cơ sở pháp lý
Thực hiện chính sách đổi mới của Nhà nước để phù hợp với cơ chế kinh
tế mới trong lĩnh vực khám và chữa bệnh, yêu cầu cấp bách là phải tăng cường công tác quản lý bệnh viện, phải cụ thể hóa chức năng nhiệm vụ, chức danh công tác và cơ chế quản lý chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện
3.2.2 Chức năng của bệnh viện
3.2.2.1 Cấp cứu – Khám bệnh – Chữa bệnh
Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài vào hoặc các bệnh viện tuyến huyện chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú
Tổ chức khám sức khỏe và chứng nhận sức khỏe theo Quy định của Nhà nước
Có trách nhiệm giải quyết hầu hết các bệnh tật trong tỉnh
Tổ chức khám giám định sức khỏe, giám định pháp y khi hội đồng giám định y khoa tỉnh hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu
Chuyển người bệnh lên tuyến trên khi bệnh viện không đủ khả năng giải quyết
3.1.2.3 Nghiên cứu khoa học về y học và phòng bệnh
Tổ chức nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu các đề tài y học ở cấp Nhà nước, cấp Bộ, hoặc cấp cơ sở, chú trọng nghiên cứu về Y học cổ truyền kết hợp với Y học hiện đại và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc
Trang 34Tuyên truyền phòng bệnh và giáo dục sức khỏe hằng ngày trên hệ thống phát thanh của Bệnh viện, phát băng ghi hình tại khoa Khám bệnh, lồng ghép vào nội dung sinh hoạt hội đồng người bệnh hàng tuần tại các khoa lâm sàng,
hội đồng người bệnh cấp bệnh viện hàng tháng
Các khoa, phòng và Bệnh viện lập kế hoạch, chuẩn bị dự trù phương tiện, thuốc, hóa chất… sẵn sàng ứng phó với thiên tai, thảm họa, ngộ độc tập
thể
Lập kế hoạch và triển khai công tác phòng chống bệnh dịch: sốt xuyết huyết, cúm A (H1N1, H5N1, H7N9), tiêu chảy cấp nguy hiểm, tay chân
miệng, sởi, theo sự chỉ đạo của Bộ Y tế và Sở Y tế
Chủng ngừa cho trẻ sơ sinh, hướng dẫn bà mẹ chế độ ăn uống sau khi sinh,…Động viên thai phụ khám thai định kỳ phát hiện sớm có nguy cơ để kịp thời điều trị Duy trì thực hiện chương trình “Nuôi con bằng sữa mẹ”
Tham gia viết bài truyền thông sức khỏe tỉnh 21 bài, tham gia chương trình
sức khỏe cho mọi người của Đài phát thanh truyền hình tỉnh 02 lượt
3.3 QUY MÔ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA BỆNH VIỆN
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh là bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh có số giường kế hoạch là 500 giường và 775 giường thực kê Tổng số cán bộ y tế và nhân viên của bệnh viện là 709 người, trong đó số cán bộ thuộc biên chế chính thức của bệnh viện là: 621 người
Cơ cấu tổ chức bệnh viện gồm: ban giám đốc, 6 phòng chức năng, 18 khoa lâm sàng, 6 khoa cận lâm sàng như sau:
Các khoa lâm sàng (là khoa có giường bệnh và người bệnh ở lại bệnh viện điều trị) gồm có 18 khoa là: khoa Khám bệnh, khoa Cấp cứu nhận bệnh, khoa Hồi sức tích cực- chống độc, khoa Nội tổng hợp, Khoa Nội A, Khoa Nội Tim mạch – Lão khoa, khoa Thần Kinh, khoa Truyền nhiễm, khoa Y học cổ truyền, khoa Ngoại Tổng hợp, khoa Chấn thương chỉnh hình, Khoa Phẫu thuật gây mê hồi sức, khoa Tai Mũi Họng, khoa Răng hàm mặt, Khoa Mắt, Khoa Vật lý trị liệu phục hồi chức năng,
Các khoa cận lâm sàng (là khoa không có người bệnh nằm điều trị) gồm có: khoa Xét nghiệm, Chẩn đoán hình ảnh và Dược Sơ đồ cơ cấu tổ chức được đính kèm phần phụ lục
3.3.1 Tình hình hoạt động y tế tại bệnh viện
Tình hình khám và chữa bệnh tại bệnh viện 9 tháng đầu năm 2014 được trình bày trong các bảng sau: